Kinh Hoa Nghiêm – Phẩm Bồ Tát Vấn Minh

Kinh Hoa Nghiêm

Đại Phương Quảng Phật

giảng giải

Phẩm Bồ Tát Vấn Minh

Hòa Thượng TUYÊN HÓA
Việt dịch: Tỳ Kheo Thích Minh Ðịnh

— o0o —

Phẩm Thứ Mười

Bồ Tát là gì ? Ðầy đủ là Bồ Ðề Tát Ðoả, vì gọi tắc cho nên chỉ gọi hai chữ Bồ Tát. Bồ đề dịch là giác. Tát Ðoả dịch là hữu tình, tức là giác hữu tình, giác ngộ tất cả hữu tình, còn có thể nói là hữu tình giác, tức cũng là bậc giác ngộ trong tất cả hữu tình. Tóm lại, tự giác giác tha, hy vọng tương lai giác hạnh viên mãn mà chứng đắc quả vị Phật.

Bồ Tát còn dịch là chúng sinh đại đạo tâm, tức là ở trong chúng sinh có người đại đạo tâm (đạo tâm lớn). Thế nào là có đại đạo tâm ? Tức là chẳng sợ tất cả việc gian nan khốn khổ, làm hết mình, làm những gì cũng đều lợi ích chúng sinh, chứ chẳng lợi ích cho mình. Cho nên nói Bồ Tát chỉ biết lợi người, chẳng biết lợi mình. Vì đạo tâm lớn nên đắc quả vị cũng lớn. Nếu đạo tâm không lớn, thì đương nhiên đắc quả vị cũng chẳng lớn. Bồ Tát còn gọi là Ðại Thiện Sĩ, Ðại Ẩn Sĩ, Ðại Xứ Sĩ, Ðại Cư Sĩ .v.v… Nói tóm lại, phàm là người lợi ích chúng sinh thì đều có thể gọi là Bồ Tát.

Thuở xưa khi Phật Thích Ca tu Bồ Tát đạo, thì chẳng tiếc thân mạng để giáo hóa tất cả chúng sinh, lợi ích tất cả chúng sinh. Có một đời, Phật từng xả thân cứu cọp đói. Một ngày nọ, trời đổ tuyết quá nhiều, cọp chẳng cách chi tìm được thức ăn, đói quá chịu chẳng nổi nữa, bèn dẫn cọp con đi tìm thức ăn, nhưng cũng chẳng có thức ăn, Lúc đó, Phật (lúc tu Bồ Tát hạnh) thấy hoàn cảnh như thế, động lòng thương xót, nguyện đem thân thể nầy bố thí làm thức ăn cho cọp, cam nguyện hy sinh để cúng dường cọp đói. Tinh thần như thế thật là quá vĩ đại !

Lại có một đời, Phật từng cắt thịt bố thí cho chim ưng. Một ngày nọ, Phật (lúc tu Bồ Tát đạo) tĩnh tọa ở dưới gốc cây, hốt nhiên một con chim cáp bay đến, cầu xin bảo hộ, ở phía sau một con chim ưng hung ác đuổi theo đến, muốn bắt chim cáp. Do đó, Phật bèn bảo hộ chim, thương hại chim cáp.

– Lúc đó, chim ưng nói với Phật rằng: Ngài là người tu hành mà không bình đẳng, nó là thức ăn của tôi, Ngài bảo hộ sinh mạng của nó an toàn, còn để tôi chết đói chăng?

– Bồ Tát nghĩ, Phật pháp là bình đẳng với tất cả chúng sinh, chẳng có tâm phân biệt, do đó, từ bi nói: Ta có thể cắt thịt thân tôi để cúng dường cho ngươi.

– Chim ưng nói: “Ðược ! Như vậy mới công bằng”. Do đó, Bồ Tát dùng đao cắt thịt ở đùi của mình, để bố thí cho chim ưng, song, chim ưng tham quá độ, một miếng thịt cũng không no, đến khi cắt hết thịt trên thân cũng chẳng no, chẳng chần chờ gì nữa, bèn bay lên hư không, hiện thân trời Ðế Thích. Nguyên lai là Trời Ðế Thích đến khảo nghiệm trình độ tu hành của Bồ Tát.

Phật vì cứu hộ chim cáp mà cắt thịt của mình, cam tâm tình nguyện bố thí cho chim ưng, đây là hành Bồ Tát đạo. Vì thật tâm hành Bồ Tát đạo, cho nên thịt lại sinh ra như cũ. Bồ Tát đạo chẳng dễ thực hành, tuy chẳng dễ nhưng cũng phải thực hành, không hành thì làm sao thành Bồ Tát ? Muốn thành Phật thì phải hành Bồ Tát đạo.

Phật Thích Ca đã từng xả thân cứu cọp đói, cắt thịt cho chim ưng, chúng ta là đệ tử của Phật, kiểm thảo lại mình có thể làm được như thế chăng ? Và phản tỉnh lại mình có tâm từ bi đối với chúng sinh chăng ? Phật giáo thì dùng từ bi làm gốc, phương tiện làm cửa. Có người nói : “Tôi có thể làm được”. Phải làm được rồi mới tính, không thể miệng nói mà chẳng thực hành, đó là nói dối. Do đó, có câu : “Nói tốt, nói hay, chẳng thực hành thì chẳng phải đạo”. Phải thực hành mới là đạo.

Các bạn ! Chúng ta nên học tinh thần hy sinh của Phật, vì lợi ích tất cả chúng sinh, dù là đất nước vợ con, hoặc đầu mắt tuỷ não cũng phải bố thí. Chỉ cần chúng sinh cần, thì nhất định sẵn sàng bố thí, chẳng phân biệt xa gần, đều như nhau.

Vấn (hỏi) là gì ? Tức là vấn pháp và vấn nạn, tức cũng là vấn của “vấn đề”. Bồ Tát có đạo lý của pháp chẳng minh bạch, phải thỉnh vấn Bồ Tát khác, cầu giải đáp. Hoặc là đã minh bạch đạo lý đó, mà cố ý vấn nạn, đây chẳng phải là tìm phiền não, mà là nghiên cứu, hoặc biện luận, khiến cho Bồ Tát chẳng minh bạch, cũng thấu rõ đạo lý chân chánh.

Giống như một phẩm Kinh văn nầy, Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi, Ngài đối với tất cả các pháp đã thông đạt vô ngại, có thể nói là chẳng gì mà không biết, chẳng gì mà không thấu, song, Ngài vẫn phải hỏi. Tại sao ? Vì Ngài đại biểu cho tất cả chúng sinh để hỏi. Ngài hỏi Bồ Tát Giác Thủ: “Tâm tánh tất nhiên là một, sao có đủ thứ phân biệt»? Lại hỏi Bồ Tát Tài Thủ : “Tức nhiên chúng sinh là không, tại sao Phật hiện thân giáo hóa điều phục»? Lại hỏi Bố Tát Bảo Thủ : “Tất cả chúng sinh tức vô ngã, vô ngã sở, tại sao có thọ khổ, có thọ vui»? Lại hỏi Bồ Tát Ðức Thủ : “Phật ngộ một thứ pháp, tại sao nói nhiều thứ pháp»? Lại hỏi Bồ Tát Mục Thủ : “Phật tu ruộng phước là bình đẳng, tại sao chúng sinh đắc được quả báo khác nhau»? Lại hỏi Bồ Tát Cần Thủ : “Phật nói giáo pháp là một, chúng sinh cùng lúc nghe pháp, tại sao có người ra khỏi ba cõi, có người không thể ra khỏi ba cõi”?

Lại hỏi Bồ Tát Pháp Thủ : “Phật từng nói, phàm là người thọ trì chánh pháp, có thể đoạn phiền não, có thể phá vô minh, tại sao có người thọ trì chánh pháp mà chẳng đoạn phá»? Lại hỏi Bồ Tát Trí Thủ : “Giáo pháp của Phật, trí tuệ là bậc nhất, tại sao còn khen ngợi lục độ và tứ vô lượng tâm»? Lại hỏi Bồ Tát Hiền Thủ : “Chư Phật dùng một thừa pháp ra khỏi ba cõi, tại sao tất cả cõi Phật, hết thảy mọi sự, có đủ thứ khác nhau”? Bồ Tát Văn Thù hỏi chín vị đại Bồ Tát chín câu hỏi ở trên.

Bồ Tát chẳng còn hý luận, chẳng hỏi những điều chẳng có ý nghĩa. Nếu có vị Bồ Tát hỏi : “Ăn cơm để sống, hay là sống để ăn cơm»? Vị Bồ Tát nầy chẳng phải là Bồ Tát thật. Các vị hãy nghĩ xem, cứu kính ăn cơm để sống hay là sống để ăn ? Vấn đề nầy nên nghiên cứu cho kỹ, một khi triệt để minh bạch, thì sẽ hiểu ý nghĩa của đời người.

Minh là gì ? Tức là minh bạch. Minh bạch để trả lời những vấn đề được hỏi (vấn). Minh bạch mới trả lời, nếu không minh bạch thì không thể trả lời. Do đó, có câu : “Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri. Không biết mà nói biết là nói dối.

Biết mà nói không biết, cũng là nói dối. Cho nên dùng chữ “minh” mà không dùng chữ đáp, chìa khoá là ở chỗ nầy. Chúng ta học Phật pháp, tức là học pháp môn chẳng nói dối. Minh bạch đạo lý đó, mới trả lời vấn đề đó. Không minh bạch đạo lý đó, thì đừng trả lời vấn đề đó. Ðây là bổn phận của người tu đạo.

Phẩm nầy thuộc phẩm thứ mười trong bổn Kinh, cho nên gọi là Phẩm Bồ Tát Vấn Minh Thứ Mười. Phẩm nầy rất quang trọng. Người nghiên cứu Phật pháp, phải đặc biệt chú ý, nên lắng tâm nghe giảng. Ðây là cơ hội khai trí huệ. Mọi người nên thu phục tâm viên ý mã vọng tưởng lại, nhất định phải đắc được pháp ích. Tại sao chúng ta chẳng thành đạo ? Vì lười biếng, chẳng tu Phật pháp, hoặc chẳng nhận chân tu hành, cho nên chẳng thành tựu, lãng phí thời gian, cuối cùng chẳng được gì. Mọi người trong sự bận rộn đến nghe Kinh Hoa nghiêm, đây là căn lành đã trồng đời trước, mới có cơ hội ngày hôm nay.

Hy vọng mọi người khuyên những người thân bạn bè tốt, đến chùa Kim Sơn nghe Kinh Hoa Nghiêm, như thế sẽ được công đức không thể nghĩ bàn. Nghe Kinh đối với thân tâm đều có lợi ích, có thể nói trăm lợi mà chẳng có điều hại nào, so với sự thưởng thức nhạc vui chẳng chánh đáng gấp vạn lần. Nếu đem thời gian bình thường xem tivi để niệm Phật, thì lợi ích không thể tả. Ví như lúc lâm chung tâm đã chuẩn bị, thì tâm chẳng tán loạn, chẳng hốt hoảng, sẽ một lòng niệm Phật, sẽ an tường vãng sinh về thế giới Cực Lạc, hóa sinh trên hoa sen, chẳng có khổ đau nào, chỉ hưởng các điều vui. Ðây la nơi nương tựa cứu kính của mỗi người. Phàm là người ham xem tivi, thích nhảy đầm, hãy nên lập tức quay trở lại, hướng về đường bồ đề giác ngộ ! Phải biết thân người khó được, Phật pháp khó nghe. Hôm nay có đạo tràng thuyết pháp, đừng bỏ lỡ cơ hội nầy, bằng không về sau hối hận đã quá muộn màng. Do đó, có câu :

“Ðừng đợi đến già mới học đạo

Mồ hoang đầy dẫy người thiếu niên.

 

Nhĩ thời, Văn-thù-sư-lợi Bồ Tát vấn giác thủ Bồ Tát ngôn: Phật tử !tâm tánh thị nhất. Vân hà kiến hữu chủng chủng sái biệt? sở vị: vãng thiện thú, ác thú. chư căn mãn, khuyết. Thọ sanh đồng, dị. đoan chánh, xú lậu. Khổ, lạc bất đồng. Nghiệp bất tri tâm, tâm bất tri nghiệp. Thọ bất tri báo, báo bất tri thọ. Tâm bất tri thọ, thọ bất tri tâm. Nhân bất tri duyên, duyên bất tri nhân. Trí bất tri cảnh, cảnh bất tri trí.

Bấy giờ, Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi hỏi Bồ Tát Giác Thủ rằng : Phật tử ! Tâm tánh là một, sao lại thấy có đủ thứ sự khác nhau ? Nào là hướng về đường lành, đường ác, các căn đầy thiếu, thọ sinh khác nhau, xinh đẹp xấu xí, khổ vui khác nhau. Nghiệp chẳng biết tâm, tâm chẳng biết nghiệp. Thọ chẳng biết báo, báo chẳng biết thọ. Tâm chẳng biết thọ, thọ chẳng biết tâm. Nhân chẳng biết duyên, duyên chẳng biết nhân. Trí chẳng biết cảnh, cảnh chẳng biết trí.

Giảng: Khi nói xong Phẩm Quang Minh Giác, thì lúc đó, Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi mới hướng về Bồ Tát Giác Thủ thỉnh pháp, hỏi rằng : “Ðệ tử của Phật ! Nếu nói tâm và tánh là một, thì tại sao có đủ thứ nghiệp báo khác nhau ? Nếu hướng về đường thiện, thì phải trụ ở đường thiện. Nếu hướng về đường ác, thì phải trụ ở đường ác. Tại sao lại có hướng về đường thiện, có hướng về nẻo ác ? Ðây là đạo lý gì ? Xin Ngài hãy khai thị, tôi rửa tai cung kính nghe.

«Các căn của con người, tại sao có viên mãn hoặc thiếu khuyết ? Khi sinh thì có các căn đồng nhau, có các căn chẳng đồng nhau. Ðây là đạo lý gì ? Nếu là một, tại sao có người tướng mạo xinh đẹp ? Có người tướng mạo xấu xí ? Có người thọ khổ, có người hưởng vui ? Tại sao khổ vui khác nhau ? Nghiệp cảm thọ, chẳng biết tâm là thế nào ? Tâm chẳng biết nghiệp là ra sao ? Tại sao đó đây đều chẳng biết ? Thọ chẳng biết lúc nào báo đến, báo chẳng biết lúc nào thọ đến ? Tâm chẳng biết thọ, thọ chẳng biết tâm. Nhân chẳng biết duyên, duyên chẳng biết nhân. Trí huệ chẳng biết cảnh giới, cảnh giới chẳng biết trí huệ, Ðây là lý do gì ? Xin Ngài nói rõ ràng tỉ mỉ để cho tất cả chúng sinh minh bạch đạo lý nầy.

 

Thời, giác thủ Bồ Tát dĩ tụng đáp viết: 

Bấy giờ, Bồ Tát Giác Thủ dùng kệ đáp rằng :

Giảng: Lúc đó, đại Bồ Tát Giác Thủ dùng kệ để trả lời những vấn đề, mà Bồ Tát Văn Thù đã hỏi.

 

Nhân kim vấn thị nghĩa                              Nay Ngài hỏi nghĩa nầy
Vì hiểu ngộ quần mông                              Vì tỏ ngộ quần mê
Ngã như kỳ tánh đáp                                  Tôi theo lý tánh đáp
Duy nhân ưng đế thính.                              Xin Ngài hãy lắng nghe.

Bồ Tát Giác Thủ nói : “Hiện tại Ngài hỏi những nghĩa lý đó, chẳng phải Ngài chẳng minh bạch mà hỏi, mà là đại biểu cho tất cả chúng sinh bị vô minh che đậy để hỏi. Ngài muốn khiến cho hết thảy chúng sinh minh bạch đạo lý của tất cả các pháp, mà khai ngộ, chẳng làm việc điên đảo nữa. Nay tôi y chiếu theo đạo lý của pháp để trả lời những câu hỏi của Ngài. Hy vọng Ngài hãy chú ý lắng nghe. Vì Ngài là đại biểu cho chúng sinh để thỉnh pháp, cho nên Xin Ngài đặc biệt tụ tinh hội thần, để nghe đạo lý tôi nói.

 

Chư Pháp vô tác dụng,                               Các pháp chẳng tác dụng
Diệc vô hữu thể tánh,                                  Cũng chẳng có thể tánh
Thị cố bỉ nhất thiết,                                     Nên đó đây tất cả
Các các bất tướng tri.                                 Thảy đều chẳng biết nhau.

Các pháp (sắc pháp, tâm pháp, tâm sở pháp, bất tương ưng pháp, vô vi pháp) bổn thân của nó chẳng có tác dụng. Tại sao ? Vì các pháp là không, chẳng có thật thể, cho nên nói các pháp chẳng tác dụng. Tức nhiên các pháp chẳng tác dụng, taị sao Phật lại phải nói pháp ? Do đó, có câu :

“Phật nói tất cả pháp
Ứng sinh tất cả tâm
Nếu không tất cả tâm
Sao dùng tất cả pháp” ?

Nguyên nhân Phật nói pháp, là vì chúng sinh có tất cả mao bệnh, cho nên dùng pháp để đối trị tập khí mao bệnh. Tập khí mao bệnh chẳng còn nữa, thì pháp cũng chẳng dùng nữa. Pháp là phương pháp, khi có mao bệnh thì dùng phương pháp để chữa trị.

Phương pháp nầy chẳng phải thật có, mà là giả thiết hư vọng. Ví như lúc người có bệnh, thì phải mời bác sĩ đến bắt mạch, sau đó cho toa thuốc, uống thuốc, như thế bệnh mới khỏi. Bệnh khỏi rồi thì thuốc chẳng dùng nữa. Bổn thể của pháp và thuốc cũng đồng một đạo lý. Có bệnh thì uống thuốc, không bệnh thì không thể uống thuốc bậy bạ, nên buông bỏ thuốc mới đúng. Trong Kinh Kim Cang có nói:

«Pháp còn phải xả,
Hà huống phi pháp.

Sau khi dùng các pháp rồi, thì chẳng còn thể chân thật, vì nó là không, chẳng có thể cũng chẳng có dụng, cho nên tất cả pháp, đó đây chẳng biết nhau.

Sắc pháp chẳng biết tâm pháp, tâm pháp cũng chẳng biết sắc pháp; tâm sở pháp chẳng biết bất tương ưng pháp, bất tương ưng pháp chẳng biết tâm sở pháp. Tất cả pháp bổn thân chẳng có tánh tri giác, vì là không tịch, bất quá là tên mà thôi, cho nên pháp và pháp chẳng biết nhau.

 

Thí như hà trung thủy                                 Ví như nước trong sông
Thoan lưu cạnh bôn thệ,                             Các dòng đua nhau chảy
Các các bất tướng tri,                                 Đó đây chẳng biết nhau
Chư Pháp diệc như thị.                               Các pháp cũng như vậy.

Bồ Tát Giác Thủ lại đưa ra nhiều ví dụ để nói rõ đạo lý nầy. Các pháp thật tướng tuy là không tịch, nhưng có thể dùng đất nước gió lửa, bốn đại để nói rõ đạo lý các pháp thật tướng.

  1. Dùng nước để ví dụ, vì nước chảy tát dụng, cho nên đó đây chẳng biết nhau.
  2. Dùng lửa để ví dụ, vì lửa tác dụng, khởi diệt, nên đó đây chẳng biết nhau.
  3. Dùng gió để ví dụ, vì gió có động tác, nên đó đây chẳng biết nhau.
  4. Dùng đất để ví dụ, vì đất có tác dụng nhậm trì, nên đó đây chẳng biết.

Dùng bốn thứ nầy để ví dụ đạo lý các pháp thật tướng.

Nước chảy: dùng sự chảy để ví dụ các pháp thật tướng, có mười nghĩa lý. Mười nghĩa lý nầy chẳng biết nhau, tuy chẳng biết nhau, nhưng thành tựu đạo lý chảy.

  1. Nghĩa lý thứ nhất : Trong Kinh Hoa Nghiêm Sớ Sao của Ngài Thanh Lương Quốc Sư có nói : “Trước chảy chẳng tự chảy, do sau đẩy dẫn chảy, tức trước chảy chẳng tự tánh, nên chẳng biết ở sau. Ở trước chảy, chẳng biết mình đang chảy, mà là bị nước phía sau đẩy, đuổi tới, cho nên lưu động. Vì ở trước chảy, mình chẳng có tự tánh, cho nên chẳng biết bị nước phía sau chảy đuổi tới mà chảy.
  2. Nghĩa lý thứ hai : Trong Sớ Sao có nói: “Sau chảy tuy đẩy trước, mà chẳng đến phía trước chảy, nên cũng chẳng biết nhau. Nước chảy phía sau, tuy là đẩy nước chảy phía trước, nhưng chẳng đến phía trước chảy. Tuy chảy phía trước chẳng có tự tánh tự thể, song, nó chảy, vẫn là tự chảy. Phía sau chẳng đến phía trước chảy, cho nên trước chảy và sau chảy đều chẳng biết nhau.
  3. Nghĩa lý thứ ba : Trong Sớ Sao có nói : “Trước sau chẳng tự chảy, do ở trước dẫn nên chảy, tức ở sau chẳng có tự tánh, nên chẳng biết ở trước. Chảy phía sau cũng chẳng phải tự hướng về trước chảy, mà là phía trước chảy dẫn dắt mà chảy. Vì vậy cho nên ở sau chảy cũng chẳng có tự tánh, cũng chẳng biết mình bị ở trước chảy dẫn dắt mà chảy.
  4. Nghĩa lý thứ tư : Ở trong Sớ Sao có nói : “Ở trước tuy dẫn ở sau, mà chẳng về sau, nên cũng chẳng biết nhau. Ở trước chảy, tuy là dẫn phía sau chảy, nhưng tự chảy, chẳng về phía sau chảy, cho nên phía trước chảy, và phía sau chảy, đều chẳng biết nhau.
  5. Nghĩa lý thứ năm : Trong Sớ Sao có nói : “Năng đẩy và sở dẫn chẳng hai, nên chẳng biết nhau. Chảy phía sau đẩy sự chảy phía trước; sự chảy phía trước dẫn dắt sự chảy phía sau. Tuy là hai nhưng chẳng phải hai, cho nên chẳng biết nhau.
  6. Nghĩa lý thứ sáu : Trong Sớ Sao có nói : “Năng dẫn và sở đẩy chẳng hai, nên chẳng biết nhau. Sự chảy phía trước hay dẫn, và sự chảy phía sau sở đẩy, chẳng hai, chẳng phân được đó đây, trên hình thức mà nhìn thì có trước chảy và sau chảy, nói trên thật tế thì một cũng chẳng có, cho nên chẳng biết nhau.
  7. Nghĩa lý thứ bảy : Trong Sớ Sao có nói : “Năng đẩy và sở đẩy chẳng hai, nên chẳng biết nhau. Sự chảy phía sau là năng đẩy, sự chảy phía trước là sở đẩy. Năng đẩy và sở đẩy chẳng hai, cũng chẳng có năng đẩy, cũng chẳng có sở đẩy, cho nên chẳng biết nhau.
  8. Nghĩa lý thứ tám : Trong Sớ Sao có nói : “Năng dẫn và sở dẫn cũng chẳng hai, nên chẳng biết nhau. Sự chảy phía trước là năng dẫn, sự chảy phía sau là sở dẫn. Năng dẫn và sở dẫn cũng chẳng hai, cho nên chẳng biết nhau.
  9. Nghĩa lý thứ chín : Trong sớ sao có nói : “Năng đẩy và năng dẫn đều chẳng có, nên chẳng biết nhau. Phía sau chảy năng đẩy phía trước chảy, phía trước chảy năng dẫn phía sau chảy, nhưng chẳng đều có. Nếu có năng đẩy, thì chẳng có năng dẫn, nếu có năng dẫn, thì chẳng có năng đẩy, cho nên chẳng biết nhau.
  10. Nghĩa lý thứ mười : Trong Sớ Sao có nói : “Sở đẩy và sở dẫn cũng đều chẳng có, nên chẳng biết nhau. Phía trước chảy là sở đẩy của phía sau chảy; phía sau chảy là sở dẫn dắt của phía trước chảy. Song, chúng cũng chẳng đầy đủ, cũng chẳng hoàn toàn, cho nên chẳng biết nhau.

Ðưa ra mười nghĩa lý ở trên, để nói rõ nước chảy vốn là không, chẳng có phân biệt ở trước chảy và ở sau chảy. Song, chúng ta tri kiến phàm phu, ở trong chẳng có sự phân biệt lại đi tìm phân biệt, muốn phân biệt ra những đạo lý đó. Các pháp thật tướng vốn không tịch, không chẳng một vật. Cho nên Lục Tổ Huệ Năng nói :
Bổn lai không một vật
Chỗ nào dính bụi bặm ?

Tất cả các pháp thật tướng, ví như nước trong sông, đua nhau chảy. Sóng sau đuổi sóng trước, Sóng trước lại đuổi sóng trước; sóng trước dẫn sóng sau, sóng sau lại dẫn sóng sau. Giống như thi đua, cùng nhau bôn ba mà tiêu diệt. Song, sóng trước và sóng sau chẳng biết nhau. Bổn thể của các pháp thật tướng cũng là đạo lý nầy.

Lửa cũng như thế, gió cũng như thế, đất cũng như thế. Bốn đại có lúc trợ giúp với nhau, có lúc đối địch với nhau. Khéo dùng nó thì bốn đại trợ giúp nhau; chẳng khéo dùng nó thì bốn đại khắc chế với nhau.

Thân thể của chúng ta, tức là đất nước gió lửa bốn đại hình thành. Nước mắt, nước tiểu, máu mồ hôi .v.v… là thuộc về nước. Ðộ ấm thuộc về lửa. Hơi thở thuộc về gió. Da thịt gân cốt thuộc về đất. Bốn đại điều hòa thì thân thể khoẻ mạnh. Bốn đại chẳng điều hòa, thì thân thể sinh bệnh. Khi sinh thì bốn đại hòa hợp, khi chết thì bốn đại phân tán. Bốn đại hòa hợp thì thành thân người, bốn đại phân tán thì thành không; đất trả về cho đất, nước trả về cho nước, lửa trả về cho lửa, gió trả về cho gió, đâu trả về đấy. Lúc ấy da thịt gân cốt trả về cho đất, máu mủ mồ hôi nước mắt .v.v… hợp với nước mà làm một, thể nóng hợp với lửa mà làm một, hơi thở với gió hợp mà làm một.

Trong hư không cũng có bốn đại. Ban ngày mặt trời chiếu soi đại địa, phát sinh sức nóng mà thành khí nóng, đây là hoả đại, tận hư không khắp pháp giới. Ban đêm mặt trăng chiếu đại địa, phát sinh sức lạnh mà có sương, đây là sức nước, tận hư không biến pháp giới. Khí cao đè nén chảy vào đè nén khí thấp, do đó, mà thành khí. Ở trong hư không lại có rất nhiều hạt buị, hạt bụi là đất, cho nên hư không cũng có đất nước gió lửa bốn đại. Bốn đại nầy cùng tác dụng cho bạn, bạn sống sáu mươi tuổi, thì cho bạn mượn dùng sáu mươi năm. Sống một trăm tuổi, thì cho bạn mượn dùng một trăm năm. Khi bạn chết đi thì đâu trả về đấy.

Con người có bổn tánh chân thật chăng ? Có, tức là Phật tánh, tức là chân như. Con người là loài linh trong vạn vật, mượn giả tu chân, mượn bốn đại giả túi da hôi thối để tu tự tại. Như Lai đại giác Phật tánh vốn có. Cho nên cử chỉ hành động, đừng có cái ngã, đừng để cái ngã ở trước, cho rằng mình là số một, ta là lớn nhất, hoặc chấp vào danh lợi, đây đều là hư vọng ! Chỉ có bổn lai trí huệ quang minh, mới là chân thật không hư.

Vào hai ngàn sáu trăm năm về trước, Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni đã phát hiện ra trí huệ của tự tánh vốn có. Hiện tại chúng ta học Phật pháp, nghiên cứu tự tánh thiện chân Phật vốn có, chúng ta vốn tức là Phật, vì từ chân khởi vọng liền mê hoặc, cho nên đến bây giờ vẫn là chúng sinh.

Nương theo nước có sự chảy, ví như nương chân vọng tưởng liên tục. Tức là chân vọng liên tiếp không ngừng, từ chân khởi vọng, nói nó là chân, lại có chút giả, nói nó là giả, lại có chút chân.

Nương ngọn lửa khởi diệt, ví như nương chân vọng khởi diệt. Tức là chân vọng sinh khởi rồi lại diệt mất. Vọng sinh ra tức là hiện vọng, vọng diệt rồi lại hiện chân. Ðây là từ chân khởi vọng.

Nương gió có động tác, ví như vọng dùng nương chân khởi, tức là vô minh, Do đó, có câu : “Một niệm không giác, sinh tam tế”, là do vô minh sinh ra. Ðây là từ chân khởi vọng.

Nương đất có nhậm trì, ví như vọng là chân sở trì. Vọng vẫn ở trong chân, giống như mặt sấp ngửa của bàn tay. Mặt sấp không lìa mặt ngửa của bàn tay, mặt ngửa không lìa mặt sấp. Cho nên nói phiền não tức bồ đề, tức cũng là đạo lý nầy. Phiền não chẳng lìa khỏi bồ đề; bồ đề cũng chẳng lìa khỏi phiền não, nó là một, giống như nước tức là băng, băng tức là nước. Băng hóa thành nước, nước đông lại thành băng. Có phiền não tức là nước thành băng, không có phiền não tức là băng tan thành nước, tức là phiền não hóa thành bồ đề. Trở về nguồn cội tức trở về tự tánh vốn có của chúng ta, đừng để nước đông thành băng.

Các pháp vốn là không tịch. Tức nhiên là không, tại sao Phật phải nói pháp ? Vì chúng sinh có đủ thứ tâm phân biệt. Nói tất cả pháp là vì đối trị tất cả tâm phân biệt. Chúng sinh vốn chẳng có tâm phân biệt, tự tánh vốn có là như như bất động, liễu liễu thường minh, nhưng vì bị hoàn cảnh sở chuyển, trong không sinh ra có, cho nên sinh ra rất nhiều tâm phân biệt. Bồ Tát dùng đủ thứ lý luận để hình dung tất cả các pháp, nhưng những lý luận đó cũng là hư vọng, bất quá mục đích khiến cho chúng sinh biết tất cả pháp hữu vi là hư vọng, như mộng huyễn bọt nước, như sương cũng như điện, hãy quán sát như thế.

 

Diệc như Đại hỏa tụ,                                   Cũng như đống lửa lớn
Mãnh diệm đồng thời phát,                        Lửa dữ cùng lúc cháy
Các các bất tướng tri,                                 Đó đây chẳng biết nhau
Chư Pháp diệc như thị.                               Các pháp cũng như thế.

Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi hỏi : “Tâm tánh là một, sao lại có đủ thứ quả báu hiện ra»? Bồ Tát Giác Thủ dùng đủ thứ ví dụ để hình dung tất cả các pháp, nói tâm tánh giống như nước chảy, nước chảy có rất nhiều hiện tượng tự nhiên, nhưng đó đây chẳng biết nhau. Ðạo lý nầy vẫn nói chưa xong, lại đưa ra hoả đại trong bốn đại để nói rõ.

Cũng giống như lửa lớn tụ lại với nhau, bèn phát ra ngọn lửa dữ dội, theo ngọn lửa ở trước mà cháy, nhưng đó đây chẳng biết nhau. Phật nói tất cả pháp, tâm tánh của chúng sinh cũng như thế, đều chẳng biết nhau.

 

Hựu như trường phong khởi,                     Lại như gió mạnh thổi
Ngộ vật hàm cổ phiến,                                Lay động các sự vật
Các các bất tướng tri,                                 Đó đây chẳng biết nhau
Chư Pháp diệc như thị.                               Các pháp cũng như vậy.

Lại giống như gió mạnh, gió phía trước dẫn gió phía sau; gió phía sau lại đẩy gió phía trước. Ðạo lý nầy cũng như nước chảy. Có lúc gió sinh ra, nhưng chẳng có chỗ đến, có lúc gió lại ngừng, cũng chẳng có chỗ đi. Có khi gió thổi lay động các sự vật. Gió nhìn chẳng thấy, vậy sao lại biết có gió? Nhìn cỏ hoa cây cối lay động, thì biết có gió, đây tức là lay động.

