Kinh Viên Giác – Chương Phổ Giác

Kinh Văn: Ư thị Phổ Giác Bồ-tát tại đại chúng trung, tức tùng tòa khởi, đảnh lễ Phật túc hữu nhiễu tam táp, trường quỳ xoa thủ nhi bạch Phật ngôn:

Đại bi Thế Tôn, khoái thuyết thiền bệnh, linh chư đại chúng đắc vị tằng hữu, tâm ý đãng nhiên, hoạch đại an ẩån. Thế Tôn, mạt thế chúng sanh khứ Phật tiệm viễn, hiền thánh ẩn phục tà pháp tăng xí, sử chư chúng sanh, cầu hà đẳng nhân, y hà đẳng pháp, hành hà đẳng hạnh, trừ khử hà bệnh, vân hà phát tâm, linh bỉ quần manh bất đọa tà kiến.

Tác thị ngữ dĩ, ngũ thể đầu địa, như thị tam thỉnh chung nhi phục thủy.

Việt Văn: Khi ấy Phổ Giác Bồ Tát ở trong đại chúng từ chỗ ngồi đứng dậy, đi nhiễu quanh Phật ba vòng, đảnh lễ chân phật, chấp tay quỳ gối bạch Phật rằng:

-Đại bi Thế Tôn! Đã thuyết rõ những thiền bệnh, khiến đại chúng trong hội được pháp chưa từng có, tẩy sạch nghi ngờ trong tâm ý, được đại yên ổn.

Bạch Thế Tôn! chúng sanh đời mạt pháp xa dần đời Phật, bậc thánh hiền ẩn dật, tà pháp lại thịnh thêm. Vậy chúng sanh muốn tu hành phải cầu người thế nào, nương theo pháp nào, hành theo hạnh nào, trừ bỏ bệnh gì, phát tâm như thế nào khiến cho chúng sanh mê muội khỏi đoạ tà kiến?

Ngài Phổ Giác Bồ Tát nói xong, năm vóc gieo sát đất, đảnh lễ thưa thỉnh ba lần như vậy.

Giảng: Chữ “Phổ Giác” là giác ngộ cùng khắp. Trên đường tu hành, hành giả phải gặp nhiều chướng ngại. Những chướng ngại ấy đều do chấp bốn tướng mà sanh ra. Bởi thế nên chương thứ 9, Ngài Tịnh Chư Nghiệp Chướng Bồ Tát đứng thưa hỏi, để Phật chỉ bày bốn tướng cho hành giả biết rõ đặng trừ. Khi bốn tướng trừ hết rồi thời các nghiệp chướng được thanh tịnh.
Song trên đường tu hành, hành giả còn bị mây Vô minh rất vi tế, tức là bốn bịnh sau này che mặt trăng Viên Giác của hành giả, làm cho trăng Viên Giác chiếu soi không được phổ biến.
Vì thế nên đến chương thứ 10 này, Ngài Phổ Giác Bồ Tát đứng lên thưa hỏi, cầu Phật chỉ dạy thêm, để cho hành giả hiểu biết, đặng dẹp trừ hết mây Vô minh, thời trăng Viên Giác kia mới được chiếu soi phổ biến.
Tóm lại, đoạn này có 3 phần:
1. Trước Ngài Phổ Giác tán thán Phật đã chỉ rõ những chứng bịnh của thiền giả là bốn tướng vừa nói trên, để chúng sanh biết bịnh đặng trừ, sẽ được an ổn.
2. Ngài Phổ Giác Bồ Tát thương xót chúng sanh đời sau cách Phật xa pháp, các vị Hiền Thánh thì ở ẩn, ngoại đạo tà sư lại thạnh hành làm cho người tu hành dễ lạc vào tà kiến
3. Ngài Phổ Giác Bồ Tát, cầu Phật chỉ dạy 5 điều như sau:

  1. Hàng giả phải cầu ai làm minh sư để chỉ dẫn trên đường tu hành?
  2. Phải làm những hạnh gì?
  3. Phải trừ những bịnh gì?
  4. Phải àm sao để phát tâm?

