Kinh Hoa Nghiêm – Phẩm Thế Chủ Diệu Nghiêm – 2

Kinh Hoa Nghiêm
Đại Phương Quảng Phật

giảng giải

Phẩm Thế Chủ Diệu Nghiêm – Phần 2

Hòa Thượng TUYÊN HÓA
Việt dịch: Tỳ Kheo Thích Minh Ðịnh

 

Nhĩ thời, Như Lai đạo tràng chúng hải,tất dĩ vân tập, vô biên phẩm loại, châu táp biến mãn, hình sắc bộ tùng, các các sái biệt
Bấy giờ, các biển chúng đều đã vân tập nơi Ðạo Tràng của đức Như Lai, có vô lượng vô biên phẩm loại, đầy khắp chung quanh Ðạo Tràng, hình tướng màu sắc mỗi bộ chúng đều khác nhau.

Lúc bấy giờ, đại chúng quang lâm đến Bồ Ðề Ðạo Tràng để nghe Kinh Hoa Nghiêm gồm có: Bồ Tát, Thánh hiền, chư thiên, thần chúng, quỷ chúng, đều vân tập trong pháp hội Hoa Nghiêm.

Ở trong biển chúng, đủ các loại vô lượng vô biên. Trên hết là mười phương chư Phật, dưới đến tất cả chúng sinh, bao quát chúng sinh trong mười pháp giới cũng đều ở trong đó. Cõi hư không chu vi Bồ Ðề Ðạo Tràng, đều đầy ắp vô lượng vô biên phẩm loại, chẳng có nơi nào trong một hạt bụi, chẳng phải là biển chúng vân tập, mỗi bộ chúng đều có hình tướng màu sắc khác nhau, mỗi bộ chúng đều có một vị Bồ Tát làm thượng thủ, đều có vô lượng vô biên quyến thuộc đi theo, mỗi vị thượng thủ thần chúng, cũng có vô lượng vô biên quyến thuộc, mỗi vị thượng thủ Thiên Vương, cũng có vô lượng vô biên quyến thuộc, đủ loại hình tướng màu sắc. Tuy nhiên rất nhiều phẩm loại, nhưng tơ hào không hỗn tạp lộn xộn.

 

Ùy sở lai phương, thân cận Thế Tôn, nhất tâm chiêm ngưỡng.
Tùy theo phương hướng đến, đều gần gũi đức Thế Tôn, một lòng chiêm ngưỡng.

Những chúng sinh khác phẩm loại này, theo vị thượng thủ của họ đến, tùy theo phương hướng thảy đều đến gần trước Ðức Thế Tôn, nghe Phật thuyết pháp, chuyên tâm nhất ý, chiêm ngưỡng kim dung Lô Xá Na Phật ngàn trượng.

 

Thử chư chúng hội, dĩ ly nhất thiết phiền não tâm cấu cập kỳ dư tập,
Các biển chúng trong hội này, đều đã dứt sạch tất cả phiền não, tâm cấu bẩn và các tập khí ô nhiễm.

Chúng sinh ở trong pháp hội Hoa Nghiêm này, đều đã diệt hết tất cả phiền não, tâm cấu và các ác tập khí mao bệnh khác. Phiền não là gì? Tức là cái ta, pháp hai cái chấp. Nếu còn chấp cái ta tức là có tham, sân, si ba độc phiền não, vô minh phiền não, trần sa phiền não. Lại có phiền não thô phiền não tế, phiền não lớn phiền não nhỏ. Tóm lại có rất nhiều phiền não. Nếu còn chấp pháp thì còn phiền não sở tri chướng. Ví như trong túi áo bạn có hạt minh châu từ trước, tuy nhiên không biết, nhưng hạt minh châu vẫn y nhiên còn đó. Bây giờ biết rồi, minh châu vẫn còn tồn tại. Bổn lai nên biết viên minh châu ở trong túi áo nhưng không biết. Bây giờ phát hiện đó là nguồn gốc nên biết, chẳng có gì để kiêu ngạo, càng chẳng có gì để tự mãn.