Gió chẳng biết nhau, gió phía trước chẳng biết gió phía sau, gió phía sau cũng chẳng biết có gió phía trước. Vì gió chẳng có thực thể tự tánh, tất cả bổn thể của các pháp cũng như thế.

Thuở xưa, ông vua có phước báu, nhân dân có hạnh phúc, mưa thuận gió hoà, quốc thái dân an. Lúc đó, năm ngày gió, một ngày mưa. Gió thổi nhẹ nhàng, chẳng thổi cây cối phải vang ra tiếng; còn mưa thì mưa nhỏ, chẳng làm cho sói mòn đất lở, khí tượng đếu tự nhiên. “Cập thời phong và cập thời gió”, lúc nên thổi gió mát, thì thổi gió mát, lúc nên thổi gió ấm, thì thổi gió ấm. Lúc nên mưa thì mưa, lúc nên đổ tuyết thì đổ tuyết, nhưng tuyệt đối chẳng cuồn phong bạo vũ. Ðây tức là mưa thuận gió hoà. Vì mưa gió điều hòa, cho nên ngũ cốc trúng mùa, nhân dân cơm no áo ấm, an cư lạc nghiệp, mọi người sinh sống an vui chẳng sầu lo. Lúc đó, đất nước cũng thái bình, nhân dân cũng an lạc, đây tức là quốc thái dân an. Khí hậu thời xưa là như thế, chẳng giống như khí hậu hiện tại, trong trạng thái khác thường, tất cả chẳng chánh thường, nên có gió mà chẳng có gió, không nên có gió mà có gió, có lúc bão tố thổi sập nhà, gãy đổ cây cối, tạo thành tai nạn nặng nề. Hoặc lúc nên mưa mà không mưa, lúc không nên mưa mà mưa, có khi mưa như đổ nước, làm ngập lụt ruộng rẫy, biến thành đồng nước, tạo thành chẳng có nhà để ở. Tại sao lại như thế ? Vì tâm người chẳng như xưa, tham sân si quá nặng, ích kỷ lợi mình mà chẳng nghĩ đến người khác, cho nên phải chịu quả báo tập thể như vậy.

 

Hựu như chúng địa giới,                             Lại như các đất đai
Triển chuyển nhân y trụ,                            Lay chuyển vì nương trụ
Các các bất tướng tri,                                 Đó đây chẳng biết nhau
Chư Pháp diệc như thị.                               Các pháp cũng như vậy.

Lại giống như tất cả đại địa (địa cầu), cùng nhau triển chuyển, nương hư không mà trụ. Do đó:
“Ðất nương nước,
Nước nương gió,
Gió nương hư không,
Hư không chẳng chỗ nương.

Nếu trái đất chẳng chuyển động, thì sẽ bị hủy diệt. Tại sao ? Vì gió nhiếp trì nó chẳng được, thì trái đất sẽ lìa khỏi quỹ đạo. Trái đất chuyển động mới phát sinh sức nhiếp trì mà tồn tại. Trái đất và trái đất (một thái dương hệ có một trái đất, ở trong ngân hà có vô lượng thái dương hệ) đều chuyển động ở trong hư không, đó đây chẳng biết nhau. Tất cả bổn thể của các pháp cũng như thế.

 

Nhãn Nhĩ tị thiệt thân,                               Mắt tai mũi lưỡi thân
Tâm ý chư Tình căn,                                   Tâm ý các tình căn
Dĩ thử thường lưu chuyển,                         Do đây thường lưu chuyển
Nhi vô năng chuyển giả.                             Mà không thể chuyển được.

Mắt, tai, muĩ, lưỡi, thân, tâm, ý, sáu căn của chúng ta thường bị cảnh giới chuyển. Tại sao ? Vì có tình căn. Nếu đoạn trừ tất cả tình căn, thì không bị lưu chuyển trong sinh tử, chẳng bị phiền não gây rắc rối. Và chẳng có bất cứ người nào, để chủ tể chi phối sáu căn của bạn lưu chuyển trong sinh tử, mà là chính tình căn của bạn lưu chuyển. Ðây đều chẳng biết nhau, mà là chính mình lưu chuyển trong sinh tử sáu nẻo luân hồi.

 

Pháp tánh bổn vô sanh,                             Pháp tánh vốn không sinh
Thị hiện nhi hữu sanh,                                Thị hiện mà có sinh
Thị trung vô năng hiện,                               Trong đó không thể hiện
Diệc vô sở hiện vật.                                     Cũng không chỗ hiện vật.

Pháp tánh tức là thật tánh của các pháp, thật tánh là không. Vì là không, cho nên chẳng chỗ sinh. Tuy chẳng chỗ sinh, nhưng nó hay hiện mà có sinh, sinh ra pháp đó, đây là sinh mà không sinh. Pháp tánh vốn là chân không, thị hiện mà có sinh, đây là diệu hữu, song, cũng chẳng thật tại. Tuy nói pháp tánh vốn là không, nhưng ở trong chân không sinh ra diệu hữu. Sự sinh nầy chẳng cứu kính, chẳng triệt để, chẳng phải thường trụ bất hoại.

Pháp tánh vốn không sinh mà thị hiện có sinh, chứ chẳng phải là có kẻ chủ tể, chẳng phải nói tôi dạy nó sinh, tôi dạy nó hiện. Ðây là duyên gì ? Vì nguồn gốc là từ pháp sở hiện ra, chẳng có một vật thể, cũng chẳng có một chủ tể năng hiện, cũng chẳng có một vật sở hiện, bổn lai là hư vọng, chẳng có cảnh giới thật tại.

Chúng ta nhận cảnh giới hư vọng chẳng thật làm thật, chẳng biết nó là vô thường, cho nên chấp trước huyễn có, mà quên mất bổn lai chân không, nhận huyển có là thật thể. Nếu phá chấp trước huyễn có thì hợp với diệu lý của chân không vốn có.

Tỳ Kheo Mã Thắng (một trong năm vị Tỳ Kheo đầu tiên) đến thành Xá Vệ khất thực. Ngài đi đường mắt chẳng nhìn tà, uy nghi trang nghiêm, trên đường bị Ngài Xá Lợi Phất và Ngài Mục Kiền Liên gặp được, các Ngài chưa từng thấy ai uy nghi trang nghiêm như Tỳ Kheo Mã Thắng, thậm chí rất ngạc nhiên, trong tâm bèn khởi tâm cung kính. Do đó, bèn đi đến trước mặt Tỳ Kheo Mã Thắng, chắp tay lại hỏi : “Thiện tri thức ! Xin hỏi : Ngài từ đâu mà học được uy nghi như thế, sự trang nghiêm như thế, chúng tôi rất khâm phục»! Tỳ Kheo Mã Thắng bèn nói :

«Các pháp do duyên sinh
Các pháp do duyên diệt
Phật ta Ðại Sa Môn
Thường nói lời như vậy.

Nghĩa là tất cả các pháp đều từ duyên sinh, từ duyên diệt. Vì duyên sinh chẳng có tánh, chẳng có tự thể. Thầy của tôi là Ðại Sa Môn, Ngài thường thường nói như vậy, để dạy chúng tôi, y pháp tu hành.

Lúc đó, tôn giả Xá Lợi Phật và Mục Kiền Liên (hai người tu học bên ngoại đạo) nghe bèn khai ngộ. Do đó, có câu :

« Nghe một buổi nói pháp
Hơn mười năm đọc sách.

Hai người bèn đi lễ Phật, thỉnh Phật nói pháp, mong Phật khai thị, bỏ tà về chánh. Hai người dẫn hai trăm vị đệ tử, cùng đi đến quy y xuất gia với Ðức Phật, làm đệ tử của Phật, về sau trở thành trí huệ bậc nhất và thần thông bậc nhất, đều chứng quả A La Hán. Ðây là các đạo lý các pháp từ duyên sinh, duyên sinh không tánh.

Phật giáo ở tây phương mới truyền vào chưa được bao lâu, phàm là người xuất gia, đều nên học theo vị Tỳ Kheo Mã Thắng, uy nghi trang nghiêm, để một ấn tượng tốt cho người tây phương. Lời nói cử chỉ hành động đều phải hợp với uy nghi.

Bất cứ là Tỳ Kheo, hoặc là Tỳ Kheo Ni, đi ra bên ngoài làm gì, đều phải cẩn thận, đừng có tuỳ tiện, tổn uy nghi. Vàng của chùa Kim Sơn là từ trong các tống, nó đem ý của thức thứ sáu, truyền tống vào thức thứ tám. Nó giống như là bưu điện, cùng nhau truyền đạt tin tức. Còn là căn nhiễm ô, vì với bốn thứ phiền não căn bản tương ưng, tức là ngã si, ngã kiến, ngã mạn, ngã ái. Ngã si là vô minh, ngu nơi ngã tướng, mê chẳng có ngã lý. Ngã kiến là ngã chấp, nơi phi ngã pháp, vọng tánh là ngã. Ngã mạn là ngông láo kiêu mạn, nương sở chấp ngã, khiến cho tâm cao hứng, Ngã ái là ngã tham, nơi sở chấp ngã, sinh ra đam trước sâu nặng. Còn gọi là Mạt na thức, dịch là tư lượng. Tư lượng ngã si, ngã kiến, ngã mạn, ngã ái, chẳng có tơ hào gián đoạn. Ðây là thức căn bản vọng hoặc của tất cả chúng sinh.

Thức thứ tám là thức A lại gia, dịch là tàng, hay ẩn tàng tất cả chủng tử thiện ác (thần thức). Mọi hành vi việc làm của thức thứ bảy, đều ẩn chứa ở trong kho của thức thứ tám. Nếu là hạt giống tốt, thì tương lai sẽ được quả báo thiện. Nếu là hạt giống ác, thì tương lai sẽ được quả báo ác. Tóm lại, khi mê hoặc là thức A lại gia, khi khai ngộ là đại quang minh tạng.

Tuy nhiên sáu căn đối với sáu trần mà sinh ra sáu thức, song, chẳng có tự tánh, chẳng có thật thể. Vì chúng sinh có tâm phân biệt, cho nên có đủ thứ thức. Nếu chẳng có tâm phân biệt thì là chân không, chẳng có thật thể để tìm. Giống như tất cả sơn hà đại địa, bổn lai là vắng lặng, chúng ta có tâm phân biệt và tâm chấp trước, mới hiện ra những cảnh giới đó.

 

Nhãn Nhĩ tị thiệt thân,                               Nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân
Tâm ý chư Tình căn,                                   Tâm-ý sáu tình-căn
Nhất thiết không Vô tánh,                          Tất cả rỗng vô-tánh
Vọng tâm phân biệt hữu.                            Vọng phân-biệt mà có.

Như lý nhi quan sát,                                   Theo lý mà quán sát
Nhất thiết giai Vô tánh,                              Tất cả đều không tánh
Pháp nhãn bất tư nghị,                              Pháp nhãn không nghĩ bàn
Thử kiến phi điên đảo.                                Đây thấy chẳng điên đảo.

Y chiếu theo lý để quán sát tất cả sự và tất cả pháp, thì đều chẳng có tánh và thể. Nếu dùng pháp nhãn để quán sát, thì tất cả đều là cảnh giới không thể nghĩ bàn. Dùng pháp nhãn để quán sát tất cả lý sự, thì những gì thấy đều chẳng điên đảo. Nếu dùng mắt của phàm phu để quán sát tất cả lý sự, thì đều là thấy điên đảo. Người khai mở ngũ nhãn, đắc được thần thông không chướng ngại, sự thấy nầy mới chẳng phải là thấy điên đảo, mà là thấy đúng sự thật.

 

Nhược thật nhược bất thật                         Hoặc thật hoặc không thật
Nhược vọng nhược phi vọng,                     Hoặc vọng hoặc không vọng
Thế gian xuất thế gian,                                Thế gian xuất thế gian
Đãn hữu giả ngôn thuyết.                           Chỉ có nói lời giả.

Trong quyển luận của Bồ Tát Long Thọ có nói :
«Nhân duyên sinh ra pháp
Ta nói tức là không
Tên cũng là giả danh
Danh cũng nghĩa trung đạo.

Bài kệ nầy nói rằng, phàm là pháp từ nhân duyên sinh ra đều chẳng có tự tánh, cũng chẳng có thật thể, cho nên tôi nói là vắng lặng. Nó cũng có giả danh (các pháp) mà thôi. Không giả hợp lại tức là trung đạo. Nghĩa trung đạo chẳng lệch về không, chặng lệch về có, không rơi vào hai bên, tức là trung đạo. Lại có lối nói rằng, chẳng chấp đoạn, chẳng chấp thường, tức là trung đạo. Nếu chấp đoạn thì lệch về không. Nếu chấp thường thì lệch về có. Không có hai bên chẳng chấp trước, tức là trung đạo.

Thật là có, vọng là không. Hoặc nói là có, hoặc nói là không, hoặc nói có mà không có, hoặc nói không mà chẳng không. Trong trung luận có nói :

« Tất cả pháp chân thật
Tất cả pháp chẳng thật
Cũng thật cũng không thật
Không thật không không thật
Là tên các Phật pháp .

Pháp thế gian và pháp xuất thế gian, đều là giả danh mà thôi. Chỉ có nói pháp mà chẳng có bổn thể thật tế. Phàm là nói ra được, đều chẳng phải đệ nhất nghĩa đế. Ðệ nhất nghĩa đế thì nói không ra, chẳng có lời lẽ có thể nói ra, cũng chẳng có văn tự có thể tả ra được, cho nên nói chỉ có nói lời giả.

Bài kệ nầy là kệ nói ở trước, tổng quát nói lại. Ðoạn Kinh văn nầy, dùng đất nước gió lửa bốn đại để ví như các pháp. Ở trong mỗi đại, có đủ thứ ví như, để hiển rõ thật tánh của các pháp. Hiện tại chỉ dùng nước để nói rõ đạo lý thật tánh của các pháp. Vì nước có đạo lý giống nhau nên đưa nước ra để ví dụ chân như tự tánh, tức cũng là chân tâm. Nay đưa ra mười ví dụ :

– Tự thể của nước là trong suốt. Ở trên có thể nhìn thấy đáy nước. Ðây là ví dụ tự tánh thanh tịnh của chân tâm, ánh sáng chiếu khắp.

– Nước và bùn hỗn hợp với nhau, tức biến thành đục mờ chẳng trong. Ðây là ví như chân tâm thanh tịnh không nhiễm mà nhiễm, biến thành chẳng có ánh sáng thanh tịnh.

– Nước tuy đục nhưng bổn tánh thanh tịnh chẳng mất, vẫn tồn tại. Ðây là ví như chân tâm thanh tịnh nhiễm mà không mất, thanh tịnh vẫn tồn tại.

– Nếu bùn lắng xuống đáy nước thì bổn tánh thanh tịnh của nước lại hiện ra. Ðây là ví như chân tâm của con người, hoặc sạch thì tánh hiện. Tức là hoặc kiến tư, hoặc trần sa, hoặc vô minh phá sạch, thì tự tánh (chân tâm) bèn hiện ra.

– Nước gặp lạnh thì biến thành băng, có tánh cứng. Ðây là ví như tánh Như Lai tạng (chân tâm) và vô minh hợp với nhau, sinh ra tám thức tác dụng.

Tôi thường nói : « Nếu như dùng một bát nước, tác lên đầu người, thì chẳng làm cho người bị thương, cũng chẳng cảm thấy đau. Nếu như đem một bát nước đóng thành băng phan lên đầu người, nếu nhẹ thì bễ đầu chảy máu, nếu nặng thì nguy hiểm tánh mạng, thậm chí có thể chết người. Cùng một vật mà tác dụng khác nhau.

– Băng tuy có tánh cứng tác dụng, nhưng ở trong băng chẳng mất đi tánh mềm. Ðây là ví như chân tâm của chúng ta tùy duyên bỏ đi, vẫn không biến. Tức là trong sự tướng cũng sẽ hiện ra chân lý.

– Nước tuy thành băng, nhưng gặp sức nóng thì tan thành nước. Ðây là ví như tám thức của con người, tuy rất kiên cường, khó chuyển thành bốn trí, song, nếu chuyển được (tu đạo) tám thức, thì sẽ thanh tịnh, khôi phục lại tánh Như Lai tạng.

– Nước theo gió mà có sóng, nhưng biến chẳng được tự tánh bình tĩnh bổn lai của nước. Ðây là ví như tánh Như Lai tạng của chúng ta, bị gió vô minh thổi động, mà sinh ra sóng khởi diệt.

Trong Pháp Bảo Ðàn Kinh của Lục Tổ có nói như vầy: Lục Tổ ở tại Chùa Pháp Tánh, thì một ngày nọ nghe hai vị Tăng biện luận vấn đề « Gió động, phướng động.

– Có một vị Tăng nói: « Gió động, chẳng phải phướng động.

– Một vị Tăng kia nói: « Phướng động, chẳng phải gió động.

Tại sao ? Nếu chẳng có gió thì phướng chẳng động. Nếu chẳng có phướng thì làm sao hiển thị gió động ? Vì lẽ đó mà hai người tranh biện không ngừng. Lúc đó, Lục Tổ ở đó nói : « Chẳng phải gió động, chẳng phải phướng động; là tâm của các người động. Nghĩa là sóng ở trong tâm của các vị động.

Gió thổi sóng động, mà tánh lặng của nước không động. Bổn tánh của nước chẳng có sinh diệt, chẳng có sóng. Cho nên nói : « Chẳng phải gió động, chẳng phải nước động, tâm của các vị động. Ðây là tâm có sự giao động; nếu tâm bình tĩnh thì sóng cũng chẳng có.

– Nước theo địa thế cao thấp, mới có lên xuống. Ở trước chảy, dẫn ở sau chảy, mới có tướng chảy, song, tự tánh của nước là không động. Ðây là ví như chân tâm của con người, tùy duyên mà chảy, nhưng tự tánh vẫn không động.

– Nước ở trong đồ đựng, theo hình đồ đựng mà thay đổi. Ðồ đựng hình vuông thì thành hình vuông; đồ đựng hình tròn thì thành hình tròn, nhưng tự tánh của nước không thay đổi. Ðây là ví như chân như tự tánh của con người, phổ khắp đến tất cả pháp hữu vị, nhưng tự tánh chẳng động.

Ðây là dùng nước để ví dụ chân như tự tánh. Chân tâm thanh tịnh, bổn diện minh tâm đều là ví dụ cái nầy. Ngoài ra lửa, gió, đất, cũng đều có đủ thứ ví dụ, vì thời gian nên chỉ nói về nước, còn những thứ kia tự mình nghiên cứu lấy.

 

Nhĩ thời, Văn-thù-sư-lợi Bồ Tát vấn tài thủ Bồ Tát ngôn: Phật tử !nhất thiết chúng sanh phi chúng sanh. vân hà Như Lai tùy kỳ thời, tùy kỳ mạng, tùy kỳ thân, tùy kỳ hạnh, tùy kỳ giải, tùy kỳ ngôn luận, tùy kỳ tâm lạc, tùy kỳ phương tiện, tùy kỳ tư tánh, tùy kỳ quan sát, ư như thị chư chúng sanh trung, vi hiện kỳ thân, giáo hóa điều phục

Bấy giờ, Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi hỏi Bồ Tát Tài Thủ rằng: Phật tử ! Tất cả chúng sinh chẳng phải chúng sinh. Sao Như Lai tùy thời, tùy tuổi thọ, tùy thân, tùy hạnh, tùy hiểu biết, tùy ngôn luận, tùy tâm ưa thích, tùy phương tiện, tùy sự suy nghĩ, tùy sự quán sát. Như vậy ở trong các chúng sinh, mà hiện thân hình để giáo hóa điều phục.

Giảng: Sau khi Bồ Tát Giác Thủ nói bài kệ xong rồi, thì Lúc đó, Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi hướng về Bồ Tát Tài Thủ thỉnh pháp, bèn hỏi : « Ðệ tử của Phật ! Tất cả chúng sinh vốn chẳng phải chúng sinh, tức nhiên là không, tại sao Phật vẫn phải độ không chúng sinh ? Nếu Phật thấy chúng sinh chẳng phải không, đây là trí tuệ không đủ, thì thành báng Phật. Nếu Phật thấy chúng sinh là không, vẫn độ không chúng sinh, đây chẳng phải không có tướng trái ngược chăng ? xin Ngài hãy giải thích kỹ càng.

Làm thế nào giải thích mười vấn đề? Như Lai tùy theo căn tánh của chúng sinh để giáo hoá, không màng là thành thục, hoặc không thành thục, đều giáo hóa. Chúng sinh chẳng gieo trồng căn lành, thì Phật khiến cho họ gieo trồng căn lành. Vì trồng căn lành mới sinh mầm bồ đề. Người đã sinh mầm bồ đề căn lành, thì khiến cho căn lành tăng trưởng. Người căn lành đã tăng trưởng, thì khiến cho thành thục. Người căn lành đã thành thục, thì khiến cho được giải thóat.

  1. Phật thì quán cơ đầu giáo. Tức là đến lúc giáo hóa, thì Phật bèn đến giáo hóa họ; chưa đến lúc giáo hóa, thì Phật đợi. Tóm lại, khi căn cơ chín mùi, thì Phật nhất định sẽ đến giáo hóa họ. Vậy, tức nhiên chúng sinh là không, tại sao Phật lại đến giáo hóa chúng sinh ?
  2. Tuổi thọ của chúng sinh có dài có ngắn khác nhau. Khi chúng sinh tuổi thọ dài mới được Phật giáo hóa, thì Phật sẽ đến giáo hóa họ lúc tuổi họ dài; chúng sinh lúc tuổi ngắn mới được Phật giáo hóa, thì Phật sẽ giáo hóa họ lúc họ tuổi ngắn. Vậy chúng sinh là không, tại sao Phật lại giáo hóa chúng sinh.
  3. Chúng sinh có đủ thứ loại, có đủ thứ thân đều khác nhau. Ví như người có thân người, súc sinh có thân súc sinh, tất cả thân chúng sinh có rất nhiều loại thân. Phật hay tùy thuận loại thân mà giáo hóa. Lão Tử có nói:

Sở dĩ tôi có đại hoạn, là vì tôi có thân.
Nếu tôi không có thân, thì tôi có hoạn gì ?

Ðại hoạn tức là đại ưu hoạn, tức cũng là bệnh tật. Chúng ta có bệnh ưu họan, vì sao? Vì chúng ta có thân thể. Có thân thể rồi thì sinh ra tâm ích kỷ. Vì thân thể nầy mà tất cả đều lo cho nó, vì nó mà tìm nhà ở, vì nó mà tìm quần áo, vì nó mà tìm đồ ăn uống. Ăn, mặc, ở, ba vấn đề nầy nhất định phải đầy đủ, không thể thiếu một. Nếu không đầy đủ, thì cảm thấy có bệnh lo lắng sầu muộn, vì có thân ta mà có đại hoạn. Nếu chẳng có thân ta thì chẳng có cái ta. Ðến được cảnh giới không có cái ta, thì ta còn lo sầu gì nữa ? Sự giết chóc, trộm cắp, tà dâm, nói dối, uống rượu, trên thế gian nầy đều vì có thân nầy. Nếu nhìn thấu thân nầy, chẳng vì thân thể trừ tham, dứt sân, diệt si, thì chẳng có lo sầu hoạn nạn. Nếu chẳng có tâm ích kỷ thì thân thể cũng chẳng tích lũy nghiệp xấu. Nếu tu đạo, mượn giả tu chân, tức là mượn thân thể giả tạm nầy để tu pháp thân huệ mạng mà thành tựu Phật quả. Nếu chẳng mượn giả tu chân, thì Phật quả chẳng thể thành tựu. Cho nên Phật tùy thời, tuổi thọ, thân của chúng sinh mà giáo hóa. Bổn lai chúng sinh là không, tại sao lại giáo hoá ? Ðây là đạo lý gì ?

Trước kia có ông già sáu mươi tuổi, ông già bảy mươi tuổi, và ông già tám mươi tuổi, thường tụ lại với nhau để nghiên cứu vấn đề thân của mình. Một ngày nọ, thảo luận về vấn đề sinh tử. Con người đến thì hồ đồ mà đến, khi đi thì hồ đồ mà đi. Sinh rồi chết, chết rồi sinh, mỗi người hãy phát biểu ý kiến của mình.

– Ông già sáu mươi tuổi nói : « Tiệc rượu năm nay đầy đủ, chẳng biết năm tới lại thiếu ai»?

– Lúc đó, ông già bảy mươi tuổi nói : « Ðêm nay cởi giầy và tất, chẳng biết sáng mai có mang giầy mang tất nữa không»?

– Ông già tám mươi tuổi nói : « Hơi thở nầy ra, không biết hơi thở khác có trở lại không ? »

Cho nên nói : « Sinh tử là việc lớn, vô thường đến mau chóng. Trước khi già phải mau dụng công phu tu đạo, dứt sinh tử là quan trọng. Ba ông già đó, là người dụng công tu đạo phi thường, dụng công niệm Phật, dụng công tham thiền, tinh tấn tu hành. Vì chấm dứt sinh tử, cho nên một ngày ăn một bữa, cũng chẳng có vọng tưởng, kết quả ba ông già đều liễu sinh thoát tử. Người xưa có câu :

«Ðừng đợi già mới tu đạo

Mồ hoang đầy dẫy kẻ thiếu niên.

Ðợi đến tuổi già mới nghĩ học tu đạo, liễu sinh thoát tử, thì thời gian đã quá muộn màng. Các bạn xem những người ở ngoài nghĩa địa, đều là những người thiếu niên. Do đó, có câu :

« Huỳnh tuyền lộ thượng vô lão thiếu.

Nghĩa là :

« Ðường xuống âm ti chẳng phân biệt già trẻ.

Con người tùy thời tùy lúc đều có thể chết. Bài kệ cảnh chúng của Bồ Tát Phổ Hiền rằng :
Ngày đã qua rồi
Mạng cũng giảm dần
Như cá thiếu nước
Nào có vui gì ?

Ðại chúng !
Hãy siêng tinh tấn
Như cứu đầu cháy
Nên nhớ vô thường
Đừng có phóng dật !

Chúng ta mỗi ngày trôi qua, thì mạng sống giảm bớt một chút. Giống như nước dưới sông dần dần cạn, cá ở trong nước sẽ có nguy hiểm về mạng sống, đây còn có vui vẻ gì ? Ðại chúng ! Phải chú ý, phải luôn luôn tinh tấn, không thể giải đãi. Giống như cứu lửa cháy trên đầu, bảo vệ đầu an toàn, tu đạo cũng cấp bách như thế. Chỉ nhớ vô thường, chẳng biết lúc nào sẽ đến. Cho nên đừng phóng dật, phải thời khắc cẩn thận. Ðến lúc sinh tử tự do, thì có thể khống chế sinh tử, muốn sống thì sống, muốn chết thì chết (chẳng phải tự tử), nắm chắc được như thế, thì chứng bệnh gì cũng chẳng có. Ðiểm nầy, các bạn phải đặc biệt chú ý, đừng theo sinh tử mà lưu chuyển.

  1. Tùy theo căn tánh của chúng sinh, chúng sinh phải tu pháp gì ? Phật dùng pháp gì để giáo hóa ? Ví như, chúng sinh đáng dùng pháp môn lục độ để độ được thì Phật giáo hóa chúng sinh đó tu hành pháp môn lục độ. Lục độ tức là : Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ. Bố thí độ được xan tham, trì giới độ được sát sinh, nhẫn nhục độ được sân hận, tinh tấn độ đươc giải đãi, thiền định độ được tán loạn, trí huệ độ được ngu si, cho nên gọi là lục độ; tức là từ bờ sinh tử bên nầy, qua sông phiền não và đến bờ Niết Bàn bên kia. Chúng sinh đáng dùng pháp môn bốn diệu đế độ được, thì Phật bèn giáo hóa chúng sinh đó tu hành pháp môn bốn diệu đế. Bốn diệu đế tức là : Khổ, tập, diệt, đạo. Khiến cho họ biết khổ, đoạn tập, mộ diệt, tu đạo. Nếu y pháp tu hành, thì có thể sẽ chứng được đạo nghiệp. Chúng sinh đáng dùng pháp môn mười hai nhân duyên độ được, thì Phật bèn giáo hóa chúng sinh đó, tu hành pháp môn mười hai nhân duyên. Mười hai nhân duyên tức là : Vô minh, hành, thức, danh thức, lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sinh, lão, tử. Mười hai chi nầy có duyên khởi với nhau, nếu vô minh diệt rồi, thì các chi kia chẳng có duyên để nương, tức sẽ dứt sinh tử. Y theo pháp nầy tu hành, thì sẽ chứng được đạo quả. Phật thì quán sát căn cơ mà nói pháp môn tu hành. Ðây là tùy hạnh.
  2. Phật dùng một tiếng diễn nói pháp, chúng sinh theo loài đều hiểu rõ, vì trí huệ của chúng sinh khác nhau, cho nên đạo lý pháp của Phật nói, mỗi loài đều có sự nhận thức sâu cạn. Phật vì sáu nẻo chúng sinh mà nói pháp, vì khiến cho chúng sinh minh bạch hiểu rõ. Ðây là tùy sự hiểu biết.
  3. Chúng sinh có rất nhiều loại, căn tánh của họ cũng khác nhau. Ðừng nói phi, tiềm, động, thực, noãn, thai, thấp, hoá, quá nhiều loài chúng sinh, chỉ nói về loài người mà ngôn ngữ văn tự, hoặc nhiều thứ tiếng nói, hoàn toàn khác nhau. Chúng sinh hiểu tiếng gì thì Phật nói pháp tiếng đó. Ðây là theo ngôn luận.
  4. Chúng sinh đều có sự hy vọng của mình, Phật tùy thuận tâm ưa thích của chúng sinh, để nói pháp mà chúng sinh hoan hỉ. Do đó, có câu :

« Muốn khiến họ vào Phật trí
Trước hết dùng câu dục để móc.

Vì khiến cho chúng sinh vào trí huệ của Phật, nên trước hết dùng pháp mà họ ưa thích để dẫn dắc họ, như thế mới có hiệu quả. Như thế y pháp tu hành, thì sẽ chứng đạo quả. Ðây là tùy tâm ưa thích.

  1. Phật giáo hóa chúng sinh là dùng đủ thứ pháp môn phương tiện. Nếu chẳng hiểu tâm ý của chúng sinh, thì chẳng tùy theo phương tiện mà nói pháp, như vậy thì chẳng có hiệu quả tốt. Ðây là tùy phương tiện.
  2. Chúng sinh đều có suy nghĩ của mình. Phật phải tùy thuận tư tưởng của chúng sinh để giáo hóa, bằng không thì lãng phí nhiều lời mà chẳng thành công, thu được hiệu quả rất ít ! Do đó, có câu : « Vì người nói pháp», thấy người suy nghĩ gì, thì nói pháp đó. Ðây là phương châm giáo hóa chúng sinh của Phật. Ðây là tùy suy nghĩ.
  3. Phật chẳng những tùy thuận sự suy nghĩ của chúng sinh để giáo hoá, mà còn tùy thuận sự quan sát của chúng sinh mà quan sát. Phật quán sát nhân duyên của chúng sinh, đáng dùng phương pháp gì để giáo hoá chúng sinh, thì bèn khiến cho chúng sinh có thể tiếp thọ Phật pháp.

Ở trước nói chúng sinh chẳng phải chúng sinh, vậy tại sao Phật phải dùng đủ thứ phương pháp để giáo hoá, để điều phục, đây là đạo lý gì ? Cứu kính Phật thấy chúng sinh là không hay là chẳng không ?

 

Thời, tài thủ Bồ Tát dĩ tụng đáp viết:

Bấy giờ, Bồ Tát Tài Thủ dùng kệ đáp rằng:

Giảng: Lúc đó, vị Ðại Bồ Tát Tài Thủ dùng kệ để trả lời những vấn đề Bồ Tát Văn Thù hỏi.