  

Kinh Văn: Nhĩ thời Thế Tôn cáo Phổ Giác Bồ-tát ngôn:

Thiện tai, thiện tai! Thiện nam tử, nhữ đẳng nãi năng tư vấn Như Lai như thị tu hành, năng thí mạt thế nhất thiết chúng sanh vô úy đạo nhãn, linh bỉ chúng sanh đắc thành thánh đạo, nhữ kim đế thính, đương vị nhữ thuyết. Thời Phổ Giác Bồ-tát phụng giáo hoan hỷ, cập chư đại chúng mặc nhiên nhi thính.

Thiện nam tử, mạt thế chúng sanh tương phát đại tâm cầu thiện tri thức, dục tu hành giả, đương cầu nhất thiết chánh tri kiến nhân, tâm bất trụ tướng, bất trước Thanh văn Duyên giác cảnh giới, tuy hiện trần lao tâm hằng thanh tịnh, thị hữu chư quá tán thán phạm hạnh, bất linh chúng sanh nhập bất luật nghi, cầu như thị nhân, tức đắc thành tựu A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề.

Việt Văn: Bấy giờ Phật bảo Phổ Giác Bồ Tát rằng:

– Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử! Ngươi khéo hỏi Như Lai về sự tu hành như thế, hay bố thí đạo nhãn vô úy cho tất cả chúng sanh đời mạt pháp, khiến chúng sanh được thành thánh đạo. Nay ngươi hãy lắng nghe, ta sẽ vì ngươi mà thuyết. Khi ấy Phổ Giác Bồ Tát và tất cả đại chúng trong hội hoan hỷ vâng lời Phật dạy, im lặng mà nghe.

Thiện nam tử! chúng sanh đời mạt pháp ngươi muốn tu hành nên phát đại tâm cầu thiện tri thức, tức là phải cầu người có chánh tri kiến, chẳng chấp cảnh giới Thanh Văn Duyên Giác, tâm chẳng trụ tướng, dù hiện trần lao, tâm thường trong sạch, thị hiện có lỗi mà tán thán phạm hạnh (thanh tịnh hạnh), khiến chúng sanh thường giữ giới luật, cầu người như thế mới được thành tựu vô thượng chánh đẳng chánh giác.

Giảng: Đoạn này Phật khen Ngài Phổ Giác vì chúng sanh, cầu Phật chỉ dạy đường lối tu hành để cho chúng sanh đi thẳng đường đến nơi Thánh quả, không còn lo sợ đọa vào tà kiến.
“Mắt đạo không sợ”.  Đối với đạo hiểu biết được rõ ràng như con mắt thấy đường đi nên gọi là “con mắt đạo” (đạo nhãn). Trên đường tu hành không còn lo sợ đọa vào tà kiến, nên nói “không sợ” (vô úy).Đoạn này Phật trả lời câu hỏi thứ nhứt của Ngài Phổ Giác Bồ Tát hỏi: “Phải cầu những bực nào dạy bảo?”. – Đại ý Phật trả lời: Người tu hành muốn được thành quả Phật, phải đủ hai điều kiện:
1. Bên trong, hành giả phải phát tâm Đại thừa làm chánh nhơn.
2. Bên ngoài, phải nhờ các Thiện hữu tri thức, huớng dẫn đường lối tu hành làm chánh duyên. Nếu có nội nhơn mà thiếu ngoại duyên, hay có ngoại duyên mà thiếu nội nhơn đều không thành tựu.
Song, cầu Thiện hữu tri thức, phải là người “chánh tri kiến”.

Làm sao biết người “chánh tri kiến?”

