Kinh Hoa Nghiêm – Phẩm Danh Hiệu Như Lai

Kinh Hoa Nghiêm

Đại Phương Quảng Phật

giảng giải

Phẩm Danh Hiệu Như Lai

Hòa Thượng TUYÊN HÓA
Việt dịch: Tỳ Kheo Thích Minh Ðịnh

— o0o —

Phẩm Thứ Bảy

Mười phương ba đời tất cả chư Phật, mỗi vị Phật đều có một vạn danh hiệu. Nhưng vì sức trí nhớ của chúng sinh yếu kém, cho nên chư Phật từ bi mới quyết định từ một vạn danh hiệu mà giảm xuống còn một ngàn danh hiệu. Trải qua bao nhiêu kiếp thì trí nhớ của chúng sinh càng ngày càng giảm. Một ngàn danh hiệu cũng nhớ chẳng rõ ràng. Chư Phật lại thương xót chúng sinh mới giảm từ một ngàn danh hiệu xuống còn một trăm. Lại qua thời gian lâu dài, chúng sinh vẫn cảm thấy quá nhiều, về sau lại giảm xuống còn mười. Từ đó về sau, mỗi vị Phật đều có mười danh hiệu. Những gì là mười?

1). Như Lai: Như là thừa đạo như thật, Lai là lai thành chánh giác, nghĩa là thừa đạo như thật, Lai thành Chách giác. Trong kinh Kim Cang có nói:

‘’Như Lai giả
Vô sở tùng lai
Diệc vô sở khứ.’’

Nghĩa là:
‘’Bậc Như Lai,
Chẳng từ đâu đến
Cũng chẳng đi về đâu.’’

Và nữa, Như là bổn thể của lý; Lai là danh tướng của sự. Nghĩa là lý sự chẳng hai. Về tông chỉ căn bản thì lý sự hòa hợp, lý sự vô ngại, đó là Như Lai.

2). Ứng Cúng: Phật xứng đáng thọ nhận trời người cúng dường, xứng đáng thọ nhận sự cung kính của người thế gian, cho nên gọi là Ứng Cúng.

3). Chánh Biến Tri: Phật, chẳng có gì mà chẳng biết (vô sở bất tri), chẳng có gì mà không thấy (vô sở bất kiến). Lý của Phật nói pháp là chánh quyết, trí huệ quang minh khắp hết thảy, cho nên gọi là Chánh Biến Tri.

4). Minh Hạnh Túc: Phật chẳng sinh đủ thứ tâm phiền não, đây là minh túc, nghĩa là thiên nhãn minh, biết tất cả pháp đời hiện tại; túc mạng minh biết tất cả pháp đời quá khứ; lậu tận minh biết tất cả đời vị lai. Phật tu lục độ vạn hạnh là hạnh túc. Cho nên hợp lại gọi là Minh Hạnh Túc.

5). Thiện Thệ Thế Gian Giải: Thiện Thệ tức là đi đến nơi chân thiện mỹ, tức cũng là bên kia Niết Bàn chẳng sinh chẳng diệt. Thế Gian Giải là Phật hoàn toàn thấu hiểu trí huệ của hữu tình và vô tình thế gian.

6). Vô Thượng Sĩ: Trí tuệ của Phật cao hơn hết, chẳng có gì sánh bằng. Phật đã tu chứng địa vì tột cùng chẳng còn địa vì gì có thể chứng nữa, cho nên gọi là Vô Thượng Sĩ.

7). Ðiều Ngự Trượng Phu: Phật dùng đức để hóa độ là điều, dùng uy để chế phục là ngự. Phật là đại trượng phu điều ngự chúng sinh ba cõi.

8). Thiên Nhân Sư: Phật là đại Ðạo Sư của trời người. Sư là phép tắc mô phạm, nói năm thừa giáo lý, lợi ích chúng sinh, khai đạo chúng sinh.

9). Phật: Ðây là nửa chữ Phạn, nói đầy đủ là Phật đà gia. Anh văn dịch là ‘’Bất đại gia’’, cũng có thể nói là cũng chẳng lớn, cũng chẳng nhỏ. Do đó:

‘’Chẳng lớn chẳng nhỏ,
Không đến không đi,
Hạt bụi thế giới,
Ðài sen chiếu nhau.’’

Phật cũng chẳng lớn, có thể:
‘’Nơi đầu sợi lông,
Hiện cõi bảo vương.
Ngồi trong hạt bụi,
Chuyển bánh xe pháp.’’

Có thể ở đầu một sợi lông, hiện ra một đại thế giới, đây là cảnh giới trong nhỏ hiện lớn. Phật cũng chẳng nhỏ, có thể ở trong một hạt bụi, dung nạp ba ngàn đại thiên thế giới. Ðem mười phương thế giới vào trong một hạt bụi, đây là cảnh giới trong lớn hiện nhỏ.

Phật có thể trong nhỏ hiện lớn, trong lớn hiện nhỏ, nhỏ lớn vô ngại, cho nên nói là không lớn không nhỏ.

Phật đi về đâu? Phật chẳng có đi về đâu? Phật từ đâu đến? Phật cũng chẳng từ đâu đến. Tại sao chẳng đến chẳng đi? Vì pháp thân của Phật tận hư không, biến pháp giới, vô tại vô bất tại.

Trong thế giới quang minh của chư Phật, nhiều như số hạt bụi thế giới hải cùng chiếu với nhau, chẳng có chướng ngại. Quang minh của Phật nầy chiếu soi thế giới kia, quang minh của Phật kia chiếu soi thế giới nầy, phóng quang với nhau, chiếu khắp pháp giới, cho nên gọi là đài sen chiếu nhau. Cũng có thể nói là nhiều, cũng có thể nói là một, một nhiều không hai, một nhiều vô ngại, lớn nhỏ vô ngại, đó đây vô ngại, đủ thứ vô ngại. Ðây là cảnh giới của Phật, có tác dụng không thể nghĩ bàn.

Phật có ba ý nghĩa. Phật dịch là giác:
I). Tự giác.
II). Giác tha.
III). Giác mãn.

Phàm phu thì chẳng giác. Hàng nhị thừa thì tự giác. Bồ tác thì giác tha. Phật là giác mãn.

I). Tự giác: Bất cứ làm việc gì, đều hồi quang phản chiếu, cầu nơi chính mình, có tinh thần phản tỉnh. Nói cách khác nghĩa là mình chẳng hồ đồ, chẳng hồ đồ tức là minh bạch thật sự. Minh bạch thật sự thì lợi ích chúng sinh.

II). Giác tha: Nghĩa là có ích lợi cho mình, và có ích lợi cho kẻ khác. Ðó là tư tưởng tự lợi lợi tha.

III). Giác mãn: Trong quá khứ Phật đã từng làm nai chúa. Tuy làm nai chúa, nhưng cảm hóa được ông vua cải ác hướng thiện, phát bồ đề tâm. Khi Phật ở tại nhân địa, thì phát nguyện đời đời kiếp kiếp đều muốn lợi ích chúng sinh, tự giác viên mãn, đó là giác hạnh viên mãn. Do đó, có câu : ‘’Ba giác viên, vạn đức đầy’’, nên gọi là Phật.

10) Thế Tôn: Phật là bật tôn kính của thế gian và xuất thế gian, xuất là ra khỏi ba cõi. Phật là người được chư Thiên và nhân loại tôn kính nhất.

Chúng ta muốn học Phật, thì trước hết phải lợi ích chúng sinh, không thể chỉ có lợi ích chính mình. Hiện nay người thế gian điên điên đảo đảo. Trách nhiệm của chúng ta người tu đạo là phải khai đạo họ, lãnh đạo họ, giúp cho họ đi trên con đường chân chánh, đừng rơi vào đường tà, đó là công việc tự giác giác tha. Tu nhiều rồi thì sẽ viên mãn. Do đó, có câu:

‘’Mài sắc thành kim
Công đáo tự nhiên thành.’’

Phầm nầy là phẩm thứ bảy trong Kinh Hoa Nghiêm, cho nên gọi là Phẩm Danh Hiệu Như Lai Thứ Bảy. Sáu phẩm trước, Bồ Tát Phổ Hiền ở tại Bồ Ðề Ðạo Tràng, nương thần lực của Phật mà diễn nói. Bây giờ phẩm thứ bảy, Bồ Tát Văn Thù ở tại Ðiện Phổ Quang Minh, nương thần lực của Phật mà diễn nói. Hội thứ nhất nói sáu phẩm. Hội thứ hai cũng nói sáu phẩm, bây giờ bắt đầu hội thứ hai.

Những gì ở trước nói là sinh tín phần, dạy người minh bạch nhân quả. Bây giờ phẩm nầy nói về tu nhân khế quả sinh giải phần. Tại nhân địa tu hành nhất định sẽ đắc được quả vị viên mãn, tức cũng là trồng nhân gì thì được quả đó. Trồng nhân bồ đề thì sẽ kết quả Phật, cho nên gọi là tu nhân khế quả sinh giải phần.

 

Nhĩ thời, Thế Tôn tại Ma kiệt đề quốc A-lan-nhã Pháp Bồ-đề trường trung, thủy thành chánh giác

Bấy giờ, đức Thế Tôn ở tại nước Ma Kiệt Ðề, trong A Lan Nhã Pháp Bồ Dề Tràng, ban đầu thành chánh giác.

Lúc đó, Ðức Thế Tôn ở nước Ma Kiệt Ðề, trong A Lan Nhã (tịch tĩnh xứ) dưới cội bồ đề, trên tòa kim cang, ban đầu thành chánh giác.

Lúc Phật ở tại núi Tuyết (núi Hy Mã Lạp Sơn) tu khổ hạnh, thì mỗi ngày chỉ ăn một hạt mè. Năm anh em Kiều Trần Như cùng tu với Ngài, trong đó có ba người cho rằng sự tu khổ hạnh như thế chịu chẳng được, bèn bỏ đi đến vườn Lộc Uyển tu đạo. Phật tu khổ hạnh sáu năm ở tại núi Tuyết, nhưng vẫn không khai ngộ. Bèn bỏ lối tu khổ hạnh, đến sông Ni Liên Thiền tắm rửa những cấu bẩn tích tụ trên thân nhiều năm, lại tiếp nhận bát sữa bò của nữ thí chủ cúng dường, mới khôi phục lại sức lực. Lúc đó, hai người trong năm anh em Kiều Trần Như thấy Phật làm như vậy, cho rằng Phật sinh tâm thối chuyển, Do đó, cũng bỏ Phật đi đến vườn Lộc Uyển để tu đạo. Phật một mình đến dưới cội bồ đề, trên tòa kim cang, ngồi kiết già phát thệ nguyện rằng: «Nếu không thành Phật thì không rời khỏi chỗ nầy”! Ngồi như vậy đến ngày thứ bốn mươi chín. Vào ngày 8 tháng 12 thấy sao mai mọc mà ngộ đạo, mới thốt ra rằng: ‘’Lành thay, lành thay ! Tất cả chúng sinh đều có đủ trí huệ đức tướng của Như Lai, nhưng vì vọng tưởng chấp trước nên không thể chứng đắc‘’. Khai ngộ rồi, trong hai mươi mốt ngày nói xong bộ Kinh Hoa Nghiêm Ðại Phương Quảng Phật.

 

Ư phổ quang minh điện tọa liên hoa tạng sư tử chi tọa

Ở tại điện Phổ Quang Minh, ngồi trên tòa hoa sen tạng sư tử.

Phật ở tại điện Phổ Quang Minh (ở hướng đông nam cây bồ đề, nước Ma Kiệt Ðề khoảng ba dặm, eo sông Ni Liên Thiền. Truyền rằng Long Vương thấy Phật ban đầu thành chánh giác, ngồi ở dưới cội bồ đề, cho nên vì Phật mà tạo cung điện đó, bèn dùng bảy báu tạo thành, khắp phóng quang minh, cho nên gọi là Ðiện Phổ Quang Minh). Ngồi trên tòa hoa sen tạng sư tử, mà vì các pháp thân Đại Sĩ diễn nói diệu pháp.

 

Diệu ngộ giai mãn, nhị hạnh vĩnh tuyệt; đạt vô tướng Pháp, trụ ư Phật trụ; đắc Phật bình đẳng, đáo Vô chướng xử; bất khả chuyển Pháp, sở hạnh vô ngại; lập bất tư nghị, phổ kiến tam thế.

Diệu ngộ đều viên mãn, hai hạnh đã vĩnh viễn đoạn tuyệt. Ðạt được pháp vô tướng, trụ ở chỗ Phật trụ. Ðắc được sự bình đẳng của Phật. Ðến được chỗ không chướng ngại. Bất khả chuyển pháp. Sở hành vô ngại. Lập bất tư nghì. Thấy khắp ba đời.

Phật có hai mươi mốt thứ công đức, bây giờ chỉ lược nói mười thứ công đức dưới đây.

1). Diệu ngộ đều viên mãn: Diệu là không thể nghĩ bàn, ngộ là giác ngộ. Tại sao nói diệu ngộ? Vì sự giác ngộ nầy siêu hơn đạo lý giác ngộ của một số người, là tối cao vô thượng, cho nên gọi là Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Vì giác ngộ đến cực điểm, cho nên gọi là mãn.

Tóm lại, chẳng còn gì có thể giác ngộ nữa, cho nên Phật còn gọi là Vô thượng sĩ, đã đạt được trình độ tự giác viên mãn, giác tha cũng viên mãn, giác hạnh cũng viên mãn, tức cũng là chẳng có gì mà không thấy, cho nên gọi là diệu ngộ đều mãn.

Diệu ngộ có thể nói là diệu giác, cũng có thể nói là thiện giác, còn có thể nói là chánh giác. Vì ‘’diệu’’ ở trong phạm văn gọi là tô: Có ba ý nghĩa : Có thể dịch là diệu, cũng có thể dịch là thiện, còn có thể dịch là chánh. Tóm lại, danh từ nầy nói về đức của Phật đầy đủ, trí huệ viên mãn, phước tròn đầy. Ðức tướng, trí huệ và phước báu của Phật đều viên mãn, cho nên gọi là diệu giác viên mãn.

Chín câu dưới đây đều từ diệu giác đều mãn sinh ra. Diệu giác diệu mãn là tổng, tổng quát ý nghĩa chín câu kia. Chín câu dưới đây là biệt. Tổng là biệt của tổng, biệt là tổng của biệt.

2). Hai hạnh đã vĩnh viễn đoạn tuyệt: Hai hạnh là phiền não hạnh và sở tri hạnh.

– Phiền não hạnh: Là phàm phu hiện tiền chỉ có phiền não. Bất cứ việc gì mà không như ý, thì lập tức nổi giận, nổi giận liền có phiền não. Phiền não từ đâu đến? Là từ trong sự ích kỷ lợi mình mà đến. Phàm việc gì đối với mình chẳng ích lợi thì nổi giận. Nếu có việc mà chướng ngại lợi ích của mình, hoặc tổn hại danh dự của mình, thì đều sinh phiền não. Nếu đối với tất cả mọi việc đều buông xả, chẳng chấp trước, tất cả đều tha thứ, khoan dung cho người, thì còn có phiền não gì? Cho nên phiền não nhẹ nhất cũng phải vĩnh viễn đọan tuyệt, vì phiền não chướng ngại sự phát tâm bồ đề.

Sở tri hạnh: Tức là sở tri chướng. Sở tri chướng, chướng sở tri. Vì có sở tri chướng, nên bị sở tri sở chướng. Người nhị thừa có sở tri chướng. Họ nói: ‘’Tôi tu pháp tứ đế, hoặc pháp mười hai nhân duyên, thì tôi có thể liễu sinh thoát tử. Tất cả pháp mà chúng ta biết đều là Phật nói. Pháp đại thừa chẳng phải Phật nói mà là ngụy tạo.’’ Nơi nơi họ dùng ‘’tôi’’ làm tiền đề, cho nên nói người tiểu thừa, tiểu tri tiểu kiến, tiểu tâm tiểu lượng. Do đó: ‘’Trung đạo tự hóa’’, tức là giữa đường phế bỏ, mà chẳng tiến về trước. Người tiểu thừa chỉ biết tối đa về nhân quả trong tám vạn đại kiếp, chứ chẳng biết ngoài tám vạn đại kiếp. Ðây là biết gần chẳng biết xa. Có chỗ biết, có chỗ chẳng biết, biết phàm chẳng biết Thánh. Do đó, có câu:

‘’Bậc sơ địa chẳng biết bậc nhị địa
Bậc thập địa chẳng biết bậc Ðẳng Giác
Bậc Ðẳng Giác chẳng biết bậc Diệu Giác’’.

Chỉ sai một chút thì chẳng biết. Giống như học sinh tiểu học, chẳng hiểu sách của học sinh trung học, học sinh trung học, chẳng hiểu sách học của sinh viên đại học, cùng một đạo lý ấy. Chẳng cùng trình độ thì chẳng biết cảnh giới đó. Hàng nhị thừa quán sát phàm phu rất rõ ràng; tâm bạn nghĩ gì, thân làm gì, họ thấy đều rõ ràng. Song, bậc Bồ Tát khởi vọng tưởng gì? Họ cũng chẳng biết. Bồ Tát dự bị tu hành hạnh môn gì, hàng nhị thừa chẳng cách gì biết được, vì sức quán sát của họ chẳng đạt đến được cảnh giới của Bồ Tát.

Lúc Phật còn ở đời, có một ông già hơn tám mươi tuổi muốn xuất gia tu đạo, bèn đến Tịnh Xá Kỳ Hoàn xin xuất gia. Chẳng may hôm đó Phật đi ra ngoài khất thực. Những vị A La Hán vận dụng thần thông để quán sát nhân duyên của ông già, song, tìm chẳng thấy ông già nầy có chút căn lành nào. Tại sao? Vì họ chỉ biết nhân duyên trong tám vạn đại kiếp. Mọi người quán sát rồi, thật tìm chẳng được chút căn lành nào, bèn từ chối không cho ông già xuất gia. Những vị đại A La Hán đó nói với ông già rằng:

– ’’Ông già ơi ! Vì ông chẳng có căn lành xuất gia, cho nên ông không thể xuất gia. Ông chẳng có gieo trồng hạt giống bồ đề, muốn xuất gia chẳng đủ tư cách, xin ông hãy đi về’’!

– Ông già nghe nói quá thất vọng bèn nói : ‘’Tôi cảm thấy đời người vô thường, khổ nhiều vui ít, là thật tâm muốn tu hành, cầu được giải thoát, chứ chẳng phải muốn nương Phật mặc áo, ăn cơm. Xin các vị tôn giả từ bi, phá lệ thu tôi làm chú tiểu Sa Di.’’

Ông già cầu thỉnh ba lần nhưng vẫn chẳng được xuất gia, bèn cáo từ rời khỏi Tịnh Xá Kỳ Hoàn. Tâm càng nghĩ càng thương tâm: ‘’Ðệ tử của Phật chẳng từ bi, nói mình chẳng có căn lành, vậy khi nào tôi mới có căn lành? Mới có thể xuất gia?’’ Do đó, vừa đi vừa khóc, bất tri bất giác đi đến bờ sông Hằng, nghĩ muốn tự tử, chẳng còn muốn sống nữa. Ðang chuẩn bị nhảy xuống thì Phật hiện đến.