Chúng sinh chấp trước vào tất cả các pháp, chẳng minh bạch đạo lý, các pháp là vô thường, khổ, không vô ngã, cho nên nhiễm khổ làm vui. Danh lợi là vấn đề nhỏ, song, hết thảy mọi người đều mê luyến danh lợi; chẳng phải cầu danh thì cầu lợi, đa số mọi người đều cầu cả danh lẫn lợi. Tuy sinh tử là việc lớn, song, chẳng có ai chuẩn bị trước; đến lúc lâm chung thì hồ đồ mà đi. Do đó, có câu :

«Danh lợi việc nhỏ, mọi người đều thích
Sinh tử việc lớn, chẳng ai màng đến.

Do đó, mà luân hồi ở trong sáu nẻo, sinh rồi lại chết, chết rồi lại sinh, sinh sinh chết chết, chết chết sinh sinh, sinh chết không ngừng, cho nên gọi là chúng sinh.

Chúng sinh tức là chúng duyên giả hoà hợp mà sinh, còn là do chúng đa sinh mà thành. Vì sinh quá nhiều, cho nên gọi là chúng sinh. Có chúng sinh thì có chúng tử. Sinh nhiều thì chết cũng nhiều, cho nên còn gọi là chúng tử. Một chúng sinh chẳng biết thọ bao nhiêu lần sinh tử trong luân hồi. Vậy tại sao chẳng ngừng sinh tử luân hồi ? Vì ái dục chẳng dứt. Ái dục là gốc sinh tử, có ái dục thì có luân hồi. Có luân hồi thì có sinh tử, giống như nằm mộng không khác. Do đó, có câu :

Người sống một giấc mộng
Người chết mộng một giấc.
Trong mộng thân giàu sang
Tỉnh mộng thì nghèo sơ.

Luôn luôn đang nằm mộng
Không giác mộng hoàng lương.
Nếu trong mộng không giác
Uổng thay một giấc mộng.

Lúc con người còn sống thì đang nằm mộng; lúc con người chết đi, mới nằm xong một giấc mộng. Trong giấc mộng nào là thăng quan, pháp tài, vợ đẹp thiếp xinh, hoặc là đậu tiến sĩ, hoặc là làm thủ tướng, vinh hoa phú quý, hưởng thụ không hết. Ðợi đến lúc tỉnh mộng, thì vẫn là người bần cùng, thân chẳng có đồng xu nào, lang thang đó đây. Bảy báu hiện tiền ở trong mộng, gì cũng đều tốt, muốn gì có nấy. Song, khi tỉnh mộng thì gì cũng đều chẳng có, vẫn là cô thân một mình, gì cũng chẳng có. Hằng ngày nằm mộng, đều là mộng hoàng lương. Mộng hoàng lương là gì ? Tức là ở trong mộng, đậu trạng nguyên, làm quan lớn, con cháu đầy nhà, phú quý vinh hoa, tức là khoảng thời gian mấy chục năm. Khi tỉnh mộng thì chủ tiệm vì họ nấu cơm hoàng lương vẫn chưa chín ! Nếu ở trong mộng mà không giác, thì uổng thay một giấc xuân mộng.

 

Thử thị lạc tịch diệt                                     Đây là vui vắng lặng
Đa văn giả cảnh giới,                                  Cảnh giới bậc Đa Văn
Ngã vi nhân tuyên thuyết,                          Tôi vì Ngài diễn nói
Nhân kim ưng thính thọ.                            Xin Ngài hãy lắng nghe.

Pháp nầy là pháp vắng lặng, mà người hoan hỉ ưa thích. Vắng lặng là gì ? Tức là thể vắng lặng, lìa tất cả tướng. Lìa khỏi phiền não là vắng, dứt sạch khổ sở hoạn nạn là lặng, tức cũng là Niết Bàn.

Ða Văn tức là học rộng nghe nhiều. Vào sâu tạng Kinh, tăng trưởng văn huệ. Khéo về tư duy các pháp thật tướng tức là tư huệ. Tư duy rồi bèn tu hành, đây là tu huệ. Văn tư tu ba huệ hay dùng tức là cảnh giới đa văn.

Tôn giả A Nan là bậc nhất về đa văn. Kinh điển của Phật nói, Ngài đều nhớ rõ hết, vì trí nhớ của Ngài rất đặc biệt, cho nên một khi lọt qua tai thì nhớ chẳng quên, giống như máy thu băng.

Bồ Tát Tài Thủ nói với Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi rằng: « Hiện nay tôi vì Ngài mà diễn nói pháp tại sao Phật độ chúng sinh. Ngài là người đại biểu để hỏi pháp, xin Ngài hãy chú ý lắng nghe pháp nầy, tiếp thọ pháp nầy.

 

Phân biệt quán nội thân                             Phân biệt quán trong thân
Thử trung thùy thị ngã,                               Trong đó ai là ta
Nhược năng như thị giải                             Nếu hiểu đuợc như thế
Bỉ đạt ngã hữu vô.                                      Đạt được chẳng có ta.

Chúng ta chấp trước quá lớn. Chấp trước gì ? Chấp trước cái « Ta . Cái « Ta » này còn cao hơn núi Tu Di, còn lớn hơn bốn biển. Cái « Ta » nầy tranh luận hơn thua, tranh danh đoạt lợi; sánh anh hùng, luận hào kiệt. Vì có cái « Ta » nầy, cho nó ăn uống, chơi bời hưởng thụ tất cả. Hằng ngày làm nô lệ cho nó, cũng chẳng biết nhìn thấu, cũng không thể buông xả, cho nên hằng ngày chẳng tự tại.

Bồ Tát Tài Thủ nói : « Ngài cần phải phân biệt kỹ lưỡng để quan sát ở trong thân và ngoài thân, tìm chẳng được. Từ đầu cho đến chân, mỗi bộ phận đều có tên của nó. Ðầu có tên đầu, ngũ quan có tên ngũ quan, tứ chi có tên tứ chi, chân có tên chân. Ngoài thân tìm cái « Ta », tìm chẳng được. Ngũ tạng lục phủ ở trong thân cũng đều có tên của nó. Ngũ tạng là tim, gan, tỳ, phổi, thận; lục phủ là dạ dày, mật, tam tiêu, bàng quang, ruột lớn, ruột nhỏ, ở trong đây cũng tìm chẳng được cái « Ta . Vậy cứu kính ai là « Ta »? Tức nhiên chẳng tìm được « Ta », sao vẫn chấp trước « Ta. Phải minh bạch bên trong cũng chẳng có « Ta», bên ngoài cũng chẳng có « Ta. Do đó, có câu :

Trong chẳng có thân tâm
Ngoài chẳng có thế giới.

Hoặc là :
Trong quán tâm, tâm chẳng có tâm
Ngoài quán hình, hình chẳng có hình
Xa quán vật, vật chẳng có vật.

Cả ba đều không, chỉ thấy là không. Thân thể vốn là không. Thân thể là không, tại sao còn chấp trước nó ? Vì nó mà điên đảo, đây là khổ gì ? Nếu suy nghĩ như thế, thì sẽ minh bạch cái « Ta» cứu kính chẳng có. Nếu như có « Ta» thì ta là ai ? Ai là ta ? Hoàng đế Thuận Trị đời nhà Thanh có bài kệ rằng: « Chưa từng sinh ta, ai là ta ? Khi sinh ta ra, ta là ai ? Lớn lên thành người mới là ta, hợp nhãn lờ mờ lại là ai » ? Ðạo lý nầy hãy nghiên cứu xâu xa một phen. Tức nhiên tìm chẳng được « Ta», tại sao phải hết mình trợ giúp cái « Ta»? Trong tâm chấp trước. Ðây là của ta, đó là của ta. Có người mắng một câu cũng chịu chẳng được, có người đánh một cái, càng chịu không được. Bị cái « Ta» giả chi phối mà điên điên đảo đảo, cho nên Phật nói: « Loại chúng sinh nầy thật là đáng thương»!

 

Thử thân giả an lập,                                    Thân nầy giả an lập
Trụ xứ vô phương sở,                                  Trụ xứ chẳng chỗ có
Đế liễu thị thân giả,                                    Người xét rõ thân nầy
Ư trung vô sở trước.                                   Trong đây chẳng chấp trước.

Thân thể của hết thảy chúng sinh đều do bốn đại giả hòa hợp mà thành. Bốn đại tức là đất nước gió lửa. Nếu muốn tìm trụ xứ thật sự của nó, thì tìm chẳng được một chỗ nào nó tồn tại. Nếu xét kỹ thấu rõ thân thể nầy là bốn đại hòa hợp sở hiện, thì sẽ chẳng chấp trước. Chẳng chấp nơi thân, chẳng chấp cái ta, như thế thì phá được ngã chấp. Nếu phá ngã chấp rồi thì pháp chấp rất dễ phá. Ngã chấp chẳng phá thì pháp chấp chẳng dễ gì phá. Ðiểm nầy hy vọng mọi người chú ý. Chúng ta là người nghiên cứu Phật pháp, trước hết phải nhìn thấu thân thể nầy là không, hoặc nhìn thấu là giả. Như thế thì chẳng chấp trước, lúc đó, sẽ giải thoát, tự tại.

 

Ư thân thiện quan sát,                                Nơi thân khéo quán sát
Nhất thiết giai minh kiến,                           Tất cả đều thấy rõ
Tri Pháp giai hư vọng                                 Biết pháp đều hư vọng
Bất khởi tâm phân biệt.                             Chẳng khởi tâm phân biệt.

Thân thể của chúng sinh khéo quán sát. Quán sát gì ? Quán sát cứu kính gì là ta ? Gì chẳng phải ta ? Cứu kính là thật, hay là giả ? Nếu như là ta, tại sao ta chẳng làm chủ đặng ? Lúc mắt lòa, không thể kêu nó đừng lòa; khi tai điếc, không thể kêu nó đừng điếc; khi răng rụng, không thể kêu nó đừng rụng; khi da nhăn, không thể kêu nó đừng nhăn nhó, cho nên ta chẳng làm chủ đặng. Trong thân ngoài thân đều phải quán sát mới có thể biết tất cả các pháp đều hư vọng. Trong Kinh Kim Cang có nói :

« Tất cả pháp hữu vi
Như mộng huyễn bọt bóng
Như sương cũng như điện
Hãy quán sát như thế.

Tức là như thế, cho nên đừng chấp trước thì sẽ chẳng khởi tâm phân biệt.

 

Thọ mạng nhân thùy khởi,                          Tuổi thọ do ai khởi
phục nhân thùy thoái diệt,                         Lại do ai tan diệt
do như toàn hỏa luân,                                Giống như vòng lửa quay
sơ hậu bất khả tri.                                      Trước sau chẳng biết được.

Tuổi thọ của con người là do ai mà khởi ? và ai là chủ tể tan diệt ? Mạng sống nầy như vòng lửa quay, tìm chẳng được trước sau. Vì cùng nhau quay không ngừng, cái nào trước ? cái nào sau ? chẳng cách chi biết được. Vì chẳng có bắt đầu, chẳng có kết thúc, cho nên trước sau chẳng minh bạch. Ðây là nói tuổi thọ của chúng ta, khi đến thì chẳng biết đến như thế nào ? Khi đi thì chẳng biết đi như thế nào. Ðến thì hồ đồ mà đến; đi thì hồ đồ mà đi. Vấn đề sinh tử, một chút cũng chẳng rõ ràng.

 

Trí giả năng quan sát,                                 Bậc trí hay quan sát
Nhất thiết hữu vô thường,                          Tất cả đều vô thường
Chư Pháp không vô ngã,                            Các pháp không vô ngã
Vĩnh ly nhất thiết tướng.                            Vĩnh lìa tất cả tướng.

Làm thế nào mới có trí huệ ? Trước hết phải giữ giới, sau đó tu định. Từ trong định mà đắc được trí huệ chân chánh. Có trí huệ thì tâm mới thanh tịnh. Do đó, có câu :

“Tâm thanh thủy hiện nguyệt
Ý tịnh thiên vô vân
Tâm bình bách nạn tán
Ý định vạn sự cát”.

Tự tánh của chúng ta vốn thanh tịnh như nước. Nếu bùn đất quấy động trong nước không ngừng, thì nước sẽ ô nhiễm hỗn đục. Con người chúng ta là hỗn đục chẳng thanh tịnh, vì chân tâm thanh tịnh và vô minh hợp mà làm một. Cho nên hỗn hợp thành vọng tâm. Lúc nầy nếu giữ gìn giới luật, chẳng có tâm phân biệt, tức cũng là chẳng khởi vọng tưởng. Nếu đừng làm các điều ác (chẳng có tâm ích kỷ), làm các điều lành (đại công vô tư) thì giống như nước và bùn hợp lại với nhau, nếu chẳng quấy động nó, thì nước tự nhiên dần dần sẽ lắng xuống. Nếu muốn lắng xuống thì phải tu định, định lực sẽ khiến cho nước hỗn đục khôi phục lại trong sạch, thanh tịnh tức là có trí huệ. Tóm lại, có một chậu nước đục (ngu si), bèn bỏ phèn trắng (tu hành) vào trong nước, thì nước sẽ từ từ lắng trong (trí huệ). Lúc đó, đừng quấy động nó (vọng tưởng), bằng không thì bùn lắng xuống đáy (vô minh), lại khởi tác dụng thì nước sẽ biến thành hỗn đục (ngu si).

Người có trí huệ thì đầy đủ trạch pháp nhãn (mắt chọn pháp). Pháp đúng, pháp sai, pháp lành, pháp ác, đều phân biệt được rõ ràng. Vốn chẳng có tâm phân biệt, nhưng đây là phân biệt của mắt chọn pháp, chứ chẳng phải dùng tâm hư vọng để phân biệt. Tóm lại là dùng trí huệ để phân biệt, đây giống như nước trong, từ trên nhìn xuống dưới được. Phàm là quán sát sự việc, giống như nhìn một chậu nước đục, chưa lắng trong, dù có phân biệt như thế nào cũng chẳng rõ ràng. Ðợi khi nước lắng trong rồi, có trí huệ biện rõ thị phi sẽ minh bạch sự việc. Chẳng có trí huệ, nhưng có phân biệt, đây chỉ là một thứ vọng chân phân biệt. Tâm phân biệt nầy không thể giúp bạn minh bạch sự việc. Chỉ sai một chút chút thì sẽ sai lầm, Do đó, có câu : “Sai một ly đi ngàn dặm.

Người trí huệ quán sát tất cả pháp hữu vi đều là vô thường. Trong Kinh Kim Cang có nói :
Phàm hết thảy tướng, đều là hư vọng.
Nếu thấy các tướng chẳng phải tướng,
Tức thấy Như Lai.

Ở trong tất cả các pháp đều là không vô ngã. Nếu lìa tất cả pháp hữu vi có hình có tướng thì lúc đó, sẽ chẳng có chấp trước.

 

Chúng báo tùy nghiệp sanh,                       Các báo tùy nghiệp sinh
Như mộng bất chân thật,                            Như mộng chẳng chân thật
Niệm niệm Thường Diệt hoại,                    Niệm niệm luôn diệt mất
Như tiền hậu diệc Nhĩ.                                Như trước sau cũng vậy.

Chúng ta ở trên thế gian, cảm hoặc, tạo nghiệp, thọ báo. Khởi hoặc là từ vô minh sinh ra nghi hoặc. Sinh ra rồi sẽ đi tạo đủ thứ nghiệp. Vì có đủ thứ nghiệp, cho nên chịu đủ thứ quả báo. Ðây là định luật không bao giờ thay đổi. Khi nào phá được hoặc rồi, thì chân tâm sẽ hiện ra, lúc đó, mới ngừng nghiệp báo. Cho nên nói các báo theo nghiệp sinh, tất cả quả báo tức là từ nghiệp mà chúng sinh tạo sinh ra. Tóm lại, tạo nghiệp gì thì chịu báo đó. Do đó, có câu :

“Trồng nghiệp thiện, kết quả thiện
Trồng nghiệp ác kết quả ác”.

Ðịnh luật nầy tơ hào chẳng sai. Tuy nhiên các báo tùy nghiệp sinh, nhưng giống như một giấc mộng, chẳng thật tại có thật. Thân thể của chúng ta đều là giả có, hà huống là những thứ khác, càng chẳng chân thật. Ðừng chấp trước vào thân thể, nó chẳng phải là vật tốt. Bạn chiếu cứ nó, bảo hộ nó, thương mến nó; lại sợ nó lạnh, lại sợ nó nóng, lại sợ nó đói, lại sợ nó khát. Suốt ngày đến tối vì cái túi da hôi thối nầy mà bận rộn, điên đảo. Kết quả đến lúc nó chạy trước mất, chẳng màng đến bạn.

Thân thể nầy và tất cả nghiệp đều ở trong niệm niệm, có sinh trụ dị diệt; ở trong niệm niệm, có thành trụ hoại không. Luôn luôn lúc nào cũng như thế, chẳng có ngừng nghỉ. Nghiệp báo như thế, giống như là sóng, sóng trước dãn sóng sau; sóng sau lại đẩy sóng trước. Sóng trước diệt thì sóng sau dậy, trước sau đều như thế.

 

Thế gian sở kiến Pháp,                                Chỗ thấy pháp thế gian
Đãn dĩ tâm vi chủ,                                      Nhưng dùng tâm làm chủ
Tùy giải thủ chúng tướng,                           Tùy hiểu chấp các tướng
Điên đảo bất như thật.                                Điên đảo chẳng như thật.

Tại thế gian, chỗ thấy tất cả các pháp, đều do tâm chi phối. Do đó, có câu : “Tất cả do tâm tạo”, nếu chẳng có tâm thì chẳng có pháp. Ðây là tùy vọng tưởng trong tâm chấp trước, mà thủ tất cả các tướng, chẳng nhận thức rõ ràng chân tâm của mình, là tự tánh như như bất động, liễu liễu thường minh Vì tùy theo vọng tưởng phân biệt mà chấp lấy các tướng, đây tức là điên đảo, là pháp chẳng thật. Tự tánh vốn không sinh không diệt, không dơ không sạch, không tăng không giảm, làm sao lại có sự chấp tướng ?

 

Thế gian sở ngôn luận,                                Lời lẽ của thế gian
Nhất thiết thị phân biệt,                             Tất cả là phân biệt
Vị tằng hữu nhất pháp,                               Chưa từng có một pháp
Đắc nhập ư pháp tánh.                               Được vào nơi pháp tánh.

Mỗi nước tại thế gian đều có tiếng của nước đó, đều là một thứ pháp hữu vi có phân biệt, chứ chẳng phải là pháp vô vi chẳng phân biệt. Trong pháp nầy chẳng có một pháp nào có thể vào trong pháp tánh chân thật của mình, nghĩa là chẳng có một pháp nào có thể tánh của pháp.

 

Năng duyên sở duyên lực,                           Sức năng duyên sở duyên
Chủng chủng Pháp xuất sanh,                    Đủ thứ pháp sinh ra
Tốc diệt bất tạm đình,                                 Mau diệt chẳng tạm ngừng
Niệm niệm tất như thị.                                Niệm niệm đều như thế.

Hay thuận theo vọng tưởng đi truy cầu cảnh giới, đây là năng duyên. Cảnh giới của sự truy cầu là sở duyên. Năng là chủ động, có phần năng lực; sở là bị động, cũng có phần năng lực. Ở tại đây sẽ sinh ra đử thứ pháp, song, sức năng duyên và sở duyên, sinh ra pháp mau chóng tiêu diệt, do đó, có câu : “Niệm niệm trôi qua, niệm niệm không ngừng”. Vì không ngừng, cho nên vô thường, đều là pháp sinh diệt không ngừng.

Chúng ta chúng sinh có vọng tưởng chấp trước, ở trong sự chẳng có phiền não sinh ra phiền não, ở trong sự chẳng có sự việc sinh ra sự việc, đây tức là quay lưng với giác ngộ mà hợp với trần lao. Quay lưng với giác ngộ tức là chẳng có trí huệ, hợp với trần lao là ngu si. Có ngu si rồi thì ở trong pháp hữu vi, chấp trước tất cả cảnh giới hư vọng, nhận là thật có.

Bài kệ đã nói ở trên, tổng quát mà nói thì có ba thứ tánh :

  1. Biến kế chấp tánh.
  2. Y tha khởi tánh.
  3. Viên thành thật tánh.

Biến kế chấp tánh là gì ? Tức là chu biến kế tánh, chấp trước tất cả là tánh có. Gì là y tha khởi tánh ? Tức là y nhân duyên mà khởi tâm động niệm. Hướng thượng ngộ chân không tức là viên thành thật tánh; hướng xuống khởi phân biệt là biến kế chấp tánh. Viên thành thật tánh là gì ? Tức là viên mãn thành công linh tánh chân thật.

Ví như trong đêm tối đi đường, trên đường đi thấy sợi dây thừng dài đen, bèn sinh ra nghi hoặc : “Có thể là rắn ! Rắn có độc, cắn sẽ chết người”. Do đó, sinh ra sợ hãi. Sau lại nhìn rõ ràng tỉ mỉ thì là sợi dây thừng. Lại chặt dây thừng ra từng đoạn, từng đoạn là nhân duyên mà khởi, nhân duyên mà diệt, chẳng có tự tánh, cho nên là không.

Tóm lại, phổ biến kế toán nơi tất cả pháp, kế thật ngã pháp, giống như nhận dây thừng là rắn, đây là tác dụng của biến kế chấp tánh. Nương tựa các duyên khác hòa hợp mà khởi, giống như trên từng đoạn dây thấy được dây thừng, đây là nương nó khởi tánh tác dụng. Nhân tâm viên minh, chẳng bị mê thức sở chấp, xa lìa nương nó khởi tánh và biến kế chấp tánh, đắc được vô sinh pháp nhẫn, duy một chân không, viên mãn thành thật, giống như từng đoạn thành không. Ðây tức là tác dụng của viên thành thật tánh.

Chúng ta đều có chấp trước hư vọng, nhận giả làm thật, lấy khổ làm vui, tất cả tất cả nhìn chẳng rõ ràng. Vì nhìn chẳng rõ ràng, cho nên càng mê càng sâu. Ðây tức là cảnh giới bỏ giác hợp trần.

Nếu bỏ trần thì sẽ hợp giác. Buông bỏ tâm ô nhiễm của pháp thế gian, đây tức là tự tánh thanh tịnh. Tâm nhiễm ô chẳng buông xả thì trí huệ chân chánh vốn có chẳng thể hiện ra đặng.

Có người rất thông minh, có sức trí nhớ mạnh. Tại sao ? Vì kiếp trước của họ vọng tưởng ít, cho nên đời nầy thông minh. Ðời nầy vọng tưởng càng ít thì đời sau nhất định sẽ thông minh hơn so với đời nầy. Nếu đời nầy vọng tưởng nhiều thì dùng sạch hết trí huệ thông minh đời trước, đời sau càng ngu si hơn. Không thể dùng trí huệ của mình thì sinh ra điên đảo vọng tưởng, nếu hay dùng trí huệ của mình thì càng chẳng có vọng tưởng. Tóm lại, người thông minh tâm vọng tưởng ít một chút, còn người ngu si thì tâm vọng tưởng nhiều một chút. Tại sao ? Vì trí lực khác nhau, cho nên lối nhìn cũng khác nhau.

Vọng tưởng tức là có tâm phân biệt, có tâm chấp trước. Người có trí huệ thì rất ít vọng tưởng, thấy việc tỉnh việc ra khỏi thế gian, không cần vọng tưởng thì biết, như thế thì sẽ ra khỏi ba cõi. Người ngu si thì có rất nhiều vọng tưởng, thấy việc mê việc đọa trầm luân, thấy việc nào thì mê hoặc việc đó, chẳng phân được thật giả phải trái, như thế thì sẽ đọa vào ba đường ác. Người có trí huệ thì người hay làm được việc; người chẳng có trí huệ thì việc hay làm được. Người có trí huệ thì chuyển được cảnh giới; người chẳng có trí huệ thì bị cảnh giới chuyển. Chìa khóa là tại chỗ nầy. Do đó, nghe Kinh nghe pháp thì không thể đầu lại thêm đầu. Bổn lai rất dễ minh bạch, song, cứ chạy sang một bên suy nghĩ, bổn lai phải minh bạch mà cũng chẳng minh bạch. Càng tìm càng xa, lìa tự tánh thì xa. Ðây là đạo lý gì ? Vì chẳng có con mắt chọn pháp. Nếu có con mắt chọn pháp, thì bất cứ pháp gì đến đều nghinh nhận mà giải, chẳng phí tơ hào sức lực.

Chúng ta nghiên cứu Phập pháp, thì chủ yếu là phải vào sâu tạng Kinh, mới được trí huệ như biển, đừng dụng công phu ở ngoài da ngoài lông. Giống như kiến ăn dưa, cứ ăn ở ngoài vỏ thì lảng phí công phu, chẳng có ích gì. Phải nghĩ cách đục vào trong trái dưa, thì mới đắc được vị ngọt. Chúng ta nghiên cứu Phật pháp cũng như thế, phải vào sâu Kinh điển, mới thể hội được diệu vị của Phật pháp.

 

Nhĩ thời, Văn-thù-sư-lợi Bồ Tát vấn bảo thủ Bồ Tát ngôn: Phật tử! nhất thiết chúng sanh, đẳng hữu tứ đại, vô ngã, vô ngã sở. vân hà nhi hữu thọ khổ, thọ lạc, đoan chánh, xú lậu, nội hảo, ngoại hảo, thiểu thọ, đa thọ, hoặc thọ hiện báo, hoặc thọ hậu báo? nhiên Pháp giới trung, vô mỹ, vô ác.

Bấy giờ, Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi hỏi Bồ Tát Bảo Thủ rằng: Phật tử ! Tất cả chúng sinh đều có bốn đại. Chẳng có cái ta, chẳng có của ta. Sao lại có chịu khổ, hưởng vui, tốt đẹp, xấu xí, trong tốt, ngoài tốt, thọ ít, thọ nhiều, hoặc thọ báo đời nầy, hoặc thọ báo đời sau, mà trong pháp giới, chẳng có tốt, chẳng có xấu.

Giảng: Khi Bồ Tát Tài Thủ nói kệ xong rồi thì lúc đó, Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi lại hướng về Bồ Tát Bảo Thủ thỉnh pháp, bèn hỏi : ” Phật tử ! Hết thảy thân thể của chúng sinh là bình đẳng, do đất nước gió lửa bốn đại mà thành tựu. Ở trong bốn đại đó chẳng có cái ta, cũng chẳng có cái gì thuộc về của ta. Tức nhiên chẳng có cái ta, chẳng có sở hữu thuộc về ta, vậy thì ai đang chịu khổ báo ? và ai đang thọ hưởng sung sướng ? Vấn đề nầy, tôi chẳng minh bạch, xin Ngài hãy giải thích cho rõ ràng.

Lại hỏi : “Tức nhiên chẳng có cái ta, chẳng có gì thuộc về ta, chẳng có chịu khổ, chẳng có hưởng vui. Thì sao lại có tướng mạo xinh đẹp, có tướng xấu xí ? Có sự trong tâm tốt ? Có sự tướng bên ngoài tốt ? Có thọ ít ? Có thọ nhiều ? Hoặc đời nầy tạo nghiệp, đời nầy thọ báo; hoặc đời nầy tạo nghiệp, đời sau chịu báo ? Tại sao lại có nhiều cảnh giới khác nhau như thế ? Tức nhiên như thế, ở trong pháp giới, vốn chẳng có gì tốt, cũng chẳng có gì chẳng tốt, Vậy khổ vui từ đâu sinh ra ? Ðây thật là vấn đề khó hiểu”.

Trong văn Quán Nhân Quả Ba Ðời (Phật Ấn Thiền Sư tác vào đời nhà Tống) có nói :

Ðời nầy phú quý là nhân gì?
Ðời trước bỏ tiền làm tượng Phật.
Ðời nầy nghèo cùng là nhân gì?
Ðời trước chẳng cứu giúp kẻ nghèo.

Ðời nầy xinh đẹp là nhân gì?
Ðời trước hương đèn cúng dường Phật.
Ðời nầy xấu xí là nhân gì?
Ðời trước thân ô uế ở trước Phật.

Do đó có thể thấy, con người tuổi thọ ngắn dài, giàu nghèo, sang hèn, tốt xấu, thuận nghịch đều là do kiếp trước tạo thành. Do đó có câu :

Ðời trước chẳng tu đời nầy khổ
Đời nầy chẳng tu đời sau khổ.

Tu gì? Tu công đức, tu phước huệ. Công đức tu nhiều rồi thì phước huệ tự nhiên sẽ đầy đủ. Phật ở trong quá khứ, ba A tăng kỳ tu phước huệ, trăm kiếp trồng tướng tốt. Do có công đức đó, nên đời nầy mới đầy đủ ba mươi hai tướng tốt trang nghiêm, có đại trí huệ hơn người, đây đều là tu công đức mà ra.

 

Thời, bảo thủ Bồ Tát dĩ tụng đáp viết:

Bấy giờ, Bồ Tát Bảo Thủ dùng kệ trả lời rằng.

Giảng: Lúc đó, đại Bồ Tát Bảo Thủ nghe Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi hỏi rồi, bèn dùng kệ để trả lời, tại sao chúng sinh chịu khổ? Có chúng sinh hưởng vui? Có chúng sinh chịu ít, có người chịu nhiều? Có người chịu quả báo đời nầy? Có người chịu quả báo đời sau ? Đủ thứ vấn đề.

 

Tùy kỳ sở hạnh nghiệp                                Tùy theo nghiệp tạo ra
Như thị quả báo sanh,                                Như vậy quả báo sinh
Tác giả vô sở hữu,                                       Người làm chẳng có ai
Chư Phật chi sở thuyết.                              Đây lời chư Phật nói.

Tùy theo nghiệp mà chúng sinh tạo ra, thì phải chịu quả báo đó. Lão tử có nói:
Họa phúc vô môn, duy nhân tự chiêu.
Thiện ác chi báo, như ảnh tùy hình.

Nghĩa là:
Hoạ phước không cửa, do người chiêu cảm
Quả báo thiện ác, như bóng với hình.

Họa cũng chẳng có cửa, phước cũng chẳng có cửa, tức là hãy xem mình tạo nghiệp gì, thì chịu quả báo đó. Làm nghiệp lành thì thọ quả báo lành; làm nghiệp ác thì thọ quả báo ác. Giống như bóng theo thân thể, chẳng tách lìa vậy. Ví như tạo nghiệp giết hại, thì tương lai chịu quả báo bị người giết hại; tạo nghiệp ăn cắp, tà dâm, thì tương lai chịu quả báo bị người ăn cắp, bị người tà dâm; tạo nghiệp nói dối, uống rượu, thì tương lai chịu quả báo bị người nói dối, bị chìm đắm trong sự say sưa, cho nên nói tạo nghiệp gì thì chịu quả báo đó, tơ hào chẳng sai, như vậy quả báo sẽ sinh ra.

Ðây chẳng phải có người đến chủ tể bạn đi tạo nghiệp, mà là bạn tự đi tạo. Vì khởi hoặc, cho nên tạo nghiệp. Tạo nghiệp chướng rồi thì phải thọ báo, đây là đạo lý nhất định, tuyệt đối chẳng ngẫu nhiên mà chẳng chịu quả báo, vì đây là luật tự nhiên, cũng chẳng phải có người đến thẩm phán bạn, đến trợ giúp bạn, mà là hoàn toàn do chính bạn gánh lấy trách nhiệm, nghĩa là “Mình làm mình chịu.

Trong Cựu Ước Thánh Kinh có nói : Thượng Ðế dùng bùn tạo thành A Ðam, thế Ngài xem giữ tần quả viên (vườn quả Tần), về sau cảm thấy A Ðam quá cô đơn, chẳng có ai làm bạn để tâm tình, dùng gân cốt của A Ðam tạo thành một người nữ, tên gọi là Eve. Hai người rất thân mật, cùng nhau coi giữ vườn quả. Một ngày nọ, có một con rắn đến, bèn nói với bà Eve rằng : “Quả Tần có thể làm đẹp dung nhan”, bà Eve háo kỳ bèn ăn quả thiện ác (quả tần). Bổn lai, Thiên Chúa ra lệnh cấm họ ăn quả đó, song, họ chẳng nghe lời mà ăn”. Ðây chẳng phải chứng minh là Thiên Chúa vẫn còn chưa làm chủ đặng hay sao ? Nếu Thiên Chuá làm chủ được, thì chẳng kêu họ ăn quả, họ không nên ăn quả mới đúng. Song, họ đã ăn, đây là lỗi của Thượng Ðế. Tại sao Ngài tạo quả thiện ác trên cây ? Chẳng phải là dự bị cho người ăn chăng ? Ðây chẳng hợp với tình lý.