Hành giả phải dùng hai phương diện thuận cảnh và nghịch cảnh sau đây quan sát, sẽ phân biệt được thế nào là “chánh tri kiến”
1. Thuận cảnh. – Vị Thiện tri thức này, tâm không trụ nơi phước báo của phàm phu ở cõi người hay cõi trời, vào cũng không trụ nơi phước báo của phàm phu ở cõi người hay cõi Trời, vào cũng không trụ nơi cảnh thanh nhàn yểm thế tu ích kỷ tiêu cực của Tiểu thừa là Thanh Văn và Duyên Giác.
2. Nghịch cảnh. – Vì Thiện hữu trí thức này, hiện thân ở trong cảnh nhiễm ô (trần lao) để hóa độ chúng sanh, mà tâm chẳng ô nhiễm, thật hành theo “đồng sự nhiếp” của Bồ Tát để hóa độ người.

Có khi vị này phải thị hiện làm việc lầm lỗi như người nhưng không bao giờ dùng lý luận miễn cưỡng để bào chữa lỗi mình, trái lại luôn luôn khen ngợi hạnh thanh tịnh và tự chỉ trích lỗi lầm của mình.
Ngài Như Sơn giải nghĩa chữ “Thiện tri thức” như vậy: Thiện là hay, khéo. Tri là biết bịnh. Thức là biết thuốc. Nghĩa là vị này có tài biết chơn vọng, tà chánh, biết tâm bịnh của chúng sanh, biết pháp dược của Phật để đối trị.
Kinh Văn: Mạt thế chúng sanh kiến như thị nhân ưng đương cúng dường bất tích thân mạng. Bỉ thiện tri thức, tứ oai nghi trung thường hiện thanh tịnh, nãi chí thị hiện chủng chủng quá hoạn tâm vô kiêu mạn, huống phục đoàn tài, thê tử quyến thuộc.

Nhược thiện nam tử, ư bỉ thiện hữu bất khởi ác niệm, tức năng cứu cánh thành tựuchánh giác, tâm hoa phát minh, chiếu thập phương sát.

Việt Văn: Chúng sanh đời mạt pháp gặp người như thế nên chẳng tiếc thân mạng mà phụng sự cúng dường . Thấy những thiện tri thức trong tứ oai nghi thường hiện các hạnh trong sạch ấy là thuận độ; hoặc gặp Bồ Tát nghịch độ, thị hiện đủ thứ tội lỗi mà tâm chẳng kiêu mạn, dù cho Bồ Tát ấy có vợ con quyến thuộc, giữ lấy tiền tài cũng chẳng sanh tâm khinh bỉ. Nếu Thiện nam tử đối với các thầy bạn kể trên chẳng khởi ác niệm thì được đến chỗ rốt ráo thành tựu Chánh Giác, nên bản tâm sáng tỏ chiếu khắp mười phương cõi Phật.

Giảng: Đại ý đoạn này Phật dạy: “y pháp bất y nhơn”. Trong Trí Độ Luận nói: “nếu vị Thiện tri thức kia, có thể giải thích các nghĩa lý sâu xa của Phật, dẫn dắt hành giả tu theo chánh Đạo, được lợi ích, thì hànhg giả phải hết lòng cung kính, như tôn kính Phật, chẳng nên nghĩ những việc lỗi lầm của Thiện hữu tri thức. Thí như cái đãy xấu đựng ngọc, chớ nên vì đãy xấu mà bỏ vật báu. Người có ghẻ lát cầm đuốc đưa hành giả qua con đường nguy hiểm trong lúc ban đêm, chớ nên chê người lát mà không dùng đuốc sáng. Người cầu đạo cũng thế: khi tìm được Thiện hữu tri thức có thể dẫn dắt hành giả đi trên đưòng tu hành, thì hành giả phải trước sau một lòng tôn kính. Khi Thiện tri thức giữ giới thanh tịnh, hành giả cung kính đã đành, mà khi Ngài vì chúng sanh thực hành theo hạnh “đồng sự nhiếp” của Bồ Tát, người cầu đạo không nên thấy thế mà sanh tâm chấp nhứt và khinh thường. Được như thế, mới chứng được Phật đạo.

 

Kinh Văn: Thiện nam tử, bỉ thiện tri thức sở chứng diệu pháp ưng ly tứ bệnh. Vân hà tứ bệnh?