Tâm cấu là gì? Tức là trong tâm đều nghĩ pháp ô nhiễm chẳng trong sạch, cho nên trong tâm bèn có bụi trần dơ bẩn. Nếu đoạn dục khử ái được, không nghĩ việc tình ái, thì tâm tự nhiên thanh tịnh.

Tập khí là gì? Tức là những mao bệnh, những tập khí không thanh tịnh, giống như bụi tro ở trong khói ống tre, tích tụ mỗi ngày, lâu dần thì sẽ tích tụ khói bụi thành nhiều, vậy tập khí từ đâu đến? Ðến từ tham sân si, tham có tập khí tham, sân có tập khí sân, si có tập khí si. Tóm lại có tư tưởng không trong sạch đó là tập khí.

 

Tồi trọng chướng sơn, kiến Phật vô ngại. Như thị giai dĩ Tỳ Lô Giá Na Như Lai vãng tích chi thời, ư kiếp hải trung tu Bồ Tát hạnh, dĩ tứ nhiếp sự nhi tằng nhiếp thọ
Xô ngã núi chướng nặng, thấy Phật vô ngại. Ðại chúng này vô lượng biên kiếp trong quá khứ, đều cùng với Tỳ Lô Giá Na Như Lai tu hạnh Bồ Tát. Như Lai dùng bốn pháp nhiếp mà nhiếp thọ họ.

Vô minh chướng nặng của chúng ta kiên cố giống như núi. Cho nên phải phá tan núi chướng nặng. Nhưng làm sao mới có thể phá tan tiêu diệt nó được? Tức là phải xa rời phiền não, xa rời tâm cấu bẩn, xa rời tập khí mao bệnh. Như vậy thì sẽ thấy được Phật mà chẳng có gì chướng ngại được.

Ở trên đã giảng qua rất nhiều đại chúng, các vị đó trong quá khứ đều hành Bồ Tát đạo, siêng tu hạnh Bồ Tát với thanh tịnh pháp thân Tỳ Lô Giá Na Phật, trải qua thời gian lâu dài biển đại kiếp.

Bồ Tát tu pháp môn bốn pháp nhiếp tức là: Bố thí, ái ngữ, lợi hành và đồng sự. Các vị Bồ Tát đều biết hành bốn pháp nhiếp này, thì sẽ khiến cho chúng sinh thương tôi, kính tôi, tin tôi, sau đó mới nghe tôi khuyên dạy, chịu sự huân tập của tôi mà tín ngưỡng Phật pháp. Lúc đó Tỳ Lô Giá Na Phật dùng bốn pháp nhiếp để nhiếp thọ đại chúng trong pháp hội này.

Nhất nhất Phật sở chủng thiện căn thời, giai dĩ thiện nhiếp chủng chủng phương tiện, giáo hóa thành thục, lệnh kỳ an lập nhất thiết trí đạo, chủng vô lượng thiện, hoạch chúng Đại phước, tất dĩ nhập ư phương tiện nguyện hải.

Tại nơi mỗi vị Phật, khi trồng căn lành, thì họ đều đã được khéo nhiếp thọ. Dùng nhiều phương tiện giáo hóa thành thục, khiến cho họ an trụ nơi đạo Nhất thiết chủng trí. Trồng vô lượng nhân lành, đắc được vô biên phước lớn. Thảy đều đã nhập vào biển nguyện phương tiện.

Ở tại chỗ mỗi vị Phật, khi chúng sinh trồng căn lành thì đều dùng bốn pháp nhiếp, để nhiếp thọ tất cả chúng sinh, dùng nhiều pháp phương tiện để giáo hóa tất cả chúng sinh, khiến cho họ đều thành thục, an trụ vào đạo nhất thiết trí, đắc được đạo nhất thiết chủng trí.