Trong các nghiệp chẳng có người tạo tác, cũng chẳng có người chi phối. Chẳng có người nào kêu bạn làm như vậy, cũng chẳng có người nào kêu bạn đừng làm như vậy, mà là chính bạn thuận theo nghiệp đã tạo mà thọ quả báo. Ðây tức là đạo lý của chư Phật nói.

 

Thí như tịnh minh kính,                              Ví như gương sạch sáng
Tùy kỳ sở đối chất,                                      Tùy theo sự đối diện
Hiện tượng các bất đồng,                            Hiện hình đều khác nhau
Nghiệp tánh diệc như thị.                           Tánh nghiệp cũng như vậy.

Ví như tấm gương sáng sạch, có ai đến thì hiện ra hình đó, tướng hiện ra đều khác nhau. Do đó, có câu: “Phật đến hiện Phật, ma đến hiện ma”, rất rõ ràng. Tánh của nghiệp cũng giống như tấm gương sáng, nghĩa là tạo nghiệp gì thì thọ quả báo đó. Mỗi chúng sinh tạo nghiệp, thọ báo cũng chẳng giống nhau.

 

Diệc như điền chủng tử,                              Cũng như ruộng hạt giống
Các các bất tướng tri,                                 Thảy đều chẳng biết nhau
Tự nhiên năng xuất sanh,                           Tự nhiên mà sinh ra
Nghiệp tánh diệc như thị.                           Tánh nghiệp cũng như vậy.

Cũng giống như ruộng rẫy có đủ thứ hạt giống khác nhau, nào là lúa mì .v.v… thậm chí mầm sinh ra cũng khác nhau. Bất cứ loại ngũ cốc nào, cũng đều phân ra rất nhiều loại. Gieo những hạt giống đó vào ruộng rẫy, thì thảy đều chẳng biết nhau. Tuy nhiên chẳng biết nhau, nhưng tự nhiên lại sinh ra. Hạt giống gieo vào trong ruộng rẫy, vì chịu đủ thứ nhân duyên mà lớn lên. Tánh nghiệp cũng như thế. Nghiệp thiện, hoặc nghiệp ác, hoặc nghiệp vô ký đã tạo ra, đều hợp với đạo lý ngũ cốc. Do đó có câu :

“Trồng lúa được lúa
Trồng mạch được mạch
Trồng dưa được dưa
Trồng đậu được đậu”.

Trồng thứ gì thì được thứ đó, tuyệt đối chẳng sai lầm.

 

Hựu như xảo huyễn sư,                               Lại như nhà huyễn thuật
Tại bỉ tứ cù đạo,                                          Ở tại ngã tư đường
Thị hiện chúng sắc tướng,                           Thị hiện các sắc tướng
Nghiệp tánh diệc như thị.                           Tánh nghiệp cũng như vậy.

Lại giống như nhà huyễn thuật, ông ta có thể biến ra rất nhiều sắc tướng. Từ trong có biến không, trong không biến có, biến hóa vô cùng. Có không, không có, có có không không, không không có có, ngàn biến vạn hóa, khiến cho người xem chẳng biết sự việc như thế nào. Ví như gà mẹ hay sinh ra trứng, ông ta chẳng cần gà mẹ mà có thể biến hóa ra trứng được. Có trứng mới ấp nở gà con, Song, ông ta chẳng cần ấp trứng thì nở ra gà con, thật là diệu không thể tả.

Nhà huyễn thuật đó, ở giữa ngã tư ngã sáu biểu diễn kỹ thuật của y, có thể nuốt đao vào trong bụng, có thể phun lửa lên hư không, vận dụng tự như, khiến cho người ngạc nhiên. Ông ta thị hiện đủ thứ sắc tướng. Tánh nghiệp của chúng ta cũng giống cảnh giới như vậy.

 

Như ky quan mộc nhân,                             Như là người máy gỗ
Năng xuất chủng chủng thanh,                  Vang ra các thứ tiếng
Bỉ vô ngã phi ngã,                                       Nó vô ngã phi ngã
Nghiệp tánh diệc như thị.                           Tánh nghiệp cũng như vậy.

Giống như dùng gỗ tạo thành người máy, có thể tự động phát ra đủ thứ tiếng nói. Lại giống như máy thu thanh và máy truyền hình bây giờ, tuy bên trong chẳng có người thật, mà có người đang nói đang ca. Người máy nầy chẳng có tư tuởng, chẳng có tâm phân biệt. Nó chẳng nghĩ nó là người máy gỗ, tôi chẳng phải là người máy gỗ. Cũng chẳng có cái ta, cũng chẳng có cái không ta. Nghiệp thiện, nghiệp ác, nghiệp vô ký, mà chúng ta tạo ra, đều như đạo lý đó. Nếu minh bạch đạo lý đó, thì đừng chấp trước vào cái ngã tồn tại.

 

Diệc như chúng điểu loại,                           Cũng như các loài chim
Tùng noãn nhi đắc xuất,                             Từ trứng mà sinh ra
Âm thanh các bất đồng,                              Tiếng hót đều khác nhau
Nghiệp tánh diệc như thị.                           Tánh nghiệp cũng như vậy.

Cũng giống như tất cả loài chim, có hàng ngàn vạn loại. Nhưng tiếng hót của mỗi loài chim cũng chẳng giống nhau, hình tướng cũng chẳng giống. Tuy nhiên tất cả loài chim đều từ trong trứng sinh ra. Song, các tiếng hót đều khác nhau, đều có tiếng riêng của mình. Tánh nghiệp của con người tạo ra cũng như thế, cũng chẳng ai giống ai; có người nghiệp thiện nhiều một chút, có người nghiệp ác nhiều một chút, có người thiện ác bằng nhau. Tương lai thọ báo cũng khác nhau.

 

Thí như thai tạng trung,                             Ví như trong thai tạng
Chư căn tất thành tựu,                                Các căn đều thành tựu
Thể tướng vô lai xứ,                                    Thể tướng chẳng chỗ đến
Nghiệp tánh diệc như thị.                           Tánh nghiệp cũng như vậy.

Ví như thai nhi ở trong bụng mẹ, cứu kính lớn lên như thế nào ? Làm mẹ cũng chẳng biết, thai nhi ở trong sự bất tri bất giác lớn lên. Muốn minh bạch đạo lý thai tạng, thì có thể nghiên cứu pháp môn mười hai nhân duyên. Mười hai nhân duyên là gì ? Tức là:

  1. Vô minh.
  2. Hành.
  3. Thức.
  4. Danh sắc.
  5. Lục nhập.
  6. Xúc.
  7. Thọ.
  8. Ái.
  9. Thủ.
  10. Hữu.
  11. Sinh.
  12. Già chết.

Mười hai nhân duyên nầy, nếu chiếu theo môn lưu chuyển mà nói thì: Vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sinh, sinh duyên già chết. Như vậy luân hồi ở trong sinh tử. Nếu chiếu theo cửa hoàn diệt mà nói thì: Vô minh diệt thì hành diệt, hành diệt thì thức diệt, thức diệt thì danh sắc diệt, danh sắc diệt thì lục nhập diệt, lục nhập diệt thì xúc diệt, xúc diệt thì thọ diệt, thọ diệt thì ái diệt, ái diệt thì thủ diệt, thủ diệt thì hữu diệt, hữu diệt thì sinh diệt, sinh diệt thì lão tử diệt. Như thế mới thoát khỏi ba cõi, chẳng chịu khổ trong luân hồi mà đắc được sự vui Niết Bàn. Mười hai nhân duyên sơ lược như sau:

  1. Vô minh: Tức là chẳng thấu hiểu, tức cũng là hồ đồ. Vô minh là gốc rễ của ngu si. Tại sao lại ngu si ? Vì vô minh nên sinh ra ái (thương yêu). Trôi nổi ở trong biển ái dục, thuận theo dòng sinh tử. Giống như nam nữ cùng nhau luyến ái, tại sao lại sinh ra tâm luyến ái như thế ? Vì có dục niệm. Sao lại có dục niệm ? Vì có vô minh đang tác quái. Vô minh nầy bị kiến hoặc làm mê mờ. Cho nên nam nữ thấy nhau thì bị ái tình mê hoặc. Nam nữ khi thương nhau thì có người hỏi y rằng, tại sao anh lại yêu cô ta, hoặc ngược lại thì trả lời là : “Tôi chẳng biết”. Chẳng biết tức là vô minh. Bất quá đổi tên gọi mà thôi, kỳ thật tức là vô minh.
  2. Hành: Tức là hành vi. Hành vi gì ? Hành vi giữa nam nữ. Giao hợp giữa nam nữ tức là gốc rễ của sự sinh tử. Nếu chẳng có tánh hành vi (giao hợp), thì biển ái dục sẽ khô cạn, dòng sinh tử cũng dứt. Tất cả chúng sinh cảm thấy tánh hành vi là sự vui khoái lạc nhất của đời người, cho nên nhìn chẳng thấu, buông chẳng đặng, tất cả chúng sinh có lối nghĩ như thế, thì chẳng thể nào thoát khỏi lục đạo luân hồi, mà chuyển đi chuyển lại ở trong luân hồi.
  3. Thức : Tức là thân trung ấm, tức cũng là thần thức. Khi nam nữ giao hợp thì có luồng ánh sáng rất nhỏ. Thân trung ấm dù có cách xa hàng ngàn vạn dặm, nếu có duyên với cha mẹ, thì sẽ thấy được luồng ánh sáng, bèn đến đầu thai. Thức nầy tức là hạt giống của sự sinh, là tinh cha huyết mẹ hòa hợp mà thành, thành bào thai. Trong bảy ngày đầu tiên tên gọi là ngưng hoạt (tinh huyết hỗn hợp một thể). Tuần lễ thứ hai biến thành nhuyễn nhục, thành bào thai. Giống như trong trứng gà có lòng trắng, đó là bào thai của gà con, có nó mới có thể ấp ra gà con. Tinh cha huyết mẹ là diệu hữu. Ở trong diệu hữu cũng có chân không. Chân không tức là thức. Trước khi chưa thành thai là thân trung ấm; thành thai rồi tức là thức.
  4. Danh sắc : Tuần lễ thứ tư, từ từ thành cục thịt tròn cứng dày, tên gọi là danh sắc, tên là thọ tưởng hành thức bốn uẩn ở trong năm uẩn, sắc là sắc uẩn ở trong năm uẩn, cho nên thân người là do tổ chức của năm uẩn mà thành. Lúc đó, thai nhi đã có hệ thống thần kinh, có hệ thống sinh lý; nhưng chưa thành hình, tứ chi chưa phân, ngũ quan chưa sinh, chỉ là cục thịt cứng mà thôi.
  5. Lục nhập : Có danh sắc rồi thì có lục nhập. Lúc đó thai nhi ở trong bụng mẹ, bất tri bất giác sinh ra mắt tai mũi lưỡi thân và ý sáu căn, nhưng chẳng ai biết ngày nào sinh ra căn nào ? Ðây là thần bí áo diệu, chẳng cách chi biết được.
  6. Xúc : Tức là cảm giác. Thai nhi ở trong bụng mẹ hai trăm tám mươi ngày, thì sáu căn đầy đủ, bắt đầu hoạt động, bèn sinh ra nhân gian. Sáu căn và sáu trần tiếp xúc, bèn sinh ra tác dụng của sáu thức, tức là có thấy, nghe, ngửi, nếm, giác, tri, sáu thứ tánh. Trẻ con tự ra khỏi bào thai đến ba tuổi, thì chỉ có tri giác, chưa phân biệt được khổ vui, chẳng khởi cảm tình thương ghét.
  7. Thọ : Có xúc giác rồi thì có thọ dụng. Trẻ con từ bốn tuổi về sau bèn sinh ra thất tình lục dục, đối với ăn uống và đồ chơi .v.v… đều có hy vọng và xí đồ. Gặp cảnh thuận thì cảm thấy sung sướng, gặp cảnh nghịch thì cảm thấy đau khổ, lúc đó có tác dụng cảm tình thương ghét.
  8. Ái : Có thọ rồi thì sinh ra ái. Thời kỳ nầy chỉ cho khoảng 16, 17 tuổi, tham luyến tiền tài vật chất và sắc đẹp, sinh ra đủ thứ dục vọng, tham luyến không xả. Giống như nam nữ thương với nhau, cùng nhau rờ mó. Dùng tay để rờ thân thể đối phương thì cảm thấy rất khoái lạc. Ðây là vì lúc ở trong bụng bẹ, dưỡng thành tập khí nầy, cho nên sinh ra rồi, do nghĩ mà sinh ái.
  9. Thủ : Có tâm thương rồi thì muốn chiếm giữ làm của riêng mình. Tại sao phải giữ ? Vì muốn chiếm có, muốn thuộc về của mình. Như vậy bèn sinh ra tâm ích kỷ. Tại sao con người lại có tâm ích kỷ lợi mình ? Vì có thủ (giữ), cho nên tạo ra nghiệp thân, miệng, ý, vì muốn đạt được mục đích, bất chấp thủ đoạn, dùng hết mưu kế để tranh giành về mình; bất quá ngủ cũng chẳng an tâm.
  10. Có tâm thủ rồi thì có hữu. Do đó sinh ra tư tưởng đây là ta, kia là ta. Ðây là của ta, của ta thương mến. Giống như có người thích xe hơi, bèn đi mua một chiếc xe hơi mới. Có người ham nhà tốt, bèn đi mua một căn nhà sang trọng, vì ái mà có thủ, có thủ thì có tâm ích kỷ. Nói rộng ra, thì tiền tài vật chất nam nữ đều do thủ mà có hữu. Có hữu là nhân tạo nghiệp, tương lai nhận định có khổ báo.
  11. Sinh : Có hạt giống thiện ác rồi (thức thứ tám, thức A lại gia), khi nhân duyên chín mùi thì đi đầu thai. Giống như nam nữ kết hôn rồi, lại sinh con, sinh sinh tử tử, tử tử sinh sinh, vĩnh viễn chẳng ngừng. Vì có hạt giống sinh gặp cơ duyên sẽ sinh ra.
  12. Lão tử : Có sinh rồi thì có già chết. Ðây là đạo lý mười hai nhân duyên, vì có vô minh mà sinh ra nhân duyên ba đời liên hệ tuần hoàn không dứt.

Thai tạng tức là do mười hai nhân duyên mà thành, cho nên mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, sáu căn hoàn toàn thành tựu. Có tướng mạo xinh đẹp, có tướng mạo xấu xí, đó là do nghiệp lực sở cảm. Thể tướng từ đâu đến ? Nếu nói từ tinh cha huyết mẹ mà đến, nhưng tinh cha huyết mẹ chẳng có thể tướng, mà là về sau mới có thể tướng. Ðến chịu báo khổ hoặc báo vui ? Hoặc chịu báo hiện đời ? hoặc chịu báo đời sau. Tánh nghiệp cũng như thế, giống như đạo lý thai nhi.

 

Hựu như tại địa ngục,                                 Lại như tại địa ngục
Chủng chủng chư khổ sự,                           Đủ thứ các sự khổ
Bỉ tất vô sở tùng,                                         Đó đều chẳng từ đâu
Nghiệp tánh diệc như thị.                           Tánh nghiệp cũng như vậy.

Lại giống như chúng sinh tạo đủ thứ nghiệp ác, thì phải chịu quả báo ác, mà đọa lạc vào tất cả địa ngục. Ðịa ngục có đủ thứ địa ngục, vì quan hệ thời gian, chẳng thể giải thoát tỉ mỉ. Bây giờ nói sơ lược về bốn địa ngục để làm cảnh sách.

  1. Ðịa ngục núi đao : Ðịa ngục nầy khắp nơi đều là đao nhọn hướng lên trên. Ngục tốt đem tội nhân thảy lên trên ngọn đao, đao nhọn đâm xuyên qua thân thể, kẻ thọ hình chảy máu mà chết, nhưng lại bị gió Xảo thổi thì lại sống dậy, rồi lại thọ hình, cứ tiếp tục như thế. Người ở trên thế gian chẳng đi con đường chân chánh mà đi đường tà, nghiệp ác nhiều thì khi chết đi sẽ đọa vào địa ngục núi đao thọ khổ, đi trên đao nhọn.
  2. Ðiạ ngục dầu sôi : Ðịa ngục nầy có chảo dầu sôi lớn, dầu sôi sùng sục, tội nhân rơi vào chảo thì bị nấu chiên. Ðây là vì người ở tại thế gian phạm tội giết cha, giết mẹ, giết người xuất gia, phá hoại Tăng đoàn sinh hoạt, hủy diệt tượng Phật, tội ngũ nghịch .v.v… sau khi chết phải thọ khổ dầu sôi nấu chiên.
  3. Ðiạ ngục cắt lưỡi : Kéo lưỡi tội nhân cắt đi, để cho biến thành câm. Ðây là vì người ở tại thế gian, thì chuyên nói chuyện thị phi, phỉ báng kẻ khác, tổn hại danh dự kẻ khác, hoặc là làm ly gián, bịa đặc nói xấu kẻ khác, sau khi chết phải thọ khổ nầy.
  4. Ðiạ ngục ôm cột đồng nóng : Ðiạ ngục nầy có cột đồng hình tròn, bên trong lửa nung đỏ rực. Người ở thế gian tâm dâm dục quá nặng, làm việc thương phong bại tục, bất cứ nam nữ, sau khi chết đi, phải đến địa ngục nầy chịu khổ. Vì bị vô minh kiến hoặc làm mê, cho nên lúc ở thế gian thì người nam yêu thích người nữ, người nữ thích người nam. Sau khi chết rồi đến địa ngục nầy, thấy cột đồng đỏ, tức là thương yêu người nữ, hoặc người nam, do đó mà phát cuồng, lật đật chạy đến ôm, kết quả thân bị cháy thành đen, sau đó ngã ra thống khổ mà chết. Chẳng lâu thì bị gió Xảo thổi sống lại, mở mắt nhìn lại thấy người mà mình yêu thích, bèn chạy đến ôm, lại bị đốt cháy. Khi nào nghiệp chướng thiêu sạch thì ngừng. Do đó có thể thấy, dâm dục thuộc về lửa, do đó có câu : “Lửa dục đốt thân. Chúng ta tu đạo, bước thứ nhất là phải nhìn thấu cửa ải tình dục nam nữ.

Tại sao phải chịu cực hình ôm cột đồng ? Ðây là dạy người sinh tâm giác ngộ : Nguyên lai nam nữ yêu nhau giống như là lửa thiêu. Khiến cho chúng sinh nhiều dâm dục sinh tâm khiếp sợ, sau đó chẳng dám sinh tâm dâm dục nữa. Cho nên hết thảy tất cả trên thế gian đều đang nói pháp, minh bạch thì vượt ra ba cõi, chẳng minh bạch thì trầm luân trong sáu nẻo. Phật pháp có thiện pháp độ người, cũng có ác pháp độ người. Hiện tại chúng ta giảng Kinh thuyết pháp, tức là thiện độ chúng sinh; người chẳng đọa địa ngục, thì khiến cho họ chẳng đọa địa ngục. Chúng sinh đã đọa địa ngục, thì dạy họ ở trong sự rất thống khổ sinh tâm giác ngộ. Ðây là ác độ chúng sinh. Thiện độ chẳng được, thì phải ác độ.

Chúng ta tu đạo thì phải sớm tu, đừng đợi đến lúc đọa vào địa ngục thì mới nghĩ tu hành, như thế thì đã muộn màng. Vì lúc đó càng ngu si hơn, càng chẳng dễ gì phát tâm bồ đề. Vì càng thọ khổ thì vô minh càng nặng, tâm sân hận cũng lớn, chẳng dễ gì giác ngộ. Ðủ thứ thống khổ trong địa ngục, đều chẳng từ đâu đến, cũng chẳng đi về đâu. Vậy từ đâu đến ? Vì nghiệp ác đã tạo từ thuở xưa chiêu cảm, cho nên hiện tại phải thọ báo trong địa ngục, là từ nghiệp cảm mà ra. Khi tội nghiệp thọ xong rồi, nếu hồi đầu, phát bồ đề tâm thì chẳng thọ khổ đó nữa. Do đó có câu : “Biển khổ mênh mông, hồi đầu là bờ”, nghiệp thiện, nghiệp ác, nghiệp vô ký, cũng như vậy.

 

Thí như Chuyển luân Vương,         Ví như chuyển luân vương
Thành tựu thắng thất bảo,                          Thành tựu thắng bảy báu
Lai xứ bất khả đắc,                                      Chỗ đến chẳng thể được
Nghiệp tánh diệc như thị.                           Tánh nghiệp cũng như vậy.

Chuyển Luân Thánh Vương là gì ? Vì khi ông ta lên ngôi, thì từ không trung rơi xuống bảy báu, trong đó có luân báu. Chuyển luân (bánh xe) báu thì hàng phục được bốn phương. Cho nên gọi là Chuyển Luân Vương. Tại sao gọi là Chuyển Luân Thánh Vương ? Vì có thế lực lớn và thần thông lớn, có thể cai quản một tứ thiên hạ, hợp bốn đại châu lại, gọi là một tứ thiên hạ.

Bốn đại châu tức là: Ðông Thắng Thần Châu, Nam Thiệm Bộ Châu, Tây Ngưu Hóa Châu, Bắc Câu Lư Châu. Chuyển Luân Vương phân ra Kim Luân Vương, Ngân Luân Vương, Ðồng Luân Vương và Thiết Luân Vương. Kim Luân Vương quản lý bốn châu, Ngân Luân Vương quản lý ba châu, Ðồng Luân Vương quản lý hai châu và Thiết Luân Vương quản lý một châu. Tức là chúng ta đang ở tại Nam Thiệm Bộ Châu, vị Thiết Luân Vương thần thông kém hơn, không thể đến được ba châu kia, mà ba Luân Vương kia, có thể đến Nam Thiệm Bộ Châu để quán sát.

Lại giống như Chuyển Luân Vương, ông ta thành tựu bảy báu thù thắng. Bảy báu nầy từ đâu đến ? Vì chẳng biết từ đâu đến, cho nên nói chỗ đến chẳng thể được. Tôi biết ! Vì trong quá khứ thì họ tu đủ thứ căn lành, tạo đủ thứ nghiệp thiện, cho nên mới làm Chuyển Luân Vương, có phước báu như thế. Nghiệp mà chúng ta tạo, có nghiệp thiện, nghiệp ác, và nghiệp vô ký, cũng như thế. Quá khứ tạo nghiệp thiện, thì thọ báo vui nhiều. Tạo nghiệp ác thì thọ báo khổ nhiều.

Gì là bảy báu của Chuyển Luân Vương ? Tức là:

  1. Bánh xe báu.
  2. Châu báu.
  3. Các báu.
  4. Ngựa báu.
  5. Binh báu.
  6. Chủ tạng thần báu.
  7. Ngọc nữ báu.

Bảy báu nầy chỉ có Chuyển Luân Vương mới có, vì trong quá khứ, họ tu đủ thứ nghiệp thiện sở cảm. Giới thiệu bảy báu như sau.

  1. Bánh xe báu : Bánh xe báu gồm có vàng, bạc, đồng, thiết, bốn thứ khác nhau. Bánh xe vốn nghĩa là xe lớn, tốc độ còn nhanh hơn bao nhiêu lần so với hoả tiển bây giờ. Chuyển Luân Vương xuất lãnh thần dân ngồi lên xe báu, trong một ngày thì đi tuần khắp hết bốn đại châu.
  2. Thần châu báu : Tức là châu như ý, hình tám cạnh, ban đêm phóng ra ánh sáng. Hạt châu nầy toại tâm như ý. Tóm lại, muốn gì có nấy. Hạt châu nầy là quả tim của chim Ðại Bàng Cánh Vàng (Kim sí điểu), rồng được châu này là long châu, người được châu nầy gọi là Dạ minh châu.
  3. Voi trắng báu : Voi trắng lớn nầy có thần thông, giống như Bồ Tát Phổ Hiền cỡi voi trắng lớn sáu ngà (đại biểu lục độ) có thần thông, rộng lớn vô biên, không thể nghĩ bàn. Voi trắng hiếm có ở nhân gian, cho nên rất quý. Do đó có câu : “Vật hiếm hoi là quý”.
  4. Ngựa báu : Ngựa như rồng, nó cũng có thần thông, cũng biến hóa. Nó là ngựa ở trên cung trời Ðao Lợi, cho nên là báu, chứ chẳng phải ngựa thường chẳng có linh tánh.
  5. Chủ binh báu : Chuyển Luân Vương thời thái bình chẳng đem binh đi, chẳng huấn luyện binh. Ðến lúc cần thì binh sẽ xuất hiện, cần bao nhiêu thì có bấy nhiêu.
  6. Chủ tạng thần báu : Tức là địa thần quản lý châu báu, ông ta biết nơi nào ẩn tàng báu gì, đến lúc cần, chỉ đất thì hiện ra.
  7. Ngọc nữ báu : Tức là mỹ nữ ca múa, chẳng những biết ca mà múa cũng khéo, là mỹ nữ rất đẹp vô cùng.

Kim Chuyển Luân Vương chẳng những có bảy báu nầy, mà còn có năm trăm bà phi, sinh ngàn thái tử. Ông ta cai quản đất nước, phong điều gió thuận, quốc thái dân an. Hết thảy nhân dân đều giữ năm giới, tu mười điều lành. Năm giới tức là : Không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu. Mười điều lành là : Thân, miệng, ý, ba nghiệp thanh tịnh. Nghiệp thân chẳng phạm giết hại, trộm cắp, tà dâm ba điều ác. Miệng thì chẳng phạm nói dối, nói lời thêu dệt, nói hai lưỡi, chưởi mắng, bốn điều ác. Nghiệp ý thì chẳng phạm tham, sân, si, ba điều ác, Người người đều phát bồ đề tâm, ai cũng thành đạo nghiệp.

 

Hựu như chư thế giới,                                 Lại như các thế giới
Đại hỏa sở thiêu nhiên,                              Lửa lớn thảy thiêu đốt
Thử hỏa vô lai xứ,                                       Lửa đó chẳng chỗ đến
Nghiệp tánh diệc như thị.                           Tánh nghiệp cũng như vậy.

Mỗi thế giới, mỗi khi gặp kiếp trụ diệt, thì có một lần tai nạn nhỏ. Mỗi lần gặp kiếp hoại, thì có một lần tai nạn lớn. Tai nạn nhỏ tức là đói khát, ôn dịch, loạn đao binh. Tai nạn lớn là lửa, nước, gió. Thế giới hiện tại, tuổi thọ của con người trung bình là hơn sáu mươi tuổi. Khi tuổi thọ của con người còn ba mươi tuổi, thì con người chỉ có tà kiến điên đảo, đầy đủ mười điều ác. Do đó, trời hạn hán chẳng mưa, ngũ cốc chẳng lớn, nhân dân dùng vỏ cây, cỏ rễ làm thức ăn, xương cốt đầy đồng, chết đói vô số, như vậy trải qua thời gian bảy năm. Khi tuổi thọ của con người còn hai mươi tuổi, thì con người hầu hết đều bất nghĩa, ích kỷ lợi mình. Do đó, phát sinh nạn ôn dịch, lúc đó không khí ô nhiễm, vi khuẩn hoành hành: Con người thở hít không khí thì sinh bệnh, có bệnh thì chết, chẳng cách chi chữa trị được. Bác sĩ lúc đó là Bồ Tát bùn qua biển, tự thân khó giữ, tuỳ thời tuỳ lúc sẽ có thể chết. Thứ bệnh truyền nhiễm đó trải qua thời gian bảy tháng, những người còn lại đã ít lại càng ít. Khi tuổi thọ của con người còn mười tuổi, thì người người đều bất hiếu với cha mẹ, chẳng tôn kính sư trưởng, cùng nhau giết hại, lục thân chẳng nhận ra. Vì nghiệp lực cho nên cỏ cây đều thành đao, đụng thì chết. Chúng sinh tàn sát lẫn nhau, thành cuồng phong thế giới, như vậy trải qua bảy ngày. Những người còn lại chưa quá một phần vạn.

Tại sao có những tai nạn như thế ?

  1. Vì tâm người chẳng như xưa, tư tưởng phức tạp, làm nhiều nghiệp ác, nên thọ quả báo.
  2. Vì khoa học tiến bộ. Tôi thường nói với các bạn, chiến tranh thời rất xa xưa là thổ chiến. Con người dùng tay chân để tác chiến, bạn đánh tôi một chưởng, thì tôi đá bạn một cước, tức cũng là so khí lực. Khí lực mạnh thì người đó thắng, khí lực yếu thì thua. Về sau người có trí huệ mới nghiên cứu phương pháp thủ thắng, bèn dùng gỗ chiến, dùng gỗ làm binh khí, so với chân tay thì tiện lợi hơn. Nói về ngũ hành thì đây là : “Mộc khắc thổ”, mộc đánh thắng thổ. Sau khi phát minh mộc chiến rồi, thì chiến tranh luôn phát sinh, người chết cũng nhiều hơn. Chẳng bao lâu thì các nhà khoa học lại nghiên cứu vũ khí giết người, dùng phương pháp gì để đánh thắng mộc ? Nghiên cứu nhiều lần thì phát minh dùng sắt để làm đao làm búa hoặc dùng đồng để làm kiếm, có thể chặt đứt cây gỗ. Lúc đó vũ khí tiến bộ rất nhanh. Ðây là “Kim khắc mộc” thời đại kim (kim loại) đánh thắng gỗ (mộc). Người thời xưa đều tinh thông mười tám ban binh khí, do đó : “Thương đao, kiếm điệu, bào xoa phủ việt, mâu thuẩn cung tiễn”. Người thời đó, đều có đao kiếm, rất nhiều người có trí huệ, đều làm việc hư nguỵ, lường gạt đối phương. Ðối phương bị gạt nhẫn không được, do đó mà đó đây đánh nhau, phát sinh đao kiếm giao tranh, người trí dùng kế, người ngu dùng sức, kết quả hai bên kẻ bại người mất, tạo thành xã hội chẳng an ninh.

Ðại khái trải qua hơn hai ngàn năm, nhà khoa học lại nghiên cứu, làm thế nào khiến cho đao kiếm chẳng còn tác dụng nữa, tận hết sức để nghiên cứu thì phát minh súng ống, trong khoảng mấy dặm thì súng có thể bắn chết người, vì sùng dùng hỏa dược chế thành, cho nên đây là hỏa chiến, tức là “hỏa khắc kim”, lửa thắng kim. Về sau khoa học càng tiến bộ, phát minh phi cơ đại pháo, xe tăng thiết giáp. Vũ khí giết người càng ngày càng lợi hại. Nhà khoa học lại nghiên cứu, tâm nghĩ uy lực của tạc đạn quá nhỏ, giết người quá ít. Trải nhiều lần nghiên cứu thì phát minh đạn nguyên tử, uy lực mạnh hơn so với tạc đạn. Một quả bom nguyên tử có thể giết hết một thành phố, có thể chết mười vạn người. Vì bột nguyên tử là tánh lưu động, đây là thuỷ chiến, tức là “thuỷ khắc hoả”, nước đánh thắng lửa. Nhà khoa học tán tâm bệnh cuồng, lại nghiên cứu vũ khí kinh người tiêu diệt nhân loại, giống như đạn kinh khí (laser) và tử quang .v.v… phát minh không ngừng, nếu như bất hạnh, đại chiến thứ ba bùng nổ, thì lúc đó nhân loại đồng quy ư tận, trời lật đất che, trái đất hủy hoại, thật đến ngày cùng của thế giới, không tưởng tượng được.

Con người sinh sống ở thế giới nầy, đều là ứng kiếp duyên mà sinh, là đến thế giới nầy để trả nợ quá khứ. Nếu minh bạch đạo lý nầy, thì mau sớm tu hành mới vượt ra được tam giới, chẳng còn thọ khổ tam tai bát nạn nữa.