Nhất giả tác bệnh. Nhược phục hữu nhân tác như thị ngôn, ngã ư bổn tâm tác chủng chủng hạnh, dục cầu Viên giác. Bỉ Viên giác tánh phi tác đắc cố, thuyết danh vi bệnh.

Việt Văn: Thiện nam tử! Diệu pháp sở chứng của thiện tri thức ấy nên lìa bốn bệnh. Thế nào là bốn bệnh:

-Một là Tác bệnh: Nếu có người nói rằng nơi bản tâm ta tác đủ thứ hạnh để cầu Viên Giác, nhưng tánh của Viên Giác chẳng do tác mà cầu được, nên gọi là bệnh.

Giảng: Chữ “Tác”, nghĩa là làm. Tánh Viên Giác đâu có phải do “làm” mà được. Cũng như mặt trăng kia đâu phải do vẹt mây mới có. Bởi thế nên hành giả chấp: “phải là các hạnh lành để cầu nhập Viên Giác”, thì không có thể được. Vì tánh Viên Giác là thanh tịnh, vô vi và vô lậu mà hành giả lại dùng pháp hữu vi để cầu cảnh giới vô vi thanh tịnh, thì không thể được, nên gọi là “bịnh làm”.
Đọc đến đoạn này, độc giả không sao khỏi thắc mắc. Tại sao bài trước Phật dạy: ” Muốn nhập Viên Giác, phải tinh tấn bỏ các việc dữ, làm các việc lành v.v…” Đến đoạn nầy Phật lại nói: “…Tánh Viên Giác không phải do làm các hạnh lành mà được, nếu chấp do làm mà được, thì thành ra bệnh Tác v.v…” Lời của Phật nói trưóc sao in tuồng mâu thuẫn. Nếu không suy nghĩa kỹ thì độc giả sẽ không hiểu.
Chúng tôi đã thường ví dụ: muốn cho lớp học được yên tịnh, thời phải làm sao trong lớp đừng có tiếng động, nếu có tiếng động thi lớp học chẳng được yên tịnh. Cũng như muốn đặng tánh Viên Giác vô vi thanh tịnh, thì không thể dùng pháp hữu vi vọng động mà cầu. Nếu dùng hữu vi vọng động mà cầu thì không bao giờ đặng Viên Giác vô vi thanh tịnh.
Mặc dù như thế, song người muốn nhập Viên Giác quyết định phải trải qua hai giai đoạn:
1. Gia đoạn đầu tiên, người muốn nhập Viên Giác thanh tịnh, phải có học tu, bỏ các việc dữ, làm các việc lành v.v… Cũng như các ông thầy giáo, thấy học trò làm ồn, muốn cho lớp học được yên tịnh, giai đoạn đầu tiên, phải dùng tiếng ồn để trị ồn. Nghĩa là ông thầy giáo phải gõ thước trước trên bảng cho lớn, thì các học trò mới hết làm ồn. Cũng như người đời nói: dùng độc trị độc, trong Đạo nói : lấy vọng để trừ vọng.

Đến khi học trò đã im lặng rồi, mà thầy giáo vẫn gõ hoài trên bảng để mong cho lớp học được yên tịnh, thì không thể được. Vì tiếng gõ là tiếng động, rất trái với tịnh, làm sao lấy cái “động”, để cầu cái “tịnh” cho được. Cũng như người dùng cái tạo tác hữu vi, để cầu Viên Giác vô vi thanh tịnh, không thể được.
2. Vì thế nên bước qua giai đoạn thứ hai: Thầy giáo phải thôi gõ bảng thì lớp học mới hoàn toàn yên tịnh. Cũng như hành giả, phải trừ cái bịnh “làm”, mới đặng Viên Giác thanh tịnh.