– Ðức Phật hỏi: ‘’Ông già ! Ông làm gì đó ? Ðừng có làm như thế, đây là hành vi ngu si nhất.’’

– Ông già khóc lóc nói: ‘’Con muốn xuất gia tu đạo, mà đến Tịnh Xá Kỳ Hoàn, nhưng đệ tử của Phật chẳng cho con xuất gia, nói con đời trước chẳng trồng căn lành xuất gia. Con cảm thấy sống chẳng còn có ý nghĩa gì nữa, chẳng bằng chết đi cho thanh tịnh !’’

– Phật an ủi ông ta: ‘’Ông đừng có tự tử, phải biết thân người khó được, hãy đem dũng khí để sống. Ta hứa cho ông xuất gia.’’

– Ông già đẫm lệ hỏi: ’’Ngài là ai?’’

– Phật từ tốn nói : ’’Ta là Phật Thích Ca Mâu Ni mà ông muốn gặp đó.’’

Lúc đó, ông già òa lên khóc, đảnh lễ Ðức Phật, theo Phật trở về Tịnh Xá. Phật làm lễ quy y và cho ông già xuất gia. Những vị đại A La Hán cảm thấy kỳ lạ nhưng không dám hỏi Phật.

Ông già xuất gia rồi, sớm tối siêng năng tinh tấn, chẳng bao lâu chứng được quả vị A La Hán. Lúc đó, những vị A La Hán khởi hoài nghi, bèn thỉnh cầu Phật khai thị, là nhân duyên gì khiến cho ông già chứng quả?

– Phật nói rằng: ‘’Các con chỉ biết sự việc trong tám vạn đại kiếp, mà chẳng biết sự việc ngoài tám vạn đại kiếp. Ông già nầy trước tám vạn đại kiếp, là tiều phu đốn củi, mỗi ngày vào núi nhặc củi. Một ngày nọ, ở trong núi gặp con cọp, ông ta vội chạy lên cây tránh cọp. Con cọp đó rất thông minh, dùng răng cắn thân cây, vồ thân cây để cho ông ta rớt xuống. Trong lúc sợ hãi như vậy, trong tâm hốt hoảng bèn kêu lên: ‘’Nam Mô Phật.’’ Tiếng Phật đó làm cho con cọp bỏ đi, tánh mạng của ông tiều phu cũng an toàn. Ðây là lúc bình thường chẳng đốt hương, việc xảy đến thì ôm chân Phật. Nếu ông ta lúc nào cũng niệm Phật, thì sẽ được vãng sinh về cõi Cực Lạc. Vì một tiếng ‘’Nam mô Phật’’ mà ông ta có tư cách xuất gia, các con biết gần mà chẳng biết xa, biết phàm mà chẳng biết Thánh. Các con có chỗ biết, có chỗ chẳng biết. Lúc đó, các vị đại A La Hán mới minh bạch tiền nhân hậu quả. Phật thì chẳng có gì mà không biết. Phiền não của Phật cũng chẳng còn nữa, cho nên gọi là hai hạnh vĩnh tuyệt.

3). Ðạt được pháp vô tướng: Ðạt là thông đạt. Thông đạt tức là minh bạch. Minh bạch cái gì? Minh bạch pháp vô tướng. Pháp vô tướng là gì? Tức là thanh tịnh bổn nhiên, diệu chân như tánh. Thanh tịnh bổn nhiên tức là thanh tịnh, không cần tăng hoặc giảm, tức là không tăng không giảm.

Pháp vô tướng là chẳng chấp trước tất cả tướng. Làm thế nào không chấp trước tất cả tướng? Làm thế nào để hai hạnh vĩnh tuyệt ? Thì phải diệu ngộ đều mãn. Nếu diệu ngộ đều mãn, thì hai hạnh đều dứt hẳn, cũng đạt được pháp vô tướng. Ðó đều có quan hệ với nhau.

4). Trụ ở Phật trụ: Phật trụ ở từ bi, tùy thời lợi ích cho chúng sinh. Phật lại thường ở Thánh trụ, thiên trụ, phạm trụ.

Thánh trụ là gì? Thánh tức là bậc Thanh Văn, Duyên giác, Bồ Tát. Các Ngài trụ ở trong tất cả tam muội.

Thiên trụ là gì? Người trời trụ ở trời lục dục. Có bố thí, trì gìới, thiện tâm, ba việc tức là thiên trụ

Phạm trụ là gì? Trụ ở sắc giới, hoặc vô sắc giới. Có vô lượng tâm là phạm trụ.

Phật trụ là gì? Tức là dùng bình đẳng đại bi, luôn luôn lợi ích cho tất cả chúng sinh, tức là Phật trụ.

5). Ðược Phật bình đẳng: Chứng được thanh tịnh bổn nhiên, diệu chân như tánh, chứng được Vô thượng chánh đẳng chánh giác, đều là diệu hóa vô ngại, không thể nghĩ bàn, cho nên đắc được Phật bình đẳng.

6). Ðến nơi chẳng có chướng ngại? Tức là chứng được cảnh giới vô chướng ngại. Làm thế nào đạt được cảnh giới đó? Phải tu hành, tu lục độ vạn hạnh, dùng giới định huệ để đối trị tham sân si. Nếu chẳng có tham sân si, thì chẳng có chướng ngại. Chúng ta từ vô thỉ đến bây giờ, tại sao chẳng thành Phật? Vì chẳng tiêu diệt sạch tham sân si ba độc.

Hằng ngày chúng ta nói siêng tu giới định huệ, tiêu diệt tham sân si. Có thể đổi chữ ‘’siêng’’ thành chữ ‘’lười’’, như vậy thì đổi thành ‘’lười’’ tu giới định huệ, tức chẳng trì giới, cũng chẳng tập định, càng chẳng tu huệ. Tự mình lừa gạt mình nói: ‘’Hôm nay giải đãi một ngày, ngày mai nhất định siêng tu giới định huệ‘’. Ðến ngày mai lại thiếu ngủ, tinh thần chẳng đủ, lại hẹn ngày mai nữa, nhất định sẽ siêng tu giới định huệ. Ngày mai, ngày mai, ngày mai! Một đời ngày mai đều trôi qua, kết quả chẳng siêng tu giới định huệ. Cho nên đổi thành ‘’lười’’ tu giới định huệ.

Lười tu giới định huệ, thì không thể nào tức diệt được tham sân si. Ðổi chữ ‘’tức’’ thành chữ ‘’bất’’ (không), biến thành ‘’không’’ diệt tham sân si. Ba độc đó càng nhiều càng tốt. Bất cứ gì cũng đều tham, vĩnh viễn chẳng nhàm chán. Tham sắc đẹp, tham danh lợi, tham hưởng thụ. Tham chẳng đặng thì sinh tâm sân, có tâm sân thì khởi oán hận. Tư tưởng nầy sinh ra rồi thì sinh tâm ngu si. Có tâm ngu si thì phạm giới sát sinh, trộm cắp, tà dâm. Như thế thì chẳng thể nào được giải thoát. Nếu siêng tu giới định huệ, thì diệt được tham sân si. Như vậy thì chẳng có chấp trước, bèn được giải thoát. Chẳng có chướng ngại mới là chân chánh đắc được tự tại.

7). Không thể chuyển pháp: Tức là giáo nghĩa nói ở trong hết thảy kinh điển, ngoại đạo phá hoại chẳng được. Tóm lại, chẳng bị tà tri tà kiến ngoại đạo luận bậy làm giao động. Câu kinh văn nầy đặc biệt cường điệu, tuyệt đối chẳng bị ngoại đạo tà thuyết làm giao động. Nhất là người chẳng có định lực phải cẩn thận đừng để rơi vào đường tà. Tóm lại, là thọ tam quy y trong Phật giáo rồi, thì không được tin bất cứ đạo nào khác. Người có tín ngưỡng tôn giáo thì đều hướng thượng, nhưng phải tin giáo lý có trí huệ có chân lý. Nhật định phải có trạch pháp nhãn, phải lựa chọn pháp để tu hành liễu sinh thoát tử, như thế mới không chịu khổ trong sáu nẻo luân hồi nữa. Nên nhớ, nên nhớ ! Ðừng bị cảnh giới lay chuyển, mà phải chuyển được cảnh giới.

8). Sở hành vô ngại: Tức là hết thảy hành vi, chẳng có chướng ngại, những việc làm, những điều mình thấy, bất cứ cảnh giới gì đến, đều không bị lay chuyển. Gặp cảnh giới nghịch thì phải chuyển cảnh giới. Gặp cảnh giới thuận cũng phải chuyển cảnh giới, như thế mới có thể quay lưng trần lao, mà hợp với giác ngộ. Bằng không, sẽ chuyển theo cảnh giới, cùng trôi chảy với ô hợp, thì quay lưng giác ngộ mà hợp với trần lao.

9). Lập bất tư nghì: Giáo lý của Phật nói đều bất khả tư nghì. Do đó, có câu:
‘’Ngôn ngữ đạo đoạn,
Tâm hành xứ diệt‘’.

Nghĩa là:
Lời lẽ đã dứt bặc
Chỗ tâm niệm không còn nữa.

Muốn dùng lời để nói cũng nói chẳng ra, muốn dùng tâm để niệm suy tư, cũng chẳng cách chi suy tư. Con đường lời nói đã đoạn rồi, nơi tâm muốn hành cũng chẳng còn nữa. Ðó là bất khả tư nghì. Do đó, có câu:

‘’Miệng muốn nói mà từ ngữ đã mất,
Tâm muốn duyên mà tư lự chẳng còn nữa.’’

Miệng muốn nói mà nói chẳng nói ra lời, lời lẽ đã chẳng còn nữa. Tâm muốn phan duyên mà niệm lự đã chết rồi. Ðó tức là bất khả tư nghì.

10). Thấy khắp ba đời: Tức là thấy khắp cảnh giới đời quá khứ, đời hiện tại, đời vị lai, như ở trước mắt. Bất cứ sự tướng, hoặc lý luận, đều nhớ rất rõ ràng, tuyệt đối chẳng sai lầm.

Thấy khắp là trên thấy vô thủy, dưới thấy vô chung. Vô thủy vô chung, không trong, không ngoài, chẳng lớn, chẳng nhỏ, chẳng đến, chẳng đi. Ðó tức là cảnh giới thấy khắp.

Dữ thập Phật sát vi trần số chư Bồ-tát câu, mạc bất giai thị Nhất-sanh-bổ-xứ, tất tòng tha phương nhi cọng lai tập

Với các Bồ Tát nhiều như số hạt bụi mười cõi Phật, đều còn một đời nữa sẽ được bổ xứ Phật vị, đều từ phương khác cùng nhau vân tập đến.

Ở trước là nói về Phật có mười thứ đức hạnh. Bây giờ lại nói có rất nhiều đại Bồ Tát tụ tập lại. Có bao nhiêu? Có các vị Ðẳng Giác Bồ Tát, nhiều như số hạt bụi mười cõi Phật. Những vị Ðại Bồ Tát đó, đều còn một đời nữa sẽ bổ xứ Phật vị. Các Ngài đều chờ nhân duyên chín mùi sẽ lập tức thành Phật, như Ðương Lai Hạ Sinh Di Lạc Bồ Tát, tức là hậu bổ Phật vị, hiện nay đang ở nội viện cung trời Ðâu Suất, đợi nhân duyên đến sẽ sinh xuống nhân gian thành Phật.

Một đời có ba ý nghĩa :

1). Hàng sinh: Từ trời Ðâu Suất sinh xuống, một đời bổ xứ mà thành Phật.
2). Một đời ở trên trời, sau đó sẽ thành Phật.
3). Một đời ở nhân gian, đến nhân gian hậu bổ vị Phật.

Một đời lại có bốn lối nói:
1). Phương tiện biến dịch sinh tử.
2). Nhân duyên biến dịch sinh tử.
3). Có biến dịch sinh tử (có đời nầy, có đời sau, có đời trước, có đời nay).
4). Chẳng còn biến dịch sinh tử (chẳng còn sinh tử).

Do đó, có câu:
’’Những gì cần làm đã làm xong,
Chẳng còn thọ thân sau nữa.’’

Những vị đại Bồ Tát đó, đều đã chấm dứt sinh tử. Một đời bổ xứ sẽ thành Phật. Hiện tại các vị đại Bồ Tát đó, đều từ mười phương đến Ðiện Phổ Quang Minh, gần gũi đức Phật Thích Ca Mâu Ni, mọi người cùng tụ hội lại với nhau.

 

Phổ thiện quan sát chư chúng sanh giới, Pháp giới, thế giới, Niết Bàn giới, chư nghiệp quả báo, tâm hành thứ đệ, nhất thiết văn nghĩa, thế, xuất thế gian, hữu vi, vô vi, quá, hiện, vị lai.

Khéo quán sát khắp các cõi chúng sinh, pháp giới, thế giới, cõi Niết Bàn, các nghiệp quả báo, tâm hành thứ lớp, tất cả văn nghĩa, thế gian xuất thế gian, hữu vi vô vi, quá khứ hiện tại và vị lai.

Các đại Bồ Tát đó, đều đã chứng được Thánh vị, đều đắc được diệu quán sát trí, cho nên khéo quán sát khắp nhân duyên của tất cả chúng sinh đó. Do đó, có câu: «Trồng nhân thì kết quả”. Nhân như thế nào, thì quả như thế đó. Nếu có tâm tham thì làm chúng sinh ngạ quỷ. Nếu có tâm sân thì làm chúng sinh địa ngục. Nếu có tâm sân si thì làm chúng sinh súc sinh. Chúng sinh giới vô lượng vô biên.

Như nghiên cứu về nhân duyên của chó. Tại sao lại làm chó? Vì nó có tâm tham sẻn chẳng xả bỏ, làm chó rồi vẫn thế chủ nhân giữ cửa. Còn nhân duyên về gà thì sao? Tại sao lại làm gà? Vì nó thích nói dối. Nó sinh ra trứng rồi, bèn kêu: ’’Quá lớn, quá lớn.’’ (Tiếng tàu là quá đại, quá đại). Ý nghĩa là: ’’Trứng của tôi đặc biệt lớn, hơn hẳn những trứng khác.’’ Ðó là gạt người, cho nên nó phạm tội nói dối. Kỳ thật, nó tạo tội lỗi rất lớn, cho nên nó ban ngày nói ra : ‘’Quá thác quá đại ! Quá thác quá đại !’’ (Quá lầm quá lớn).

Tóm lại, mỗi chúng sinh có cá tánh khác nhau. Ngựa bò dê gà chó heo đều có nhân quả khác nhau. Những vị đại Bồ Tát đó, một khi quán sát nhân duyên của chúng sinh, thì biết được nhân quả của chúng sinh đó, vì sao mà làm chúng sinh đó. Làm chúng sinh đó rồi, thì mê pháp giới. Pháp giới là tự tánh nguồn gốc thanh tịnh. Vì một niệm hồ đồ mà đến thế giới nầy. Chúng sinh trong thế giới, giống như hạt bụi lơ lửng ở trong hư không, lúc cao lúc thấp, lúc lên lúc xuống, lúc lên trời lúc ở địa ngục, lơ lửng phiêu dạt, tùy theo nghiệp lực mà thọ quả báo. Nếu phát tâm bồ đề, nhận chân tu hành, thì sẽ chứng được thường lạc ngã tịnh bốn đức Niết Bàn, sau sẽ không còn lưu chuyển ở trong sinh tử luân hồi nữa.

Hết thảy tất cả nghiệp báo, tất cả nghiệp thiện nghiệp ác, thọ nhân quả thiện, nhân quả ác, có đủ thứ sự khác nhau. Trong tâm muốn làm nghiệp chướng đều có thứ lớp. Cái nầy trước, cái nầy sau, trước thọ quả báo, sau thọ quả báo. Tóm lại, trước làm nghiệp gì thì trước thọ quả báo đó. Sau làm nghiệp gì thì sau thọ quả báo đó. Như vậy mê đi mê lại, mê đến chẳng giải thoát được.

Nếu như một ngày nọ, có chúng sinh gặp tất cả kinh điển, trong kinh bao hàm tất cả vô thượng diệu pháp, tức là tất cả văn nghĩa, Do đó, bèn đắc được pháp môn xuất thế. Ở trong thế giới nầy vượt ra khỏi thế giới, chẳng phải lìa khỏi thế giới nầy mới ra được thế giới. Tóm lại, ở trong thế gian nầy mà ra khỏi thế gian.

Lục Tổ Huệ Năng có nói rằng:
‘’Phật pháp ở tại thế gian
Chẳng lìa thế gian giác
Lìa đời cầu bồ đề
Ví như tìm sừng thỏ.’’

Bạn muốn ra khỏi thế gian, bạn muốn thành Phật, thì phải giác ngộ ở trong pháp thế gian. Nếu giác ngộ rồi, thì sẽ ra khỏi được thế gian. Chẳng phải lìa khỏi pháp thế gian, để đi tìm cầu pháp xuất thế bên ngoài, lìa khỏi thế gian tìm bồ đề, thì giống như tìm sừng trên đầu con thỏ, như tìm lông trên lưng con rùa, cũng như vậy không thể nào được, vĩnh viễn tìm chẳng được. Cho nên pháp xuất thế bao quát ở trong pháp thế gian, bồ đề bao quát ở trong phiền não, không lìa khỏi phiền não mà đi tìm bồ đề bên ngoài. Nếu lìa khỏi phiền não, cũng chẳng có bồ đề. Do đó:

‘’Phiền não tức bồ đề.’’

Dùng được tức là bồ đề, chẳng dùng được tức là phiền não. Tôi thường nói: ’’Bồ đề là nước, phiền não là băng. Song, nước chẳng phải băng, băng chẳng phải nước. Nước đông lại kết thành băng, băng tan ra thành nước; băng nước một thể, mà tác dụng khác nhau. Phiền não và bồ đề cũng cùng một đạo lý đó.’’

Băng là do nước thành băng, nước là băng tan mà thành nước. Nếu chúng sinh giác ngộ tức là Phật. Nếu mê hoặc tức là chúng sinh. Do đó, có câu: ’’Tuy tên gọi của chúng sinh và Phật khác nhau, nhưng tự tánh giống nhau. Bổn lai là một, đều có tánh Phật.

Pháp hữu vi thì có hình có tướng, có sở tác. Pháp vô vi là pháp chẳng có hình, chẳng có tướng, vô sở tác. Song, hữu vi hữu tận, vô vi vô tận. Những vị đại Bồ Tát đó, đắc được đại trí huệ, quá khứ tất cả Phật pháp cũng biết, hiện tại tất cả Phật pháp cũng biết, vị lai tất cả Phật pháp cũng biết.