Tất cả thế giới đều có thành, trụ, hoại, không, bốn trung kiếp. Thời kỳ kiếp hoại, thì lửa lớn tự nhiên bốc cháy thiêu huỷ hết sơn hà đại địa. Thứ lửa nầy từ đâu đến ? Nói xa là từ nghiệp báo của chúng sinh mà ra. Nói gần là chẳng biết nó từ đâu đến. Nghiệp chướng của chúng ta tạo và đạo lý lửa cháy đều giống nhau, tơ hào chẳng sai. Tánh thiện, tánh ác, tánh vô ký đều như thế, cho nên quả báo của chúng sinh hoàn toàn khác nhau.

 

Nhĩ thời, Văn-thù-sư-lợi Bồ Tát vấn đức thủ Bồ Tát ngôn: Phật tử! Như Lai sở ngộ, duy thị nhất pháp. vân hà nãi thuyết vô lượng chư Pháp, hiện vô lượng sát, hóa vô lượng chúng, diễn vô lượng âm, thị vô lượng thân, tri vô lượng tâm, hiện vô lượng thần thông, phổ năng chấn động vô lượng thế giới, thị hiện vô lượng thù thắng trang nghiêm, hiển thị vô biên chủng chủng cảnh giới? Nhi pháp tánh trung, thử sái biệt tướng, giai bất khả đắc.

Bấy giờ, Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi hỏi Bồ Tát Đức Thủ rằng : Phật tử ! Chỗ Như Lai ngộ, chỉ là một pháp, sao lại nói vô lượng các pháp, hiện vô lượng cõi nước, giáo hóa vô lượng chúng, diễn nói vô lượng âm thanh, thị hiện vô lượng thân. Biết vô lượng tâm, hiện vô lượng thần thông, chấn động khắp vô lượng thế giới. Thị hiện vô lượng sự thù thắng trang nghiêm. Hiển thị vô biên đủ thứ cảnh giới, mà trong pháp tánh, tướng khác biệt nầy đều bất khả đắc.

Giảng: Sau khi Bồ Tát Bảo Thủ nói bài kệ xong thì lúc đó, Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi hướng về Bố Tát Ðức Thủ thỉnh pháp, hỏi : “Phật tử ! Như Lai thành đạo, pháp chứng đắc được chỉ là một pháp. Tại sao Như Lai nói pháp, thì chẳng nói một pháp, mà nói vô lượng các pháp ? Khi giáo hóa chúng sinh, thì lại hiện ra vô lượng cõi Phật, giáo hóa vô lượng chúng sinh. Khi diễn nói, thì lại dùng vô lượng âm thanh, lại thị hiện vô lượng thân Phật ? Bao nhiêu tâm chúng sinh, Phật đều biết đều thấy, lại hiện vô lượng thần thông. Lại phải chấn động khắp vô lượng thế giới, lại thị hiện vô lượng đạo tràng thù thắng trang nghiêm, lại hiện ra vô lượng cảnh giới. Mà ở trong pháp tánh, những tướng khác biệt như thế đều bất khả đắc. Vì pháp tánh là không, cho nên có đủ thứ những tướng đó? Mười vấn đề nầy là nguyên nhân gì ? Xin Ngài từ bi nói cho rõ ràng, để cho tất cả chúng sinh đều thấu rõ nghĩa chân thật của pháp”.

 

Thời, đức thủ Bồ Tát dĩ tụng đáp viết:

Bấy giờ, Bồ Tát Đức Thủ dùng kệ đáp rằng.

Giảng: Lúc đó, đại Bồ Tát Ðức Thủ dùng kệ để trả lời những vấn đề mà Bồ Tát Văn Thù hỏi.

 

Phật tử sở vấn nghĩa                                  Những nghĩa Phật tử hỏi
thậm thâm nan khả liễu,                            Thâm sâu khó hiểu rõ
trí giả năng tri thử                                     Bậc trí mới biết được
thường lạc Phật công đức.                         Thường ưa công đức Phật.

Bồ Tát Ðức Thủ nói: “Phật tử ! Nghĩa lý mà Ngài hỏi là đạo lý rất thâm áo, chẳng dễ gì hiểu đặng. Chỉ có những bậc trí huệ mới minh bạch được đạo lý nầy, mới luôn luôn ưa thích công đức tu hành của Phật tu”.

 

Thí như địa tánh nhất,                                Ví như tánh đất một
Chúng sanh các biệt trú,                             Chúng sinh ở khác nhau
Địa vô nhất dị niệm                                    Đất chẳng nghĩ một khác
Chư Phật Pháp như thị.                              Pháp chư Phật như vậy.

Pháp của Phật chứng đắc, pháp của Phật diễn nói đều là một thứ pháp. Nhưng thiên biến vạn hóa, có chỗ khác nhau. Ví như tánh của đất là một, chẳng có gì khác biệt, hết thảy chúng sinh ở trên đất đều khác nhau. Ðất chẳng nghĩ chúng sinh nầy ở chỗ nào ? Chúng sinh kia ở chỗ nào. Ðất đai chẳng có nghĩ một niệm, cũng chẳng có nhiều niệm. Pháp của chư Phật cũng giống như thế, chẳng có khác biệt, mà là chúng sinh có sự phân biệt, cho nên tạo ra rất nhiều vấn đề. Ðây là trả lời vấn đề vô lượng cõi.

 

Diệc như hỏa tánh nhất                              Cũng như tánh lửa một
Năng thiêu nhất thiết vật,                           Hay thiêu tất cả vật
Hỏa diệm vô phân biệt                                Ngọn lửa chẳng phân biệt
Chư Phật Pháp như thị.                              Pháp chư Phật như vậy.

Cũng giống như nước biển, cũng là một tánh. Tuy có ngán vạn sóng ba đào. Sóng phía sau theo sóng phía trước, có đủ thứ sóng khác nhau, nhưng tánh nước giống nhau, chẳng có gì khác biệt. Pháp của chư Phật đắc được, pháp của chư Phật nói cũng như vậy. Ðây là trả lời vấn đề vô lượng pháp.

 

Diệc như đại hải nhất,                                Cũng như tánh gió một
Ba đào thiên vạn dị,                                   Hay thổi tất cả vật
Thủy vô chủng chủng thù,                           Gió chẳng nghĩ một khác
Chư Phật Pháp như thị.                              Pháp chư Phật như vậy.

Cũng như gió, bổn tánh của nó là một. Tuy bổn tánh là một, nhưng hay thổi tất cả mọi vật, mỗi mỗi đều có sức của nó. Gió nhẹ thì thổi hoa cỏ cây cối, gió mạnh thì thổi vũ trụ vạn vật. Tự tánh của gió chẳng có gì khác biệt, rằng đây là vật lớn, kia là vật nhỏ, hoặc nọ là nhiều hơn một chút, đây thì ít một chút. Bổn thân của gió chẳng có nghĩ như thế, chẳng có một, cũng chẳng có nhiều, một nhiều không lập, pháp của chư Phật chứng, pháp của chư Phật nói, cũng đồng đạo lý đó, chẳng có khác biệt, Ðây là trả lời vấn đề vô lượng thế giới.

 

Diệc như phong tánh nhất,                         Cũng như mây sấm lớn
Năng xuy nhất thiết vật,                             Mưa khắp hết tất cả
Phong vô nhất dị niệm,                              Thấm nhuần chẳng khác biệt
Chư Phật Pháp như thị.                              Pháp chư Phật như vậy.

Cũng giống như mây sấm lớn. Hư không ùn ùn mây nổi, mưa xuống ầm ầm, sấm chớp đùng đùng, mới mưa xuống tất cả đại địa. Nước mưa thấm nhuần chẳng có gì khác biệt, vì tánh là một. Cây lớn rễ lớn thì thấm nhuần nước mưa một chút; hoa cỏ rễ nhỏ thì đượm nhuần nước mưa ít một chút. Hết thảy các vật đều đắc được sự đượm nhuần của mình, chứ chẳng phải là mưa khác nhau. Pháp của chư Phật cũng giáo hóa chúng sinh như thế, cho nên hết thảy chúng sinh đều đắc được pháp ích mình đáng đắc được. Ðạo lý nầy cũng giống như mưa. Ðây là trả lời vấn đề vô lượng âm thanh.

 

Diệc như đại vân lôi,                                   Cũng như đất một tánh
Phổ vũ nhất thiết địa,                                 Hay sinh đủ thủ mầm
Vũ tích vô sái biệt,                                      Đất chẳng có gì khác
Chư Phật Pháp như thị.                              Pháp chư Phật như vậy.

Cũng giống như tánh của đất đai là một, hay sinh ra nhiều thứ thực vật, hoa cỏ cây cối, ngũ cốc .v.v… Ðây chẳng phaỉ là đất đai có sự phân biệt, mà là chính thực vật có sự khác nhau. Pháp của chư Phật cũng đồng đạo lý ấy. Ðây là trả lời vấn đề vô lượng sự trang nghiêm.

 

Diệc như địa giới nhất,                               Như mặt trời không mây
Năng sanh chủng chủng nha,                     Chiếu khắp nơi mười phương
Phi địa hữu thù dị,                                     Ánh sáng chẳng khác tánh
Chư Phật Pháp như thị.                              Pháp chư Phật như vậy.

Giống như ngày trời tốt, chẳng có đám mây nào, ánh sáng mặt trời chiếu khắp mười phương thế giới. Tuy ánh sáng chiếu khắp, nhưng bổn tánh của ánh sáng chẳng có gì khác biệt, pháp của chư Phật giáo hóa chúng sinh cũng như vậy. Ðây là trả lời vấn đề vô lượng tâm.

 

Như nhật vô vân ê,                                      Như mặt trăng trên không
Phổ chiếu ư thập phương,                          Thế gian thảy đều thấy
Quang minh vô dị tánh,                              Mặt trăng chẳng đến đi
Chư Phật Pháp như thị.                              Pháp chư Phật như vậy.

Cũng giống như mặt trăng ở trên hư không, hết thảy chúng sinh thế gian đều thấy được mặt trăng. Chẳng phải mặt trăng đến ở trước mặt chúng sinh để cho họ thấy; mà là mặt trăng ở trên hư không, cũng chẳng đến, cũng chẳng đi. Pháp của chư Phật cũng đồng đạo lý ấy. Ðây là trả lời vấn đề vô lượng thần thông.

 

Diệc như không trung nguyệt,                    Như mặt nguyệt trên cao
Thế gian mị bất kiến,                                  Mọi nơi đều nhìn thấy
Phi nguyệt vãng kỳ xứ,                            Mặt nguyệt vẫn một chỗ
Chư Phật Pháp như thị.                              Pháp chư Phật như vậy.

Thí như Đại Phạm Vương                           Ví như Đại Phạm Thiên
Ưng hiện mãn tam thiên,                            Ứng hiện đầy tam thiên
Kỳ thân vô biệt dị                                       Mà thân chẳng khác biệt
Chư Phật Pháp như thị.                              Pháp chư Phật như vậy.

Ví như Ðại Phạm Thiên, ứng hiện thân của ông ta đầy khắp ba ngàn đại thiên thế giới, tất cả trời người đều thấy được. Song, thân của ông ta chẳng có phân thân, chẳng có phân biệt. Pháp của chư Phật cũng như thế, chẳng có phân biệt. Ðây là trả lời về vấn đề vô lượng thân.

 

Nhĩ thời, Văn-thù-sư-lợi Bồ Tát vấn mục thủ Bồ Tát ngôn: Phật tử! Như Lai phước điền, đẳng nhất vô dị. vân hà nhi kiến chúng sanh bố thí quả báo bất đồng? Sở vị: chủng chủng sắc, chủng chủng hình, chủng chủng gia, chủng chủng căn, chủng chủng tài, chủng chủng chủ, chủng chủng quyến thuộc, chủng chủng quan vị, chủng chủng công đức, chủng chủng trí tuệ. Nhi Phật ư bỉ, kỳ tâm bình đẳng, vô dị tư tánh.

Bấy giờ, Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi hỏi Bồ Tát Mục Thủ rằng : Phật tử ! Ruộng phước của Như Lai bình đẳng không khác, mà sao thấy chúng sinh bố thí quả báo chẳng giống nhau. Nào là đủ thứ sắc, đủ thứ hình, đủ thứ nhà, đủ thứ căn tánh, đủ thứ tài, đủ thứ chủ nhân, đủ thứ quyến thuộc, đủ thứ chức quan, đủ thứ công đức, đủ thứ trí huệ, mà Phật đối với những nơi đó, tâm đều bình đẳng, chẳng nghĩ riêng khác.

Giảng: Sau khi Bồ Tát Ðức Thủ nói bài kệ xong rồi, thì lúc đó, Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi hướng về Bồ Tát Mục Thủ thỉnh pháp, hỏi rằng : “Phật tử ! Ruộng phước của Như Lai tu là bình đẳng, chẳng có phân biệt. Tại sao sự bố thí của chúng sinh, đắc được quả báo chẳng giống nhau ? Ðây là đạo lý gì ? xin Ngài nói rõ”.

«Mỗi loài chúng sinh đều có đủ thứ nhan sắc khác nhau, có đủ thứ hình tướng khác nhau, có đủ thứ chủ nhà khác nhau, có đủ thứ căn tánh khác nhau, có đủ thứ tài bảo khác nhau, có đủ thứ chủ nhân khác nhau, có đủ thứ quyến thuộc khác nhau, có đủ thứ chức quan khác nhau, có đủ thứ công đức khác nhau, có đủ thứ trí huệ khác nhau. Mà Phật đối với tất cả chúng sinh đều bình đẳng, chẳng có hai sự suy nghĩ. Mười vấn đề nầy, xin Ngài từ bi vì chúng tôi mà giải thích một phen”.

Ruộng phước là thuở xưa khi Phật tu hành, thì tu phước tu huệ, phước thành tựu giống như thửa ruộng. Chúng sinh ở trước Tam Bảo tu bố thí, tức là gieo trồng phước điền, cho nên Tam Bảo là ruộng phước của chúng sinh. Tam Bảo là Phật, Pháp, Tăng. Ở trong Tam Bảo thì Phật là bậc nhất, cho nên Phật có thể khiến cho chúng sinh gieo phước. Tăng là đệ tử của Phật, có thể gọi là phước điền Tăng. Chúng sinh muốn làm công đức, thì phải gần gũi Tam Bảo, cúng dường Tam Bảo, mới đắc được phước báu. Nhưng phải bố thí khắp, đừng có tâm phân biệt. Do đó, có câu :

“Rồng bùn tuy không thể mưa xuống,
Nhưng cầu mưa phải cầu nơi rồng bùn.
Phàm Tăng tuy không thể ban phước,
Nhưng gieo phước phải gieo nơi phàm Tăng”.

Dùng bùn để nắn rồng, rồng bùn vốn không thể làm mưa, nhưng khi cầu mưa thì nhất định phải đến trước rồng bùn để cầu mưa. Bạn ở trước rồng bùn thành tâm cầu khẩn, thì rồng thật sẽ cảm hóa mà nổi mây làm mưa xuống. (Vào Xuân năm 1977, nước Mỹ hạn hán rất lâu mà không có mưa, mạch nước khô cạn, dùng nước bị hạn chế lại. Hòa Thượng Tuyên Hóa từ bi khuyến khích các đệ tử đến công viên Cầu Vàng (golden gate), ở San Francisco cử hành pháp hội cầu mưa. Lúc đó, có các cư sĩ tự động tham gia, công đức viên mãn. Sang trưa ngày sau, trên bầu trời đột nhiên nổi mây, tưới xuống nước cam lồ, giải trừ nước khô cạn, sự cảm ứng nầy khiến cho mọi người kinh ngạc, các nhà khoa học khắp nơi, các nhà thiên văn đều hớn hở vui mừng đứng nhìn, cho rằng là bất khả tư nghì, do đó:

“Thành khẩn hết lòng, sắt đá cũng tan.

Người xuất gia chưa chứng quả, vẫn là phàm Tăng; đã chứng quả Thánh mới là Thánh Tăng. Phàm Tăng không thể ban phước cho chúng sinh, nhưng chúng sinh cầu phước, phải cầu ở trước phàm Tăng. Bạn đến cầu phước ở trước nơi phàm Tăng, thì Thánh Tăng cũng biết, sẽ ban phước ở trước phước điền Tăng thanh tịnh, mới có công đức, sẽ có phước báo.

Phước điền Tăng thanh tịnh là gì ? Tức là chẳng tham tài, chẳng háo sắc, chẳng ham danh, chẳng cầu lợi. Chẳng có những tư tưởng nhiễm ô đó, tức là phước điền Tăng thanh tịnh. Thậm chí còn chẳng giữ tiền bạc, tức là tay chẳng rờ mó tiền bạc. Phàm là Tăng rờ mó tiền bạc, thì không thể nói là thanh tịnh. Tại sao ? Vì tiền là vật dơ bẩn nhất trên thế gian. Có hàng ngàn vạn vi trùng ở trên tờ giấy tiền. Luôn luôn chấp trước tiền thì chẳng thanh tịnh. Tóm lại, thanh tịnh tức là chẳng cần tiền, cần tiền thì chẳng thanh tịnh. Nói đi rồi nói lại, không nhất định là tay không cầm tiền, tức là đừng tham luyến tiền, đừng chấp trước tiền, tức là thanh tịnh phước điền Tăng. Bạn thanh tịnh thì mới là ruộng phước cho chúng sinh gieo vào.

 

Thời, mục thủ Bồ Tát dĩ tụng đáp viết:

Bấy giờ, Bồ Tát Mục Thủ dùng kệ đáp rằng.

Giảng: Lúc đó, Bồ Tát Mục Thủ dùng kệ để trả lời những vấn đề mà Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi hỏi.

 

Thí như Đại địa nhất,                                  Ví như đất là nột
Tùy chủng các sanh nha,                             Theo loài giống sinh mầm
Ư bỉ vô oán thân,                                        Đất chẳng có oán thân
Phật phước điền diệc nhiên.                      Ruộng phước Phật cũng vậy.

Ví như đất đai là một, chẳng có phân biệt. Tùy theo hạt giống gieo trồng, thảy đều sinh ra mầm khác nhau. Ðất đai chẳng nói : “Tôi chán ghét bạn, chẳng để cho bạn sinh mầm”, cũng chẳng nói : “Tôi hoan nghênh bạn, để cho bạn sinh mầm, lớn lên cho sum sê”. Ðất đai chẳng có phân biệt kẻ oán người thân, mà là đều bình đẳng. Phật là ruộng phước của chúng sinh gieo trồng cũng như thế. Chúng sinh căn tánh ra sao, thì sinh ra mầm như thế.

 

Hựu như thủy nhất vị                                 Lại như nước một vị
Nhân khí hữu sái biệt,                                Do đồ chứa khác nhau
Phật phước điền diệc nhiên,                      Ruộng phước Phật cũng vậy
Chúng sanh tâm cố dị.                                Vì tâm chúng sinh khác.

Lại giống như nước là một vị. Vì đồ chứa vuông tròn mà có sự phân biệt. Ðổ nước vào đồ chứa hình vuông, thì nước là hình vuông; đổ nước vào đồ chứa hình tròn, thì nước là hình tròn. Chẳng phải nước có sự phân chia, mà là đồ chứa khác biệt. Ruộng phước của Phật cũng như vậy. Tùy theo công đức của chúng sinh mà đắc được ruộng phước đáng đắc được. Vì khi chúng sinh cầu phước, thì tâm có xí đồ khác nhau, cho nên phước báu cũng khác nhau.

 

Diệc như xảo huyễn sư,                               Cũng như nhà huyễn thuật
Năng lệnh chúng hoan hỉ,                           Hay khiến người hoan hỉ
Phật phước điền như thị                            Phước điền Phật cũng vậy
Lệnh chúng sanh kính duyệt.                      Khiến chúng sinh kính vui.

Cũng giống như nhà huyễn thuật, biến hóa ra trăm ngàn tướng huyễn kỳ quái, khiến cho người xem hớn hở vui mừng sinh tâm hoan hỉ, cảm thấy kì dị. Phước điền của Phật cho chúng sinh gieo vào, cũng khiến cho tâm chúng sinh sinh niềm cung kính, hoan hỉ mà siêng tu Phật pháp, nỗ lực học tập.

 

Như hữu tài trí Vương,                               Như có vua tài trí
Năng lệnh Đại chúng hỉ,                             Hay khiến đại chúng vui
Phật phước điền như thị,                           Phước điền Phật cũng vậy
Lệnh chúng tất an lạc.                                 Khiến chúng đều an lạc.

Giống như ông vua có tài năng, có trí huệ, ông ta trị vì đất nước được thái bình, chẳng có chiến tranh, do đó : “Ðao thương bỏ vào kho, ngựa thả ra đồng núi», nhân dân đều vui mừng. Một ông vua có đạo lý thì nhân dân đều được nhờ. Ruộng phước của Phật cho chúng sinh cũng như thế, khiến cho chúng sinh đều được an lạc.

 

Thí như tịnh minh kính,                              Ví như gương sáng sạch
Tùy sắc nhi hiện tượng,                               Theo màu mà hiện hình
Phật phước điền như thị,                           Ruộng phước Phật cũng vậy
Tùy tâm hoạch chúng báo.                          Theo tâm được các báo.

Ví như tấm gương trong sáng sạch sẽ, thì tùy theo tất cả sắc tướng mà hiện ra hình bóng. Ruộng phước của Phật cũng thế, tùy theo tâm của chúng sinh mà đắc được tất cả quả báo. Do đó : “Nhân nào quả đó”, trồng nhân gì thì được quả đó. Tùy theo tâm tạo nghiệp mà thọ quả báo. Ðây là luật nhân quả muôn đời không thay đổi.

 

Như A-yết-đà dược                                     Như thuốc A Yết Đà
năng liệu nhất thiết độc,                            Chữa khỏi tất cả độc
Phật phước điền như thị,                           Ruộng phước Phật cũng vậy
diệt chư phiền não hoạn.                           Diệt các độc phiền não.

Giống như thuốc A Yết Ðà (dịch là phổ khứ), hay trừ khử khắp tất cả độc phiền não. Bất cứ là độc gì, nó cũng đều chữa khỏi. Ruộng phước của Phật cũng vậy, hay diệt trừ ba độc tham sân si và tiêu trừ được độc phiền não.

 

Diệc như nhật xuất thời,                             Cũng như mặt trời mọc
Chiếu diệu ư thế gian,                                 Chiếu sáng nơi thế gian
Phật phước điền như thị,                           Ruộng phước Phật cũng vậy
Diệt trừ chư hắc ám.                                   Diệt trừ các đen tối.

Lại giống như khi mặt trời mọc lên, chiếu sáng khắp thế gian, đều đắc được sự lợi ích của ánh sáng mặt trời, khiến cho vạn vật sinh trưởng. Ruộng phước của Phật cũng vậy, phá được vô minh của chúng sinh, khiến cho phiền não biến thành Bồ Ðề. Cho nên sức lực ruộng phước của Phật rất lớn.

 

Diệc như tịnh mãn nguyệt,                         Như mặt trăng tròn sáng
Phổ chiếu ư Đại địa,                                   Chiếu khắp nơi đại địa
Phật phước điền diệc nhiên,                      Ruộng phước Phật cũng vậy
Nhất thiết xứ bình đẳng.                             Bình đẳng khắp mọi nơi.

Lại giống như trăng rằm trong sáng, chiếu khắp đại địa, nó chẳng có tâm phân biệt, chẳng lựa chọn nơi nào sạch, nơi nào dơ, mà chiếu khắp hết thảy. Ruộng phước của Phật cũng thế, chiếu khắp tâm của chúng sinh, chúng sinh ở trước Phật trồng phước đồng đều, thì đắc được phước báu bình đẳng.

 

Thí như Tì lam phong,                                Ví như gió Tỳ lam
Phổ chấn ư Đại địa,                                    Chấn khắp nơi đại địa
Phật phước điền như thị,                           Ruộng phước Phật cũng vậy
Động tam hữu chúng sanh.                         Động ba cõi chúng sinh.

Giống như uy lực của gió Tỳ Lam, rất mau lẹ mãnh liệt, lợi hại hơn là gió bão ngàn vạn lần. Nó có thể chấn động đại địa. Ruộng phước của Phật cũng vậy, cho chúng sinh ba cõi gieo trồng phước, có thể chấn động ba cõi chúng sinh.

Tuy nhiên gió Tỳ Lam có uy lực dời núi lấp biển, nhưng thổi chẳng bay công đức của con người. Lúc Phật còn ở đời, thì có một vị thí chủ cúng dường một trăm lít dầu để đốt đèn ở trước Ðức Phật, song, cái đèn dầu đó sáng bất thường, có lúc tự tắt đi. Một ngày nọ, có người ăn mày, đem hết số tiền có được đi mua một lít dầu để cúng dường Phật. Vị sư hương đăng dùng dầu đó đốt đèn, thì cái đèn đó ngày đêm sáng mãi, thổi chẳng tắt. Vị sư hương đăng cảm thấy kỳ lạ. Tôn giả Mục Kiền Liên (thần thông bậc nhất) đích thân đi thổi đèn cũng thổi chẳng tắt. Do đó bèn dùng gió Tỳ Lam để thổi, tuy đèn dầu nhỏ nhưng càng thổi càng sáng. Lúc đó, tôn giả Mục Kiền Liên cảm thấy ngạc nhiên, bèn thỉnh hỏi Ðức Phật, là nhân duyên gì ? Ðức Phật nói : “Thí chủ trước kia, ông ta là người giàu có, đem một trăm lít dầu đến cúng, mà coi như là một đồng tiền, Còn người ăn mày đó cúng dường một lít dầu, đây là tiền tích lũy một đời của ông ta đem ra mua dầu, cho nên cháy mãi không tắt. Vì công đức vô lượng, dù có gió Tỳ Lam thổi cũng không tắt”.

Chúng ta làm công đức, phải có tâm thành, đừng có tâm xí đồ, thì mới có công đức lớn. Nếu có sự mong cầu thì công đức sẽ nhỏ. Cho nên người giàu làm công đức không nhất định là công đức thật. Chẳng có tiền mà làm công đức, đó mới là công đức thật. Ví như có nhiều tài sản, cúng dường mấy triệu đồng, thì giống như một sợi lông của con bò. Người chẳng có tiền (nghèo), đem số tiền làm công mỗi ngày kiếm được, toàn bộ cúng dường, đây mới là làm công đức. Nếu có người vì danh, vì lợi, mà làm công đức, thì đó chỉ là phước báu của trời người, chứ chẳng phải là công đức cứu kính. Nếu chẳng mong cầu gì, tận hết khả năng mà cúng dường, thì đó mới là công đức vô lượng.

 

Thí như Đại hỏa khởi,                                 Ví như lửa lớn cháy
Năng thiêu nhất thiết vật,                           Thiêu hết tất cả vật
Phật phước điền như thị,                           Ruộng phước Phật cũng vậy
Thiêu nhất thiết hữu vi.                              Thiêu hết pháp hữu vi.

Ví như lửa lớn nổi dậy, thiêu hết tất cả vật chất có hình có tướng. Ruộng phước của Phật cũng vậy, thiêu sạch hết tất cả pháp hữu vi.

 

Nhĩ thời, Văn-thù-sư-lợi Bồ Tát vấn cần thủ Bồ Tát ngôn: Phật tử !Phật giáo thị nhất, chúng sanh đắc kiến, vân hà bất tức tất đoạn nhất thiết chư phiền não phược nhi đắc xuất ly? nhiên kỳ sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn, dục giới, sắc giới, vô sắc giới, vô minh, tham ái, vô hữu sái biệt, thị tắc Phật giáo. ư chư chúng sanh, hoặc hữu lợi ích? hoặc vô lợi ích?

Bấy giờ, Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi hỏi Bồ Tát Cần Thủ rằng : Phật tử ! Phật giáo là một, sao có chúng sinh thấy được, chẳng lập tức đoạn trừ tất cả các phiền não trói buộc, để được giải thoát. Nhưng nơi sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn, dục giới, sắc giới, vô sắc giới, vô minh tham ái, chẳng có khác biệt. Vậy thì Phật giáo nơi các chúng sinh, hoặc có lợi ích, hoặc không có lợi ích.

Giảng: Sau khi Bồ Tát Mục Thủ nói bài kệ xong rồi, thì lúc đó Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi hướng về Bồ Tát Cần Thủ thỉnh pháp, hỏi rằng : “Phật tử ! Giáo Pháp của Phật nói, chỉ có một. Hết thảy chúng sinh thấy Phật nghe pháp đều như nhau. Tại sao có chúng sinh nghe pháp, thì lập tức đoạn được tất cả phiền não ? Tại sao có chúng sinh nghe pháp, mà không thể lập tức đoạn trừ tất cả phiền não ? Ðây là nhân duyên gì ? Nếu đoạn trừ tất cả phiền não trói buộc, thì sẽ thoát khỏi phiền não, chẳng có tình ái, không bị năm uẩn, các pháp trói buộc. Song, uẩn có hình sắc, uẩn có lãnh thọ, uẩn có tư tưởng, uẩn có hành vi, uẩn có phân biệt. Lại có tam giới : Dục giới, sắc giới, vô sắc giới, và vô minh, ái, tham. Chúng sinh trong tam giới đều như nhau, chẳng có phân biệt. Mà giáo pháp của Phật là một, vì sao giáo hoá tất cả chúng sinh, người có được lợi ích thì sẽ lập tức đoạn trừ được vô minh và tham ái mà thoát khỏi tam giới ? Song, có những chúng sinh cũng nghe Phật thuyết pháp như nhau, tại sao chẳng đắc được lợi ích, chẳng thoát khỏi được tam giới ? Ðây là đạo lý gì ? Xin Ngài từ bi diễn nói đạo lý nầy”.

 

Thời, cần thủ Bồ Tát dĩ tụng đáp viết:

Bấy giờ, Bồ Tát Cần Thủ dùng kệ đáp rằng.

Giảng: Lúc đó, Ðại Bồ Tát Cần Thủ dùng bài kệ để trả lời những câu hỏi của Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi hỏi.

 

Phật tử thiện đế thính                                Phật tử khéo lóng nghe
Ngã kim như thật đáp,                                Nay tôi như thật đáp
Hoặc hữu tốc giải thoát,                             Có người sớm giải thoát
Hoặc hữu nan xuất ly.                                 Có người khó thoát khỏi.

Bồ Tát Cần Thủ nói : “Phật tử ! xin Ngài hãy chú ý lóng nghe, bây giờ tôi căn cứ theo vấn đề của Ngài, thật thật mà trả lời. Hoặc có những chúng sinh nghe pháp môn của Phật nói, thì mau chóng đắc được giải thoát. Ðây là nguyên nhân gì ? Vì trong quá khứ thì họ đã gieo trồng căn lành, nên căn lành tăng trưởng, hoặc đã chín mùi, cho nên một khi nghe được Phật nói pháp, thì sớm sẽ đắc được giải thoát. Ðây là vì trồng đủ căn lành, mới có sự thành tựu như thế. Hoặc có chúng sinh, trong quá khứ chẳng gieo trồng căn lành, bây giờ mới nghĩ trồng căn lành, tuy nghe được Phật nói pháp, nhưng cũng không thể lập tức đoạn trừ tất cả phiền não trói buộc, chẳng dễ gì thoát khỏi tam giới, chẳng thể lập tức đắc được giải thoát.

 

Nhược dục cầu trừ diệt,                              Nếu muốn cầu trừ diệt
Vô lượng chư quá ác,                                  Vô lượng các tội ác
Đương ư Phật Pháp trung,                         Nên ở trong Phật pháp
Dũng mãnh Thường-tinh-tấn.                    Dũng mãnh thường tinh tấn.

Giả sử có chúng sinh hy vọng sớm trừ diệt vô minh phiền não, và mê hoặc tham ái, và tất cả vô lượng vô biên tội lỗi nghiệp ác, thì nên đối với Phật pháp dũng mãnh tinh tấn. Chẳng những một thời tinh tấn, mà luôn luôn tinh tấn. Do đó, có câu : “Ngày sáu thời luôn luôn thường tinh tấn”. Thân tinh tấn thì chẳng làm các việc sát hại, trộm cắp, tà dâm. Tâm tinh tấn thì chẳng có tâm tham sân si. Tóm lại, thân tinh tấn là siêng tu giới định huệ; tâm tinh tấn là diệt trừ tham sân si. Tức là phải dũng mãnh tinh tấn tiến về trước, đừng giải đãi thối lùi về sau. Như thế thì sẽ đoạn trừ tất cả vô minh và tham ái, đắc được giải thoát.