Người muốn đến bờ giải thoát, trước hết phải dùng cái bè tu học để qua sông mê. Song khi đã đến bờ rồi, mà cứ ôm cái bè mãi thì làm sao lên bờ được.
Tóm lại, hành giả muốn nhập Viên Giác thanh tịnh, phải trải qua hai giai đoạn:
1. Giai đoạn đầu tiên, hành giả dùng cái bè tu học, bỏ dữ làm lành để qua sông mê. Hay nói một cách khác là dùng tiếng gõ bảng của thầy giáo, để trừ tiếng ồn của học trò.
2. Đến giai đoạn tối hậu, hành giả phải bỏ cái bè hữu vi tu học, mới mong lên bờ giải thoát vô vi kia được. Hay đổi lại cách nói: ông thầy giáo phải thôi gõ bảng thì trong lớp mới đặng yên tịnh.

Cũng ý này, trong kinh Tứ Thập Nhị Chương, Phật dạy: “… Tu vô tu, tu. Chứng vô chứng, chứng…” Nghĩa là: tu đến chỗ vô tu mới thật tu, chứng đến chỗ vô chứng mới thật là chứng v.v…
Bởi thế nên Cổ nhơn có dạy rằng: “hữu vi tuy ngụy, xả chi tắt Phật đạo nan thành”: Các việc tu hành về hữu vi tuy rằng hư nguy chẳng nhằm chi, nhưng nếu hành giả bỏ đi, thì Đạo Phật vô vi khó thành. Hay là câu: “thật tế địa lý bắt thọ nhứt trần, vạn sự môn trung bất xả nhứt pháp”: Đành rằng chỗ lý tánh chơn thật (Viên Giác) không thọ một mảy trần, nhưng về sự tướng tu hành thì muôn điều không bỏ một việc lành nào.

 

Kinh Văn: Nhị giả nhậm bệnh. Nhược phục hữu nhân tác như thị ngôn: Ngã đẳng kim giả, bất đoạn sanh tử, bất cầu Niết-bàn, Niết-bàn sanh tử vô khởi diệt niệm, nhậm bỉ nhất thiết tùy chư pháp tánh, dục cầu Viên giác. Bỉ Viên giác tánh, phi nhậm hữu cố, thuyết danh vi bệnh.

Việt Văn: Hai là Nhậm bệnh (bệnh mặc kệ): Nếu có người nói rằng nay ta chẳng dứt sanh tử, chẳng cầu Niết Bàn, đối với sanh tử Niết Bàn chẳng có một niệm khởi hay diệt, mặc kệ (nhậm) tất cả, đều tùy pháp tánh. Mặc kệ như thế mà muốn cầu Viên Giác, nhưng tánh của Viên Giác chẳng do nhậm mà có, nên gọi là bệnh.

Giảng: Chữ nhậm là mạc kệ. Bịnh này do hành giả chấp: “Tánh Viên Giác không phải do tu hành, làm các hạnh lành v.v… mà nhập được.” Nên hành giả để mặc cho nghiệp lực xoay chuyển, chẳng sợ tôị lỗi, không ham phước lành, sanh tử không chê, niết bàn cũng chẳng quý; vì thế nên không nhập được Viên Giác.

 

Kinh Văn: Tam giả chỉ bệnh. Nhược phục hữu nhân tác như thị ngôn: Ngã kim tự tâm vĩnh tức chư niệm, đắc nhất thiết tánh tịch nhiên bình đẳng, dục cầu Viên giác. Bỉ Viên giác tánh phi chỉ hợp cố, thuyết danh vi bệnh.

Việt Văn: Ba là Chỉ bệnh (bệnh dừng lại): Nếu có người nói rằng nay tự tâm ta dừng hẳn các niệm, cho tất cả tánh đều tịch nhiên bình đẳng, vậy muốn nhờ Chỉ (dùng) niệm để cầu Viên Giác, nhưng tánh Viên Giác ấy hợp với Chỉ, nên gọi là bệnh.

Giảng: Chữ “Chỉ” là dứt các vọng niệm. Bởi hành giả thấy bịnh “Tác” làm cho tâm khởi động bịnh “Nhậm” (mặc kệ) làm tâm phóng túng cả hai đều không nhập Viên Giác được, nên hành giả xoay trở về nơi “Chỉ” (dừng đứng).
Vì vọng niệm mà thấy các pháp sai khác, không được bình đẳng, cho nên hành giả tu “Chỉ” để dứt vọng niệm. Đâu biết rằng: tánh Viên Giác không có “niệm”, nếu khởi niệm thì trái, Viên Giác không có “Chỉ”, nếu hành giả lại “Chỉ”, thì làm sao nhập được Viên Giác.