Có người nghe được câu: ‘’Phật tức là chúng sinh, chúng sinh tức là Phật’’, rồi thì họ cảm thấy rất cao hứng, nói: «Tôi tức là Phật’’! Bèn đi kêu mọi người gọi họ là Phật, đừng gọi tên của họ. Tin nầy loan ra rồi, có người gọi họ là Phật, cũng có người chẳng gọi họ là Phật. Họ bèn nổi giận hỏi rằng: «Tại sao ông không gọi tôi là Phật? Tôi chẳng khách sáo đối với ông.’’ Người đó nói: «Vì đối với người chẳng khách sáo, chẳng đủ tư cách làm Phật, cho nên tôi không gọi ông là Phật. Ðối với tất cả chúng sinh đều có tâm từ bi, đừng có nóng giận. Ông muốn làm Phật thì trước hết đừng có nóng giận, đừng có phiền não. Bây giớ ông còn nóng giận, còn phiền não, cho nên ông vẫn là chúng sinh.’’ Từ đó về sau, ông ta nhận chân tu hành, tuyệt đối chẳng nóng giận nữa, quả nhiên chứng được Phật vị.

Phật là bậc Thánh nhân có đạo đức chân chánh, chẳng có tâm ích kỷ, tâm cầu danh lợi, chẳng có tâm chấp trước. Tuy nhiên nói chúng sinh là Phật, nhưng phải đoạn tuyệt chấp trước mới có thể thành Phật. Cho nên mới nói:
«Tất cả chúng sinh, đều có Phật tánh,
Đều có thể thành Phật.
Nhưng vì vọng tưởng chấp trước,
Nên không thể chứng đắc.’’

Chúng ta nên nhớ đừng hiểu lầm chúng sinh là Phật. Phật thì từng bước, từng bước, tu hành mà thành. Nếu chẳng tu hành, thì dù đến lúc nào cũng vẫn là chúng sinh. Nếu tu hành trở về cội nguồn, thì sẽ chân chánh khai ngộ chứng quả, liễu sinh thoát tử. Ðến được trình độ “ba giác tròn, vạn đức đầy‘’, thì mới là ông Phật thiệt.

Chúng sinh tức là nước đông lại thành băng, Phật tức là băng tan thành nước. Bổn lai nước băng là một thể tánh, nhưng hình tướng khác nhau, một là thể lỏng, một là thể cứng. Dùng băng phan lên đầu người, thì có thể làm cho người chết; dùng nước tưới lên thân người, thì chẳng làm cho người bị thương, đây là nói ví dụ. Người chẳng tu hành mà nói mình là Phật, thì không thể được.

 

Thời, chư Bồ-tát tác thị tư tánh: nhược Thế Tôn kiến mẫn ngã đẳng, nguyện tùy sở lạc, khai thị Phật sát, Phật trụ, Phật sát trang nghiêm, Phật Pháp tánh, Phật sát thanh tịnh, Phật sở thuyết pháp, Phật sát thể tánh, Phật uy đức, Phật sát thành tựu, Phật Đại bồ-đề.

Bấy giờ, các Bồ Tát bèn suy tư như vầy: Nếu đức Thế Tôn thương xót chúng ta, thì xin nguyện đức Thế Tôn tùy theo sở thích, khai thị cõi Phật, Phật trụ, cõi Phật trang nghiêm, Phật pháp tánh, cõi Phật thanh tịnh, pháp của Phật nói, cõi Phật thể tánh, uy đức của Phật, cõi Phật thành tựu, Phật đại bồ đề.

Lúc đó, những vị đại Bồ Tát có đức hạnh đều suy tư như vầy: Nếu như Ðức Thế Tôn thương xót chúng ta, chúng ta muốn thỉnh Ðức Thế Tôn từ bi, xin tùy sự ưa thích mà khai thị mười vấn đề:

1). Cõi Phật như thế nào?
2). Phật Trụ như thế nào?
3). Cõi Phật trang nghiêm ra sao?
4). Phật pháp tánh như thế nào?
5). Cõi Phật thanh tịnh như thế nào?

6). Pháp của Phật nói ra sao?
7). Thể tánh của Phật thế nào?
8). Oai đức của Phật như thế nào?
9). Cõi Phật thành tựu ra sao?
10). Gì là Phật đại Bồ Ðề?

Mười vấn đề nầy sẽ giải thích sau.

 

Như thập phương nhất thiết thế giới chư Phật Thế tôn, vi thành tựu nhất thiết Bồ Tát cố, lệnh Như Lai chủng tánh bất đoạn cố, cứu hộ nhất thiết chúng sanh cố, lệnh chư chúng sanh vĩnh ly nhất thiết phiền não cố, liễu tri nhất thiết chư hạnh cố, diễn thuyết nhất thiết chư pháp cố, tịnh trừ nhất thiết tạp nhiễm cố, vĩnh đoạn nhất thiết nghi võng cố, bạt trừ nhất thiết hy vọng cố, diệt hoại nhất thiết ái trước xứ cố

Như mười phương tất cả thế giới chư Phật Thế Tôn vì thành tựu tất cả Bồ Tát. Vì khiến cho chủng tánh của Như Lai chẳng đoạn tuyệt. Vì cứu hộ tất cả chúng sinh. Vì khiến cho các chúng sinh vĩnh viễn lìa khỏi tất cả khổ não. Vì biết rõ tất cả các hạnh. Vì diễn nói tất cả các pháp. Vì tịnh trừ tất cả nhiễm ô. Vì vĩnh viễn đoạn trừ tất cả lưới nghi. Vì dứt trừ tất cả hy vọng. Vì phá tan tất cả ái trước xứ.

Những vị đại Bồ Tát một đời bổ xứ có đức hạnh, các Ngài suy tư mười vấn đề ở trước rồi, lại nghĩ ra mười duyên cố: Như mười phương tất cả thế giới, tất cả chư Phật Thế Tôn vì giáo hóa chúng sinh, đều có mười thứ đạo lý :

1). Vì thành tựu tất cả Bồ Tát: Tất cả Chư Phật đến giáo hóa chúng sinh, khiến cho tất cả chúng sinh tu lục độ vạn hạnh, hành Bồ Tát đạo, sau đó thành tựu quả vị cho tất cả Bồ Tát.

2). Vì khiến cho chủng tánh của Như Lai chẳng đọan tuyệt: Tất cả chư Phật mười phương ba đời tại sao phải giáo hóa chúng sinh hành Bồ Tát đạo? Vì không khiến cho chủng tánh của Như Lai đoạn tuyệt. Tại sao phải thành tựu quả vị Bồ Tát? Vì muốn khiến cho chủng tánh Như Lai tiếp nối mãi mãi.

3). Vì cứu hộ tất cả chúng sinh: Tại sao lại khiến cho chủng tánh của Như Lai chẳng đoạn tuyệt. Vì muốn cứu hộ tất cả chúng sinh. Chúng sinh ở trong nhà lửa tam giới, nước sâu lửa bỏng, hoàn cảnh rất nguy hiểm, rất thống khổ, cho nên Phật nguyện cứu hộ tất cả chúng sinh, lìa khổ được vui, phát tâm bồ đề, sớm thành Phật đạo.

4). Vì khiến cho các chúng sinh vĩnh viễn lìa khỏi tất cả phiền não: Chúng sinh chẳng có an toàn, chẳng có an vui. Vì trúng ba độc, khiến cho thân tâm điên đảo, hồ đồ, suốt ngày túy sinh mộng tử. Chẳng biết lìa khỏi cõi ô uế đời ác năm trược, lại chẳng biết tìm cõi tịnh ‘’thường lạc ngã tịnh.’’ Cho nên chư Phật Bồ Tát đảo giá từ thuyền để độ chúng sinh, vì khiến cho chúng sinh vĩnh viễn lìa khỏi tất cả phiền não.

5). Vì biết rõ tất cả các hạnh: Vì khiến cho chúng sinh biết tu hành để ra khỏi biển khổ, cho nên mới có tám vạn bốn ngàn pháp môn. Mỗi pháp môn đều thực tiễn. Chỉ cần chuyên nhất tu hành một pháp môn, thì đều đến được bờ bên kia.

6). Vì diễn nói tất cả các pháp: Phật vì khiến cho chúng sinh vĩnh viễn lìa khỏi phiền não, biết rõ các hạnh, cho nên nói tất cả các pháp, khiến cho chúng sinh y pháp tu hành, sẽ được thanh tịnh giải thoát.

7). Vì tịnh trừ tất cả tập nhiễm: Tại sao phải vì chúng sinh nói tất cả các pháp? Vì khiến cho tâm si vọng tưởng, cuồng tâm dã tánh của chúng sinh ngừng lại, không sinh tất cả pháp nhiễm ô, quét sạch tất cả rác rến (vọng tưởng), chẳng còn chút nhiễm ô nào.

8). Vì vĩnh viễn đoạn tất cả lưới nghi. Trước hết tịnh trừ tư tưởng ô nhiễm, sau đó mới vĩnh đoạn tất cả lưới nghi. Nếu tâm khởi hoài nghi đối với pháp của Phật nói, chẳng sinh tín tâm. Có tư tưởng như thế thì giống như bị lưới vây khốn, chẳng được tự do. Tự do đó, là chỉ tự do chân chính, khống chế được sinh tử, chẳng bị vua Diêm La hạn chế, tùy thời tùy lúc đều có thể vào Niết Bàn, đến đi tự tại, chẳng có chướng ngại.

9). Vì dứt trừ tất cả hy vọng: Phàm là có hy vọng, tức là còn tâm tham. Chẳng còn cầu gì nữa thì chẳng còn tâm tham. Còn tâm tham thì còn chấp trước, còn chấp trước thì chẳng được giải thoát, cho nên phải dứt trừ tất cả hy vọng.

Hy vọng khai ngộ, hy vọng thành Phật, đó cũng là vọng tưởng. Mọi người nên nhớ! Chỉ cần tu hành, chẳng cầu hư vọng. Do đó, có câu:

“Chỉ hỏi trồng trọt
Ðừng hỏi thu hoạch”.

Ðó mới là bổn phận của người tu đạo. Chẳng có tâm sí đồ, mới có thể dứt trừ tất cả hy vọng. Phải có trạch pháp nhãn « Phải đạo thì tiến, trái đạo thì lùi”, có nghĩa là hợp với đạo lý thì tiến về trước, trái với đạo lý thì thối lùi. Người tu đạo nên chú ý về điểm nầy.

10). Vì phá tan tất cả ái trước: Trải qua vô lượng kiếp thời gian lâu dài đến nay, nguyên nhân người tu đạo chẳng thành Phật, là vì chẳng phá tan được tất cả ái trước xứ. Ái trước xứ tức là nhìn chẳng thấu, buông xả chẳng đặng, có sự chấp trước. Nếu xả bỏ vợ, hoặc chồng của mình cho người khác, hoặc đem con cái cho người khác, thì tức là tiêu diệt được tất cả ái trước xứ.

Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni đã từng đem đất nước vợ con xả thí, một lòng một dạ đi tu đạo, cuối cùng công đức viên mãn mà thành Phật. Các vị ai có nghị lực như Ðức Phật, dũng mãnh tinh tấn thì người đó sẽ thành Phật.

 

Thuyết chư Bồ-tát thập trụ, thập hành, thập hồi hướng, thập tạng, Thập Địa, thập nguyện, thập định, thập thông, thập đảnh

Nói các thập trụ, thập hạnh, thập hồi hướng, thập tạng, thập địa, thập nguyện, thập định, thập thông, thập đảnh.

Những vị đại Bồ Tát đó lại đề ra ba mươi vấn đề. Mười vấn đề nầy là hỏi nhân, hai mươi vấn đề sau là hỏi quả. Các Ngài cầu Phật từ bi nói ra :

Mười thứ trụ của tất cả Bồ Tát :

1). Phát tâm trụ.
2). Trị địa trụ.
3). Tu hành trụ.
4). Sinh quý trụ.
5). Cụ túc phương tiện trụ

6). Chánh tâm trụ.
7). Bất thoái trụ.
8). Ðồng chân trụ.
9). Pháp vương trụ.
10). Quán đảnh trụ.

Tất cả Bồ Tát tu mười thứ hạnh:
1). Hoan hỉ hanh.
2). Nhiêu ích hạnh.
3). Vô sân hận hạnh.
4). Vô tận hạnh.
5). Ly si loạn hạnh.

6). Thiện hiện hạnh.
7). Vô trước hạnh.
8). Tôn trọng hạnh.
9). Thiện pháp hạnh.
10). Chân thật hạnh.

Tất cả Bồ Tát đều có mười thứ hồi hướng:
1). Bất hoại hồi hướng.
2). Cứu hộ chúng sinh lìa tướng chúng sinh hồi hướng.
3). Ðồng tất cả Phật hồi hướng.
4). Ðến nhất thiết xứ hồi hướng.
5). Vô tận công đức tạng hồi hướng.

6). Tùy thuận bình đẳng thiện căn hồi hướng.
7). Tùy thuận đồng quán tất cả chúng sinh hồi hướng.
8). Chân như tướng hồi hướng.
9). Vô phược giải thoát hồi hướng.
10). Pháp giới vô lượng hồi hướng.

Tất cả Bồ Tát đầy đủ mười thứ tạng :
1). Tín tạng.
2). Giới tạng.
3). Tàm tạng.
4). Quý tạng.
5). Văn tạng.

6). Phí tạng.
7). Huệ tạng.
8). Niệm tạng.
9). Trì tạng.
10). Biện tạng.

Tất cả Bồ Tát đắc được mười địa:
1). Hoan hỉ địa.
2). Ly cấu địa.
3). Phát quang địa.
4). Diệm huệ địa.
5). Nan thắng địa.

6). Hiện tiền địa.
7). Viễn hành địa.
8). Bất động địa.
9). Thiện huệ địa.
10). Pháp vân địa.

Tất cả Bồ Tát đều phát mười thứ nguyện:
1). Lễ kính chư Phật.
2). Xưng tán Như Lai.
3). Quảng tu cúng dường.
4). Sám hối nghiệp chướng.
5). Tùy hỉ công đức.

6). Thỉnh chuyển pháp luân.
7). Thỉnh Phật trụ thế.
8). Thường tùy Phật học.
9). Hằng thuận chúng sinh.
10). Phổ giai hồi hướng.

Tất cả Bồ Tát đều tu mười thứ định:
1). Phổ quang định.
2). Diệu quang định.
3). Thứ lớp biến trụ các cõi Phật thần thông định.
4). Thanh tịnh thâm tâm hạnh định.
5). Biết quá khứ trang nghiêm tạng định.

6). Trí quang minh tạng định.
7). Biết rõ tất cả thế giới Phật trang nghiêm định.
8). Tất cả chúng sinh sai biệt thân định.
9). Pháp giới tự tại định.
10). Vô ngại luân định.

Tất cả Bồ Tát đều đắc được mười thứ thông:
1). Khéo biết tha tâm trí thông.
2). Vô ngại thanh tịnh thiên nhãn trí thông.
3). Biết kiếp quá khứ túc trụ trí thông.
4). Biết kiếp thuở vị lai trí thông.
5). Vô ngại thanh tịnh thiên nhãn trí thông.

6). Trụ vô thể tánh vô động tác tất cả cõi Phật trí thông.
7). Khéo phân biệt tất cả lời lẽ trí thông.
8). Vô lượng sắc thân trang nghiêm trí thông.
9). Tất cả pháp trí thông.
10). Vào tất cả pháp diệt tận tam muội trí thông.

Tất cả Bồ Tát tu mười thứ ‘’quả vị’’ vô thượng; đẳng giác nhân vị cùng cực, thường gọi là ‘’đảnh’’. Tất cả Bồ Tát đều duy tư như vậy, hy vọng Phật sẽ vì chúng ta mọi người khai thị mười thứ đạo lý, khiến cho chúng ta hiểu rõ. Mười vấn đề nầy kinh văn dưới đây sẽ giải đáp. Ðợi khi giảng đến thì sẽ minh bạch. Hiện tại trước hết nói về danh từ để cho các vị có ấn tượng ở trong đầu não.

 

Cập thuyết Như Lai địa, Như Lai cảnh giới, Như Lai thần lực, Như Lai sở hạnh, Như Lai lực, Như Lai vô úy, Như Lai tam muội, Như Lai thần thông, Như Lai tự tại, Như Lai vô ngại, Như Lai nhãn, Như Lai Nhĩ, Như Lai tỳ, Như Lai thiệt, Như Lai thân, Như Lai ý, Như Lai biện tài, Như Lai trí tuệ, Như Lai tối thắng. Nguyện Phật Thế tôn, diệc vi ngã thuyết!

Và nói địa vị của Như Lai. Cảnh giới của Như Lai. Thần lực của Như Lai. Sở tu hành của Như Lai. Lực của Như Lai. Sự vô úy của Như Lai. Tam muội của Như Lai. Thần thông của Như Lai. Sự tự tại của Như Lai. Sự vô ngại của Như Lai. Mắt của Như Lai. Tai của Như Lai. Mũi của Như Lai. Lưỡi của Như Lai.. Thân của Như Lai. Ý của Như Lai. Biện tài của Như Lai. Trí huệ của Như Lai. Sự tối thắng của Như Lai. Xin đức Phật Thế Tôn cũng vì con mà nói.

Các vị đại Bồ Tát lại tư duy, xin nguyện Ðức Phật thương xót, hãy nói địa vị của Phật, cảnh giới của Phật, thần lực của Phật, hạnh môn tu hành của Phật, thập lực của Phật, bốn vô sở úy của Phật, định lực của Phật, thần thông của Phật, sự tự tại của Phật, cảnh giới vô ngại của Phật, mắt của Phật như thế nào? Tai của Phật ra sao? Mũi của Phật thế nào? Lưỡi của Phật ra sao? Thân của Phật thế nào? Ý của Phật ra sao? Biệt tài của Phật thế nào? Trí huệ của Phật ra sao? Sự tối thắng của Phật ra sao? Xin nguyện Phật từ bi thương xót vì chúng con mà khai thị, khiến cho chúng con minh bạch.

 

Nhĩ thời, Thế Tôn tri chư Bồ-tát tâm chi sở niệm, các tùy kỳ loại, vì hiện thần thông.

Bấy giờ, đức Thế Tôn biết tâm niệm của các Bồ Tát, tùy theo mỗi loài mà hiện thần thông.

Những vị Ðẳng Giác Bồ Tát một đời bổ xứ đó, trong tâm suy tư, muốn thỉnh Phật diễn nói các cảnh giới, đủ thứ thần thông, đủ thứ phương tiện pháp môn vừa hỏi ở trên. Bấy giờ, tâm của Phật và tâm của Bồ Tát đã thông đạt với nhau. Thông đạt như thế nào? Vì Phật có năm nhãn.
1) Nhục nhãn.
2). Thiên nhãn.
3). Huệ nhãn.
4). Pháp Nhãn.
5). Phật nhãn.

Sáu thông:
1). Thiên nhãn thông.
2). Thiên nhĩ thông.
3). Tha tâm thông.
4). Túc mạng thông.
5). Thần túc thông.
6). Lậu tận thông.