Ở trên đã nói về các chúng Trời, chúng Rồng, chúng quỷ thần, tất cả đều ở trong vô lượng kiếp quá khứ, gần gũi Phật Tỳ Lô Giá Na, trồng đủ căn lành ở trong pháp hội, an trụ nơi đạo nhất thiết trí (trồng tất cả nhân Phật, kết tất cả quả Phật). Các vị đó trồng vô lượng căn lành, ở trong vô lượng kiếp tu phước huệ, cho nên bây giờ đắc được vô lượng đại phước báu, đều vào biển nguyện phương tiện.

Biển nguyện phương tiện là gì? Tức là tu đạo phải phát nguyện, dùng pháp môn quyền xảo phương tiện, để độ tất cả chúng sinh. Thứ nguyện này rộng lớn như biển cả. Tu đạo phải đủ ba điều kiện mới vào được biển nguyện phương tiện.

Thứ nhất: Phải có tâm tin, tin rằng mình tương lai có thể thành Phật.

Thứ hai: Phải có tâm nguyện, phát nguyện tương lai thành Phật rồi nhất định rộng độ chúng sinh.

Thứ ba: Phải có tâm hành, đã có tin và nguyện mà không cung hành thực tiễn, không tinh tấn tu hành thì chẳng có ích gì.

Sở hạnh chi hành, cụ túc thanh tịnh, ư xuất ly đạo, dĩ năng thiện xuất, thường kiến ư Phật, phân minh chiếu liễu, dĩ thắng giải lực nhập ư Như Lai công đức đại hải
Sự thực hành thảy đều hoàn toàn thanh tịnh, đã khéo thoát khỏi, thường thấy đức Phật được rõ ràng, dùng sức hiểu biết thù thắng, nhập vào biển lớn công đức của Như Lai.

Lập được biển nguyện rồi, còn phải thành thật tu hành. Tu các hạnh môn phải hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh, đó là con đường thoát khỏi. Thoát khỏi cái gì? Thoát khỏi nhà lửa ba cõi. Nhà lửa ba cõi chẳng dễ gì ra khỏi. Ra khỏi được ba cõi, đó gọi là khéo thoát khỏi.

Các Thánh chúng này đều thường thấy được Phật, vì các Ngài đều đã ra khỏi được nhà lửa ba cõi. Phật là vô tại vô bất tại, vô sở bất tại (chẳng có nơi nào mà không có). Vậy tại sao có người thấy được Phật? Có ngươi chẳng thấy Phật? Vì chỉ có người nào đầy đủ tâm thanh tịnh, mới có thể thấy được Phật, người tâm không thanh tịnh thì chẳng thấy Phật. Có người thấy Phật nhưng không rõ ràng, có người tuy nhiên thấy Phật rõ ràng nhưng không thường thấy. Bây giờ các Thánh chúng này, không những luôn luôn thấy Phật mà còn thấy rất rõ ràng, cho nên nói là thấy Phật rõ ràng.

Các Thánh chúng này dùng sức hiểu biết thù thắng, dùng đại trí huệ để minh bạch tất cả, đã vào trong biển lớn công đức của Như Lai. Công đức này đồng với Phật, cho nên nói là vào trong biển lớn công đức của Như Lai.

Đắc ư chư Phật giải thoát chi môn du hí thần thông.
Ðược môn du hí thần thông giải thoát của các đức Phật.

Vì nhập vào biển lớn công đức của Như Lai, cho nên đắc được môn giải thoát của các đức Phật, tức cũng là đắc được chân chánh tự tại, chẳng có phiền não, đắc được thần thông du hí. Các chúng ở trên đều đã đạt được cảnh giới vô ngại này.

Giải thoát là gì? Tức là cởi mở sự trói buộc sự thấy và nghĩ hai hoặc của ba cõi, thoát khỏi quả khổ ba cõi sinh già bệnh chết, chẳng còn phần đoạn sinh tử là giải thoát của A La Hán ; chẳng còn biến dịch sinh tử là giải thoát của Bồ Tát.

Du hí là gì? Tức là do chân hiện vọng, do vọng hiện chân, chân vọng không hai, chân vọng vốn không, dùng pháp quyền xảo phương tiện để độ chúng sinh thoát khỏi tam giới.