  

Kinh Văn: Tứ giả diệt bệnh. Nhược phục hữu nhân tác như thị ngôn: Ngã kim vĩnh đoạn nhất thiết phiền não, thân tâm tất cánh không, vô sở hữu, hà huống căn trần hư vọng cảnh giới, nhất thiết vĩnh tịch, dục cầu Viên giác. Bỉ Viên giác tánh, phi tịch tướng cố thuyết danh vi bệnh.

Việt Văn: Bốn là Diệt bệnh: Nếu có người nói rằng nay ta dứt hẳn tất cả phiền não, thân tâm rốt ráo rỗng không chẳng có gì cả, huống là cảnh giới hư vọng, căn trần tất cả diệt hẳn để cầu Viên Giác. Nhưng tánh Viên Giác ấy chẳng phải tướng diệt, nên gọi là bệnh.

Giảng: Chữ “diệt” là dứt các phiền não, tâm và cảnh đều vắng lặng. Song tánh Viên Giác vừa tịch (vắng lặng) lại vừa chiếu (linh tri). Tịch và Chiếu không hai. Hành giả chỉ chấp một bên “tịch” thì không hợp với tánh Viên Giác.
Kinh Văn: Ly tứ bệnh giả, tắc tri thanh tịnh. Tác thị quán giả danh vi chánh quán, nhược tha quán giả danh vi tà quán.

Việt Văn: Người đã lìa bốn bệnh thì bản tri trong sạch, theo quán chiếu này gọi là chánh quán, nếu theo quán chiếu khác gọi là tà quán.

Giảng: Đoạn này tóm lại bốn bịnh trên. Chữ “Tác” là làm; “Nhậm” là không làm, để mặc kệ; “Chỉ” là dùng chỉ các vọng niệm đương sanh và sẽ sanh; “diệt” là dứt các phiền não đã sanh. Bởi tánh Viên Giác bất sanh bất diệt, bất cầu bất tịnh, bất tăng bất giảm, vô vi vô lậu, mà hànhg giả dùng Tác, Nhậm, Chỉ, Diệt v.v… để cầu, thì không hiệp với tánh Viên Giác.
Ngài Như Sơn nói: Đem bốn bịnh “Tác, Nhậm, Chỉ, Diệt” mà chiêm nghiệm lại tâm tư của mình, nếu còn một món nào thì cũng đều là bịnh cả; phải trừ hết bốn bịnh này, mới được nhập Viên Giác thanh tịnh.

Diệu tánh của Viên Giác vốn chẳng thuộc nơi tác, chỉ, nhậm, diệt, nên lìa bốn bệnh này thì tự tánh tròn đầy sáng tỏ, vốn chẳng thiếu sót, gọi là trong sạch. Nay dù nói là bệnh, nhưng đối với người chưa ngộ đều thuộc về công dụng của sự tu hành, thì bốn thứ bệnh là bốn thứ thuốc. Nay tùy theo tự tánh của Viên Giác mà nói thì bản tánh vốn sẵn đầy đủ, chẳng nhờ công dụng nên mới gọi là bệnh vậy.

 

Kinh Văn: Thiện nam tử, mạt thế chúng sanh dục tu hành giả, ưng đương tận mệnh cúng dường thiện hữu sự thiện tri thức. Bỉ thiện tri thức dục lai thân cận ưng đoạn kiêu mạn. Nhược phục viễn ly ưng đoạn sân hận. Hiện nghịch thuận cảnh, do như hư không, liễu tri thân tâm tất cánh bình đẳng, dữ chư chúng sanh đồng thể vô dị. Như thị tu hành phương nhập Viên giác.