Có các thần thông như thế, cho nên biết việc tư duy của các đại Bồ Tát đó rất rõ ràng. Phật đầy đủ trí huệ tha tâm thông, Do đó, có câu :
’’Tất cả chúng sinh,
Có bao nhiêu thứ tâm,
Như Lai đều biết thấy.’’

Trong tâm của hết thảy chúng sinh nghĩ việc gì, Phật đều biết rõ. Hà huống là tâm của các vị đại Bồ Tát đó, nghĩ gì, Phật đều thấu rõ. Do đó, Phật tùy cơ ứng hiện hóa độ chúng sinh. Phật hay dùng thần thông diệu dụng không thể nghĩ bàn để giáo hóa chúng sinh. Mỗi chúng sinh đều cảm thấy Phật đang ở trước họ nói pháp. Bất cứ loại chúng sinh nào cũng đều có cảm giác như thế, cho nên nói tùy theo mỗi loài mà vì họ hiện thần thông.

 

Hiện thần thông dĩ, Đông phương qua thập Phật sát vi trần số thế giới, hữu thế giới, danh: kim sắc, Phật hiệu: bất động trí. Bỉ thế giới trung, hữu Bồ Tát, danh: Văn-thù-sư-lợi, dữ thập Phật sát vi trần số chư Bồ-tát câu, lai nghệ Phật sở, đáo dĩ tác lễ, tức ư Đông phương hóa tác liên hoa tạng sư tử chi tọa, kết già phu tọa.

Hiện thần thông rồi. Ở phương đông, trải qua các thế giới nhiều như số hạt bụi mười cõi Phật, có thế giới tên là Kim Sắc. Ðức Phật hiệu là Bất Ðộng Trí Phật. Trong thế giới đó, có Bồ Tát hiệu là Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. Với các Bồ Tát nhiều như số hạt bụi mười cõi Phật, cùng nhau đi đến chốn Phật. Ðến rồi làm lễ đức Phật, bèn ở phương đông hóa làm tòa sư tử liên hoa tạng, ngồi kiết già trên đó.

Phật vì muốn khiến cho tất cả chúng sinh lìa khổ được vui, chấm dứt sinh tử, bỏ mê về giác, tìm về nguồn cội, cho nên mới hiện thần thông. Như vậy thì sẽ khiến cho chúng sinh phát tâm bồ đề. Phật thị hiên thần thông rồi. Ở mười phương thế giới có mười vị Phật. Lại có mười vị đại Bồ Tát, xuất lãnh các quyến thuộc đến chốn Phật, gần gũi Phật, lễ lạy Phật.

Ở phương đông trải qua các thế giới nhiều như số hạt bụi mười cõi Phật, có thế giới tên là Kim Sắc. Trong thế giới đó, có vị Phật hiệu là Bất Ðộng Trí Phật (Phật A Súc, hoặc là Tiêu Tai Diên Thọ Dược Sư Phật). Trong thế giới Kim Sắc, lại có vị đại Bồ Tát hiệu là Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, dịch là Diệu Các Tường Bồ Tát. Ngài cùng với các Bồ Tát nhiều như số hạt bụi mười cõi Phật, cùng nhau đi đến chốn Phật, nhiễu quanh Phật ba vòng, sau đó đảnh lễ, lùi về phương đông biến hóa ra tòa sư tử liên hoa tạng, ai nấy đều ngồi kiết già trên tòa đó, cung kính nghe Phật diễn nói diệu pháp.

Công dụng của ngồi kiết già chẳng những hàng ma, mà còn hộ trì định lực. Cho nên người tu hành nhất định phải ngồi kiết già, mới được một niệm không sinh, Do đó:

‘’Một niệm không sinh toàn thể hiện.’’
‘’Sáu căn vừa động bị mây che.’’

Nếu một niệm không sinh, thì trí huệ vốn có sẽ hiện ra.
Sáu căn dấy lên một động niệm, thì giống như trời xanh sinh ra mây, che lấp mặt trời (Phật tánh).

Chúng ta tu đạo tức là tu tâm. Khi tâm sinh thì đủ thứ pháp sinh. Khi tâm diệt thì đủ thứ pháp diệt. Nếu một pháp không sinh, thì hợp với pháp giới mà làm một. Tại sao chúng ta chẳng hợp với pháp giới mà làm một? Vì chúng ta có tâm phân biệt, còn ý niệm. Tại sao chúng ta chẳng có trí huệ? Vì sáu căn của chúng ta bị sáu trần chuyển lay. Nếu sáu căn không bị cảnh giới sáu trần chuyển lay, mà chuyển được sáu trần thì có biện pháp. Lúc đó, sáu căn không động, thường ở trong định thì trí huệ sớm sẽ hiện tiền.

 

Nam phương qua thập Phật sát vi trần số thế giới, hữu thế giới, danh: Diệu sắc, Phật hiệu: vô ngại trí. bỉ hữu Bồ Tát, danh viết: giác thủ, dữ thập Phật sát vi trần số chư Bồ-tát câu, lai nghệ Phật sở, đáo dĩ tác lễ, tức ư Nam phương hóa tác liên hoa tạng sư tử chi tọa, kết già phu tọa.

Ở phương nam, trải qua các thế giới nhiều như số hạt bụi mười cõi Phật, có thế giới tên là Diệu Sắc. Ðức Phật hiệu là Vô Ngại Trí. Thế giới đó, có Bồ Tát hiệu là Giác Thủ, với các Bồ Tát nhiều như số hạt bụi mười cõi Phật tụ lại, cùng nhau đi đến chốn Phật. Ðến rồi làm lễ đức Phật, bèn ở phương nam, hóa làm tòa sư tử liên hoa tạng, ngồi kiết già trên tòa đó.

Ở phương nam, trải qua các thế giới nhiều như số hạt bụi mười cõi Phật. Có thế giới tên là Diệu Sắc. Thế giới đó có vị Phật hiệu là Vô Ngại Trí Phật (Bảo Sinh Phật). Thế giới Diệu Sắc, lại có vị đại Bồ Tát hiệu là Giác Thủ Bồ Tát. Ngài với các Bồ Tát nhiều như số hạt bụi mười cõi Phật tụ tập lại, cùng nhau đi đến chốn Phật, nhiễu quanh Phật ba vòng, rồi đảnh lễ, lùi về phương nam, biến hóa ra tòa sư tử Liên Hoa Tạng. Ai nấy đều ngồi kiết già trên đó, cung kính nghe Phật nói diệu pháp.

 

Tây phương qua thập Phật sát vi trần số thế giới, hữu thế giới, danh: liên hoa sắc, Phật hiệu: Diệt ám trí. bỉ hữu Bồ Tát, danh viết: Tài thủ, dữ thập Phật sát vi trần số chư Bồ-tát câu, lai nghệ Phật sở, đáo dĩ tác lễ, tức ư Tây phương hóa tác liên hoa tạng sư tử chi tọa, kết già phu tọa.

Ở phương tây, trải qua các thế giới nhiều nhu số hạt bụi mười cõi Phật, có thế giới tên là Liên Hoa Sắc. Ðức Phật hiệu là Diệt Ám Trí. Thế giới đó có Bồ Tát hiệu là Tài Thủ, với các Bồ Tát nhiều như số hạt bụi mười cõi Phật tụ lại, cùng nhau đi đến chốn Phật. Ðến rồi làm lễ đức Phật, bèn ở phương tây hóa làm tòa sư tử liên hoa tạng, mà ngồi kiết già trên đó.

Ở phương tây, trải qua các thế giới nhiều như số hạt bụi mười cõi Phật. Có thế giới tên là Liên Hoa Sắc (thế giới Cực Lạc). Trong thế giới đó có vị Phật hiệu là Diệt Ám Trí Phật (Phật A Di Ðà, dịch là Vô Lượng Thọ, hoặc Vô Lượng Quang). Thế giới Liên Hoa Sắc có vị Ðại Bồ Tát hiệu là Tài Thủ Bồ Tát. Ngài với các Bồ Tát nhiều như số hạt bụi mười cõi Phật tụ lại, cùng nhau đi đến chốn Phật, nhiễu quanh Phật ba lần, rồi đảnh lễ, lùi về phương tây hóa ra tòa sư tử liên hoa tạng, ai nấy đều ngồi kiết già trên tòa đó, cung kính nghe Phật nói diệu pháp.

 

Bắc phương qua thập Phật sát vi trần số thế giới, hữu thế giới, danh: đảm bặc hoa sắc, Phật hiệu: uy nghi trí. Bỉ hữu Bồ Tát, danh viết: bảo thủ, dữ thập Phật sát vi trần số chư Bồ-tát câu, lai nghệ Phật sở, đáo dĩ tác lễ, tức ư Bắc phương hóa tác liên hoa tạng sư tử chi tọa, kết già phu tọa.

Ở phương bắc, trải qua các thế giới nhiều như số hạt bụi mười cõi Phật, có thế giới tên Ðảm Bặc Hoa Sắc. Ðức Phật hiệu là Oai Nghi Trí. Thế giới đó có Bồ Tát hiệu là Bảo Thủ, với các Bồ Tát nhiều như số hạt bụi mười cõi Phật tụ lại, cùng nhau đi đến chốn Phật. Ðến rồi làm lễ đức Phật, bèn ở phương bắc hóa làm tòa sư tử liên hoa tạng, mà ngồi kiết già trên đó.

Ở phương bắc, trải qua các thế giới nhiều như số hạt bụi mười cõi Phật, có thế giới tên là Ðảm Bặc Hoa Sắc. Thế giới đó có vị Phật hiệu là Oai Nghi Trí Phật (Bất Không Thành Tựu Phật). Thế giới Ðảm Bặc Hoa Sắc có vị đại Bồ Tát, hiệu là Bảo Thủ Bồ Tát. Ngài với các Bồ Tát nhiều như số hạt bụi mười cõi Phật, cùng nhau đến chốn Phật, nhiễu Phật ba vòng, rồi lui về phương bắc, biến hóa ra tòa sư tử Liên Hoa Tạng, ai nấy đều ngồi kiết già trên đó, cung kính lắng nghe Phật nói diệu Pháp.

 

Đông Bắc phương qua thập Phật sát vi trần số thế giới, hữu thế giới, danh: ưu-bát-la hoa sắc, Phật hiệu: minh tướng trí. Bỉ hữu Bồ Tát, danh: công đức thủ, dữ thập Phật sát vi trần số chư Bồ-tát câu, lai nghệ Phật sở, đáo dĩ tác lễ, tức ư Đông Bắc phương hóa tác liên hoa tạng sư tử chi tọa, kết già phu tọa.

Phương đông bắc, trải qua các thế giới nhiều như số hạt bụi mười cõi Phật, có thế giới tên là Ưu Bát La Hoa Sắc. Ðức Phật hiệu là Minh Tướng Trí. Thế giới đó có Bồ Tát hiệu là Công Ðức Thủ, với các Bồ Tát nhiều như số hạt bụi mười cõi Phật tụ lại, cùng nhau đi đến chốn Phật. Ðến rồi làm lễ đức Phật, bèn ở phương đông bắc, hóa làm tòa sư tử liên hoa tạng, mà ngồi kiết già trên đó.

Ở phương đông bắc, trải qua các thế giới nhiều như số hạt bụi mười cõi Phật, có thế giới tên là Ưu Bát La Hoa Sắc. Thế giới đó có vị Phật hiệu là Minh Tướng Trí Phật. Thế giới đó lại có vị đại Bồ Tát hiệu là Công Ðức Thủ Bồ Tát. Ngài với các Bồ Tát nhiều như số hạt bụi mười cõi Phật tụ lại, cùng nhau đi đến chốn Phật, đến nơi nhiễu Phật ba vòng rồi đảnh lễ, lùi về phương đông bắc biến hóa ra tòa sư tử liên hoa tạng, ai nấy ngồi kiết già trên đó, cung kính nghe Phật nói pháp.

 

Đông Nam phương qua thập Phật sát vi trần số thế giới, hữu thế giới, danh: kim sắc, Phật hiệu: cứu cánh trí. Bỉ hữu Bồ Tát, danh: mục thủ, dữ thập Phật sát vi trần số chư Bồ-tát câu, lai nghệ Phật sở, đáo dĩ tác lễ, tức ư Đông Nam phương hóa tác liên hoa tạng sư tử chi tọa, kết già phu tọa.

Phương đông nam, trải qua các thế giới nhiều như số hạt bụi mười cõi Phật, có thế giới tên là Kim Sắc. Ðức Phật hiệu là Cứu Kính Trí. Thế giới đó có vị đại Bồ Tát hiệu là Mục Thủ, với các Bồ Tát nhiều như số hạt bụi mười cõi Phật tụ lại, cùng nhau đi đến chốn Phật. Ðến nơi rồi làm lễ đức Phật, bèn ở phương đông nam hóa làm tòa sư tử liên hoa tạng, mà ngồi kiết già trên đó.

Ở phương đông nam, trải qua các thế giới nhiều như số hạt bụi mười cõi Phật, có thế giới tên là Kim Sắc. Thế giới đó có vị Phật hiệu là Cứu Kính Trí. Thế giới đó lại có vị đại Bồ Tát hiệu là Mục Thủ Bồ Tát. Ngài với các Bồ Tát nhiều như số hạt bụi mười cõi Phật tụ lại cùng nhau đi đến chốn Phật, đến rồi nhiễu Phật ba vòng, rồi đảnh lễ Phật. Sau đó lùi về phương đông nam, biến hóa ra tòa sư tử liên hoa tạng, ai nấy đều ngồi kiết già trên tòa đó, cung kính nghe Phật nói pháp.

 

Tây Nam phương qua thập Phật sát vi trần số thế giới, hữu thế giới, danh: bảo sắc, Phật hiệu: Tối thắng trí. Bỉ hữu Bồ Tát, danh: Tinh tấn thủ, dữ thập Phật sát vi trần số chư Bồ-tát câu, lai nghệ Phật sở, đáo dĩ tác lễ, tức ư Tây Nam phương hóa tác liên hoa tạng sư tử chi tọa, kết già phu tọa.

Phương tây nam, trải qua các thế giới nhiều như số hạt bụi mười cõi Phật, có thế giới tên là Bảo Sắc. Ðức Phật hiệu là Tối Thắng Trí. Thế giới đó có Bồ Tát hiệu là Tinh Tấn Thủ. Ngài cùng với các Bồ Tát nhiều như số hạt bụi mười cõi Phật tụ lại, cùng nhau đi đến chốn Phật, đến rồi làm lễ đức Phật. Bèn ở phương tây nam, hóa làm tòa sư tử liên hoa tạng, mà ngồi kiết già trên đó.

Ở phương tây nam, trải qua các thế giới nhiều như số hạt bụi mười cõi Phật, có thế giới tên là Bảo Sắc. Thế giới đó có vị Phật hiệu là Tối Thắng Trí Phật. Thế giới đó lại có vị đại Bồ Tát, hiệu là Tinh Tấn Thủ Bồ Tát. Ngài với các Bồ Tát nhiều như số hạt bụi mười cõi Phật tụ lại, cùng nhau đi đến chốn Phật. Ðến rồi nhiễu Phật ba vòng, rồi đảnh lễ Phật, sau đó lùi về phương tây nam, biến hóa ra tòa sư tử Liên Hoa Tạng, ai nầy đều ngồi kiết già trên tòa đó, cung kính lắng nghe Phật nói diệu pháp.

 

Tây Bắc phương qua thập Phật sát vi trần số thế giới, hữu thế giới, danh: Kim cương sắc, Phật hiệu: Tự tại trí. Bỉ hữu Bồ Tát, danh: Pháp thủ, dữ thập Phật sát vi trần số chư Bồ-tát câu, lai nghệ Phật sở, đáo dĩ tác lễ, tức ư Tây Bắc phương hóa tác liên hoa tạng sư tử chi tọa, kết già phu tọa.

Phương tây bắc, trải qua các thế giới nhiều như số hạt bụi mười cõi Phật, có thế giới tên là Kim Cang Sắc. Ðức Phật hiệu là Tự Tại Trí. Thế giới đó có Bồ Tát hiệu là Pháp Thủ, Ngài cùng với các Bồ Tát nhiều như số hạt bụi mười cõi Phật tụ lại, cùng nhau đi đến chốn Phật. Ðến rồi làm lễ đức Phật, sau đó ở phương tây bắc hóa làm tòa sư tử liên hoa tạng, mà ngồi kiết già trên đó.

Ở phương tây bắc, trải qua các thế giới nhiều như số hạt bụi cõi Phật, có thế giới tên là Kim Cang Sắc. Thế giới đó có vị Phật hiệu là Tự Tại Trí Phật. Thế giới đó lại có vị đại Bồ Tát hiệu là Pháp Thủ Bồ Tát. Ngài với các Bồ Tát nhiều như số hạt bụi mười cõi Phật tụ lại, cùng nhau đi đến chốn Phật, nhiễu Phật ba vòng, rồi đảnh lễ. Sau đó lùi về phương tây bắc, biến hóa ra tòa sư tử liên hoa tạng, ai nấy đều ngồi kiết già trên đó, cung kính nghe Phật nói diệu pháp.

 

Hạ phương qua thập Phật sát vi trần số thế giới, hữu thế giới, danh: pha lê sắc, Phật hiệu: phạm trí. Bỉ hữu Bồ Tát, danh: Trí thủ, dữ thập Phật sát vi trần số chư Bồ-tát câu, lai nghệ Phật sở, đáo dĩ tác lễ, tức ư hạ phương hóa tác liên hoa tạng sư tử chi tọa, kết già phu tọa.

Phương dưới, trải qua các thế giới nhiều như số hạt bụi mười cõi Phật, có thế giới tên là Pha Lê Sắc. Ðức Phật hiệu là Phạm Trí. Thế giới đó có Bồ Tát tên là Trí Thủ, với các Bồ Tát nhiều như số hạt bụi mười cõi Phật tụ lại, cùng nhau đi đến chốn Phật. Ðến rồi làm lễ đức Phật, bèn ở phương dưới hóa làm tòa sư tử liên hoa tạng, mà ngồi kiết già trên đó.

Ở phương dưới, trải qua các thế giới nhiều như số hạt bụi mười cõi Phật, có thế giới tên là Pha Lê Sắc. Thế giới đó có vị Phật hiệu là Phạm Trí. Thế giới đó, lại có vị đại Bồ Tát hiệu là Trí Thủ. Ngài với các Bồ Tát nhiều như số hạt bụi mười phương cõi Phật tụ lại, cùng nhau đi đến chốn Phật, nhiễu quanh Phật ba vòng, sau đó đảnh lễ, rồi lùi về phương dưới, biến hóa ra tòa sư tử liên hoa tạng, ai nấy đều ngồi kiết già trên đó, lắng nghe Phật nói diệu pháp.

 

Thượng phương qua thập Phật sát vi trần số thế giới, hữu thế giới, danh: bình đẳng sắc, Phật hiệu: quan sát trí. Bỉ hữu Bồ Tát, danh: Hiền Thủ, dữ thập Phật sát vi trần số chư Bồ-tát câu, lai nghệ Phật sở, đáo dĩ tác lễ, tức ư thượng phương hóa tác liên hoa tạng sư tử chi tọa, kết già phu tọa.