Gốc rễ phiền não của chúng sinh, là do tham sân si mà ra. Khi ba độc nầy phát sinh tác dụng, thì đối với thân sẽ có hành vi sát hại, trôm cắp, tà dâm; đối với miệng thì nói dối .v.v… các nghiệp ác. Không sát hại tức là giới sân; phàm là có tư tưởng giết hại đều là do sân hận mà ra. Chẳng trộm cắp tức là giới tham; phàm là sinh ý niệm trộm cắp, đều là do tham lam mà ra. Không tà dâm tức là giới si; phàm là sinh tâm dâm đều là do ngu si mà ra. Tức nhiên biết công dụng của giới, thì phải tu định học. Ðịnh là gì ? Tức là chẳng khởi tâm động niệm, chẳng có vọng tưởng. Trước hết bắt đầu trong đời sống hằng ngày, đi đứng nằm ngồi, bốn oai nghi lớn phải luôn luôn cẩn thận, đừng tham, đừng ái, thì tự nhiên tâm sẽ vắng lặng như nước, chẳng có sóng. Sau đó tham thiền đả tọa, tụng Kinh lễ Phật, thì thân tâm sẽ thanh tịnh; lúc đó, một niệm không sinh, một hạt bụi không nhiễm, thì tự nhiên trí huệ sẽ hiện tiền, đây tức là huệ.

Chân tâm thanh tịnh của chúng ta, giống như tấm gương, bất quá bị bụi trần (vô minh) che lấp, mất đi ánh sáng không thể chiếu vật được. Chúng ta dụng công phu (tu hành) là tẩy trừ bụi bặm trên tấm gương, thì tự nhiên sẽ hiện ra ánh sáng, chiếu soi mọi vật, cho nên Thần Tú Ðại Sư nói :

“Thời thời thường lau chùi
Đừng để dính bụi bặm.

 

Thí như vi thiểu hỏa,                                   Ví như đốm lửa nhỏ
Tiều thấp tốc lệnh diệt,                               Củi ướt khiến lửa tắt
Ư Phật giáo Pháp trung,                             Ở trong giáo pháp Phật
Giải đãi giả diệc nhiên.                               Người giải đãi cũng thế.

Giống như dùng lửa nhỏ để thiêu đốt củi ướt? thì lửa đó sẽ tắt sớm. Tại sao ? Vì phần nước của củi ướt đó, thắng hơn tánh lửa, lửa chẳng có sức thiêu đốt, cho nên bị tắt. Ở trong Phật giáo, nếu giải đãi chẳng tu hành thì cũng giống như đạo lý đốm lửa nhỏ thiêu đốt củi ướt, chẳng có sự thành công. Lửa nhỏ là đại biểu chẳng tinh tấn tu hành, củi ướt là đại biểu cho nghiệp chướng sâu nặng. Nếu tu hành chút chút, thì làm sao tiêu trừ nghiệp nặng ? Làm sao sinh ra lửa trí huệ ? Làm sao dứt hẳn vô minh tham ái ? Vì bạn vốn chẳng muốn đoạn trừ, cho nên chẳng dụng công tu hành. Nếu bạn dũng mãnh tinh tấn, tuyệt đối chẳng giải đãi, thì tất cả phiền não sẽ tiêu trừ sạch sẽ.

Lửa nhỏ không thể thiêu đốt củi ướt, song, củi khô, sẽ rất dễ dàng thiêu đốt, nghĩa là vô minh và tham ái của chúng ta bị lửa lớn trí huệ thiêu sạch. Phàm là người giải đãi chẳng tu hành, thì cũng giống như đạo lý lửa nhỏ thiêu đốt củi ướt.

 

Như toản toại cầu hỏa                                Như dùi cây lấy lửa
Vị xuất nhi số tức,                                       Chưa được mà dừng nghỉ
Hỏa thế tùy chỉ diệt,                                    Tánh lửa theo đó diệt
Giải đãi giả diệc nhiên.                               Người giải đãi cũng vậy.

Giống như dùi cây để lấy lửa, dùng hòn đá dùi ở trên gỗ, lâu dần thì sẽ được lửa. Song, dùi một lúc, lửa sắp phát hiện thì dừng nghỉ một chặp, lại dùi một lúc rồi nghỉ, như thế thì lửa cũng theo đó mà diệt mất, vĩnh viễn chẳng sinh ra lửa. Học Phật pháp cũng đồng đạo lý đó, tinh tấn một lúc, giải đãi một lúc, tinh tấn giải đãi, chẳng quán triệt thủy chung, thì không thể có sự thành tựu.

Người tu hành, tinh tấn lại tinh tấn, sẽ có một phút cuối cùng nào đó sẽ khai ngộ. Ðáng tiết người tu hành, đến một giây phút cuối cùng nào đó, thì cảm thấy quá mệt mỏi, dừng nghỉ một chặp, sang ngày mai lại tinh tấn cũng chẳng muộn. Biết đâu tại một niệm đó, bèn mất đi cơ hội khai mở ngũ nhãn lục thông, Do đó có câu :

“Tất cả là khảo nghiệm.
Nhìn xem bạn làm thế nào ?
Trước mắt chẳng nhận thức
Hãy luyện lại từ đầu”.

Tức là đạo lý nầy. Nghĩ muốn dùi cây lấy lửa, khi lửa chưa hiện mà dừng nghỉ thì chẳng hy vọng lấy được lửa. Muốn cầu được lửa thì lại dùi tiếp. Dùi đến lúc lửa sắp hiện, thì lại dừng nghỉ, do đó lại mất đi cơ hội, lại phải dùi lại từ đầu.

 

Như nhân trì nhật châu,                             Như người cầm ngọc châu
Bất dĩ vật thừa ảnh,                                    Không dùng vật tiếp bóng
Hỏa chung bất khả đắc                               Trọn không thể được lửa
Giải đãi giả diệc nhiên.                               Người giải đãi cũng vậy.

Giống như có người tay cầm nhật châu. Nhật châu là kính lồi (kính lúp), hay hấp thu ánh sáng mặt trời, thành điểm cháy. Ðem điểm cháy chiếu vào vật dễ cháy, thì sẽ sinh ra lửa. Nếu chỉ có kính lồi và ánh sáng mặt trời, mà chẳng có đồ dễ bốc cháy, thì dù có chiếu thời gian bao lâu cũng chẳng sinh ra lửa. Cho nên nói, không dùng vật tiếp bóng (điểm cháy) thì chẳng thể nào được lửa. Nhật châu đại biểu cho Phật pháp, vật dễ cháy đại biểu cho tinh tấn. Người học Phật pháp giải đãi làm biếng chẳng tinh tấn, thì chẳng thể nào thành tựu. Tóm lại, phiền não chẳng dứt thì trí huệ không hiện. Tại sao chúng ta phải tu đạo ? Tức là dứt phiền não, cầu trí huệ. Có trí huệ rồi thì chẳng còn tạo nghiệp, chẳng thọ quả báo.

 

Thí như hách Nhật chiếu,                           Như mặt trời nắng gắt
Hài trĩ bế kỳ mục,                                       Trẻ con nhắm đôi mắt
Quái ngôn hà bất đổ,                                  Bảo lạ sao không thấy
Giải đãi giả diệc nhiên.                               Người giải đãi cũng vậy.

Ví như mặt trời nắng gay gắt, chiếu khắp đại địa. Song, trẻ con nhắm mắt lại, còn nói “Tôi chẳng nhìn thấy mặt trời màu đỏ”. Chúng nhắm mắt lại thì làm sao mà nhìn thấy mặt trời ? Một số chúng sinh biết có Phật pháp, mà chẳng chịu tu hành, cũng giống như thế, thật là đáng thương xót ! Mặt trời đại biểu cho Phật pháp, trẻ con vô tri đại biểu cho chúng sinh ngu si, nhắm mắt đại biểu cho giải đãi. Mặt trời chiếu khắp đại địa, chẳng có chỗ nào mà không chiếu tới, song, nhắm mắt, cho nên chẳng thấy mặt trời. Ở trong Phật giáo, minh bạch đạo lý Phật pháp mà chẳng nương theo pháp tu hành, thì giống như nhắm mắt, chẳng thấy mặt trời, là lý giống nhau.

 

Như nhân vô thủ túc,                                  Như người không tay chân
Dục dĩ mang thảo tiến,                               Muốn dùng cỏ làm tên
Biến xạ phá Đại địa,                                   Bắn phá khắp đại địa
Giải đãi giả diệc nhiên.                               Người giải đãi cũng vậy

Giống như có người chẳng có tay, cũng chẳng có chân, song, tâm nghĩ muốn dùng cỏ hoang làm mũi tên để bắn phá đại địa. Vọng tưởng đó có phải là người ngu nói mộng chăng ? Làm sao có thể thành sự thật ? Việc vốn chẳng làm được. Người giải đãi chẳng tu hành cũng như thế, không thể nào thành tựu.

Chẳng có tay chân tức là chẳng tu hành, mà muốn dùng tên trí huệ để bắn phá tất cả vô minh. Ðó chẳng phải là người ngu vọng tưởng chăng ? Chẳng có chân tay thì làm sao mà dương cung bắn tên ? Làm sao mà tiến về trước lùi về sau ? Ngày ngày giải đãi, ngày ngày phóng dật, tâm khỉ ý ngựa thu chẳng được, chẳng có giới lực, chẳng có định lực, chẳng có huệ lực, thì làm sao mà khai ngộ.

 

Như dĩ nhất mao đoan,                               Như dùng một sợi lông
Nhi thủ đại hải thủy,                                   Để lấy hết nước biển
Dục lệnh tận càn kiệt,                                 Muốn khiến cạn sạch khô
Giải đãi giả diệc nhiên.                               Người giải đãi cũng vậy.

Giống như dùng nơi đầu một sợi lông, muốn lấy sạch nước biển, khiến cho khô cạn. Trừ khi có thần thông thì miễn bàn tới, bằng không thì vốn chẳng thể nào làm được. Ðây là nói nhận thức được một chút đối với Phật pháp, thì nghĩ muốn đắc được lợi ích lớn. Ðây chẳng phải là vọng tưởng chăng ? Suốt ngày giải đãi chẳng tu hành, thì làm sao mà phá trừ vô minh, phiền não, chấp trước, vọng tưởng, tham ái, mê hoặc ? Cứ nghĩ tìm tiện nghi, phí sức ít, thu hoạch nhiều. Phải biết thiên hạ chẳng có việc chẳng mệt nhọc mà được thu hoạch, do đó có câu :

“Trồng trọt một phần
Thì thu hoạch một phần”.

Chẳng thể nào ở trên trời rớt bánh xuống, vốn chẳng thể nào có việc đó. Người giải đãi chẳng tinh tấn tu hành, thì giống như ngu si dùng đầu một sợi lông lấy hết nước biển.

 

Hựu như kiếp hỏa khởi,                              Lại như kiếp lửa cháy
Dục dĩ thiểu thủy diệt,                                Muốn dùng chút nước mắt
Ư Phật giáo Pháp trung                              Ở trong nơi Phật pháp
Giải đãi giả diệc nhiên.                               Người giải đãi cũng vậy.

Lại giống như lúc kiếp lửa nổi dậy, đất đai đều bị thiêu đốt, biến thành lò lửa lớn. Muốn dùng một giọt nước để dập tắt kiếp lửa, thì chẳng thế nào làm được. Ở trong Phật giáo mà chẳng tu hành, thì cũng giống như muốn dùng chút nước để dập tắt kiếp lửa, chẳng thế nào được. Nếu như một xe củi cháy, chỉ dùng một ly nước để cứu hỏa thì có dập tắt được lửa chăng ? Người giải đãi chẳng tinh tấn thì cũng như thế.

Thời gian kiếp hoại sẽ phát sinh một lần nạn lửa lớn. Nạn lửa nầy chẳng những huỷ diệt địa cầu, mà thiêu hủy trời Sơ Thiền, tức là sắc giới Phạm Chúng Thiên, Phạm Phụ Thiên, Ðại Phạm Thiên, cho nên gọi là kiếp lửa. Tại sao lại có kiếp lửa như thế ? Vì đến thời kỳ kiếp hoại, tâm của con người quá xấu xa, nghiệp chướng quá nặng, Long vương phẫn nộ chẳng mưa xuống, đại địa nóng bức, cỏ cây chẳng sinh trưởng. Lúc đó, hư không xuất hiện bảy mặt trời, đồng thời chiếu xuống đại địa. Nước biển cũng khô cạn, do đó phát sinh lửa lớn, một khi thiêu, sẽ thiêu hủy đến cõi Phạm Thiên. Khi hai mươi tiểu kiếp lửa qua rồi, thì đến kiếp không, đại địa tất cả đều không, chẳng còn vật gì cả. Khi hai mươi tiểu kiếp không qua rồi, thì đến kiếp thành, bắt đầu dần dần thành tựu địa cầu. Trải qua hai mươi tiểu kiếp rồi, thì người trời ở cõi trời Quang Âm lại du hành đến địa cầu. Lúc đó, nước cam lồ ở địa cầu rất ngọt, người trời uống quá nhiều nên bị say, mất đi thần túc thông, không thể trở về trời được nữa, cho nên mới ở lại thế gian, trở thành thủy tổ của loài người. Ðây là trụ kiếp bắt đầu.

 

Như hữu kiến hư không,                             Như người nhìn hư không
Đoan cư bất dao động,                                Ngồi yên chẳng lay động
Nhi ngôn phổ đằng niếp,                            Mà nói bay đi khắp
Giải đãi giả diệc nhiên.                               Người giải đãi cũng vậy.

Giống như có người, nhìn thấy hư không, ngồi yên ở đó mà thân chẳng lay động, bèn nói : “Tôi có thể đằng vân giá vũ đi đến hư không, hết thảy chỗ hư không, đều có dấu chân của tôi», đạo lý nầy (ngoại trừ Phật Bồ Tát) chẳng có. Hư không đại biểu cho Phật pháp, ngồi yên đại biểu cho giải đãi. Thấy được Phật pháp mà chẳng tu hành Phật pháp, thì quả vị gì cũng chẳng đắc được. Người chẳng tu hành mà tự mình còn nói : “Tôi chứng được tứ quả A La Hán, hoặc tôi chứng được thập địa Bồ Tát”. Ðây là tự mình chụp mũ cho mình, tự mình an ủi mình, tức cũng là tự mình lừa gạt người.

Giống như vào thời vua A Dục, có vị Tỳ Kheo Ðại Thiên, tự mình chẳng chứng quả mà lừa gạt đệ tử nói y đã chứng quả. Ðây là ngồi yên chẳng lay động mà nói dối là bay đi khắp, là chẳng có sở thành tựu.

Những ví dụ ở trên rất là quan trọng. Chúng ta học Phật pháp phải cần độc mặc niệm, để làm cảnh sách. để tỉnh chính mình, không thể qua loa, thời khắc phải nhận chân tu hành, không thể giải đãi. Học Phật pháp phải tự cường bất tức, cung hành thực tiễn. Phải thấu triệt là cây to từng ngày từng ngày lớn lên, La Mã là từng ngày từng ngày kiến trúc, Phật pháp là từng ngày từng ngày tu thành. Do đó, có câu : “Người có chí, việc sẽ thành. Tu một phút thì có một phút công đức, công đức tròn thì tự nhiên sẽ thành tựu. Do đó có câu :

Khối sắt mài thành kim
Công đáo tự nhiên thành.

 

Nhĩ thời, Văn-thù-sư-lợi Bồ Tát vấn Pháp thủ Bồ Tát ngôn: Phật tử! Như Phật sở thuyết: Nhược hữu chúng sanh, thọ trì chánh pháp, tất năng trừ đoạn nhất thiết phiền não. Hà cố phục hưũ thọ trì chánh pháp nhi bất đoạn giả? Tùy tham, sân, si, tùy mạn, tùy phước, tùy phẫn, tùy hận, tùy tật, tùy xan, tùy cuống, tùy siểm, thế lực sở chuyển, vô hữu ly tâm. Năng thọ Trì Pháp, hà cố phục ư tâm hành chi nội khởi chư phiền não

Bấy giờ, Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi hỏi Bồ Tát Pháp Thủ rằng : Phật tử ! Như Phật nói, nếu có chúng sinh thọ trì chánh pháp, tất sẽ dứt trừ tất cả phiền não. Tại sao có người thọ trì chánh pháp, mà chẳng dứt trừ phiền não. Theo thế lực của tham sân si, theo ngạo mạn, theo sự che đậy, theo sự căm phẫn, theo sự oán hận, theo sự đố kị, theo sự keo kiệt, theo sự lừa dối, theo sự xiểm nịnh xoay chuyển, không rời nơi tâm, người hay thọ trì pháp, tại sao lại ở trong tâm hành khởi các phiền não ?

Giảng: Sau khi Bồ Tát Cần Thủ nói bài kệ xong rồi, thì lúc đó Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi hướng về Bồ Tát Pháp Thủ để thỉnh pháp bèn hỏi : “Phật tử ! Trước kia Phật đã từng nói, nếu như có chúng sinh hay thọ nơi tâm, trì nơi thân, theo pháp tu hành, thì sẽ hoàn toàn dứt trừ hết thảy tất cả phiền não. Vậy tại sao có chúng sinh hay thọ trì chánh pháp, mà phiền não chẳng dứt trừ, vô minh không thể phá trừ ? Ðây là đạo lý gì ? Hy vọng Ngài hãy khai thị”.

Một số người tu hành, thọ trì chánh pháp, song, tâm tham vẫn chưa dứt, tâm sân cũng chưa dứt, tâm si càng chưa dứt. Chẳng những chưa dứt mà còn chạy theo nó, lại chạy theo cống cao ngã mạn, lại chạy theo phiền não che đậy. Có lỗi chẳng dám nhận, chẳng dám sám hối, sợ người biết, như thế sẽ che đậy tội nghiệp, vĩnh viễn chẳng tiêu trừ. Lại chạy theo phẫn nộ phiền não, tâm chẳng bình là phẫn, phẫn cực điểm là oán, oán đến cực điểm là hận, hận đến cực điểm là phiền, phiền đến cực điểm là phát ra. Phát ra lửa vô minh, thiêu trụi lý trí, cảm tình dụng sự, sẽ nổi giận, tạo thành hậu quả bất lương, bèn mất đi đạo nghiệp. Lại chạy theo đố kị, tức là hận người ta có, cười người không có. Phàm là cùng học, cùng làm, cùng hành, cùng tu, với nhau đều có tâm lý đố kị. Vì người có tâm tranh cường háo thắng, đều muốn hơn người, muốn thắng hơn người khác, bằng không thì tâm ma tác quái, phát sinh đố kị. Lại chạy theo keo kiệt không xả bỏ, tức là chẳng bố thí, chẳng có tâm từ bi, chẳng những chẳng đồng tình sự khổ của người khác, ngược lại còn nói những lời không tốt. Lại chạy theo lừa dối, tức là trong không sinh ra có, chẳng nói lời thật. Hoặc là khêu chọc thị phi, phỉ báng danh dự của người khác, tạo khẩu nghiệp thì tương lai sẽ đoạ vào địa ngục cắt lưỡi. Lại chạy theo xiểm nịnh, tức là nịnh bợ kẻ khác, đây là tác phong của kẻ tiểu nhân. Người tu hành chánh pháp không nên có những hành vi như thế. Nhưng bị những thế lực đó xoay chuyển, đây là nguyên nhân gì ? Chẳng có chúng sinh nào có thể lìa khỏi tâm mà thọ trì chánh pháp. Tại sao chẳng những chẳng dứt phiền não, ngược lại còn sinh ra rất nhiều phiền não ? Ðạo lý nầy tôi thật chẳng hiểu, xin Ngài hãy giải thích cho rõ ràng, cứu kính là nguyên nhân gì ?

 

Thời, Pháp thủ Bồ Tát dĩ tụng đáp viết:

Bấy giờ, Bồ Tát Pháp Thủ dùng kệ đáp rằng.

Giảng: Lúc đó, vị đại Bồ Tát Pháp Thủ dùng bài kệ để trả lời những vấn đề Bồ Tát Văn Thù đã hỏi.

 

Phật tử thiện đế thính                                Phật tử khéo lắng nghe
Sở vấn như thật nghĩa,                               Ngài hỏi như thật nghĩa
Phi đãn dĩ đa văn                                       Chẳng phải là đa văn
Năng nhập Như Lai Pháp.                         Vào được pháp Như Lai.

Bồ Tát Pháp Thủ nói : “Phật tử ! xin Ngài hãy chú ý lắng nghe, tôi dùng chân tâm để trả lời những đạo lý mà Ngài đã hỏi. Chân thật nghĩa quý chẳng tại nhiều, mà tại tinh”. Tuy nhiên, hay tụng Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Pháp Hoa, Kinh Lăng Nghiêm, Kinh Kim Cang, Kinh Viên Giác .v.v… nhưng chẳng y pháp tu hành, thì chẳng lợi ích gì. Giống như nói nhiều món ăn ngon mà không ăn, thì kết quả vẫn đói bụng. Ví như người làm ở ngân hàng, hằng ngày đếm tiền mà mình chẳng có xu nào. Học Phật pháp chẳng phải cậy nhờ đa văn, để có thể vào được trong pháp môn của Như Lai. Giống như Ðề Bà Ðạt Ða và Tỳ Kheo Thiện Tịnh đều có trí huệ, lại đa văn. Nhưng ngược lại họ phỉ báng Phật pháp, kết quả hai người lúc còn sống đọa vào địa ngục, tức là lúc còn sống, bị hãm vào dưới đất.

 

Như nhân thủy sở phiêu,                            Như người trôi trong nước
Cụ nịch nhi khát tử,                                    Sợ chìm mà chết khát
Ư Pháp bất tu hành,                                   Nơi pháp chẳng tu hành
Đa văn diệc như thị.                                   Đa văn cũng như vậy.

Giống như có người trôi ở trong nước lớn, tâm sinh sợ hãi, sợ bị nước lớn chìm chết, trong miệng rất khát nước cũng chẳng dám uống nước, thà chết khát cũng chẳng uống. Chúng sinh đối với pháp của Phật nói, chỉ có thọ trì, nghiên cứu, minh bạch, nhưng chẳng tu hành, thì chẳng có lợi ích gì. Ða văn cũng như đạo lý đó; bác quảng đa văn, nhưng là lý luận ở ngoài da, chẳng phải công phu thật tế, cũng chẳng phải tu hành pháp môn cơ bản. Do đó có câu :

«Nói một trượng, không bằng hành một thước”.

Giống như nằm trên giường mà học kỹ thuật bơi lội, nghiên cứu rất thấu triệt minh bạch, nhưng khi vào trong nước để bơi lội thì tay chân tán loạn, nhẹ thì uống một bụng nước, còn nặng thì nguy hiểm tánh mạng, đây là nói rõ lý luận và kinh nghiệm sai cách nhau mười vạn tám nghìn dặm.

Phật pháp tức là nước lớn. Chúng sinh trôi ở trong nước, tức là nghiên cứu Phật pháp. Sợ bị nước lớn chìm chết, tức là vô minh. Chẳng muốn xả bỏ phiền não, tức là chẳng dám uống nước, cho nên nói nơi pháp chẳng tu hành, đa văn cũng như vậy.

 

Như nhân thiết mỹ thiện,                            Như người bày cỗ ngon
Tự ngạ nhi bất thực,                                    Mình đói mà chẳng ăn
Ư Pháp bất tu hành,                                   Nơi pháp chẳng tu hành
Đa văn diệc như thị.                                   Đa văn cũng như vậy.

Giống như có người bày cỗ tiệc, thức ăn rất ngon, mà lúc mình đói cũng chẳng ăn thức ăn ngon đầy bổ dưỡng. Giống như người đối với Phật pháp chẳng nhận chân tu hành, chỉ nghiên cứu văn tự Bát Nhã, nghiên cứu đi, nghiên cứu lại, biết rất nhiều đạo lý. Song, chẳng chịu tu hành, thì có lợi ích gì ? Ða văn cũng như vậy. Nói tóm lại, nói thì hay, nói thì giỏi, mà chẳng tu hành thì chẳng phải đạo.

 

Như nhân thiện phương dược,                   Như người khéo chế thuốc
Tự tật bất năng cứu,                                    Mình bệnh chẳng cứu được
Ư Pháp bất tu hành,                                   Nơi pháp chẳng tu hành
Đa văn diệc như thị.                                   Đa văn cũng như vậy.

Giống như có vị lương y, khéo bắt mạch. khéo chế thuốc, theo chứng bệnh mà hốt thuốc, thuốc đến thì bệnh khỏi, có công cải tử hồi sinh, bất cứ nghi nan tạp chứng, đều có thể diệu thủ hồi xuân, tế thế cứu dân. Song, lúc mình có bệnh thì bó tay không chữa được, chẳng có biện pháp, tay chân tán loạn, chẳng biết uống thuốc gì cho hết bệnh. Tại sao ? Vì đầu óc của mình đã chẳng còn sáng suốt, giống như tuy đao nhọn sắc bén, nhưng không thể cắt cái cán của mình. Ở trong Phật pháp, tham đồ đa văn, chẳng chịu tu hành thì giống như đạo lý vị lương y trị chẳng được bệnh của chính mình.

 

Như nhân số tha bảo                                  Như người đếm châu báu
Tự vô bán tiễn phần,                                   Mình chẳng có một đồng
Ư Pháp bất tu hành,                                   Nơi pháp chẳng tu hành
Đa văn diệc như thị.                                   Đa văn cũng như vậy.

Giống như có người, hằng ngày thế người ta tính đếm của cải châu báu, thế người ta quản lý tiền bạc, song, mình chẳng có đồng nào, cho đến nửa đồng cũng chẳng có. Ở trong Phật pháp, chỉ biết học nghĩa lý trong Kinh điển, mà chẳng chịu y pháp tu hành, không thể đoạn dục khử ái, thì thật tế chẳng có ích gì. Ða văn tức là đếm châu báu, cuối cùng vẫn nghèo cùng. Phật giáo hóa chúng sinh, khiến cho họ tu hành chánh pháp, nếu nhận chân tu hành, thì nhất định đắc được lợi ích. Còn nếu chẳng tu hành, thì nhất định chẳng đắc được lợi ích, cho nên nói thực hành mới là đạo.

 

Như hữu sanh vương cung                         Như người sinh cung vua
Nhi thọ ủy dữ hàn,                                      Mà chịu đói chịu lạnh
Ư Pháp bất tu hành,                                   Nơi pháp chẳng tu hành
Đa văn diệc như thị.                                   Đa văn cũng như vậy.

Giống như có người, sinh vào cung của nhà vua, có thể làm thái tử, giàu có bốn biển, quyền nắm thiên hạ. Song, ở trong cung vua, chịu đói chịu khát, chịu lạnh. Có đạo lý chăng ? Tức nhiên sinh vào nhà phú quý, thì sao lại chịu đói chịu lạnh ? Ðây là việc không thể có. Ở trong Phật pháp, chẳng chịu tu hành, chỉ biết nghĩa lý, biết vừa nhiều lại rộng, mà chẳng cung hành thật tiễn, thì cũng chẳng ích gì. Nghiên cứu Phật pháp, biết một chút hành một chút mới có đại dụng. Do đó có câu :
Tri hành hợp nhất.

Giống như người què và người đui. Người què thì thấy mà chẳng đi được. Người đui thì chẳng thấy mà đi được. Nếu hai người hợp làm một, giúp đỡ lẫn nhau, thì sẽ đạt được mục đích. Học Phật pháp, tín giải hành chứng đều quan trọng, như xe bốn bánh mới có thể đến bờ bên kia. Bốn bánh mà thiếu một, thì chẳng thể nào được, ngừng lại giữa đường, không thể tiến về trước, do đó “giữa đường phế bỏ”, như thế thì công lao lúc trước bị phế bỏ. Ða văn mà chẳng tu hành, cũng như sinh vào nhà vua mà chịu đói chịu lạnh.

 

Như lung tấu âm nhạc,                               Như điết tấu âm nhạc
Duyệt bỉ bất tự văn,                                    Người nghe mình chẳng nghe
Ư Pháp bất tu hành                                    Nơi pháp chẳng tu hành
Đa văn diệc như thị.                                   Đa văn cũng như vậy.

Giống như người điết, diễn tấu âm nhạc là để cùng với người khác thưởng thức, người ta nghe hay, êm tai mà chính mình chẳng nghe, tấu hay hoặc dở, mình chẳng biết. Âm nhạc giống như Phật pháp, có người biết Phật pháp là tốt, song, mình tu hành hay không tu hành, mình chẳng biết. Người điết tấu âm nhạc, hợp hay chẳng hợp nhạc phổ ? Âm luật đi đều chăng ? Mình chẳng biết, nơi Phật pháp ham cầu đa văn, mà chẳng chú trọng tu hành, thì cũng giống như người điết tấu âm nhạc chẳng khác.

 

Như manh hội chúng tượng                        Như mù vẽ hình tượng
Thị bỉ bất tự kiến,                                        Họ thấy mình chẳng thấy
Ư Pháp bất tu hành                                    Nơi pháp chẳng tu hành
Đa văn diệc như thị.                                   Đa văn cũng như vậy.

Giống như người mù loà (vô minh rất nặng), hay vẽ rất nhiều hình tượng, song, chính mình chẳng thấy, chỉ để cho người khác thưởng thức. Nghe được Phật pháp, minh bạch Phật pháp, mà chẳng chịu tu hành, tham cầu bác học đa văn, thì cũng giống như người mù vẽ hình tượng, thật là đáng thương xót.

 

Thí như hải thuyền sư,                                Ví như người lái thuyền
Nhi ư hải trung tử,                                      Mà chết ở trong biển
Ư Pháp bất tu hành,                                   Nơi pháp chẳng tu hành
Đa văn diệc như thị.                                   Đa văn cũng như vậy.

Giống như nhà hàng hải, sống ngày nầy tháng nọ ở trên biển, lấy biển làm nhà, có kỹ thuật lèo lái, có kinh nghiệm đi thuyền. Ông ta trên biết thiên văn, dùng vị trí sao đẩu, có thể ở trong biển cả đêm tối, biết được phương hướng; dưới biết địa lý, dùng sự lưu động và nhan sắc của nước biển, thì biết nơi nào có đá ngầm, nơi nào có nước xoáy, biết được rất rõ ràng, song, lại chết ở trên biển, tại sao ? Vì kỹ thuật chưa đến cực điểm, cho nên dễ phát sinh nạn biển mà mất mạng. Người học Phật, chỉ nói khẩu đầu thiền, hay nói mà chẳng tu hành, chỉ cầu đa văn mà chẳng chịu tu hành, thì giống như nhà hàng hải, chết ở trên biển, ông ta không thể liễu sinh thoát tử.

 

Như tại tứ cù đạo,                                       Như nơi ngã tư đường
Quảng thuyết chúng hảo sự,                       Rộng nói những điều tốt
Nội tự vô thật đức,                                      Mình chẳng có thật đức
Bất hành diệc như thị.                                Chẳng tu cũng như vậy.

Giống như có người ở tại ngã tư đường, diễn nói dạy người làm nhiều việc lành, khuyên người khắp bố thí, khiến người tu phước tu huệ. Nói rất hay, đầu đầu thị đạo, cái nào cũng có lý. Song, chính họ chẳng có đức chẳng có hạnh, bèn mất đi giá trị lãnh đạo hiệu chiêu. Chúng ta người tu đạo, mình có đức hạnh chân thật thì nói pháp mới khởi tác dụng. Ðức hạnh chân thật từ đâu đến ? là từ chỗ tự lợi lợi tha mà đến. Tóm lại, phải lợi ích kẻ khác, phải trợ giúp kẻ khác. Ðây tức là từ bi thế trời tuyên hóa, thành thật vì nước cứu dân. Mỗi cử chỉ hành động đều phải lợi ích chúng sinh, như thế mới sung mãn thật đức của mình. Nếu đối với Phật pháp, chỉ nói mà không tu hành thì cũng như thế. Bên ngoài khuyên người thì tốt, mà bên trong mình chẳng có thật đức, cũng chẳng ích gì.