Việt Văn: Thiện nam tử! Chúng sanh đời mạt pháp, người muốn tu hành nên hết lòng cúng dường thầy bạn chánh tu, phụng sự thiện tri thức. Nếu thiện tri thức ấy đến thân cận với mình, nên dứt tâm kiêu mạn, nếu muốn xa lìa mình, nên dứt tâm sân hận, gặp cảnh thuận nghịch đều như hư không, liễu tri thân tâm rốt ráo bình đẳng, với tất cả chúng sanh đồng thể chẳng khác. Tu hành như thế mới được ngộ nhập Viên Giác.

Giảng: Đoạn này Phật trả lời câu hỏi thứ ba: “phải làm những hạnh gì?”
Hạnh Bồ Tát rất nhiều, nhưng việc thờ Thầy là điều rất cần thiết. Vì đời mạt pháp nhược ma cường, nếu không có minh sư chỉ dẫn, thì hành giả không sao khỏi bị lạc vào đường tà. Bởi thế nên hành giả phải suốt đời cung kính phục sự Thầy. Dù cho Thiện tri thức làm những điều thuận ý hay nghịch lòng, hành giả cũng phải giữ một niềm tôn kính, tâm như hư không chớ nên thay đổi.
Hành giả phải quán sát: Thầy bạn cùng chúng sanh và mình đều đồng một thể Viên Giác, không riêng khác. Do đó hành giả mới bỏ được tánh kiêu mạn của mình để thờ Thầy, quên bản ngã để độ sanh. Phải tu hạnh như thế, mới nhập được Viên Giác.

 

Kinh Văn: Thiện nam tử, mạt thế chúng sanh bất đắc thành đạo, do hữu vô thủy tự tha tắng ái nhất thiết chủng tử, cố vị giải thoát. Nhược phục hữu nhân quán bỉ oan gia như kỷ phụ mẫu, tâm vô hữu nhị, tức trừ chư bệnh. Ư chư pháp trung tự tha tắng ái diệc phục như thị.

Việt Văn: Thiện nam tử! chúng sanh đời mạt pháp chẳng được thành đạo, là do có tất cả chúng tử yêu ghét giữa mình và người vô thỉ, nên chưa được giải thoát. Nếu có người xem kẻ oán thù như cha mẹ mình, tâm chẳng có hai, liền trừ được các bệnh nơi các pháp, sự yêu ghét giữa mình và người thì cũng như vậy.

Giảng: Đoạn trước Ngài Phổ Giác Bồ Tát hỏi Phật: “phải trừ những bịnh gì?” – Đoạn này Phật trả lời: “phải trừ thương ghét.”
Đành rằng trong bài số 9, Phật đã dạy trừ thương ghét, nhưng chỉ nói về phần thô (hiện hành). Đến đoạn này Phật dạy trừ về phần vi tế của thương ghét tức là chủng tử. Nếu còn một chút ít thương ghét ngấm ngầm bên torng làm chướng ngại, thì hành gaỉ không thể nhập được Viên Giác thanh tịnh.
Bao giờ hành giả đối với kẻ oan gia, xem cũng như cha mẹ, bình đẳng không khác, xem sanh tử và Niết Bàn chẳng hai, thì hành giả mới đoạn được chủng tử của thương ghét và mới có thể nhập Viên Giác thanh tịnh.

 

Kinh Văn: Thiện nam tử, mạt thế chúng sanh dục cầu Viên giác, ưng đương phát tâm tác như thị ngôn: Tận ư hư không nhất thiết chúng sanh ngã giai linh nhập cứu cánh Viên giác, ư Viên giác trung vô thủ giác giả, trừ bỉ ngã nhân nhất thiết chư tướng. Như thị phát tâm bất đọa tà kiến.

Việt Văn: Thiện nam tử! chúng sanh đời mạt pháp muốn cầu Viên Giác nên phát tâm như thế này: tất cả chúng sanh nơi tất cả hư không, ta đều khiến cho ngộ nhập Viên Giác rốt ráo, ở nơi Viên Giác chẳng có kẻ thủ chứng Viên Giác, dứt trừ tất cả các tướng nhơn ngã v.v… Phát tâm như thế thì chẳng đoạ tà kiến.