Phương trên, trải qua các thế giới nhiều như số hạt bụi mười cõi Phật, có thế giới tên là Bình Ðẳng Sắc. Ðức Phật hiệu là Quán Sát Trí. Thế giới đó có Bồ Tát hiệu là Hiền Thủ, với các Bồ Tát nhiều như số hạt bụi mười cõi Phật tụ lại, cùng nhau đi đến chốn Phật. Ðến rồi làm lễ đức Phật, bèn ở phương trên, hóa làm tòa sư tử liên hoa tạng, mà ngồi kiết già trên đó.

Ở phương trên trải qua các thế giới nhiều như số hạt bụi mười cõi Phật, có thế giới tên là Bình Ðẳng Sắc. Thế giới đó có vị Phật hiệu là Quán Sát Trí. Thế giới đó lại có vị đại Bồ Tát hiệu là Hiền Thủ. Ngài với các Bồ Tát nhiều như số hạt bụi mười cõi Phật tụ lại, cùng nhau đi đến chốn Phật, nhiễu ba vòng rồi đảnh lễ Phật. Sau đó lùi về phương trên, biến hóa ra tòa sư tử liên hoa tạng, ai nấy đều ngồi kiết già trên tòa đó, cung kính nghe Phật nói diệu pháp.

Ðoạn văn ở trên là trả lời mười câu hỏi ban đầu, là phân làm hai bộ phận mà trả lời. Thứ nhất hỏi về:

1). Loại cõi nước.
2). Trang nghiêm.
3). Thanh tịnh.
4). Thể tánh.
5). Thành tựu.

Năm vấn đề.

Quang minh của Phật, hiện cõi Phật, là trả lời hỏi về cõi Phật. Cõi nước có Kim Sắc Thủy là cõi trang nghiêm. Tức dùng kim (vàng) làm thành, là trả lời về thể tánh cõi nước. Bồ Tát đại bảo dùng trang nghiêm, nên cõi nước thanh tịnh. Tánh tu phạm hạnh là cõi nước thành tựu. Thứ hai hỏi về Phật tánh, Phật pháp tánh, pháp của Phật tánh, Phật pháp tánh, pháp của Phật nói, oai đức của Phật, Phật đại bồ đề. Thân Phật trụ khắp các cõi, tâm Phật thường trụ đại bi. Trong cõi chánh báo, ai nấy đều có Phật ngồi tòa liên hoa tạng, là trả lời Phật trụ. Hiện thần thông phóng quang là trả lời oai đức của Phật. Hiệu là Bất Ðộng Trí .v.v… là trả lời Phật pháp tánh. Thấy Phật chuyển pháp luân là trả lời Phật nói pháp. Phật thành Chánh Giác là trả lời Phật đại bồ đề.

 

Nhĩ thời, Văn-thù-sư-lợi Bồ-Tát Ma-ha-tát, thừa Phật uy lực, phổ quán nhất thiết Bồ Tát chúng hội nhi tác thị ngôn: Thử chư Bồ-tát thậm vi hy hữu!

Bấy giờ, đại Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi, nương oai lực của đức Phật, quán sát tất cả chúng hội Bồ Tát mà nói rằng: Các Bồ Tát đó rất là hi hữu.

Khi các Bồ Tát từ mười phương vân tập đến chỗ Ðức Phật, thì có một vị đại Bồ Tát thượng thủ Văn Thù Sư Lợi từ phương đông đến. Vì Ngài là trí huệ bật nhất, cho nên là đại Bồ Tát trong các Bồ Tát. Ngài nương đại oai thần lực của Phật, quán sát khắp tâm niệm của các vị Bồ Tát đó mà nói rằng : «Các vị đại Bồ Tát đó có đức hạnh, đều là một đời nữa sẽ bổ xứ thành Phật, rất là hi hữu. Không dễ gì thấy được dung nhan của các Ngài, cũng chẳng dễ gì nghe được từ âm của các Ngài, thật là khó gặp’’ !

Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi sinh ra ở nước Xá Vệ, trong gia đình Bà La Môn. Lúc sinh ra, trong nhà phòng ốc hóa làm hoa sen, quang minh chiếu khắp. Ngài từ hông phải của người mẹ mà sinh ra, toàn thân màu vàng tía. Sinh ra liền biết nói, hình như Thiên đồng, có phan lọng bảy báu che phủ ở trên. Ngài có ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, trang nghiêm giống như Phật.

Ðại Bồ Tát Văn Thù lãnh đạo các đại Bồ Tát và tôn giả A Nan kết tập bộ Kinh Hoa Nghiêm (thượng, trung và hạ) ở tại núi Thiết Vi. Kết tập rồi, vì nhân duyên chưa chín mùi, mới bảo tồn ở trong lầu Tạng Kinh dưới Long Cung. Bảy trăm năm sau khi Phật vào Niết Bàn, thì Bồ Tát Long Thọ đem quyển hạ Kinh Hoa Nghiêm từ Long Cung lên, cộng cả thảy là mười vạn bài kệ, nhưng dịch ra tiếng Tàu chỉ có bốn vạn năm nghìn bài kệ, còn năm vạn năm nghìn bài kệ chưa dịch ra. Kinh văn đã dịch ra tức là tám mươi quyển Kinh Hoa Nghiêm như đã lưu truyền hiện nay.

Ðại bộ phận Kinh Hoa Nghiêm là Ðức Phật ở trong định phóng quang, gia trì cho các đại Bồ Tát thay thế tuyên nói. Hội thứ nhất là Bồ Tát Phổ Hiền nương thần lực của Phật mà nói. Hội thứ hai là Bồ Tát Văn Thù nương thần lực của Phật mà nói. Hội này gồm có sáu phẩm:

1). Phẩm Danh hiệu của Như Lai.
2). Phẩm Tứ Thánh Ðế.
3). Phẩm Quang Minh Giác.
4). Phẩm Bồ Tát Vấn Minh.
5). Phẩm Tịnh Hạnh.
6). Phẩm Hiền Thủ.

Hội này nói về đạo lý pháp môn thập tín vạn đức.

 

Chư Phật tử! Phật quốc độ bất khả tư nghị, Phật trụ, Phật sát trang nghiêm, Phật Pháp tánh, Phật sát thanh tịnh, Phật thuyết Pháp, Phật xuất hiện, Phật sát thành tựu, Phật A-nậu-đa-la tam-miệu-tam Bồ-đề giai bất khả tư nghị.

Các Phật tử ! Cõi Phật không thể nghĩ bàn, Phật trụ, cõi Phật trang nghiêm, Phật pháp tánh, cõi Phật thanh tịnh, Phật nói pháp, Phật xuất hiện, cõi Phật thành tựu, Phật A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, đều không thể nghĩ bàn.

Ðức Phật khiến cho Bồ Tát Văn Thù đại biểu trả lời các câu hỏi ở trước. Bồ Tát văn Thù gọi một tiếng các vị đại đệ tử của Phật! Tâm niệm các vị suy tư muốn biết cõi nước Phật, đều là không thể nghĩ bàn. Phật thường trụ cảnh giới đại bi. Công đức cõi Phật trang nghiêm. Pháp thân diệu tánh do Phật tu thành. Phật ở trong đời quá khứ, vì giữ giới thanh tịnh, cho nên cõi Phật cũng thanh tịnh. Thuở xưa Phật thường nghe pháp, thường cầu pháp, vì pháp mà quên mình, cho nên pháp của Phật nói đều là diệu pháp. Phật do nhân duyên gì mà xuất hiện ra đời? Cõi Phật do tu hạnh môn gì mà thành tựu? Phật chứng đắc được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Mười điều trên đều là cảnh giới vi diệu không thể nghĩ bàn.

 

Hà dĩ cố? Chư Phật tử! thập phương thế giới nhất thiết chư Phật, tri chư chúng sanh lạc dục bất đồng, tùy kỳ sở ưng, thuyết Pháp điều phục, như thị nãi chí đẳng Pháp giới, hư không giới.

Tại sao ? Các Phật tử ! Mười phương thế giới, tất cả chư Phật biết sự ưa thích của các chúng sinh khác nhau. Tùy theo căn tánh của họ mà nói pháp để điều phục, như vậy cho đến khắp pháp giới hư không giới.

Tại sao phải nói cảnh giới của Phật đều là không thể nghĩ bàn? Là nguyên nhân gì? Bồ Tát Văn Thù lại gọi các vị đại đệ tử của Phật! Trong mười phương thế giới, hết thảy tất cả chư Phật, đều giáo hóa chúng sinh. Tất cả chư Phật mười phương ba đời đều biết tâm niệm của chúng sinh, những sự hoan hỉ của họ đều khác nhau. Do đó, sự ưa thích của mỗi chúng sinh cũng khác nhau. Có người hy vọng thăng quan phát tài, có người hy vọng tu đạo thành Phật. Tất cả chư Phật, tùy theo căn tánh của chúng sinh mà nói pháp, để điều phục chúng sinh cang cường. Phật nói pháp điều phục như thế, cho đến khắp tận hư không biến pháp giới, các chúng sinh đều nói pháp như thế để giáo hóa họ. Do đó: «Quán cơ thí giáo, vì người nói pháp’’.

 

Chư Phật tử! Như Lai ư thử Ta Bà thế giới chư tứ thiên hạ, chủng chủng thân, chủng chủng danh, chủng chủng sắc tướng, chủng chủng tu đoản, chủng chủng thọ lượng, chủng chủng xứ sở, chủng chủng chư căn, chủng chủng sanh xứ, chủng chủng ngữ nghiệp, chủng chủng quán sát, lệnh chư chúng sanh các biệt tri kiến.

Các Phật tử! Như Lai ở thế giới Ta Bà nầy, các bốn thiên hạ đều hiện ra đủ thứ thân, có đủ thứ danh hiệu, đủ thứ sắc tướng, đủ thứ thân cao thấp, đủ thứ thọ lượng, đủ thứ xứ sở, đủ thứ các căn, đủ thứ nơi sinh, đủ thứ lời lẽ và văn tự, đủ thứ quán sát, khiến cho chúng sinh đều đắc được tri kiến khác nhau.

Bồ Tát Ðại Trí Văn Thù lại gọi một tiếng, các vị đại đệ tử của Phật ! Các vị mọi người nên biết, Phật ở trong thế giới Ta Bà nầy, các bốn thiên hạ (tức là bốn đại Thiên vương và bốn đại bộ châu), Phật đều hiện ra đử thứ thân, đủ thứ danh hiệu, lại hiện ra đủ thứ sắc tướng. Có đủ thứ thân cao thấp, có đủ thứ thọ lượng ngắn và dài. Tại đủ thứ xứ sở Phật đều hiện ra, có đủ thứ các căn, đủ thứ nơi sinh, có đủ thứ lời lẽ văn tự, có đủ thứ sự quán sát, khiến cho tất cả chúng sinh đều có tri kiến khác nhau, đều được Phật giáo hóa, đều phát tâm bồ đề.

 

Chư Phật tử! Như Lai ư thử tứ thiên hạ trung, hoặc danh: nhất thiết nghĩa thành, hoặc danh: viên mãn nguyệt, hoặc danh: sư tử hống, hoặc danh: Thích-Ca Mâu Ni, hoặc danh: đệ thất tiên, hoặc danh: Tỳ Lô Giá Na, hoặc danh: Cồ Đàm thị, hoặc danh: đại sa môn, hoặc danh: Tối thắng, hoặc danh: Đạo sư. Như thị đẳng, kỳ số thập thiên, lệnh chư chúng sanh các biệt tri kiến.

Các Phật tử ! Như Lai ở trong bốn thiên hạ nầy, hoặc danh hiệu là Nhất Thiết Nghĩa Thành, hoặc hiệu là Viên Mãn Nguyệt, hoặc hiệu là Sư Tử Hống, hoặc hiệu là Thích Ca Mâu Ni, hoặc hiệu là Ðệ Nhất Tiên, hoặc hiệu là Tỳ Lô Giá Na, hoặc hiệu là Cù Ðàm Thị, hoặc hiệu là Ðại Sa Môn, hoặc hiệu là Tối Thắng, hoặc hiệu là Ðạo Sư. Có mười ngàn danh hiệu như vậy, khiến cho các chúng sinh đều đắc được tri kiến khác nhau.

Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi lại gọi một tiếng các vị đệ tử của Phật ! Phật Thích Ca Mâu Ni ở trong thế giới Ta Bà, bốn thiên hạ, danh hiệu có khi gọi là : Nhất Thiết Nghĩa Thành Phật, tiếng phạn là Tất Ðạt Ða, tức là chẳng có việc gì mà chẳng thành tựu. Có khi gọi là Viên Mãn Nguyệt Phật. Có khi gọi là Sư Tử Hống Phật. Có khi gọi là Thích Ca Mâu Ni Phật. Có khi gọi là Ðệ Thất Tiên Phật, một vị Phật cuối cùng trong bảy vị Phật trong quá khứ. Có khi gọi là Tỳ Lô Giá Na Phật, nghĩa là biến nhất thiết xứ. Có khi gọi là Cù Ðàm Thị Phật, vì họ của Phật Thích Ca Mâu Ni là Cù Ðàm. Có khi gọi là Ðại Sa Môn Phật, dịch là dứt ác, chẳng làm các điều ác. Có khi gọi là Tối Thắng Phật. Có khi gọi là Ðạo Sư, tức là tiếp dẫn chúng sinh, lìa khỏi hiểm nạn. Các thứ danh hiệu như vậy, nếu đầy đủ thì có một vạn danh hiệu. Những danh hiệu Phật như vậy, hay khiến cho mỗi chúng sinh đều đắc được tri kiến đáng đắc được, nghĩa là nên đắc được bao nhiêu trí huệ thì đắc được bấy nhiêu trí huệ.

 

Chư Phật tử! thử tứ thiên hạ Đông, thứ hữu thế giới, danh vi: Thiện hộ. Như Lai ư bỉ, hoặc danh: Kim cương, hoặc danh: Tự tại, hoặc danh: hữu trí tuệ, hoặc danh: nan thắng, hoặc danh: vân Vương, hoặc danh: vô tránh, hoặc danh: năng vi chủ, hoặc danh: Tâm hoan hỉ, hoặc danh: vô dữ đẳng, hoặc danh: đoạn ngôn luận. Như thị đẳng, kỳ số thập thiên, lệnh chư chúng sanh các biệt tri kiến.

Các Phật tử ! Phương đông bốn thiên hạ, lại có thế giới tên là Thiện Hộ. Như Lai ở đó, hoặc hiệu là Kim Cang, hoặc hiệu là Tự Tại, hoặc hiệu là Hữu Trí Tuệ, hoặc hiệu là Nan Thắng, hoặc hiệu là Vân Vương, hoặc hiệu là Vô Tránh, hoặc hiệu là Năng Vi Chủ, hoặc hiệu là Tâm Hoan Hỉ, hoặc hiệu là Vô Dữ Ðẳng, hoặc hiệu là Ðoạn Ngôn Luận. Có mười ngàn danh hiệu như vậy, khiến cho chúng sinh đều đắc được tri kiến khác nhau.

Bồ Tát Văn Thù lại gọi một tiếng các vị đệ tử của Phật! Phương đông bốn thiên hạ lại có thế giới tên là Thiện Hộ, Phật Thích Ca Mâu Ni, xuất hiện ra đời ở thế giới Thiện Hộ đó. Tại sao xuất hiện ra đời? Vì muốn giáo hóa chúng sinh, khiến cho chúng sinh cũng thành Phật. Ngài đã thành rồi cũng hy vọng chúng sinh sớm thành Phật đạo. Cho nên chẳng sợ hạnh khổ hoạn nạn, thường đến thế giới độ chúng sinh, khiến cho chúng sinh phát tâm đại bồ đề, thành chánh giác. Ðó là mục đích Phật xuất hiện ra đời. Phật ở thế giới đó, hoặc có đời hiệu là Kim Cang Phật, hoặc có đời hiệu là Tự Tại Phật, hoặc có đời hiệu là Hữu Trí Huệ Phật, hoặc có đời hiệu là Nan Thắng Phật, hoặc có đời hiệu là Vân Vương Phật, hoặc có đời hiệu là Vô Tánh Phật, hoặc có đới hiệu là Năng Vi Chủ Phật, hoặc có đời hiệu là Tâm Hoan Hỉ Phật. Hoặc có đời hiệu là Vô Dữ Ðẳng Phật, hoặc có đời hiệu là Ðoạn Ngôn Luận Phật. Ðó là nói tóm lược mười danh hiệu, nếu nói tỉ mỉ thì có một vạn danh hiệu, đều khiến cho tất cả chúng sinh đều đắc được trí huệ đáng đắc được, có trí huệ thì biết Phật pháp, thấy được tướng Phật.

Trước kia có người tu đạo tên là Ni Kiền. Một ngày nọ, ông vua thỉnh Ngài vào cung để cúng dường. Ông vua hỏi Ngài rằng:

– Người có đại trí huệ, làm việc có lỗi lầm chăng?

– Ni Kiền đáp: Có.

– Ông vua lại hỏi : Là ai?

– Ngài đáp: Người nào đó có trí huệ, nhưng là người đố kị thì có lỗi lầm đố kị. Người nào đó có trí huệ, nhưng rất lười biếng thì có lỗi lầm lười biếng. Người nào đó có trí huệ mà cống cao ngã mạn, thì có lỗi lầm cống cao ngã mạn. Người nào đó có trí huệ mà tham năm dục, thì có lỗi lầm tham năm dục. Có đủ thứ lỗi lầm nói chẳng hết được. Nói đến đó thì Ni Kiền chẳng nói nữa.

– Lúc đó, ông vua lại hỏi: Người còn có lỗi lầm chăng ?

– Ni Kiền nói: Còn.

– Ông vua hỏi: Là ai?

– Ngài nói: Ðại vương, tánh tình của Ngài rất thô bạo, làm việc rất hung ác, Ngài có lỗi bạo ác.

Ông vua nghe rồi lập tức đại phát lôi đình : Ngươi dám phê bình ta! Nói ta có lỗi. Lập tức hạ lệnh đem chém đầu Ngài Ni Kiền.

– Lúc đó, Ni Kiền lại nói : Ðại vương ! Chẳng những Ngài có lỗi lầm, mà tôi cũng có lỗi lầm !

– Ông vua hỏi: Ông có lỗi lầm gì?

– Ni Kiền nói: Tôi có lỗi lầm nói thật. Tôi không nên ở trước mặt người thô bạo nói họ có lỗi lầm.

– Ông vua nghe cảm thấy lời nói đó rất có lý, Do đó, chẳng giết Ni Kiền. Chuyện nầy, tuy hành vi nói « lời thật » là tốt, song, dùng lời chẳng đối cơ, ngược lại sẽ phát sinh tác dụng chẳng tốt, khiến cho người ta chẳng vui.