Trong Ðại Trí Ðộ Luận có nói : “Ða văn biện huệ khéo lời lẽ, khéo nói các pháp chuyển tâm người, mình không như pháp hành bất chánh, ví như mây sấm mà chẳng mưa. Bác học đa văn có trí huệ, nói chậm lời thô chẳng khéo léo, không thể hiển phát tạng pháp bảo, ví như có mây chẳng sấm mưa. Chẳng rộng học vấn chẳng trí huệ, không thể nói pháp chẳng tu hành tốt, là pháp sư tồi chẳng hổ thẹn, ví như chẳng mây chẳng sấm mưa.Ở trong Sa Bà Luận có nói :

«Ða văn biết được pháp
Đa văn hay lìa tội
Đa văn xả vô nghĩa
Đa văn đắc Niết Bàn.

Ða văn là một đức tốt. Tôn giả A Nan là bậc nhất đa văn. Ngài đời đời kiếp kiếp tu pháp môn đa văn, cho nên ký ức của Ngài rất mạnh. Lúc Phật còn ở đời, nói tất cả Kinh điển, một khi lọt qua tai Ngài, thì một chữ cũng không sót. Nhưng Ngài chẳng biết tu hành, cho nên chẳng có định lực. Một ngày nọ, Ngài A Nan khất thực đến trước cửa nhà nữ Ma Ðăng Già, thì bị cô ta dùng chú Phạm Thiên làm mê hoặc, dẫn vào trong phòng, chút nữa là phá giới thể. Trong đường tơ kẽ tóc thì Bồ Tát Văn Thù đi đến (phụng mạng của Phật) dùng pháp lực của Chú Lăng Nghiêm, khiến cho Ngài A Nan tỉnh lại, cứu khỏi nạn nữ. Do đó có thể chứng minh, Ða Văn chẳng phải là pháp cứu kính, có lúc chẳng vượt qua đặng sự khảo nghiệm.

 

Nhĩ thời, Văn-thù-sư-lợi Bồ Tát vấn trí thủ Bồ Tát ngôn: Phật tử! Ư Phật Pháp trung, trí vi thượng thủ. Như Lai hà cố, hoặc vì chúng sanh tán thán bố thí, hoặc tán trì giới, hoặc tán kham nhẫn, hoặc tán tinh tấn, hoặc tán Thiền định, hoặc tán trí tuệ, hoặc phục tán thán từ, bi, hỉ, xả? Nhi chung vô hữu duy dĩ nhất pháp, nhi đắc xuất ly thành A-nậu-đa-la tam-miệu-tam Bồ-đề giả.

Bấy giờ, Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi hỏi Bồ Tát Trí Thủ rằng: Phật tử ! Ở trong Phật pháp, trí là trên hết. Tại sao Như Lai hoặc vì chúng sinh khen ngợi bố thí, hoặc khen ngợi trì giới, hoặc khen ngợi nhẫn nhục, hoặc khen ngợi tinh tấn, hoặc khen ngợi thiền định, hoặc khen ngợi trí huệ, hoặc lại khen ngợi từ bi hỷ xả, mà chẳng chỉ dùng một pháp để được giải thoát, thành Vô thượng chánh đẳng chánh giác.

Giảng: Sau khi Bồ Tát Pháp Thủ nói bài kệ rồi thì lúc đó, Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi hướng về Bồ Tát Trí Thủ để thỉnh pháp, bèn hỏi : “Phật tử ! Ở trong Phật pháp, trí huệ là pháp môn hàng đầu. Tại sao Phật có lúc khen ngợi pháp môn lục độ ? Có lúc lại khen ngợi pháp môn tứ vô lượng tâm ? Ðây là đạo lý gì ? Xin Ngài từ bi khai thị”. Hoặc vì chúng sinh khen ngợi pháp môn bố thí. Bố thí có ba :

  1. Bố thí tài : Lại phân ra nội tài và ngoại tài. Nội tài tức là thân tâm tánh mạng, đầu mắt tủy não, đây là tài sản trong thân. Ngoại tài tức là vàng bạc châu báu, đất nước vợ con, đây là tài sản ngoài thân.
  2. Bố thí pháp : Tức là vì chúng sinh giảng Kinh nói pháp, giáo hóa tất cả chúng sinh, khiến cho họ lìa khổ được vui, chấm dứt sinh tử.
  3. Bố thí vô uý : Tức là khi chúng sinh gặp hoạn nạn, hoặc sinh mạng bị uy hiếp, hoặc tinh thần bị bức bách, rất sợ hãi. Lúc đó dùng đủ phương pháp để khuyên nhủ, để an ủi, dạy họ đừng sinh tâm sợ hãi.

Hoặc là vì chúng sinh khen ngợi pháp môn trì giới. Trì giới tức là giữ quy cụ, tức cũng là ngừa ác phòng quấy. Ba ngàn oai nghi, tám vạn tế hạnh, đều bao quát ở trong giới luật. Giới tức là đừng làm các điều ác, làm các điều lành. Phàm là việc lợi ích chúng sinh, đều có thủy có chung, làm cho viên mãn, tuyệt đối đừng đầu cọp đuôi rắn, phế bỏ giữa đường. Ðối với việc chẳng có lợi cho chúng sinh, thì tuyệt đối đừng làm. Bằng không thì tổn người lợi mình, hành vi như thế chẳng phải là hành Bồ Tát đạo. Người hiện nay, đa số đều là ích kỷ lợi mình, cho nên dẫn đến gia đình không hòa, xã hội không an. Người với người không thể hòa bình với nhau, đều có tư tưởng không tốt. Vì đạt được mục đích, bất chấp thủ đoạn, do đó mà tạo thành thế giới bất an, chiến tranh bùng nổ. Nếu mọi người đều giữ:

  1. Không sát sinh.
  2. Không trộm cắp.
  3. Không tà dâm.
  4. Không nói dối.
  5. Không uống rượu.

Năm giới căn bản nầy, thì thế giới nhất định sẽ hòa bình. Còn có giới bát quan trai (giới cư sĩ), giới sa di mười giới.

Hoặc vì chúng sinh khen ngợi pháp môn nhẫn nhục, nhẫn nhục có ba :

  1. Sinh nhẫn : Tức là nhẫn thọ người phỉ báng, hãm hại, tha thứ cho họ, khoan hồng cho họ, do đó có câu : “Lấy đức báo oán”, hoặc “lấy thành đãi nhau”, thì tự nhiên sẽ cảm hóa họ, hòa bình với nhau.
  2. Pháp nhẫn : Tức là nhẫn thọ mưa gió nóng lạnh của thiên nhiên, hoặc đói khát …
  3. Vô sinh pháp nhẫn : Tức là trong tâm an định, chẳng có vọng tưởng, tức là chẳng thấy có chút pháp sinh, chẳng thấy có chút pháp diệt, nhẫn nơi tâm. Pháp vô sinh tức là lý chân như, nhẫn tức là trí huệ.

Hoặc vì chúng sinh khen ngợi pháp môn tinh tấn. Tinh tấn có hai :

  1. Thân tinh tấn : Tức là siêng tu giới định huệ, chẳng phạm sát, trộm, dâm.
  2. Tâm tinh tấn : Tức là tiêu diệt tham sân si, chẳng khởi hoặc tạo nghiệp thọ báo. Tóm lại, tinh tấn thì chẳng giải đãi. Học Phật pháp như thuyền đi ngược dòng, chẳng tiến thì lùi. Một ngày chẳng tu hành, thì đạo nghiệp sẽ thối lùi, cho nên phải ngày tinh tấn, đêm tinh tấn, một ngày sáu thời thường tinh tấn, đây là điều kiện của người tu đạo.

Hoặc vì chúng sinh khen ngợi pháp môn thiền định. Thiền là tiếng Phạn, đầy đủ là thiền na. Ðịnh là tiếng Tàu, đầy đủ là chánh định. Danh từ nầy vừa tiếng Phạn và tiếng Tàu hợp lại, thiền định là gì ? Tức là tĩnh lự. Tĩnh là vắng lặng, lự là tư lự, nghĩa là đình chỉ mọi vọng tưởng của ý thức, lúc đó tâm sẽ thanh tịnh; đến cảnh giới một niệm không sinh, một niệm không diệt, thì là lúc trí huệ giải thoát, tức cũng là khai ngộ. Do đó:

“Vọng niệm không sinh là thiền
Ngồi thấy bản tánh là định»,

Đây là chú giải về thiền định. Ngồi thiền, ngồi đến lúc hỏa hầu, thì sẽ rõ tâm thấy tánh, tức cũng là phát minh chân tâm của mình, nhìn thấy chân tánh của mình. Chân tâm là tâm thanh tịnh, chân tánh là Phật tánh.

Hoặc vì chúng sinh khen ngợi pháp môn Bát Nhã. Bát Nhã dịch là trí huệ. Thời xưa dịch Kinh có năm quy định không dịch, tức là :

  1. Bí mật.
  2. Tôn trọng.
  3. Ða hàm.
  4. Thuận cổ.
  5. Thử phương vô.

Bát Nhã có ba :

  1. Văn tự Bát Nhã : Dùng văn tự để nói rõ đạo lý thật tướng Bát Nhã và quán chiếu Bát Nhã.
  2. Quán chiếu Bát Nhã : Có Kinh điển văn tự rồi, thì phải quán sát chiếu soi, mới thấu hiểu nghĩa chân thật của Kinh điển.
  3. Thật tướng Bát Nhã : Thấu hiểu chân lý rồi, thì biết đạo lý các pháp thật tướng. Bát Nhã là phá các tướng, thấu hiểu tất cả pháp tánh vốn không; cho nên tu tất cả công đức đều khiến cho viên mãn.

Hoặc lại khen ngợi từ bi hỷ xả bốn tâm vô lượng. Từ là gì ? Tức là ban vui cho tất cả chúng sinh. Bi là gì ? Tức là cứu khổ cho tất cả chúng sinh. Hỷ là gì ? Tức là thấy được người làm điều thiện, hoặc người ta vui, thì mình sinh hoan hỉ. Xả là gì ? Tức là xả bỏ tâm thương ghét, oán thân đều bình đẳng, đối đãi kẻ oán người thân đều như nhau. Hành Bồ Tát đạo thì trước hết phải dùng bốn pháp nhiếp (Bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự), sau đó đầy đủ bốn tâm vô lượng, thì mới có thể làm sự nghiệp lợi người. Người học Phật pháp, đây là pháp môn căn bản, phải thiết thực mà làm, bằng không thì quay lưng lại với giáo nghĩa Phật pháp, chẳng có tinh thần hy sinh tiểu ngã để hoàn thành đại ngã.

Tuy nhiên ở trước Phật khen ngợi lục độ và bốn tâm vô lượng, song, pháp môn nhiều như thế, chúng sinh thủy chung chẳng y một pháp mà được thoát khỏi tam giới, liễu sinh thoát tử, chứng thành vô thượng chánh đẳng chánh giác. Ðây đều là nguyên nhân gì ? Xin Ngài hãy từ bi giải đáp.

 

Thời, trí thủ Bồ Tát dĩ tụng đáp viết:

Bấy giờ, Bồ Tát Trí Thủ dùng kệ đáp rằng.

Giảng: Lúc đó, Ðại Bồ Tát Trí Thủ dùng kệ để trả lời những vấn đề mà Bồ Tát Văn Thù đã hỏi.

 

Phật tử thậm hy hữu                                  Phật tử rất hy hữu
Năng tri chúng sanh tâm                            Biết được tâm chúng sinh
Như nhân sở vấn nghĩa,                             Theo nghĩa Ngài đã hỏi
Đế thính ngã kim thuyết.                            Lắng nghe nay tôi nói.

Bồ Tát Trí Thủ nói : “Phật tử ! Ngài rất là ít có, Ngài có đại trí huệ, Ngài là thượng thủ trong các đại Bồ Tát. Ngài đại biểu cho chúng sinh để hỏi pháp, vì Ngài khéo biết được tâm niệm của tất cả chúng sinh. Bây giờ tôi căn cứ theo những vấn đề Ngài đã hỏi, mà nói rõ nghĩa lý. Xin Ngài hãy chú ý lắng nghe”.

 

Quá khứ vị lai thế,                                      Các Đạo Sư quá khứ
Hiện tại chư Đạo sư,                                   Hiện tại và vị lai
Vô hữu thuyết nhất pháp,                           Chẳng có nói một pháp
Nhi đắc ư đạo giả.                                       Mà khiến người đắc đạo.

Ðời quá khứ, đời hiện tại, đời vị lai, ba đời chư Phật Ðại Ðạo Sư, chẳng phải nói một pháp môn, mà là nói tám vạn bốn ngàn pháp môn. Chẳng có vị Phật nào chỉ nói một pháp môn, mà có thể khiến cho chúng sinh chứng đắc quả vị Phật Vô thượng chánh đẳng chánh giác.

 

Phật tri chúng sanh tâm,                           Phật biết tâm chúng sinh
Tánh phần các bất đồng,                             Căn tánh đều khác nhau
Tùy kỳ sở ưng độ,                                        Tùy theo sự độ được
Như thị nhi thuyết Pháp.                            Như vậy mà nói pháp.

Có câu :
“Chúng sinh có bao nhiêu thứ tâm
Như Lai đều biết đều thấy”,

Cho nên Phật biết tâm chúng sinh. Căn tánh của chúng sinh đều khác nhau. có người hoan hỉ pháp môn nầy, có người hoan hỉ pháp môn kia. Phật hoàn toàn biết được tâm chúng sinh, người đáng dùng thân gì độ được, thì thị hiện thân đó để nói pháp, khiến cho họ được độ. Pháp của Phật nói ra, là tùy theo căn tánh của chúng sinh mà nói tất cả các pháp, do đó “theo bệnh cho thuốc”, tức cũng là vì người nói pháp.

 

Xan giả vi tán thí,                                       Người tham khen bố thí
Hủy cấm giả tán giới,                                  Người huỷ phạm khen giới
Đa sân vi tán nhẫn,                                     Người nhiều sân khen nhẫn
Hảo giải tán tinh tấn.                                  Người lười khen tinh tấn.

Nếu gặp chúng sinh xan tham chẳng xả bỏ, thì vì họ giảng giải công đức bố thí, khen ngợi lợi ích của sự bố thí. Bố thí nhìn trước mắt là trực tiếp bố thí cho người, kỳ thật gián tiếp là bố thí cho mình. Do đó, “Trước hành gió xuân, sau được mưa thu”. Nhà nho nói: “Mình giúp người, thì người giúp mình”, đây là đạo lý nhân quả. Sau đó lấy thân làm phép tắc, bố thí tất cả để cứu giúp người nghèo khổ, khiến cho họ hoan hỉ, dần dần sẽ cảm hoá, thì họ mới sinh tâm trắc ẩn, mà đồng tình thọ nạn khổ của chúng sinh.

Nếu gặp chúng sinh chẳng giữ gìn giới luật, thì hãy vì họ khen ngợi sự quan trọng của giới luật như thế nào. Do đó :
«Vật chẳng có dụng cụ
Làm sao thành vuông tròn.
Người chẳng có quy cụ
Thì chẳng thành Thánh hiền.

Trước hết mình phải giữ giới luật, tơ hào đừng cẩu thả, làm như thế thì lâu dần sẽ khiến cho người cảm động, biết giữ giới là hành vi của Phật giáo đồ phải có.

Nếu gặp chúng sinh sân hận quá nặng thì khen ngợi pháp môn nhẫn nhục quan trọng như thế nào. Ai ai cũng nhẫn nhục, thì thiên hạ chẳng có chiến tranh. Người xưa có nói :
“Nhẫn nại thì an
Biết đủ thì vui”.

Đây là nói về kinh nghiệm, khiến cho họ nhẫn nại nơi tư tưởng, thiệt thòi là triết lý chiếm tiện nghi, sửa đổi hành vi của họ, phải từ từ để khuyên nhủ. Bằng không, sẽ phát sinh tác dụng ngược trở lại, khéo léo trở thành vụng về. Người có tâm sân hận, thì tâm lý chẳng chánh thường, như có việc chẳng như ý bèn oán trời trách người, hận đến xương tủy, hy vọng đối phương hoành tử, chết chẳng toàn thân. Hoặc ngồi máy bay thì bị nổ, máu thịt bắn rơi lung tung, chết chẳng có đất chôn thân, như thế mới giải nỗi hận trong tâm. Thứ người nầy đều là tâm lý biến thái, cho nên phải tìm cách cải đổi tư tưởng của họ, chỉ có một biện pháp là vì họ giảng giải về đạo lý nhân quả báo ứng.

Nếu gặp chúng sinh giải đãi chẳng chịu tu hành, thì đừng trực tiếp phê bình họ là người giải đãi; bằng không thì họ sẽ nổi giận mà khởi tác dụng ngược trở lại, ngược lại càng chẳng lạy Phật, chẳng tụng Kinh, chẳng tham thiền, chẳng trì chú. Cho nên họ chẳng muốn làm việc, thì phải tự động trợ giúp họ làm. Do đó, có câu : “Gần xích thì đỏ, gần mực thì đen”, lâu dần thì họ sẽ cảm động, chẳng còn giải đãi. Những người tu hành ở chùa Kim Sơn đều dậy sớm ngủ trễ, dụng công tu hành. Ngày ăn một bữa, đêm ngủ ngồi. Tại sao phải tu khổ hạnh như thế. Vì muốn đắc được đại trí huệ, minh bạch thế gian là pháp hữu vi, là vô thường, khổ, không, vô ngã. Thấu hiểu được pháp xuất thế là pháp vô vi, là thường, lạc, ngã, tịnh. Như thế mới liễu sinh thoát tử, ra khỏi ba cõi. Sau đó khen ngợi pháp môn tinh tấn rất quan trọng, cường điệu tinh tấn là chìa khóa khai ngộ.

 

Loạn ý tán Thiền định,                                Ý loạn khen thiền định
Ngu si tán trí tuệ,                                        Ngu si khen trí huệ
Bất nhân tán từ mẫn,                                 Bất nhân khen từ mẫn
Nộ hại tán đại bi.                                        Nộ hại khen đại bi.

Nếu gặp chúng sinh tâm ý tán loạn, thì nên hướng về họ giảng giải thiền định, hay khống chế vọng tưởng là phương pháp tốt nhất, sẽ khiến cho họ tâm tịnh như nước, trí huệ sẽ hiện tiền. Chủ yếu là thân thể lực hành thì mới diệu dụng của thiền định. Pháp môn thiền chẳng phải nói mà là pháp môn thực hành. Do đó, có câu : “Như người uống nước, nóng lạnh tự biết”, cứ nói mà không làm thì chẳng ích gì. Khiến cho tâm họ điều phục rồi thì mới khen ngợi sự diệu dụng của thiền định; quá khứ bao nhiêu vị Tổ đều do thiền định mà khai ngộ.

Nếu gặp chúng sinh ngu si, thì ngàn vạn đừng bao giờ nói họ chẳng có trí huệ. Phải khuyên họ nên học Phật pháp, xem nhiều Kinh điển, trì chú niệm Phật, lâu dần thì sẽ đắc được trí huệ. Phải hàm súc một điểm để khai đạo, không thể nói thẳng rằng : “Anh quá ngu si ! Tại sao không học Phật pháp»? Nếu nói như thế, thì việc chẳng thành công, họ sẽ phật ý, chẳng tinh tấn học tập. Trước hêt hãy vì họ khen ngợi trí huệ là pháp môn chủ yếu. Bất cứ tu pháp môn gì, nếu chẳng có trí huệ thì đừng nói đến, căn bản chẳng được thành tựu.

Nếu gặp chúng sinh chẳng có nhân từ, thì hãy dùng tâm từ để giáo hóa họ, khiến cho họ có hành vi thương xót chúng sinh, đồng tình chịu khổ nạn, bố thí cho người nghèo khổ. Ðối với họ nói về sự giúp đỡ người là gốc của sự an vui, là việc an vui nhất trong thiên hạ. Do đó: “Làm thiện là vui nhất» vậy, sự an vui nầy chẳng có gì sánh bằng. Ðừng có quá ích kỷ, tư tưởng nầy chẳng thể chấp nhận được.

Nếu gặp chúng sinh thích phát nộ hận, hoặc thích sát sinh hại mạng, thì hãy hướng về họ khen ngợi tầm quan trọng của tâm đại bi. Người tu đạo, nhất định phải có tâm đại bi, bằng không thì dù tu đến trình độ nào, tuyệt đối chẳng thành tựu. Tại sao ? Vì chẳng có đức hạnh. Dùng đức hạnh để cảm hoá người, dùng tâm thành để đối đãi người, đây là điều kiện bắt đầu tu đạo. Tôi thường nói :

«Hãy nhận thật lỗi mình
Đừng nói lỗi người khác
Lỗi người tức lỗi mình
Đồng thể gọi đại bi”.

Đây là chú giải về tâm đại bi. Một khi họ khởi tâm đại bi, thì hòa bình nhân từ đối đãi với tất cả chúng sinh, chẳng có tâm giết hại chúng sinh. Phàm là động vật có trí giác, đều tham sống sợ chết, cũng có thể nói là thiên tánh. Con kiến còn tham sống, hà huống là trâu bò dê gà chó mèo ? Ðời nầy bạn giết nó, thì đời sau nó giết bạn, oán oán báo với nhau, vĩnh viễn chẳng kết thúc. Nếu ai ai cũng có tâm đại bi, đừng giết hại, thì thế giới sẽ hoà bình, chẳng có chiến tranh. Tại sao có chiến tranh ? Vì giết hại quá nặng, Cổ đức có nói : “Muốn thế giới chẳng có kiếp đao binh, thì chúng sinh đừng ăn thịt”. Cho nên giới thứ nhất trong năm giới là không giết hại, không giết hại mới có lòng từ bi.

 

Ưu Thích vi tán hỉ,                                      Sầu lo thời khen hỉ
Khúc tâm tán thán xả,                                Tâm cong khen ngợi xả
Như thị thứ đệ tu,                                       Lần lược tu như vậy
Tiệm cụ chư Phật Pháp.                              Dần đủ các Phật pháp.

Nếu gặp chúng sinh sầu lo, thì khen ngợi pháp môn hoan hỉ an vui, phải nghịch đến thuận thọ, tất cả phải nghĩ cho ra, phải buông xả tất cả, thì tự nhiên chẳng có việc gì phải sầu lo.

Thời xưa có người, hằng ngày đều sầu lo, trong tâm thường nghĩ : “Chẳng biết trời lúc nào sập xuống ? Chẳng biết lúc nào đất hãm xuống ? Tương lai biết làm thế nào»? Ðây tức là :

“Thiên hạ vốn chẳng có việc
Mà người lo, cứ lo xa“.

Người thời nay, vốn chẳng có việc gì để lo, nhưng họ cũng sầu lo, sầu lo con gái của mình chừng nào tốt nghiệp đại học, chừng nào đậu bác sĩ ? chừng nào kết hôn ? Lúc nào sẽ sinh con. Gặp những người nầy thì nói với họ :
«Tự cổ thần tiên vô biệt pháp
Chỉ sinh hoan hỉ bất sinh sầu»

Hoan thiên hỷ địa thì mới trăm bệnh không sinh. Bây giờ y học đề xướng mỗi ngày cười ba lần, là thuốc làm cho thân khỏe mạnh. Người xưa nói :
«Quan phong tế nguyệt, tảo mộc hân hân
Nộ phong tật vũ, cầm điểu thê thê”.

Cho nên nói:
«Trời đất không thể một thời chẳng có hòa khí;
Tâm người không thể một khắc không có thần vui”.

Bạn hãy nhìn xem, ở trong cửa chùa, một khi bước vào thì thấy Bồ Tát Di Lặc mở miệng cười với bạn, khiến cho bạn sinh hoan hỉ vui tươi, mà quên đi tất cả phiền não.

Nếu gặp chúng sinh tâm cong vạy chẳng thẳng, thì hãy vì họ khen ngợi công đức xả bỏ. Xả bỏ đi tâm cong vạy, biến thành tâm ngay thẳng, do đó “tâm thẳng là đạo tràng. Người tâm cong vạy, thì bất cứ gặp việc gì cũng đều có đủ mánh khóe, bày kế hại người, chuyên làm việc giết người chẳng thấy máu.

Như ở trước nói về pháp môn lục độ và từ bi hỷ xả, phải lần lược y theo pháp tu hành, như thế thì dần dần sẽ đầy đủ tất cả các Phật pháp.

 

Như tiên lập cơ đổ                                      Như trước xây nền móng
Nhi hậu tạo cung thất,                                Sau đó tạo nhà cửa
Thí giới diệc phục nhiên                              Thí và giới cũng vậy
Bồ Tát chúng hạnh bổn.                            Là gốc hạnh Bồ Tát.

Giống như xây nhà cửa, thì trước hết phải lập nền móng cho thật vững chắt, nền móng chẳng vững chắc, thì chẳng được lâu bền, đây là đạo lý tự nhiên. Tường vách cũng phải vững chắc, bằng không thì có thể dễ nghiêng ngã. Nền móng xây tốt rồi, thì xây phòng ốc sẽ rất vững chắt. Nếu ở sa mạc xây nhà cửa mà chẳng có nền móng, thì nghĩ sẽ biết ngay, chịu chẳng được gió mưa, chẳng lâu thì sẽ ngã sập. Người tu đạo thì phải dùng bố thí và trì giới để làm nền móng tu hành, nếu chẳng có bố thí và trì giới làm nền móng, thì đạo nghiệp chẳng thành tựu. Do đó, Bồ Tát dùng bố thí và trì giới làm gốc rễ hành Bồ Tát đạo. Như vậy mới có thể thành tựu đạo nghiệp.

 

Thí như kiến thành khuếch,                        Ví như xây thành quách
Vi hộ chư nhân chúng,                                Để bảo hộ dân chúng
Nhẫn tấn diệc như thị,                                Nhẫn và tấn cũng vậy
Phòng hộ chư Bồ-tát.                                  Phòng hộ các Bồ Tát.

Ví như xây thành quách, thì phải xây thành đô ở ngoài thành, như vậy sẽ bảo hộ tác dụng với nhau. Do đó: “Thành trong ba dặm, quách ngoài bảy dặm”. Tại sao phải xây thành quách ? Vì muốn bảo vệ tánh mạng và tài sản của dân chúng được an toàn, bảo vệ kẻ địch xâm lược. Nhẫn nhục và tinh tấn, cũng như thế, là bảo hộ Bồ Tát sơ phát bồ đề tâm, không bị địch vô minh công phá, không bị ma lười biếng xâm lược. Nếu hay nhẫn nhục thì sẽ chiến thắng kẻ địch vô minh. Nếu hay tinh tấn thì sẽ chiến thắng vua lười biếng giải đãi.

 

Thí như đại lực vương,                                Ví như đại lực vương
Suất độ hàm đái ngưỡng,                           Cả nước đều nguỡng vọng
Định tuệ diệc như thị,                                 Định huệ cũng như vậy
Bồ Tát sở y lại.                                           Chỗ Bồ Tát nương tựa.

Ví như ông vua có thế lực lớn, ông ta cai trị hết toàn vẹn lãnh thổ, đất nước đều mưa hoà gió thuận, quốc thái dân an, nhân dân cơm no áo ấm, an cư lạc nghiệp, cho nên đối với ông vua có đạo đức rất là ngưỡng mộ, kính ngưỡng. Tu thiền định và trí huệ cũng như vậy. Ðịnh huệ hai độ là pháp chánh, còn các pháp khác là trợ pháp. Do đó, Bồ Tát hành Bồ Tát đạo phải nương tựa pháp môn định huệ để tu hành, có định có huệ thì nhất định thành tựu quả vị Phật.

 

Diệc như Chuyển luân Vương,                   Cũng như chuyển luân vương
Năng dữ nhất thiết lạc,                               Ban vui cho tất cả
Tứ đẳng diệc như thị,                                  Bốn lượng tâm cũng vậy
Dữ chư Bồ-tát lạc.                                       Ban vui các Bồ Tát.

Cũng giống như chuyển luân Thánh vương, hay ban đủ thứ khoái lạc cho tất cả nhân dân, dân chúng thiếu gì thì vua khiến cho họ đắc được thứ đó, tại sao lại được như thế ? Vì ông ta có châu như ý. Châu như ý nầy là một trong bảy báu. Bảo châu nầy từ đâu mà có ? là trực tiếp từ hư không rơi xuống. Vì chuyển luân Thánh vương, thuở xưa tại nhân địa thì tu phước tu huệ, phước huệ đầy đủ, cho nên đời nầy đầy đủ ba mươi hai tướng, đủ thứ sự trang nghiêm. Nếu chẳng làm chuyển luân Thánh vương thì sẽ thành Phật làm tổ. Ðức Phật Thích Ca từ bỏ ngôi vị chuyển luân Thánh vương, vào nuí tuyết tu hành, mới chứng đắc Phật quả vô thượng chánh đẳng chánh giác. Lúc vua chuyển luân vương quán đảnh (kế thừa ngôi vua, dùng nước bốn biển để quán đảnh, cử hành nghi thức), thì tự nhiên từ hư không rơi xuống bảy báu, làm đồ lễ mừng. Châu như ý là một trong bảy báu. Gián tiếp là quả tim của chim đại bàng cánh vàng. Khi chim đại bàng cảnh vàng chết, thì thịt và cốt đều tán hoại, chỉ có quả tim của nó còn nguyên vẹn, ánh sáng rực rỡ. Rồng lấy được hạt châu nầy giữ gìn thì phá được ngàn năm tối. Vua chuyển luân đắc được gọi là châu như ý, hay cứu được tất cả nạn. Hạt châu nầy ai ai cũng đều có, tức là diệu minh châu tâm, bất quá mọi người chẳng dùng được mà thôi.

Từ bi hỷ xả bốn vô lượng tâm cũng như thế, hay ban cho Bồ Tát tất cả sự khoái lạc. Phàm là người có giác ngộ mà còn muốn trợ giúp người khác, tức là Bồ Tát. Người chẳng có giác ngộ mà trợ giúp người khác, tức là hành Bồ Tát đạo, chưa phải là Bồ Tát. Bồ Tát có thể ba ngàn ngày chẳng ăn cơm, ai có thể làm được thì người đó là Bồ Tát. Làm Bồ Tát phải trải qua sự thử thách, mới có tư cách làm Bồ Tát, chứ chẳng phải tùy tùy tiện tiện thì có thể làm Bồ Tát được. Chẳng phải nói, thọ Bồ Tát rồi, tức là Bồ Tát. Ðây bất quá là bước đầu tiên, bắt đầu hướng về con đường Bồ Tát mà thôi.

 

Nhĩ thời, Văn-thù-sư-lợi Bồ Tát vấn Hiền Thủ Bồ Tát ngôn: Phật tử! chư Phật Thế tôn, duy dĩ nhất đạo, nhi đắc xuất ly. vân hà kim kiến nhất thiết Phật thổ, sở hữu chúng sự, chủng chủng bất đồng? sở vị: thế giới, chúng sanh giới, thuyết Pháp điều phục, thọ lượng, quang minh, thần thông, chúng hội, giáo nghi, Pháp trụ, các hữu sái biệt. vô hữu bất cụ nhất thiết Phật Pháp, nhi thành A-nậu-đa-la tam-miệu-tam Bồ-đề giả.

Bấy giờ, Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi hỏi Bồ Tát Hiền Thủ rằng : Phật tử ! Các đức Phật Thế Tôn, chỉ dùng một thừa mà được giải thoát. Tại sao nay thấy tất cả cõi Phật, có đủ thứ sự khác nhau, nào là thế giới, chúng sinh giới, thuyết pháp, điều phục, thọ lượng, quang minh, thần thông, chúng hội, giáo nghĩa, pháp trụ thế, đều khác nhau. Không có vị nào không đủ tất cả Phật pháp, mà thành tựu Vô thượng chánh đẳng chánh giác.

Giảng: Sau khi Bồ Tát Trí Thủ nói bài kệ xong rồi, thì lúc đó, Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi hướng về Bồ Tát Hiền Thủ thỉnh pháp, hỏi rằng : “Phật tử ! Mười phương ba đời tất cả chư Phật Thế Tôn, đều dùng một thừa pháp (Phật thừa) mà được thoát khỏi ba cõi, tại sao hiện tại thấy tất cả cõi Phật, tất cả sự việc đều khác nhau ? Ðây là đạo lý gì ? Xin Ngài hãy từ bi khai thị.