Giảng: Đoạn này Phật trả lời câu hỏi thứ 5 mà Ngài Phổ Giác Bồ Tát đã hỏi Phật: “Phải phát tâm thế nào?”
Phật trả lời phải phát tâm như vầy, mới khỏi đoạ vào tà kiến:
1. Phát tâm quảng đại: nguyện độ tất cả chúng sanh (noãn, thai, thấp, hóa) trong mười phương.

  1. Phát tâm rốt ráo: độ chúng sanh nhập Viên Giác cứu kính.
  2. Phát tâm chơn thường: ở trong viên gíac mà không khởi vọng chấp nơi Viên Giác.
  3. Phát tâm không điên đảo: Không khởi vọng tưởng điên đảo chấp các tướng: Ngã, Nhơn, Chúng sanh, Thọ mạng và Tướng độ sanh.

Hai món phát tâm trước là đại bi, hai món phát tâm sau là đại trí. Bi và Trí được viên dung là do phát bốn món tâm trên được tròn. Câu hỏi của Ngài Phổ Giác giống như trong Kinh Kim Cang, câu hỏi của Ngài Tu Bồ Đề: “Vân hà ưng trụ?” (Phải trụ tâm như thế nào?)
Đoạn này nói chữ “phát tâm”, nghĩa là tâm phát nguyện. Như nguời đời nói “lập chí”. Nhờ phát nguyện hay lập chí mà người đời tu hành vượt qua bao nhiêu trở lực khó khăn và thúc đẩy sự tu hành mau được thành công. Nếu “nguyện” rất thiết, thì hạnh mới chuyên cần. Do đó mà mau đuợc kết quả. Các đức Phật cũng nhờ phát nguyện rồi y theo nguyện đó tu hành mà được thành đạo chứng quả.
Hành giả nếu không có “nguyện lực” của mình làm động cơ thúc đẩy trên trường tu hành, thì quả Phật khó mà đạt được.

 

Kinh Văn: Nhĩ thời Thế Tôn dục trùng tuyên thử nghĩa, nhi thuyết kệ ngôn:

Việt Văn: Lúc ấy Thế Tôn muốn giảng lại nghĩa này mà thuyết kệ rằng:

Phổ Giác nhữ đương tri                     Phổ Giác ngươi nên biết,
Mạt thế chư chúng sanh                    Chúng sanh đời mạt pháp,
Dục cầu thiện tri thức                        Muốn cầu thiện tri thức,
Ưng đương cầu chánh kiến                Nên cầu người chánh kiến.

Tâm viễn Nhị thừa giả                      Xa lìa người nhị thừa,
Pháp trung trừ tứ bệnh                      Trong pháp trừ bốn bệnh,
Vị Tác Chỉ Nhậm Diệt                      Là Tác, Chỉ, Nhậm, Diệt,
Thân cận vô kiêu mạn                       Thầy đến chẳng kiêu mạn,

Viễn ly vô sân hận                            Thầy đi chẳng sân hận.
Kiến chủng chủng cảnh giới              Thấy đủ thứ cảnh giới,
Tâm đương sanh hy hữu                   Nên sanh tâm hy hữu.
Hoàn như Phật xuất thế                    Xem như Phật ra đời

Bất phạm phi luật nghi                     Chẳng vi phạm luật nghi.
Giới căn vĩnh thanh tịnh                   Giới căn trong sạch hẳn,
Độ nhất thiết chúng sanh                  Độ tất cả chúng sanh.
Cứu cánh nhập Viên giác                  Cứu cánh vào Viên Giác,

Vô bỉ ngã nhân tướng                       Chẳng có tướng nhơn ngã.
Đương y chánh trí tuệ                       Theo trí huệ Chánh Pháp.
Tiện đắc siêu tà kiến                         Tu hành siêu tà kiến,
Chứng giác Bát Niết-bàn.                  Chứng nhập Đại Niết Bàn.