 

Chư Phật tử! thử tứ thiên hạ Nam, thứ hữu thế giới, danh vi: nan nhẫn. Như Lai ư bỉ, hoặc danh: Đế Thích, hoặc danh: bảo xưng, hoặc danh: ly cấu, hoặc danh: Thật ngữ, hoặc danh: năng điều phục, hoặc danh: cụ túc hỉ, hoặc danh: Đại danh xưng, hoặc danh: năng lợi ích, hoặc danh: vô biên, hoặc danh: Tối thắng. Như thị đẳng, kỳ số thập thiên, lệnh chư chúng sanh các biệt tri kiến.

Các Phật tử! Phương nam bốn thiên hạ đó, lại có thế giới tên là Nan Nhẫn. Như Lai ở đó, hoặc hiệu là Ðế Thích. Hoặc hiệu là Bảo Xưng. Hoặc hiệu là Ly Cấu. Hoặc hiệu là Thật Ngữ. Hoặc hiệu là Năng Ðiều Phục. Hoặc hiệu là Cụ Túc Hỉ. Hoặc hiệu là Ðại Danh Xưng. Hoặc hiệu là Năng Lợi Ích. Hoặc hiệu là Vô Biên. Hoặc hiệu là Tối Thắng. Có mười ngàn danh hiệu như vậy, khiến cho các chúng sinh, đều đắc được tri kiến khác nhau.

Bồ Tát Ðại Trí Văn Thù, lại gọi một tiếng, các vị đệ tử của Phật! Phương nam của bốn thiên hạ đó, lại có một thế giới tên là Nan Nhẫn. Như Lai ở thế giới Nan Nhẫn, hoặc hiệu là Ðế Thích Phật. Hoặc hiệu là Bảo Xưng Phật. Hoặc hiệu là Ly Cấu Phật. Hoặc hiệu là Thật Ngữ Phật. Hoặc hiệu là Năng Ðiều Phục Phật. Hoặc hiệu là Cụ Túc Hỉ Phật. Hoặc hiệu là Ðại Danh Xưng Phật. Hoặc hiệu là Năng Lợi Ích Phật. Hoặc hiệu là Vô Biên Phật. Hoặc hiệu là Tối Thắng Phật. Như mười danh hiệu vừa nói ở trước, nếu nói tỉ mỉ thì có một vạn danh hiệu. Những danh hiệu đó, khiến cho tất cả chúng sinh, ai nấy đều đắc được trí huệ đáng được, mà gần gũi Phật, cũng biết được, cũng đắc được tri kiến đáng đắc được.

 

Chư Phật tử! thử tứ thiên hạ Tây, thứ hữu thế giới, danh vi: Thân tuệ. Như Lai ư bỉ, hoặc danh: Thủy Thiên, hoặc danh: hỉ kiến, hoặc danh: Tối thắng Vương, hoặc danh: điều phục Thiên, hoặc danh: chân thật tuệ, hoặc danh: đáo cứu cánh, hoặc danh: hoan hỉ, hoặc danh: Pháp tuệ, hoặc danh: sở tác dĩ biện, hoặc danh: Thiện trụ. Như thị đẳng, kỳ số thập thiên, lệnh chư chúng sanh các biệt tri kiến.

Các Phật tử! Phương tây bốn thiên hạ đó, lại có thế giới tên là Thân Huệ. Như Lai ở đó, hoặc hiệu là Thủy Thiên. Hoặc hiệu là Hỉ Kiến. Hoặc hiệu là Tối Thắng Vương. Hoặc hiệu là Ðiều Phục Thiên. Hoặc hiệu là Chân Thật Huệ. Hoặc hiệu là Ðáo Cứu Kính. Hoặc hiệu là Hoan Hỉ. Hoặc hiệu là Pháp Huệ. Hoặc hiệu là Sở Tác Dĩ Biện. Hoặc hiệu là Thiện Trụ. Có mười ngàn danh hiệu như vậy, khiến cho các chúng sinh, đều đắc được tri kiến khác nhau.

Bồ Tát Ðại Trí Văn Thù lại gọi một tiếng các vị đệ tử của Phật ! Phương tây của Bốn thiên hạ đó, lại có thế giới tên là Thân Huệ. Như Lai ở thế giới đó, hoặc hiệu là Thủy Thiên Phật. Hoặc hiệu là Hỉ Kiến Phật. Hoặc hiệu là Tối Thắng Vương Phật. Hoặc hiệu là Ðiều Phục Thiên Phật. Hoặc hiệu là Ðáo Cứu Kính Phật. Hoặc hiệu là Hoan Hỉ Phật. Hoặc hiệu là Pháp Huệ Phật. Hoặc hiệu là Sở Tác Dĩ Biện Phật. Hoặc hiệu là Thiện Trụ Phật. Như mười danh hiệu vừa nói ở trên, nếu nói rộng ra thì có một vạn danh hiệu. Những danh hiệu Phật đó, đều khiến cho tất cả chúng sinh, ai nấy đều đắc được tri kiến, tức là biết Phật pháp, thấy được tướng Phật.

Có người đề ra câu:
“Ðoạn trừ phiền não trọng tăng bệnh,
Thú hướng chân như diệc thị tà.’’

Nghĩa là :
Dứt trừ phiền não bệnh thêm nặng
Hướng về bồ đề cũng là tà.

Hai câu này là đạo lý gì ? Hai câu này ở trong bài thơ Trương Chuyết ngộ đạo vào đời Ðường. Bài thơ đó rằng :
“Quang minh tịch chiếu biến hà sa,
Phàm thánh hàm linh cộng ngã gia.
Nhất niệm không sinh toàn thể hiện,
Lục căn hốt động bị vân giá.

Ðoạn trừ phiền não trọng tăng bệnh,
Thú hướng chân như diệc thị tà.
Tùy thuận thế duyên vô quái ngại,
Niết Bàn sinh tử đẳng không hoa.’

Bây giờ chỉ giải thích hai câu đề ra. Trong thiền tông có câu : ‘’Ðả cơ phong’’, tức là nói đạo lý tương phản, mục đích là kêu bạn hồi quang phản chiếu, quay lại đi tìm chân lý, Do đó, ‘’Ðoạn trừ phiền não trọng tăng bệnh’’. Nếu có chữ ‘’đoạn’’ còn tồn tại, thì đó tức là phiền não. Nếu đã đạt đến được trình độ chẳng còn phiền não, thì chẳng cần ‘’đoạn’’, tự nhiên gì cũng chẳng còn nữa. Nghĩa là đừng có đầu lại thêm đầu.

‘’Thú hướng chân như diệc thị tà,’’ hiện tại đã chứng được đạo nghiệp. Suốt ngày đến tối cứ đi tìm chân như, đó là hướng bên ngoài truy cầu. Chân như tự tánh là ở trong tâm, chứ chẳng phải hướng ra ngoài tìm cầu.

Vào đời nhà Minh, Đại Sư Tử Bách nghe người ta tụng hai câu thơ: ‘’Ðoạn trừ phiền não trọng tăng bệnh, thú hướng chân như diệc thị tà‘’, thì đại sinh nghi hoặc? Suy nghĩ mãi chẳng hiểu. Ngài bèn biên hai câu nầy lên trên vách tường, suốt ngày đến tối suy nghĩ nghĩa của nó, nhưng chẳng được giải đáp. Một ngày nọ, đang lúc tập trung tinh thần vào hai câu thơ đó, thì chẳng may làm rớt bát cháo xuống đất, vỡ ra gây tiếng động, lập tức khai ngộ, thấu triệt nghĩa của bài thơ : Thì ra là thế ! Kỳ thật Ðại Sư Tử Bách đã có chỗ ngộ, đã chẳng còn phiền não, bất quá tự mình chẳng biết mà thôi. Nghe được tiếng bát vỡ mà đốn nhiên khai ngộ, chứng được trí huệ giải thoát.

 

Chư Phật tử! thử tứ thiên hạ Bắc, thứ hữu thế giới, danh: hữu sư tử. Như Lai ư bỉ, hoặc danh: Đại Mâu Ni, hoặc danh: khổ hạnh, hoặc danh: Thế sở tôn, hoặc danh: Tối thắng điền, hoặc danh: nhất thiết trí, hoặc danh: Thiện ý, hoặc danh: Thanh tịnh, hoặc danh: Kề La Bạt na, hoặc danh: Tối thượng thí, hoặc danh: khổ hạnh đắc. Như thị đẳng, kỳ số thập thiên, lệnh chư chúng sanh các biệt tri kiến.

Các Phật tử ! Phía bắc bốn thiên hạ đó, lại có thế giới tên là Hữu Sư Tử, Như Lai ở đó, hoặc hiệu là Ðại Mâu Ni. Hoặc hiệu là Khổ Hạnh. Hoặc hiệu là Thế Sở Tôn. Hoặc hiệu là Tối Thắng Ðiền. Hoặc hiệu là Nhất Thiết Trí. Hoặc hiệu là Thiện Ý. Hoặc hiệu là Thanh Tịnh. Hoặc hiệu là Kề La Bạt Na. Hoặc hiệu là Tối Thượng Thí. Hoặc hiệu là Khổ Hạnh Ðắc. Có mười ngàn danh hiệu như vậy, khiến cho các chúng sinh, đều đắc được tri kiến khác nhau.

Bồ Tát Ðại Trí Văn Thù lại gọi một tiếng các vị đệ tử của Phật ! Phương bắc của bốn thiên hạ đó, lại có thế giới tên là Hữu Sư Tử. Như Lai ở thế giới đó, hoặc hiệu là Ðại Mâu Ni Phật. Hoặc hiệu là Khổ Hạnh Phật. Hoặc hiệu là Thế Sở Tôn Phật. Hoặc hiệu là Tối Thắng Ðiền Phật. Hoặc hiệu là Nhất Thiết Trí Phật. Hoặc hiệu là Thiện Ý Phật. Hoặc hiệu là Thanh Tịnh Phật. Hoặc hiệu là Kề La Bạt Na Phật (viên âm tư tại). Hoặc hiệu là Tối Thượng Thí Phật. Hoặc hiệu là Khổ Hạnh Ðắc Phật. Như mười danh hiệu ở trên, nếu nói tỉ mỉ thì có một vạn danh hiệu, đều khiến cho tất cả chúng sinh, ai nấy đắc được trí huệ, cũng biết được Phật pháp, cũng thấy được tướng Phật.

 

Chư Phật tử! thử tứ thiên hạ Đông Bắc phương, thứ hữu thế giới, danh: Diệu quan sát. Như Lai ư bỉ, hoặc danh: điều phục ma, hoặc danh: Thành tựu, hoặc danh: Tức diệt, hoặc danh: hiền Thiên, hoặc danh: ly tham, hoặc danh: Thắng tuệ, hoặc danh: Tâm bình đẳng, hoặc danh: Vô năng thắng, hoặc danh: Trí tuệ âm, hoặc danh: nan xuất hiện. Như thị đẳng, kỳ số thập thiên, lệnh chư chúng sanh các biệt tri kiến.

Các Phật tử ! Phương đông bắc của bốn thiên hạ đó, lại có thế giới tên là Diệu Quán Sát. Như Lai ở thế giới đó, hoặc hiệu là Ðiều Phục Ma. Hoặc hiệu là Thành Tựu. Hoặc hiệu là Tức Diệt. Hoặc hiệu là Hiền Thiên. Hoặc hiệu là Ly Tham. Hoặc hiệu là Thắng Huệ. Hoặc hiệu là Tâm Bình Ðẳng. Hoặc hiệu là Vô Năng Thắng. Hoặc hiệu là Trí Huệ Âm. Hoặc hiệu là Nan Xuất Hiện. Có mười ngàn danh hiệu như vậy, khiến cho các chúng sinh, đều đắc được tri kiến khác nhau.

Bồ Tát Ðại Trí Văn Thù lại gọi một tiếng các vị đệ tử của Phật ! Phương đông bắc của bốn thiên hạ đó, lại có thế giới tên là Diệu Quán Sát thế giới. Như Lai ở thế giới đó, hoặc hiệu là Ðiều Phục Ma Phật. Hoặc hiệu là Thành Tựu Phật. Hoặc hiệu là Tứ Diệt Phật. Hoặc hiệu là Hiền Thiên Phật. Hoặc hiệu là Ly Tham Phật. Hoặc hiệu là Thắng Huệ Phật. Hoặc hiệu là Tâm Bình Ðẳng Phật. Hoặc hiệu là Vô Năng Thắng Phật. Hoặc hiệu là Trí Huệ Âm Phật. Hoặc hiệu là Nan Xuất Thiện Phật. Như mười danh hiệu vừa nói ở trên, nếu nói tỉ mỉ thì có một vạn danh hiệu Phật, khiến cho tất cả chúng sinh ai nấy đều đắc được tri kiến đáng đắc được.

 

Chư Phật tử! thử tứ thiên hạ Đông Nam phương, thứ hữu thế giới, danh vi: Thiện lạc. Như Lai ư bỉ, hoặc danh: cực uy nghiêm, hoặc danh: quang diệm tụ, hoặc danh: biến tri, hoặc danh: bí mật, hoặc danh: giải thoát, hoặc danh: Tánh an trụ, hoặc danh: như Pháp hành, hoặc danh: Tịnh nhãn Vương, hoặc danh: đại dũng kiện, hoặc danh: Tinh tấn lực. Như thị đẳng, kỳ số thập thiên, lệnh chư chúng sanh các biệt tri kiến.

Các Phật tử ! Phương đông nam của bốn thiên hạ đó, lại có thế giới tên là Hỉ Lạc. Như Lai ở thế giới đó, hoặc hiệu là Cực Oai Nghiêm. Hoặc hiệu là Quang Diễm Tụ. Hoặc hiệu là Biến Tri. Hoặc hiệu là Bí Mật. Hoặc hiệu là Giải Thoát. Hoặc hiệu là Tánh An Trụ. Hoặc hiệu là Như Pháp Hành. Hoặc hiệu là Tịnh Nhãn Vương. Hoặc hiệu là Ðại Dũng Kiện. Hoặc hiệu là Tinh Tấn Lực. Có mười ngàn danh hiệu như vậy, khiến cho các chúng sinh đều đắc được tri kiến khác nhau.

Bồ Tát Ðại Trí Văn Thù lại gọi một tiếng các vị đệ tử của Phật! Phương đông bắc của bốn thiên hạ đó, lại có thế giới tên là Hỉ Lạc. Như Lai ở thế giới đó, hoặc hiệu là Cực Oai Nghiêm Phật. Hoặc hiệu là Quang Diễm Tụ Phật. Hoặc hiệu là Biến Tri Phật. Hoặc hiệu là Bí Mật Phật. Hoặc hiệu là Giải Thoát Phật. Hoặc hiệu là Tánh An Trụ Phật. Hoặc hiệu là Như Pháp Hành Phật. Hoặc hiệu là Tịnh Nhãn Vương Phật. Hoặc hiệu là Ðại Dũng Kiện Phật. Hoặc hiệu là Tinh Tấn Lực Phật. Như mười danh hiệu vừa nói ở trên, nếu nói tỉ mỉ thì có một vạn danh hiệu, khiến cho tất cả chúng sinh, ai nấy đều đắc được tri kiến khác nhau.

 

Chư Phật tử! thử tứ thiên hạ Tây Nam phương, thứ hữu thế giới, danh: Thậm kiên lao. Như Lai ư bỉ, hoặc danh: an trụ, hoặc danh: Trí Vương, hoặc danh: viên mãn, hoặc danh: bất động, hoặc danh: Diệu nhãn, hoặc danh: đảnh Vương, hoặc danh: Tự tại âm, hoặc danh: nhất thiết thí, hoặc danh: Trì chúng tiên, hoặc danh: Thắng Tu-Di. Như thị đẳng, kỳ số thập thiên, lệnh chư chúng sanh các biệt tri kiến.

Các Phật tử ! Phương tây nam bốn thiên hạ đó, lại có thế giới tên là Thâm Kiên Lao. Như Lai ở thế giới đó, hoặc hiệu là An Trụ. Hoặc hiệu là Trí Vương. Hoặc hiệu là Viên Mãn. Hoặc hiệu là Bất Ðộng. Hoặc hiệu là Diệu Mãn. Hoặc hiệu là Ðảnh Vương. Hoặc hiệu là Tự Tại Âm. Hoặc hiệu là Nhất Thiết Thí. Hoặc hiệu là Trì Chúng Tiên. Hoặc hiệu là Thắng Tu Di. Có mười ngàn danh hiệu như vậy, khiến cho các chúng sinh đều đắc được tri kiến khác nhau.

Bồ Tát Ðại Trí Văn Thù lại gọi một tiếng các vị đệ tử của Phật ! Phương tây nam của bốn thiên hạ đó, lại có thế giới tên là Thâm Kiên Lao. Như Lai ở thế giới đó, hoặc hiệu là An Trụ Phật. Hoặc hiệu là Trí Vương Phật. Hoặc hiệu là Viên Mãn Phật. Hoặc hiệu là Bất Ðộng Phật. Hoặc hiệu là Diệu Nhãn Phật. Hoặc hiệu là Ðỉnh Vương Phật. Hoặc hiệu là Tự Tại Âm Phật. Hoặc hiệu là Nhất Thiết Thí Phật. Hoặc hiệu là Trì Chúng Tiên Phật. Hoặc hiệu là Thắng Tu Di Phật. Như mười danh hiệu vừa nói ở trên, nếu nói tỉ mỉ thì có một vạn danh hiệu, khiến cho chúng sinh, ai nấy đều đắc được tri kiến khác nhau.

 

Chư Phật tử! thử tứ thiên hạ Tây Bắc phương, thứ hữu thế giới, danh vi: Diệu địa. Như Lai ư bỉ, hoặc danh: phổ biến, hoặc danh: quang diệm, hoặc danh: ma-ni kế, hoặc danh: khả ức niệm, hoặc danh: vô thượng nghĩa, hoặc danh: Thường thiện lạc, hoặc danh: Tánh thanh tịnh, hoặc danh: viên mãn quang, hoặc danh: Tu tý, hoặc danh: Trụ bổn. Như thị đẳng, kỳ số thập thiên, lệnh chư chúng sanh các biệt tri kiến.

Các Phật tử ! Phương tây bắc bốn thiên hạ đó, lại có thế giới tên là Diệu Ðịa. Như Lai ở đó, hoặc hiệu là Phổ Biến. Hoặc hiệu là Quang Diễm. Hoặc hiệu là Ma Ni Kế. Hoặc hiệu là Khả Ðức Niệm. Hoặc hiệu là Vô Thượng Nghĩa. Hoặc hiệu là Thường Hỉ Lạc. Hoặc hiệu là Tánh Thanh Tịnh. Hoặc hiệu là Viên Mãn Quang. Hoặc hiệu là Tu Tí. Hoặc hiệu là Trụ Bổn. Có mười ngàn danh hiệu như vậy, khiến cho các chúng sinh đều đắc được tri kiến khác nhau.