Nào là thế giới có đủ thứ khác nhau, có thế giới ô nhiễm, giống như thế giới Ta Bà, lại có đời ác năm trược. Có thế giới thanh tịnh, như thế giới Cực Lạc. Cõi Phật có lớn có nhỏ. Sở y sơn hà đại địa nhà cửa phòng ốc, y báo thọ báo cũng chẳng giống nhau. Có cái hình tròn, có cái hình vuông. Có thế giới dùng vàng làm đất, có cõi nước dùng đất đá làm đất. Có thế giới thành tựu bằng hoa sen, có thế giới thành tựu bằng lưu ly. Mỗi đạo tràng của mỗi vị Phật, có đủ thứ sự trang nghiêm khác nhau. Có thế giới thì thanh tịnh, có thế giới thì dơ dáy. Có thế giới có Phật ra đời, có thế giới chẳng có Phật ra đời. Có thế giới là kiếp trụ, có thế giới thời gian rất dài. Có thế giới là kiếp chuyển biến, có đủ thứ sự khác nhau.

Ở trong chúng sinh giới lại có đủ thứ chúng sinh, cũng đều khác nhau. Phật thuyết pháp để điều phục chúng sinh, cũng có đủ thứ khác nhau. Thọ lượng của Phật có dài, có ngắn. Giống như Phật Nguyệt Diện. Sau khi thành Phật rồi, trong một ngày đêm bèn vào Niết Bàn. Phật Tu Phiến Ða, sáng sớm thành Phật, thì buổi tối vào Niết Bàn. Phật Phạm Thanh, tuổi thọ là mười ức tuổi. Phật A Di Ðà có tuổi thọ vô lượng vô biên A Tăng Kỳ Kiếp. Quang minh của Phật cũng khác nhau, thần thông cũng khác nhau, chúng hội cũng khác nhau, nghĩa thức thuyết giáo cũng khác nhau, pháp trụ thế cũng khác nhau. Mỗi thứ đều có tướng khác nhau. Song, chẳng có vị Phật nào chẳng đầy đủ lục độ vạn hạnh tất cả Phật pháp mà thành vô thượng chánh đẳng chánh giác.

Các vị ! Các vị có biết công dụng của lục độ chăng ? Bố thí độ xan tham, trì giới độ huỷ phạm, nhẫn nhục độ sân hận, tinh tấn độ giải đãi, thiền định độ tán loạn, trí huệ độ ngu si. Phải biết có trí huệ rồi, thì lập tức tiêu diệt ngu si. Chúng ta học Phật pháp tức là học trí huệ. Trí huệ tức là chánh tri chánh kiến, ngu si tức là tà tri tà kiến. Phật pháp là chánh tri chánh kiến, ngoại đạo là tà tri tà kiến. Thiện tri thức là chánh tri chánh kiến, ác tri thức là tà tri tà kiến. Phàm là dạy bạn chịu thiệt thòi tức là thiện tri thức; dạy bạn chiếm tiện nghi tức là ác tri thức. Hy vọng mọi người gần gũi bậc thiện tri thức, xa lìa bậc ác tri thức.

 

Thời, Hiền Thủ Bồ Tát dĩ tụng đáp viết:

Bấy giờ, Bồ Tát Hiền Thủ dùng kệ đáp rằng.

Giảng: Lúc đó, vị đại Bồ Tát Hiền Thủ dùng bài kệ để trả lời những vấn đề Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi hỏi:

 

Văn Thù Pháp thường Nhĩ                        Văn Thù pháp thường vậy
Pháp vương duy nhất pháp,                       Pháp Vương chỉ một pháp
Nhất thiết vô ngại nhân,                             Tất cả bậc Vô Ngại
Nhất đạo xuất sanh tử.                               Một thừa dứt sinh tử.

Bồ Tát Hiền Thủ nói : “Ðại Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi ! Phật pháp thường thường là như vậy. Pháp Vương (Phật) đều dùng một thừa pháp mà thành tựu Phật quả. Tất cả hiền Thánh nhân (Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát) chẳng có chướng ngại, các Ngài đều dùng một thừa pháp để liễu sinh thoát tử, thoát khỏi luân hồi ba cõi”.

 

Nhất thiết chư Phật thân                            Thân tất cả chư Phật
Duy thị nhất Pháp thân                              Chỉ là một pháp thân
Nhất tâm nhất trí tuệ,                                 Một tâm một trí huệ
Lực vô úy diệc nhiên.                                  Sức vô uý cũng vậy.

Thân tướng của mười phương ba đời tất cả chư Phật, tuy nhiên là vô lượng, nhưng pháp thân là một, do đó:
“Mười phương Phật ba đời
Đều cùng một pháp thân”.

Một pháp thân là tận hư không, khắp pháp giới. Pháp thân của mỗi vị Phật, tuy đầy khắp pháp giới, nhưng hổ tương chẳng chướng ngại. Phật tâm giống nhau, Phật trí giống nhau, do đó : “Phật Phật đạo đồng”. Mười lực và bốn vô sở uý của chư Phật cũng đều như thế, chẳng có gì khác biệt.

Mười lực tức là :

  1. Trí lực biết xứ phi xứ.
  2. Trí lực biết nghiệp báo ba đời.
  3. Trí lực biết các thiền giải thoát tam muội.
  4. Trí lực biết các căn thắng liệt.
  5. Trí lực biết đủ thứ giải.
  6. Trí lực biết đủ thứ giới.
  7. Trí lực biết tất cả chí xứ đạo.
  8. Trí lực biết thiên nhãn vô ngại.
  9. Trí lực biết vũ trụ vô lậu.
  10. Trí lực biết vĩnh đoạn tập khí.

 

Bốn vô sở uý :

  1. Nhất thiết trí vô sở uý.
  2. Lậu tận vô sở uý.
  3. Thuyết chướng đạo vô sở uý.
  4. Thuyết tận khổ đạo vô sở uý.

Như bổn thú Bồ-đề,                                    Như gốc hướng bồ đề
Sở hữu hồi hướng tâm,                               Hết thảy tâm hồi hướng
Đắc như thị sát độ,                                      Được cõi nước như vậy
Chúng hội cập thuyết Pháp.                       Chúng hội và thuyết pháp.

Giống như Phật ở tại nhân địa phát tâm bồ đề, hướng về Bồ Ðề. Khi hành Bồ Tát đạo, thì đem tất cả công đức hồi hướng cho pháp giới chúng sinh. Phát tâm bồ đề gì thì tương lai sẽ đắc được cõi nước đó. Tất cả chư Phật thuở quá khứ cũng pháp tâm bồ đề, sau đó phát đủ thứ nguyện, vì chúng sinh hồi hướng. Ví như Phật A Di Ðà phát bốn mươi tám đại nguyện, nguyện thế giới của Ngài chẳng có các thứ khổ, chỉ hưởng các thứ vui. Nguyện mười phương thế giới chúng sinh, đều sinh về cõi nước của Ngài. Ðây đều là tại nhân địa phát nguyện, mới đắc được pháp hội thuyết pháp như vậy.

 

Nhất thiết chư Phật sát                               Tất cả các cõi Phật
Trang nghiêm tất viên mãn,                        Trang nghiêm đều viên mãn
Tùy chúng sanh hành dị,                             Tùy chúng sinh tu khác
Như thị kiến bất đồng.                                Như vậy thấy khác nhau.

Hết thảy tất cả cõi nước chư Phật, đều rất trang nghiêm viên mãn, mà còn sáng lạng. Tùy theo chúng sinh tu hành pháp môn khác nhau, nên cảnh giới thấy cũng chẳng giống nhau. Bổn lai cảnh giới của Phật chẳng có khác biệt, vì tâm chúng sinh khác nhau, nên thấy cũng khác nhau.

 

Phật sát dữ Phật thân                                Cõi Phật và thân Phật
Chúng hội cập ngôn thuyết,                        Chúng hội và lời nói
Như thị chư Phật Pháp                               Các Phật pháp như vậy
Chúng sanh mạc năng kiến.                        Chúng sinh chẳng thấy được.

Cõi nước Phật, chúng sinh nhìn đều thấy cảnh giới khác nhau, song, bổn thể cõi Phật đều như nhau. Pháp thân của Phật, chúng sinh hoàn toàn không thể thấy được, tức là chúng hội thuyết pháp và tất cả lời nói, như vậy đủ thứ Phật pháp khác nhau, chúng sinh không thể thấu hiểu được.

 

Kỳ tâm dĩ thanh tịnh                                  Khi tâm đã thanh tịnh
Chư nguyện giai cụ túc,                              Các nguyện đều đầy đủ
Như thị minh đạt nhân                               Người thấu suốt như vậy
Ư thử nãi năng đổ.                                      Mới thấy được nơi đây.

Trừ khi tâm chúng sinh đã thanh tịnh, chẳng còn vọng tưởng, chẳng còn phiền não. Tại nhân địa phát đủ thứ nguyện lực, và tu hành đủ thứ pháp môn, đều đầy đủ viên mãn. Người tâm thanh tịnh như thế, nguyện cũng đầy đủ, mới có đại trí huệ thông đạt vô ngại. Ðối với cõi nước và cảnh giới của Phật, cùng với sự thuyết pháp giáo hóa chúng sinh, tất cả lời nói tam muội, mới minh bạch được, mới thấy được Phật.

 

Tùy chúng sanh tâm lạc                              Tùy tâm chúng sinh thích
Cập dĩ nghiệp quả lực,                                Và nhờ sức nghiệp quả
Như thị kiến sái biệt,                                  Thấy khác nhau như vậy
Thử Phật uy thần cố.                                   Do oai thần của Phật.

Phật quán sát tất cả nhân duyên, để giáo hóa chúng sinh. Tùy theo tâm ưa thích của chúng sinh, mà nói pháp chúng sinh hoan hỉ. Do đó có câu:
«Muốn khiến vào Phật trí
Trước dùng câu dục móc”.

Muốn khiến cho người đắc được trí huệ của Phật, thì trước hết phải tùy thuận ý muốn trong tâm của chúng sinh để giáo hóa, từ từ khiến cho họ vào sâu Tạng Kinh, mà đắc được trí huệ như biển. Tuy nhiên tùy theo tâm chúng sinh ưa thích, nhưng phải quán sát sức nghiệp quả báo ứng của chúng sinh, họ căn tánh gì, thì nói pháp đó. Do đó: “Vì người nói pháp”. Chúng sinh khác nhau, thấy cảnh giới khác nhau, đây là do đại oai thần lực của Phật.

 

Phật sát vô phân biệt,                                Cõi Phật chẳng phân biệt
Vô tăng vô hữu ái,                                       Chẳng ghét cũng chẳng thương
Đãn tùy chúng sanh tâm,                            Chỉ tùy tâm chúng sinh
Như thị kiến hữu thù.                                 Thấy đặc thù như vậy.

Cõi nước của mười phương ba đời tất cả chư Phật, vốn chẳng có phân biệt, ở trong cõi nước chư Phật, chẳng có tâm ghét hận, cũng chẳng có tâm luyến ái, chỉ tùy theo tâm chúng sinh, nên thấy có đặc thù, đây là vì nghiệp quả khác nhau của chúng sinh, cho nên thấy cũng khác nhau.

 

Dĩ thị ư thế giới                                           Do đó nơi thế giới
Sở kiến các sái biệt,                                    Chỗ thấy đều khác nhau
Phi nhất thiết Như Lai,                              Chẳng phải các Như Lai
Đại tiên chi quá cữu.                                   Bậc Đại Tiên có lỗi.

Ðủ thứ nhân duyên ở trên, ở trong tất cả thế giới, tất cả chúng sinh thấy đều khác nhau. Ðây chẳng phải là lỗi của tất cả các Như Lai và Ðại Tiên (Phật), cố ý để mê hoặc chúng sinh, mà là nghiệp lực của chúng sinh khác nhau, nên chỗ thấy khác nhau.

 

Nhất thiết chư thế giới,                               Tất cả các thế giới
Sở ưng thọ hóa giả,                                     Người đáng được giáo hóa
Thường kiến nhân trung hùng                    Được thấy Nhân Trung Hùng
Chư Phật Pháp như thị.                              Các Phật pháp như vậy.

Ở trong tất cả thế giới, hết thảy tất cả chúng sinh đáng được Phật giáo hóa, thì họ thường thường thấy được Nhân Trung Hùng (Phật), Phật là Ðại hùng đại lực đại từ bi, cho nên điện Phật (chánh điện) gọi là “Đại hùng bảo điện”. Pháp của chư Phật là như vậy.

 

Nhĩ thời, chư Bồ-tát vị Văn-thù-sư-lợi Bồ Tát ngôn: Phật tử !ngã đẳng sở giải, các tự thuyết dĩ. duy nguyện nhân giả, dĩ diệu biện tài, diễn sướng Như Lai sở hữu cảnh giới !hà đẳng thị Phật cảnh giới? hà đẳng thị Phật cảnh giới nhân? hà đẳng thị Phật cảnh giới độ? hà đẳng thị Phật cảnh giới nhập? hà đẳng thị Phật cảnh giới trí? hà đẳng thị Phật cảnh giới Pháp? hà đẳng thị Phật cảnh giới thuyết? hà đẳng thị Phật cảnh giới tri? hà đẳng thị Phật cảnh giới chứng? hà đẳng thị Phật cảnh giới hiện? hà đẳng thị Phật cảnh giới quảng

Bấy giờ, các Bồ Tát nói với Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi rằng: Phật tử ! Chúng tôi đã tự nói chỗ hiểu biết của mình rồi. Xin Ngài hãy dùng diệu biện tài, diễn nói hết thảy cảnh giới của Như Lai. Như thế nào là cảnh giới của Phật. Thế nào là nhân cảnh giới của Phật. Thế nào là độ cảnh giới của Phật. Thế nào là vào cảnh giới của Phật. Thế nào là trí cảnh giới của Phật. Thế nào là pháp cảnh giới của Phật. Thế nào là nói cảnh giới của Phật. Thế nào là biết cảnh giới của Phật. Thế nào là chứng cảnh giới của Phật. Thế nào hiện cảnh giới của Phật. Thế nào là sự rộng lớn cảnh giới của Phật ?

Giảng: Sau khi Bồ Tát Hiền Thủ nói bài kệ rồi, thì lúc đó, chín vị đại Bồ Tát cùng lúc hướng về Bố Tát Văn Thù Sư Lợi hỏi rằng : “Phật tử ! Chúng tôi đã nói xong đạo lý mà chúng tôi hiểu biết. Hy vọng Ngài dùng bốn diệu biện tài vô ngại (từ vô ngại biện, pháp vô ngại biện, nghĩa vô ngại biện, lạc thuyết vô ngại biện), để vì chúng tôi mọi người diễn nói tỉ mỉ hết thảy cảnh giới của Như Lai. Cảnh giới của Phật là gì ? Làm thế nào đắc được cảnh giới của Phật»?

Trong bổn Kinh có nói :
“Nếu ai muốn biết cảnh giới Phật
Hãy tịnh ý minh như hư không”.

Khi ý niệm của bạn thanh tịnh, chẳng còn tham sân si, chẳng còn cuồng tâm dã tánh, chẳng còn cống cao ngã mạn, chẳng còn đố kị chướng ngại, đủ thứ phiền não, đủ thứ vọng tưởng, đều hoàn toàn thanh tịnh, thì giống như hư không. Lúc đó sẽ minh bạch thế nào là cảnh giới của Phật.

Bồ Tát Giác Thủ, Tài Thủ, Bảo Thủ, Ðức Thủ, Mục Thủ, Cần Thủ, Pháp Thủ, Trí Thủ, Hiền Thủ, chín vị đại Bồ Tát nầy, cùng hướng về Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi, đề ra mười vấn đề.

  1. Cảnh giới gì là nhân tu cảnh giới Phật ? Tu nhân gì mới chứng được cảnh giới của Phật.
  2. Cảnh giới gì là cảnh giới độ hóa chúng sinh ? Dùng phương thức gì để khiến tất cả chúng sinh được độ ?
  3. Cảnh giới gì vào được trong cảnh giới của Phật ?
  4. Tu pháp môn gì ? Tu cảnh giới gì ? Mới đắc được trí huệ của Phật ?
  5. Cảnh giới gì là cảnh giới Phật nói phương pháp thành Phật ? Pháp môn gì là pháp môn phương tiện thành Phật ? Chúng ta người tu đạo, cần phải biết diệu pháp nầy.
  6. Cảnh giới gì là cảnh giới Phật diễn nói diệu pháp ? Phật dùng lời lẽ văn tự gì để nói pháp ?
  7. Cảnh giới gì là biết cảnh giới của Phật ?
  8. Cảnh giới gì là cảnh giới chứng của Phật ? Tu pháp gì mới chứng được cảnh giới của Phật ?
  9. Cảnh giới gì là cảnh giới Phật hiện ? Ở trong cảnh giới gì Phật thị hiện ?
  10. Cảnh giới gì là cảnh giới rộng lớn của Phật ? Cảnh giới rộng lớn của Phật như thế nào?

Mười câu hỏi ở trên đều cần phải minh bạch. Trước hết phải thấu rõ biết những cảnh giới nầy, sau đó y chiếu những phương pháp nầy để tu cảnh giới của Phật. Những vấn đề nầy là chín vị đại Bồ Tát phát tâm từ bi, thương xót chúng sinh ngu si, chẳng biết tu hành như thế nào ? Cho nên thay thế chúng sinh để hỏi Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi. Ðây là vấn đáp đề võng khế lãnh, chúng ta phải tụ tinh hội thần để nghe, đừng cô phụ các đại Bồ Tát một phiến tâm từ.

 

Thời, Văn-thù-sư-lợi Bồ Tát dĩ tụng đáp viết:

Bấy giờ, Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi dùng kệ đáp rằng :

Giảng: Ở trước là chín vị đại Bồ Tát dùng kệ để trả lời những vấn đề Bồ Tát Văn Thù hỏi. Bây giờ là Bồ Tát Văn Thù dùng kệ để trả lời những vấn đề chín vị đại Bồ Tát hỏi.

 

Như Lai thâm cảnh giới,                            Cảnh giới Như Lai sâu
Kỳ lượng đẳng hư không,                           Lượng đồng như hư không
Nhất thiết chúng sanh nhập,                      Tất cả chúng sinh vào
Nhi thật vô sở nhập.                                   Mà thật chẳng chỗ vào.

Giải thích hai chữ Như Lai : Ở trong Kinh Kim Cang có nói :
«Bậc Như Lai, chẳng từ đâu đến,
Cũng chẳng chỗ đi, nên gọi Như Lai”.

Còn có lối giải thích khác là :
«Thừa đạo như thật, lai thành chánh giác”.

Như, tức là ý nghĩa như như bất động. Lai, tức là phương pháp liễu liễu thường minh. Cảnh giới của Như Lai sâu, chẳng cách chi so sánh sự sâu đó, rộng, chẳng cách chi so sánh sự rộng đó; tức cũng là tận hư không khắp pháp giới, bao la vạn tượng, chẳng gì mà không có. Bất cứ cảnh giới gì, cũng đều là cảnh giới của Như Lai, cho nên gọi là cảnh giới sâu, còn gọi là cảnh giới rộng, nghĩa là cảnh giới viên dung vô ngại.

Cảnh giới của Như Lai là dọc cùng tam tế, ngang khắp mười phương, lượng đồng như hư không. Hết thảy chúng sinh đều ở trong cảnh giới Như Lai, chẳng có ra ngoài cảnh giới của Như Lai. Vì chẳng ra vào, cho nên nói mà thật chẳng chỗ vào. Thật thật tại tại chẳng có một chúng sinh nào ra khỏi cảnh giới của Như Lai, bổn lai đều ở trong hư không. Ðây là trả lời về cảnh giới rộng.

 

Như Lai thâm cảnh giới,                            Cảnh giới Như Lai sâu
Sở hữu thắng diệu nhân,                            Hết thảy nhân thắng diệu
Ức kiếp thường tuyên thuyết,                     Ức kiếp thường diễn nói
Diệc phục bất năng tận.                              Cũng nói chẳng hết được.

Nhân cảnh giới của Phật là không thể nghĩ bàn, rất đặc biệt thù thắng, vì có nhân thù thắng vi diệu, cho nên trong thời gian ức kiếp, luôn luôn diễn nói cảnh giới Như Lai. Nhân thắng diệu nầy, trải qua bao nhiêu cũng chẳng dễ gì diễn nói hết được. Ðây là trả lời về nhân cảnh giới.

 

Tùy kỳ tâm trí tuệ                                        Tùy theo tâm trí huệ
Dụ tấn hàm lệnh ích                                   Khuyên tấn đều lợi ích
Như thị độ chúng sanh,                              Độ chúng sinh như vậy
Chư Phật chi cảnh giới.                              Là cảnh giới chư Phật.

Tùy thuận theo tất cả tâm chúng sinh, hoặc có trí huệ, hoặc chẳng có trí huệ, chẳng màng là trí huệ, hay là ngu si, Phật đều dùng đủ thứ phương pháp để dụ đạo, khiến cho chúng sinh hướng về Phật đạo mà đắc được lợi ích. Ðộ đủ loài chúng sinh, phải dùng phương pháp khác nhau để giáo hóa, giống như ở trước nói đủ thứ đạo lý, đủ thứ pháp môn phương tiện, để độ chúng sinh khác nhau, đây tức là cảnh giới của mười phương ba đời tất cả chư Phật. Ðây là trả lời về độ cảnh giới.

Chúng sinh đều có Phật tánh, cũng có vô minh. Chúng sinh vô minh nặng, thì trí huệ ít một chút; chúng sinh vô minh nhẹ, thì trí huệ nhiều một chút, chúng sinh ít trí huệ, thì phiền não nhiều; chúng sinh nhiều trí huệ, thì phiền não ít. Trí huệ và phiền não là ví dụ ngược nhau. Vì chúng sinh nhiều loài, tư tưởng khác nhau, nên trí huệ cũng khác nhau.

 

Thế gian chư quốc độ,                                 Thế gian các cõi nước
Nhất thiết giai tùy nhập,                             Tất cả đều tùy vào
Trí thân vô hữu sắc,                                    Trí thân chẳng có sắc
Phi bỉ sở năng kiến.                                    Họ chẳng thể thấy được.

Hết thảy thế gian tất cả cõi nước chư Phật, bất luận thế giới nào, chư Phật đều tùy thuận tâm chúng sinh mà vào thế giới đó. Chư Phật dùng trí huệ mà vào, thân trí huệ chẳng có sắc tướng, cho nên phàm phu chẳng nhìn thấy Phật. Cứu kính thì làm thế nào vào thế gian ? Lại làm thế nào ra khỏi thế giới ? Người chẳng có ngũ nhãn lục thông chẳng biết được. Ðây là trả lời vào cảnh giới.

 

Chư Phật trí tự tại,                                     Chư Phật trí tự tại
Tam thế vô sở ngại,                                     Ba đời chẳng chướng ngại
Như thị tuệ cảnh giới,                                 Cảnh giới huệ như vậy
Bình đẳng như hư không.                           Bình đẳng như hư không.

Trí huệ của chư Phật là đại viên cảnh trí, bình đẳng tánh trí, diệu quán sát trí, thành sở tác trí. Bốn trí của chư Phật là tự tại vô ngại. Quá khứ, hiện tại, vị lai, ba đời đều chẳng có chướng ngại. Dùng trí huệ đó, để bình đẳng giáo hóa chúng sinh, do như hư không, không hình không tướng mà đầy khắp mọi nơi, đây là trả lời trí cảnh giới.

 

Pháp giới chúng sanh giới,                        Pháp giới chúng sinh giới
Cứu cánh vô sái biệt,                                  Cứu kính chẳng khác biệt
Nhất thiết tất liễu tri,                                  Tất cả đều biết rõ
Thử thị Như Lai cảnh.                                Đây là cảnh Như Lai.

Pháp giới là lý, chúng sinh giới là sự. Vì y lý thành sự, chân lý tức là sự, cho nên chẳng khác biệt, nhưng vẫn phải biết nó là cảnh giới khác nhau. Ðây chẳng phải dùng tâm tâm phân biệt để biết được, vì đây là cảnh giới của Phật. Cho nên phàm phu chẳng có cách chi dò được, chẳng cách chi lường được, chẳng có các chi biết được. Cảnh giới của Phật, giống như Đại viên cảnh, thanh tịnh quang minh, một hạt bụi cũng không nhiễm, chiếu soi các pháp thật tướng. Sự đến thì ứng, sự đi thì tịnh, nghĩa là cảnh giới đến thì hiện ra tướng; cảnh giới đi thì tất cả đều chẳng có gì cả. Không thể dùng tâm phân biệt để phân biệt, đây mới là trí huệ chân chánh. Tóm lại, trí huệ chân chánh thì chẳng có phân biệt. Ðây là trả lời pháp cảnh giới.

 

Nhất thiết thế gian trung,                           Trong tất cả thế gian
Sở hữu chư âm thanh,                                Hết thảy các âm thanh
Phật trí giai tùy liễu,                                  Phật trí đều tùy rõ
Diệc vô hữu phân biệt.                                Cũng chẳng có phân biệt.

Trong hết thảy tất cả thế gian, hết thảy tất cả âm thanh của chúng sinh, Phật dùng trí huệ của Ngài, thì tùy thời đều có thể thấu rõ. Tuy nhiên thấu rõ, nhưng chẳng phải dùng tâm phân biệt. Ở trong bổn Kinh Phẩm Hiền Thủ có nói : “Hay khiến ba cõi hết thảy tiếng người nghe, đều là tiếng Như Lai”. Ðây là trả lời nói cảnh giới.

Chẳng phải tâm thức phân biệt có thể phân biệt được cảnh giới nầy, cũng chẳng phải dùng tư tưởng của tâm và sự suy lường để biết cảnh giới nầy. Bản tánh trí huệ vốn thanh tịnh. Phật thì dùng bản tánh trí huệ, thanh tịnh để khai thị chân thật pháp thể của chúng sinh. Nghĩa là khai trừ hoặc chướng của chúng sinh, hiển thị chân lý của chúng sinh, khiến cho chúng sinh ngộ vào thật thể của pháp, mà chứng đắc trí huệ thanh tịnh của tự tánh. Ðây là trả lời biết cảnh giới.

 

Phi thức sở năng thức,                               Chẳng phải thức biết được
Diệc phi tâm cảnh giới,                               Chẳng phải tâm cảnh-giới
Kỳ tánh bổn thanh tịnh,                             Tánh đó vốn thanh-tịnh
Khai thị chư quần sanh.                             Khai-thị các quần-sanh.

Phi nghiệp phi phiền não,                          Chẳng nghiệp chẳng phiền não
Vô vật vô trụ xứ,                                         Không vật không chỗ trụ
Vô chiếu vô sở hành,                                   Không chiếu không chỗ hành
Bình đẳng hành thế gian.                           Bình đẳng hành thế gian.

Tánh nghiệp vốn không, cho nên nói chẳng nghiệp. Phiền não cũng chẳng có tự tánh, cho nên nói chẳng phiền não. Do đó mới nói không vật không chỗ trụ. Lục Tổ Huệ Năng nói :
“Bổn lai chẳng một vật
Chỗ nào dính bụi bặm”?

Cũng chẳng chiếu, cũng chẳng có chỗ hành. Trí huệ của Phật bình đẳng hành nơi tất cả thế gian. Ðây là trả lời chứng pháp giới.

 

Nhất thiết chúng sanh tâm,                        Tất cả tâm chúng sinh
Phổ tại tam thế trung,                                Khắp ở trong ba đời
Như Lai ư nhất niệm,                                 Như Lai nơi một niệm
Nhất thiết tất minh đạt.                              Tất cả đều thấu rõ.

Hết thảy tất cả tâm chúng sinh, phổ khắp ở trong trí huệ của chư Phật ba đời. Như Lai ở trong một niệm, chẳng dùng tâm phân biệt mà thấu rõ tất cả tâm niệm của hết thảy chúng sinh. Giống như tấm gương chiếu vật, sáng suốt sạch sẽ. Trong bổn Kinh Phẩm Xuất Hiện có nói : “Bồ đề hiện khắp các tâm hành”, tức là đạo lý nầy. Ðây là trả lời hiện cảnh giới.

 

Nhĩ thời, thử Ta Bà thế giới trung, nhất thiết chúng sanh sở hữu Pháp sái biệt, nghiệp sái biệt, thế gian sái biệt, thân sái biệt, căn sái biệt, thọ sanh sái biệt, trì giới quả sái biệt, phạm giới quả sái biệt, quốc độ quả sái biệt, dĩ Phật thần lực, tất giai minh hiện.

Bấy giờ, ở trong thế giới Ta Bà nầy, tất cả chúng sinh, hết thảy pháp khác biệt, nghiệp khác biệt, thế giới khác biệt, thân khác biệt, căn tánh khác biệt, thọ sinh khác biệt, quả trì giới khác biệt, quả phạm giới khác biệt, quả cõi nước khác biệt. Nhờ thần lực của Phật, thảy đều hiện rõ.

Giảng: Sau khi Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi dùng bài kệ trả lời những vấn đề của chín vị đại Bồ Tát hỏi rồi, thì lúc đó, ở trong thế giới Ta Bà nầy, hết thảy loài chúng sinh, hết thảy pháp khác nhau, sự thọ nghiệp báu khác nhau, sự trụ y báu khác nhau, sở đắc chánh báo khác nhau, hết thảy căn tánh khác nhau, sở thọ sinh cũng khác nhau. Chúng sinh giữ năm giới tu thập thiện, sở đắc quả báo khác nhau. Chúng sinh phạm năm giới tu thập ác, đắc được quả báo cũng khác nhau. Quả báo cõi nước cũng khác nhau. Ðều nhờ đại oai thần lực của Phật, thảy đều hiển hiện rõ ràng những cảnh giới vừa nói ở trên.

Thần thông là gì ? Thần là thiên tánh, là tánh tự nhiên. Thông là huệ tánh, tánh trí huệ. Tánh nầy chẳng biết mà biết, không thể mà có thể, chẳng thấy mà thấy, chẳng nghe mà nghe. Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, sáu căn sử dụng với nhau, đây tức là thần thông. Thấy, nghe, ngửi, nếm, giác, tri, sáu tánh sử dụng với nhau, đây tức là thần thông.

 

Như thị, Đông phương bách thiên ức na-do-tha vô số vô lượng, vô biên vô đẳng, bất khả số, bất khả xưng, bất khả tư, bất khả lượng, bất khả thuyết, tận Pháp giới, hư không giới, nhất thiết thế giới trung, sở hữu chúng sanh pháp sái biệt, nãi chí quốc độ quả sái biệt, tất dĩ Phật thần lực cố, phân minh hiển hiện. Nam, Tây, Bắc phương, tứ duy, thượng, hạ, diệc phục như thị.

Như vậy phương đông trăm ngàn ức Na do tha, vô số, vô lượng, vô biên, vô đẳng, không thể tánh, không thể đếm, không thể nghĩ, không thể lường, không thể nói, tận pháp giới hư không giới, trong tất cả thế giới, hết thảy pháp chúng sinh khác nhau, cho đến quả cõi nước khác nhau, đều nhờ thần lực của Phật, hiển hiện rõ ràng. Phương nam, tây, bắc, bốn hướng trên dưới, cũng lại như vậy.

Giảng: Giống như ở phương đông trăm ngàn ức Na do tha, chẳng thể tính đếm, chẳng thể suy lường. Không thể tính được nó có bao nhiêu ? Không thể đếm được nó có bao nhiêu ? Không thể suy nghĩ, không thể độ lượng, không thể nói được. Ở phương đông có bao nhiêu ? Nhiều tận hư không khắp pháp giới. Trong tất cả thế giới, hết thảy pháp sở hành của chúng sinh khác nhau, cho đến quả báo nhiễm tịnh cũng khác nhau, đều nhờ thần thông diệu dụng của Phật mà hiển hiện ra rất rõ ràng. Chẳng những ở phương đông là như thế, mà phương nam, phương tây, phương bắc phương đông bắc, phương đông nam, phương tây nam, phương tây bắc, phương trên, phương dưới. Chín phương đó, cũng đều hiển hiện ra như thế.