Bồ Tát Ðại Trí Văn Thù lại gọi một tiếng các vị đệ tử của Phật ! Phương tây bắc bốn thiên hạ đó, lại có thế giới tên là Diệu Ðịa. Như Lai ở thế giới đó, hoặc hiệu là Phổ Biến Phật. Hoặc hiệu là Quang Diễm Phật. Hoặc hiệu là Ma Ni Kế Phật. Hoặc hiệu là Khả Ức Niệm Phật. Hoặc hiệu là Vô Thượng Nghĩa Phật. Hoặc hiệu là Thường Hỉ Lạc Phật. Hoặc hiệu là Tánh Thanh Tịnh Phật. Hoặc hiệu là Viên Mãn Quang Phật. Hoặc hiệu là Tu Tí Phật. Hoặc hiệu Trụ Bổn Phật. Như mười danh hiệu vừa nói ở trên, nếu nói tỉ mỉ thì có một vạn danh hiệu, khiến cho tất cả chúng sinh, ai nấy đều đắc được tri kiến khác nhau.

 

Chư Phật tử! thử tứ thiên hạ thứ hạ phương, hữu thế giới, danh vi: Diệm tuệ. Như Lai ư bỉ, hoặc danh: Tập thiện căn, hoặc danh: Sư Tử Tướng, hoặc danh: mãnh lợi tuệ, hoặc danh: kim sắc diệm, hoặc danh: nhất thiết tri thức, hoặc danh: cứu cánh âm, hoặc danh: Tác lợi ích, hoặc danh: đáo cứu cánh, hoặc danh: chân thật Thiên, hoặc danh: phổ biến thắng. Như thị đẳng, kỳ số thập thiên, lệnh chư chúng sanh các biệt tri kiến.

Các Phật tử ! Kế phương dưới bốn thiên hạ đó, lại có thế giới tên là Diễm Huệ. Như Lai ở thế giới đó, hoặc hiệu là Tập Thiện Căn. Hoặc hiệu là Sư Tử Tướng. Hoặc hiệu là Mãnh Lợi huệ. Hoặc hiệu là Kiêm Sắc Diễm. Hoặc hiệu là Nhất Thiết Tri Thức. Hoặc hiệu là Cứu Kính Âm. Hoặc hiệu là Tác Lợi Ích. Hoặc hiệu là Ðáo Cứu Kính. Hoặc hiệu là Chân Thật Thiện. Hoặc hiệu là Phổ Biến Thắng. Có mười ngàn danh hiệu như vậy, khiến cho các chúng sinh đều đắc được tri kiến khác nhau.

Bồ Tát Ðại Trí Văn Thù lại gọi một tiếng các vị đệ tử của Phật ! Các vị mọi người có biết chăng? Kế phương dưới của bốn thiên hạ đó, có thế giới tên là Diễm Huệ. Như Lai ở thế giới đó, hoặc hiệu là Tập Thiện Căn Phật. Hoặc hiệu là Sư Tử Tướng Phật. Hoặc hiệu là Mãnh Lợi Huệ Phật. Hoặc hiệu là Kim Sắc Diễm Phật. Hoặc hiệu là Nhất Thiết Tri Thức Phật. Hoặc hiệu là Cứu Kính Âm Phật. Hoặc hiệu là Tác Lợi Ích Phật. Hoặc hiệu là Ðáo Cứu Kính Phật. Hoặc hiệu là Chân Thật Thiện Phật. Hoặc hiệu là Phổ Biến Thắng Phật. Như mười danh hiệu vừa nói ở trên, nếu nói tỉ mỉ thì có một vạn danh hiệu, khiến cho chúng sinh đều đắc được tri kiến đáng đắc được khác nhau.

 

Chư Phật tử! thử tứ thiên hạ thứ thượng phương, hữu thế giới, danh viết: Trì địa. Như Lai ư bỉ, hoặc danh: hữu trí tuệ, hoặc danh: Thanh tịnh diện, hoặc danh: giác tuệ, hoặc danh: Thượng thủ, hoặc danh: hạnh trang nghiêm, hoặc danh: phát hoan hỉ, hoặc danh: ý thành mãn, hoặc danh: như thịnh hỏa, hoặc danh: Trì giới, hoặc danh: nhất đạo. Như thị đẳng, kỳ số thập thiên, lệnh chư chúng sanh các biệt tri kiến.

Các Phật tử ! Kế phương trên bốn thiên hạ đó, có thế giới tên là Trì Địa. Như Lai ở thế giới đó, hoặc hiệu là Hữu Trí Huệ. Hoặc Hiệu là Thanh Tịnh Diện. Hoặc hiệu là Giác Huệ. Hoặc hiệu là Thượng Thủ. Hoặc hiệu là Hạnh Trang Nghiêm. Hoặc hiệu là Phát Hoan Hỉ. Hoặc hiệu là Ý Thành Mãn. Hoặc hiệu là Như Thạnh Hỏa. Hoặc hiệu là Trì Giới. Hoặc hiệu là Nhất Đạo. Có mười ngàn danh hiệu như vậy, khiến cho các chúng sinh, đều đắc được tri kiến khác nhau.

Bồ Tát Ðại Trí Văn Thù lại gọi một tiếng các vị đệ tử của Phật ! Kế phương trên có thế giới tên là Trì Ðịa. Phật ở thế giới đó xuất hiện ra đời, để giáo hóa chúng sinh đáng được độ. Hoặc hiệu là Hữu Trí Huệ Phật. Hoặc hiệu là Thanh Tịnh Diện Phật. Hoặc hiệu là Giác Huệ Phật. Hoặc hiệu là Thượng Thủ Phật. Hoặc hiệu là Hạnh Trang Nghiêm Phật. Hoặc hiệu là Phát Hoan Hỉ Phật. Hoặc hiệu là Ý Thành Mãn Phật. Hoặc hiệu là Như Thạnh Hỏa Phật. Hoặc hiệu là Trì Giới Phật. Hoặc hiệu là Nhất Ðạo Phật. Như mười danh hiệu vừa nói ở trên, nếu nói tỉ mỉ thì có một vạn danh hiệu, đều khiến cho tất cả chúng sinh, ai nấy đều đắc được tri kiến đáng đắc được khác nhau.

Giảng kinh giống như biên tự, phải phổ khắp hóa đại chúng. Nếu giảng giải quá sâu thì chỉ có ít người có học vấn hiểu thôi, đại đa số người chẳng hiểu. Tôi giảng kinh thì giảng những ý nghĩa đơn giản dễ hiểu. Nếu giảng quá sâu thì chẳng có ai hiểu nổi, đó chẳng khác gì không giảng, chẳng có ích lợi gì. Dùng phương thức giảng kinh nhai văn nuốt chữ, chẳng có sinh khí gì. Tôi chủ trương dùng văn tự thông thường để giảng kinh, ai ai cũng hiểu được, thì đắc được lợi ích. Bất tất nói cao luận sâu, bạn giảng hay hơn mà chẳng ai hiểu thì lãng phí công phu, lãng phí thời gian, chẳng ích lợi gì.

 

Chư Phật tử! thử Ta Bà thế giới hữu bách ức tứ thiên hạ, Như Lai ư trung, hữu bách ức vạn chủng chủng danh hiệu, lệnh chư chúng sanh các biệt tri kiến.

Các Phật tử ! Thế giới Ta Bà này, có trăm ức bốn thiên hạ. Như Lai ở trong đó, có trăm ức vạn đủ thứ danh hiệu, khiến cho các chúng sinh đều đắc được tri kiến khác nhau.

Bồ Tát Văn Thù lại gọi một tiếng các vị đệ tử của Phật ! Các vị mọi người phải biết ! Trong thế giới Ta Bà nầy có trăm ức bốn thiên hạ (Một bốn thiên hạ là Ðông Thắng Thần Châu, Nam Thiệm Bộ Châu, Tây Ngưu Hóa Châu, Bắc Câu Lư Châu). Phật ở trong trăm ức bốn thiên hạ, có trăm ức vạn đủ thứ danh hiệu. Ðều khiến cho tất cả chúng sinh, ai nấy đều đắc được trí huệ đáng đắc được, biết Phật pháp, thấy được tướng Phật.

 

Chư Phật tử! thử Ta Bà thế giới Đông, thứ hữu thế giới, danh vi: mật huấn. Như Lai ư bỉ, hoặc danh: bình đẳng, hoặc danh: Thù thắng, hoặc danh: an uý, hoặc danh: khai hiểu ý, hoặc danh: văn tuệ, hoặc danh: chân thật ngữ, hoặc danh: đắc tự tại, hoặc danh: Tối thắng thân, hoặc danh: đại dũng mãnh, hoặc danh: vô đẳng trí. Như thị đẳng bách ức vạn chủng chủng danh hiệu, lệnh chư chúng sanh các biệt tri kiến.

Các Phật tử ! Phương đông thế giới Ta Bà nầy, lại có thế giới tên là Mật Huấn. Như Lai ở thế giới đó, hoặc hiệu là Bình Ðẳng. Hoặc hiệu là Thù Thắng. Hoặc hiệu là An Úy. Hoặc hiệu là Khai Hiểu ý. Hoặc hiệu là Văn Huệ. Hoặc hiệu là Chân Thật Ngữ. Hoặc hiệu là Ðắc Tự Tại. Hoặc hiệu là Tối Thắng Thân. Hoặc hiệu là Ðại Dũng Mãnh. Hoặc hiệu là Vô Ðẳng Trí. Có trăm ức vạn đủ thứ danh hiệu như vậy, khiến cho các chúng sinh đều đắc được tri kiến khác nhau.

Bồ Tát Văn Thù lại gọi một tiếng, các vị đệ tử của Phật ! Các vị có biết chăng? Phương đông thế giới Ta Bà, có thế giới tên là Mật Huấn. Phật xuất hiên ra đời ở thế giới Mật Huấn để giáo hóa chúng sinh. Hoặc có đời hiệu là Bình Ðẳng Phật. Hoặc có đời hiệu là Thù Thắng Phật. Hoặc có đời hiệu là An Úy Phật. Hoặc có đời hiệu là Khai Hiểu Ý Phật. Hoặc có đời hiệu là Văn Huệ Phật. Hoặc có đời hiệu là Chân Thật Ngữ Phật. Hoặc có đời hiệu là Ðắc Tự Tại Phật. Hoặc có đời hiệu là Tối Thắng Thân Phật. Hoặc có đời hiệu là Ðại Dũng Mãnh Phật. Hoặc có đời hiệu là Vô Ðẳng Trí Phật. Như danh hiệu vừa nói ở trên, có trăm ức vạn đủ thứ danh hiệu, khiến cho tất cả chúng sinh, ai nấy đều đắc được tri kiến đáng đắc được.

 

Chư Phật tử! thử Ta Bà thế giới Nam, thứ hữu thế giới, danh viết: phong dật. Như Lai ư bỉ, hoặc danh: bổn tánh, hoặc danh: cần ý, hoặc danh: vô thượng tôn, hoặc danh: Đại trí cự, hoặc danh: vô sở y, hoặc danh: quang minh tạng, hoặc danh: Trí tuệ tạng, hoặc danh: phước đức tạng, hoặc danh: Thiên trung thiên, hoặc danh: đại tự tại. Như thị đẳng bách ức vạn chủng chủng danh hiệu, lệnh chư chúng sanh các biệt tri kiến.

Các Phật tử ! Phương nam thế giới Ta Bà nầy, lại có thế giới tên là Phong Ích. Như Lai ở thế giới đó, hoặc hiệu là Bổn Tánh. Hoặc hiệu là Cần Ý. Hoặc hiệu là Vô Thượng Tôn. Hoặc hiệu là Ðại Trí Cự. Hoặc hiêu là Vô Sở Y. Hoặc hiệu là Quang Minh Tạng. Hoặc hiệu là Trí Huệ Tạng. Hoặc hiệu là Phước Ðức Tạng. Hoặc hiệu là Thiên Trung Thiên. Hoặc hiệu là Ðại Tự Tại. Có trăm vạn ức đủ thứ danh hiệu như vậy, khiến cho các chúng sinh đều đắc được tri kiến khác nhau.

Bồ Tát Ðại Trí Văn Thù lại gọi một tiếng các vị đệ tử của Phật ! Phương nam của thế giới Ta Bà nầy, có thế giới tên là Phong Ích. Như Lai ở trong thế giới đó, hoặc hiệu là Bổn Tánh Phật. Hoặc hiệu là Cần Ý Phật. Hoặc hiệu là Vô Thượng Tôn Phật. Hoặc hiệu là Ðại Trí Cự Phật. Hoặc hiệu là Vô Sở Y Phật. Hoặc hiệu là Quang Minh Tạng Phật. Hoặc hiệu là Trí Tuệ Tạng Phật. Hoặc hiệu là Phước Ðức Tạng Phật. Hoặc hiệu là Thiên Trung Thiên Phật. Hoặc hiệu là Ðại Tự Tại Phật. Danh hiệu vừa nói ở trên, có trăm ức vạn đủ thứ danh hiệu, khiến cho tất cả chúng sinh, ai nấy đều đắc được tri kiến đáng đắc được.

 

Chư Phật tử! thử Ta Bà thế giới Tây, thứ hữu thế giới, danh vi: ly cấu. Như Lai ư bỉ, hoặc danh: ý thành, hoặc danh: Tri đạo, hoặc danh: an trụ bổn, hoặc danh: năng giải phược, hoặc danh: Thông đạt nghĩa, hoặc danh: lạc phân biệt, hoặc danh: Tối thắng kiến, hoặc danh: điều phục hành, hoặc danh: chúng khổ hạnh, hoặc danh: cụ túc lực. Như thị đẳng bách ức vạn chủng chủng danh hiệu, lệnh chư chúng sanh các biệt tri kiến.

Các Phật tử ! Phương tây thế giới Ta Bà, lại có thế giới tên là Ly Cấu. Như Lai ở thế giới đó, hoặc hiệu là Ý Thành. Hoặc hiệu là Tri Ðạo. Hoặc hiệu là An Trụ Bổn. Hoặc hiệu là Năng Giải Phược. Hoặc hiệu là Thông Ðạt Nghĩa. Hoặc hiệu là Lạc Phân Biệt. Hoặc hiệu là Tối Thắng Kiến. Hoặc hiệu là Ðiều Phục Hành. Hoặc hiệu là Chúng Phổ Hạnh. Hoặc hiệu là Cụ Túc Lực. Có trăm ức vạn đủ thứ danh hiệu như vậy, khiến cho các chúng sinh đều đắc được tri kiến khác nhau.

Bồ Tát Ðại Trí Văn Thù lại gọi một tiếng các vị Phật tử của Phật ! Phương tây của thế giới Ta Bà nầy, có thế giới tên là Ly Cấu. Như Lai ở thế giới đó hoặc hiệu là Ý Thành Phật. Hoặc hiệu là Tri Ðạo Phật. Hoặc hiệu là An Trụ Bổn Phật. Hoặc hiệu là Năng Giải Phược Phật. Hoặc hiệu là Thông Ðạt Nghĩa Phật. Hoặc hiệu là Lạc Phân Biệt Phật. Hoặc hiệu là Tối Thắng Kiến Phật. Hoặc hiệu là Ðiều Phục Hành Phật. Hoặc hiệu là Chúng Khổ Hạnh Phật. Hoặc hiệu là Cụ Túc Lực Phật. Danh hiệu như thế có hàng trăm ức vạn đủ thứ danh hiệu, khiến cho tất cả chúng sinh đắc được tri kiến khác nhau.

 

Chư Phật tử! thử Ta Bà thế giới Bắc, thứ hữu thế giới, danh viết: phong lạc. Như Lai ư bỉ, hoặc danh: đảm bặc hoa sắc, hoặc danh: nhật tạng, hoặc danh: Thiện trụ, hoặc danh: hiện thần thông, hoặc danh: Tánh siêu mại, hoặc danh: Tuệ nhật, hoặc danh: vô ngại, hoặc danh: như nguyệt hiện, hoặc danh: Tấn tật phong, hoặc danh: Thanh tịnh thân. Như thị đẳng bách ức vạn chủng chủng danh hiệu, lệnh chư chúng sanh các biệt tri kiến.

Các Phật tử ! Phương bắc thế giới Ta Bà nầy, lại có thế giới tên là Phong Lạc. Như Lai ở thế giới đó, hoặc hiệu là Ðảm Bặc Hoa Sắc. Hoặc hiệu là Nhật Tạng. Hoặc hiệu là Thiện Trụ. Hoặc hiệu là Hiện Thần Thông. Hoặc hiệu là Tánh Siêu Mại. Hoặc hiệu là Huệ Nhật. Hoặc hiệu là Vô Ngại. Hoặc hiệu là Như Nguyệt Hiện. Hoặc hiệu là Tấn Tật Phong. Hoặc hiệu là Thanh Tịnh Thân. Có trăm ức vạn đủ thứ danh hiệu như vậy, khiến cho các chúng sinh đều đắc được tri kiến khác nhau.

Bồ Tát Ðại Trí Văn Thù lại gọi một tiếng các vị đệ tử của Phật ! Phương bắc của thế giới Ta Bà nấy, có thế giới tên là Phong Lạc. Như Lai ở thế giới đó tên là Ðảm Bặc Hoa Sắc Phật. Hoặc hiệu là Nhật Tạng Phật. Hoặc hiệu là Thiện Trụ Phật. Hoặc hiệu là Hiện Thần Thông Phật. Hoặc hiệu là Tánh Siêu Mại Phật. Hoặc hiệu là Huệ Nhật Phật. Hoặc hiệu là Vô Ngại Phật. Hoặc hiệu là Như Nguyệt Hiện Phật. Hoặc hiệu là Tấn Tật Phong Phật. Hoặc hiệu là Thanh Tịnh Thân Phật. Danh hiệu như vậy, có hàng trăm ức vạn đủ thứ danh hiệu, khiến cho tất cả chúng sinh đều đắc được tri kiến khác nhau.

 

Chư Phật tử! thử Ta Bà thế giới Đông Bắc phương, thứ hữu thế giới, danh vi: nhiếp thủ. Như Lai ư bỉ, hoặc danh: vĩnh ly khổ, hoặc danh: phổ giải thoát, hoặc danh: Đại phục tạng, hoặc danh: giải thoát trí, hoặc danh: quá khứ tạng, hoặc danh: bảo quang minh, hoặc danh: ly thế gian, hoặc danh: vô ngại địa, hoặc danh: Tịnh tín tạng, hoặc danh: Tâm bất động. Như thị đẳng bách ức vạn chủng chủng danh hiệu, lệnh chư chúng sanh các biệt tri kiến.

Các Phật tử ! Phương đông bắc thế giới Ta Bà nầy, lại có thế giới tên là Nhiếp Thủ. Như Lai ở thế giới đó, hoặc hiệu là Vĩnh Ly Khổ. Hoặc hiệu là Phổ Giải Thoát. Hoặc hiệu là Ðại Phục Tạng. Hoặc hiệu là Giải Thoát Trí. Hoặc hiệu là Quá Khứ Tạng. Hoặc hiệu là Bảo Quang Minh. Hoặc hiệu là Ly Thế Gian. Hoặc hiệu là Vô Ngại Ðịa. Hoặc hiệu là Tịnh Tín Tạng. Hoặc hiệu là Tâm Bất Ðộng. Có trăm vạn ức đủ thứ danh hiệu như vậy, khiến cho các chúng sinh đều đắc được tri kiến khác nhau.

Bồ Tát Ðại Trí Văn Thù lại gọi một tiếng các vị đệ tử của Phật ! Phương tây bắc thế giới Ta Bà nầy, có thế giới tên là Nhiếp Thủ. Như Lai ở thế giới đó hiệu là Vĩnh Ly Khổ Phật. Hoặc hiệu là Phổ Giải Thoát Phật. Hoặc hiệu là Ðại Phục Tạng Phật. Hoặc hiệu là Giải Thoát Trí Phật. Hoặc hiệu là Quá Khứ Tạng Phật. Hoặc hiệu là Bảo Quang Minh Phật. Hoặc hiệu là Ly Thế Gian Phật. Hoặc hiệu là Vô Ngại Ðịa Phật. Hoặc hiệu là Tịnh Tín Tạng Phật. Hoặc hiệu là Tâm Bất Ðộng Phật. Danh hiệu như vậy, có hàng trăm ức vạn đủ thứ danh hiệu, khiến cho tất cả chúng sinh đều đắc được tri kiến khác nhau.

 

Chư Phật tử! thử Ta Bà thế giới Đông Nam phương, thứ hữu thế giới, danh vi: nhiêu ích. Như Lai ư bỉ, hoặc danh: hiện quang minh, hoặc danh: Tận trí, hoặc danh: mỹ âm, hoặc danh: Thắng căn, hoặc danh: Trang nghiêm cái, hoặc danh: Tinh tấn căn, hoặc danh: đáo phân biệt bỉ ngạn, hoặc danh: Thắng định, hoặc danh: giản ngôn từ, hoặc danh: Trí tuệ hải. Như thị đẳng bách ức vạn chủng chủng danh hiệu, lệnh chư chúng sanh các biệt tri kiến.

Các Phật tử ! Phương đông nam thế giới Ta Bà nầy, lại có thế giới tên là Nhiêu Ích. Như Lai ở thế giới đó, hoặc hiệu là Hiện Quang Minh. Hoặc hiệu là Tận Trí. Hoặc hiệu là Mỹ Âm. Hoặc hiệu là Thắng Căn. Hoặc hiệu là Trang Nghiêm Cái. Hoặc hiệu là Tinh Tấn Căn. Hoặc hiệu là Ðáo Phân Biệt Bỉ Ngạn. Hoặc hiệu là Thắng Ðịnh. Hoặc hiệu là Giản Ngôn Từ. Hoặc hiệu là Trí Huệ Hải. Có trăm vạn ức đủ thứ danh hiệu như vậy, khiến cho các chúng sinh đều đắc được tri kiến khác nhau.

Bồ Tát Ðại Trí Văn Thù lại gọi một tiếng các vị đệ tử của Phật ! Phương đông nam của thế giới Ta Bà, có thế giới tên là Nhiêu Ích. Như Lai ở thế giới đó, hoặc hiệu là Hiện Quang Minh Phật. Hoặc hiệu là Tận Trí Phật. Hoặc hiệu là Mỹ Âm Phật. Hoặc hiệu Thắng Căn Phật. Hoặc hiệu là Trang Nghiêm Cái Phật. Hoặc hiệu là Tinh Tấn Căn Phật. Hoặc hiệu là Ðáo Phân Biệt Bỉ Ngạn Phật. Hoặc hiệu là Thắng Ðịnh Phật. Hoặc hiệu là Giản Ngôn Từ Phật. Hoặc hiệu là Trí Huệ Hải Phật. Danh hiệu như thế, có hàng trăm ức vạn đủ thứ danh hiệu, khiến cho tất cả chúng sinh, ai nấy đều đắc được tri kiến đáng đắc được.

 

Chư Phật tử! thử Ta Bà thế giới Tây Nam phương, thứ hữu thế giới, danh vi: Tiên thiểu. Như Lai ư bỉ, hoặc danh: Mâu Ni chủ, hoặc danh: cụ chúng bảo, hoặc danh: Thế giải thoát, hoặc danh: biến tri căn, hoặc danh: Thắng ngôn từ, hoặc danh: minh liễu kiến, hoặc danh: căn tự tại, hoặc danh: đại tiên sư, hoặc danh: khai đạo nghiệp, hoặc danh: Kim cương sư tử. Như thị đẳng bách ức vạn chủng chủng danh hiệu, lệnh chư chúng sanh các biệt tri kiến.

Các Phật tử ! Phương tây nam thế giới Ta Bà nầy, lại có thế giới tên là Tiển Thiểu. Như Lai ở thế giới đó, hoặc hiệu là Mâu Ni Chủ. Hoặc hiệu là Cụ Chúng Bảo. Hoặc hiệu là Thế Giải Thoát. Hoặc hiệu là Biến Tri Căn. Hoặc hiệu là Thắng Ngôn Từ. Hoặc hiệu là Minh Liễu Kiến. Hoặc hiệu là Căn Tự Tại. Hoặc hiệu là Ðại Tiên Sư. Hoặc hiệu là Khai Ðạo Nghiệp. Hoặc hiệu là Kim Cang Sư Tử. Có trăm ức vạn đủ thứ danh hiệu như vậy, khiến cho các chúng sinh đều đắc được tri kiến khác nhau.

Bồ Tát Ðại Trí Văn Thù lại gọi một tiếng các vị đệ tử của Phật ! Phương tây nam của thế giới Ta Bà nầy, có thế giới tên là Tiển Thiểu. Như Lai ở thế giới đó, hoặc hiệu là Mâu Ni Chủ Phật. Hoặc hiệu là Cụ Chúng Bảo Phật. Hoặc hiệu là Thế Giải Thoát Phật. Hoặc hiệu là Biến Tri Căn Phật. Hoặc hiệu là Thắng Ngôn Từ Phật. Hoặc hiệu là Minh Liễu Kiến Phật. Hoặc hiệu là Căn Tự Tại Phật. Hoặc hiệu là Ðại Tiên Sư Phật. Hoặc hiệu là Khai Ðạo Nghiệp Phật. Hoặc hiệu là Kim Cang Sư Tử Phật. Những danh hiệu như vậy, nhiều hàng trăm ức vạn danh hiệu, khiến cho tất cả chúng sinh, ai nấy đều đắc được tri kiến khác biệt.

 

Chư Phật tử! thử Ta Bà thế giới Tây Bắc phương, thứ hữu thế giới, danh vi: hoan hỉ. Như Lai ư bỉ, hoặc danh: hương khí tụ, hoặc danh: chiên đàn cái, hoặc danh: liên hoa tạng, hoặc danh: siêu việt chư Pháp, hoặc danh: pháp bảo, hoặc danh: phục xuất sanh, hoặc danh: Tịnh diệu cái, hoặc danh: quảng đại nhãn, hoặc danh: hữu thiện Pháp, hoặc danh: chuyên niệm Pháp, hoặc danh: võng tạng. Như thị đẳng bách ức vạn chủng chủng danh hiệu, lệnh chư chúng sanh các biệt tri kiến.

Các Phật tử ! Phương tây bắc thế giới Ta Bà nầy, lại có thế giới tên là Hoan Hỉ. Như Lai ở thế giới đó, hoặc hiệu là Diệu Hoa Tụ. Hoặc hiệu là Chiên Ðàn Cái. Hoặc hiệu là Liên Hoa Tạng. Hoặc hiệu là Siêu Việt Chư Pháp. Hoặc hiệu là Pháp Bảo. Hoặc hiệu là Xuất Sinh. Hoặc hiệu là Tịnh Diệu Cái. Hoặc hiệu là Quảng Ðại Nhãn. Hoặc hiệu là Hữu Thiện pháp. Hoặc hiệu là Chuyên Niệm Pháp. Hoặc hiệu là Võng Tạng. Có trăm ức vạn đủ thứ danh hiệu như vậy, khiến cho các chúng sinh đều đắc được tri kiến khác nhau.

Bồ Tát Ðại Trí Văn Thù lại gọi một tiếng, các vị đệ tử của Phật ! Phương tây bắc của thế giới Ta Bà nầy, lại có thế giới tên là Hoan Hỉ. Như Lai ở thế giới đó, hiệu là Diệu Hoa Tụ Phật. Hoặc hiệu là Chiên Ðàn Cái Phật. Hoặc hiệu là Liên Hoa Tạng Phật. Hoặc hiệu là Siêu Việt Chư Pháp Phật. Hoặc hiệu là Pháp Bảo Phật. Hoặc hiệu là Phục Sức Sinh Phật. Hoặc hiệu là Tịnh Diệu Cái Phật. Hoặc hiệu là Quảng Ðại Nhãn Phật. Hoặc hiệu là Hữu Thiện Pháp Phật. Hoặc hiệu là Chuyên Niệm Pháp Phật. Hoặc hiệu là Võng Tạng Phật. Danh hiệu như thế có hàng trăm vạn ức đủ thứ danh hiệu, khiến cho tất cả chúng sinh đều đắc được tri kiến đáng đắc được khác nhau.

 

Chư Phật tử! thử Ta Bà thế giới thứ hạ phương, hữu thế giới, danh vi: quan thược. Như Lai ư bỉ, hoặc danh: phát khởi diệm, hoặc danh: điều phục độc, hoặc danh: đế thích cung, hoặc danh: vô thường sở, hoặc danh: giác ngộ bổn, hoặc danh: đoạn tăng trưởng, hoặc danh: Đại tốc tật, hoặc danh: Thường lạc thí, hoặc danh: phân biệt đạo, hoặc danh: Tồi phục tràng. Như thị đẳng bách ức vạn chủng chủng danh hiệu, lệnh chư chúng sanh các biệt tri kiến.

Các Phật tử ! Phương trên thế giới Ta Bà nầy, lại có thế giới tên là Quan Thược. Như Lai ở thế giới đó, hoặc hiệu là Phát Khởi Diễm. Hoặc hiệu là Ðiều Phục Ðộc. Hoặc hiệu là Ðế Thích Cung. Hoặc hiệu là Vô Thường Sở. Hoặc hiệu là Giác Ngộ Bổn. Hoặc hiệu là Ðoạn Tăng Trưởng. Hoặc hiệu là Ðại Tốc Tật. Hoặc hiệu là Thường Lạc Trí. Hoặc hiệu là Phân Biệt Ðạo. Hoặc hiệu là Thôi Phục Tràng. Có trăm ức vạn đủ thứ danh hiệu như vậy, khiến cho các chúng sinh đều đắc được tri kiến khác nhau.

Bồ Tát Ðại Trí Văn Thù lại gọi một tiếng các vị đệ tử của Phật ! Phương trên của thế giới Ta Bà nầy, lại có thế giới tên là Quan Thược. Như Lai ở thế giới đó, hoặc hiệu là Phát Khởi Diễm Phật. Hoặc hiệu là Ðiều Phục Ðộc Phật. Hoặc hiệu là Ðế Thích Cung Phật. Hoặc hiệu là Vô Thường Sở Phật. Hoặc hiệu là Giác Ngộ Bổn Phật. Hoặc hiệu là Ðoạn Tăng Trưởng Phật. Hoặc hiệu là Ðại Tốc Tật Phật. Hoặc hiệu là Thường Lạc Thí Phật. Hoặc hiệu là Phân Biệt Ðạo Phật. Hoặc hiệu là Thôi Phục Tràng Phật. Những danh hiệu như vậy, có hàng trăm ức vạn đủ thứ danh hiệu, khiến cho tất cả chúng sinh, ai nấy đều đắc được tri kiến đáng đắc được khác nhau.

 

Chư Phật tử! thử Ta Bà thế giới thứ thượng phương, hữu thế giới, danh viết: chấn âm. Như Lai ư bỉ, hoặc danh: Dũng mãnh tràng, hoặc danh: vô lượng bảo, hoặc danh: lạc Đại thí, hoặc danh: Thiên quang, hoặc danh: cát hưng, hoặc danh: siêu cảnh giới, hoặc danh: nhất thiết chủ, hoặc danh: bất thoái luân, hoặc danh: ly chúng ác, hoặc danh: nhất thiết trí. Như thị đẳng bách ức vạn chủng chủng danh hiệu, lệnh chư chúng sanh các biệt tri kiến.

Các Phật tử ! Kế phương trên thế giới Ta Bà nầy, có thế giới tên là Chấn Âm. Như Lai ở thế giới đó, hoặc hiệu là Dũng Mãnh Tràng. Hoặc hiệu là Vô Lượng Bảo. Hoặc hiệu là Lạc Ðại Thí. Hoặc hiệu là Thiên Quang. Hoặc hiệu là Cát Hưng. Hoặc hiệu là Siêu Cảnh Giới. Hoặc hiệu là Nhất Thiết Chủ. Hoặc hiệu là Bất Thoái Luân. Hoặc hiệu là Ly Chúng Ác. Hoặc hiệu là Nhất Thiết Trí. Có trăm ức vạn đủ thứ danh hiệu như vậy, khiến cho các chúng sinh, đều đắc được tri kiến khác nhau.

Bồ Tát Ðại Trí Văn Thù lại gọi một tiếng các vị đệ tử của Phật ! Kế phương trên của thế giới Ta Bà nầy, có thế giới tên là Chấn Âm. Như Lai ở thế giới đó, hoặc hiệu là Dũng Mãnh Tràng Phật. Hoặc hiệu là Vô Lượng Bảo Phật. Hoặc hiệu là Lạc Ðại Thí Phật. Hoặc hiệu là Ðại Quang Phật. Hoặc hiệu là Cát Hưng Phật. Hoặc hiệu là Siêu Cảnh Giới Phật. Hoặc hiệu là Nhất Thiết Chủ Phật. Hoặc hiệu là Bất Thoái Luân Phật. Hoặc hiệu là Ly Chư Ác Phật. Hoặc hiệu là Nhất Thiết Trí Phật. Những danh hiệu như vậy, có hàng trăm ức vạn đủ thứ danh hiệu, khiến cho tất cả chúng sinh, ai nấy đều đắc được tri kiến đáng đắc được khác nhau.

 

Chư Phật tử! như Ta Bà thế giới, như thị Đông phương bách thiên ức vô số vô lượng, vô biên vô đẳng, bất khả số, bất khả xưng, bất khả tư, bất khả lượng, bất khả thuyết, tận Pháp giới, hư không giới, chư thế giới trung, Như Lai danh hiệu, chủng chủng bất đồng; Nam, Tây, Bắc phương, tứ duy, thượng, hạ, diệc phục như thị.

Các Phật tử ! Như vậy ở phương đông thế giới Ta Bà, có trăm ngàn ức, vô số, vô lượng, vô biên, vô đẳng, bất khả số, bất khả xưng, bất khả tư, bất khả lượng, bất khả thuyết, tận pháp giới hư không giới, trong các thế giới, danh hiệu của Như Lai đủ thứ khác nhau. Phương nam, phương tây, phương bắc, bốn hướng trên dưới cũng lại như thế.

Bồ Tát Ðại Trí Văn Thù, bi tâm thiết thiết, sợ rằng tất cả Bồ Tát chẳng chú ý, cho nên lại gọi một tiếng các vị đệ tử của Phật ! Các vị đến gần gũi Phật, phải biết nhân duyên quả báo của Phật đời đời kiếp kiếp. Cảnh giới đó, giống như phương đông của thế giới Ta Bà, có trăm ngàn ức danh hiệu. Những danh hiệu đó chẳng thể tính đếm được, chẳng thể lường được, chẳng có bờ mé. Không thể dùng số để đếm, không thể dùng lời để nói, không thể dùng tâm để nghĩ. Tận hư không biến pháp giới, trong hết thảy tất cả thế giới, danh hiệu của Phật đủ thứ sự khác nhau. Ở phương đông như thế, còn ở phương nam, phương tây, phương bắc, cho đến bốn hướng trên dưới sáu phương cũng đều như thế.

 

Như Thế Tôn tích vi Bồ Tát thời, dĩ chủng chủng đàm luận, chủng chủng ngữ ngôn, chủng chủng âm thanh, chủng chủng nghiệp, chủng chủng báo, chủng chủng xứ, chủng chủng phương tiện, chủng chủng căn, chủng chủng tín giải, chủng chủng địa vị nhi đắc thành thục, diệc lệnh chúng sanh như thị tri kiến nhi vi thuyết Pháp.

Như đức Thế Tôn thuở xưa làm Bồ Tát, thì dùng đủ thứ đàm luận, đủ thứ lời nói, đử thứ âm thanh, đủ thứ nghiệp, đủ thứ báo, đủ thứ nơi chốn, đủ thứ phương tiện, đủ thứ căn, đủ thứ tín giải, đủ thứ địa vị, mà được thành thục, cũng khiến cho chúng sinh đắc được tri kiến như thế, mà vì họ nói pháp.

Giống như Phật Thích Ca Mâu Ni, thuở xưa làm Bồ Tát, hành Bồ Tát đạo, thì dùng đủ thứ đàm luận, đủ thứ lời nói, đủ thứ âm thanh, đủ thứ nghiệp, đủ thứ báo, đủ thứ nơi chốn, đủ thứ phương tiện, đủ thứ căn, đủ thứ tin hiểu, đủ thứ địa vị, đều nói diệu pháp, giáo hóa chúng sinh. Vì làm việc lợi ích cho chúng sinh, cho nên hiện tại đã thành Phật rồi, cũng hy vọng chúng sinh thành Phật, khiến cho chúng sinh đắc được trí huệ như thế, tri kiến như thế, cho nên Phật vì chúng sinh mà nói diệu pháp.

Phật vì chúng sinh nói pháp, nhưng chúng sinh phải chân thật tu hành, thì mới đắc được lợi ích. Trước khi chưa chân chánh khai ngộ đắc được trí huệ, thì không nên phóng dật, giải đãi, luôn luôn phải giữ quy cụ ! Tự mình quản lý mình, đừng đợi sư phụ đến xem. Do đó:
“Sư phụ lãnh tấn môn,
Tu hành tại cá nhân.’’

Nghĩa là:
Thầy chỉ dẫn đến cửa,
Tu hành do chính mình.’’

Nếu đợi sư phụ đến trông coi thì đã muộn. Giống như khi ăn cơm, đừng để sư phụ nói: «Ðệ tử ăn cơm”! Khi mặc quần áo thì đừng để sư phụ nói: «Ðệ tử mặc quần áo!’’ Khi đi ngủ thì đừng để sư phụ nói: «Ðệ tử đi ngủ’’! Phải tự động mình đi làm. Tu hành dụng công cũng như thế, tự động tinh tấn mới được! Một số người nói:
“Ông tu ông đắc
Bà tu bà đắc
Tự tu tự đắc
Không tu không đắc‘’.

Ðắc cái gì ? Ðắc được đại trí huệ. Có trí huệ thì chẳng còn điên đảo. Chẳng còn điên đảo thì chẳng khởi hoặc. Chẳng khởi hoặc thì chẳng tạo nghiệp. Chẳng tạo nghiệp thì chẳng thọ quả báo. Như thế thì vĩnh viễn chẳng thay đổi luật nhân quả.