Thần thông là gì? Những vật hiện ra, chợt lớn chợt nhỏ, chợt có chợt không, biến hóa khó dò, người có những cảnh giới này, có thể nói là đã chứng quả.

Ở trên là nói về các pháp môn tu hành của Bồ Tát, chư Thần Thiên Vương biển chúng, tu hành thành tựu thì đắc được giải thoát. Dưới đây là nói về sự chứng đắc môn giải thoát và bài kệ của các vị đó.

Sở vị: Diệu diệm hải đại tự tại thiên Vương, đắc Pháp giới, hư không giới tịch tĩnh phương tiện lực giải thoát môn
Các vị: Diệu Diệm Hải Ðại Tự Tại Thiên Vương, được môn giải thoát, sức phương tiện tịch tĩnh, khắp pháp giới hư không giới.

Ở trên đã giảng qua mười vị Ðại Tự Tại Thiên Vương, có vị Thiên Vương tên là Diệu Diệm Hải. Vị này đắc được môn giải thoát sức phương tiện tịch tĩnh pháp giới hư không giới.

Pháp giới là gì? Pháp giới không ra ngoài một tâm, một tâm bao khắp pháp giới, do đó:‘’ Nhứt tâm bất ly thập pháp giới.’’ Nghĩa là pháp giới chẳng ra ngoài một tâm niệm.

Hư không giới là gì? Tức là tự tính con người, cấu bẩn gì cũng chẳng có, giống như hư không thanh tịnh trong sáng.

Tịch tĩnh là gì? Tức là định. Phương tiện là gì? Tức là động. Ðịnh động đều giải thoát, lúc này động không ngại tĩnh, tĩnh không ngại động, động tĩnh nhất như.

Môn giải thoát là gì? Trước hết phải nói rõ, đừng nhận rằng có môn (cửa), ‘’môn‘’ này chỉ là ví dụ. Nếu có ‘’môn‘’ thì không thể giải thoát được, cho nên đừng chấp trước chữ nghĩa. Nếu ra vào chẳng có chướng ngại, thì đó là thật giải thoát. Nếu có ‘’môn‘’ thì ở trong môn là giải thoát, ở ngoài môn thì chẳng phải giải thoát. Ở ngoài môn là giải thoát, thì ở trong môn lại chẳng giải thoát. Như vậy vẫn chưa viên mãn. Nếu ở trong ‘’môn‘’ ngoài ‘’môn‘’ đều giải thoát, thì còn cần ‘’môn‘’ này để làm gì? Cho nên nói ‘’môn‘’ này là vô hình, là một ví dụ mà thôi. Nếu muốn chân chánh đắc được tự tại, đắc được giải thoát, thì phải thật đắc được từ trong tâm, không cần tìm ‘’môn‘’ (cửa) trên sự giải thoát. Ðây chỉ là ‘’môn‘’ trên văn tự, chẳng phải ‘’môn‘’ thực tế. Ðiểm này phải nhận thức rõ ràng !

Nếu nhận định cần chấp trước đi tìm ‘’môn‘’. Vậy từ ‘’môn‘’ này đi vào lại đi ra từ môn nào? Cho nên trước hết phải hiểu ý nghĩa môn giải thoát mới hiểu được nghĩa chân thật.

Tự tại danh xưng quang Thiên Vương, đắc phổ quán nhất thiết pháp tất tự tại giải thoát môn
Tự Tại Danh Xưng Quang Thiên Vương, được môn giải thoát, quán tất cả các pháp thảy đều tự tại.

Vị Thiên Vương này tên là Danh Xưng Quang. Vị này đắc được môn giải thoát: quán sát khắp tất cả các pháp môn, bất cứ tâm pháp và sắc pháp gì, cho đến tất cả các pháp đều tự tại vô cùng.

Thanh tịnh công đức nhãn Thiên Vương, đắc tri nhất thiết pháp bất sanh, bất diệt, Bất-lai, bất khứ, vô công dụng hạnh giải thoát môn
Thanh Tịnh Công Ðức Nhãn Thiên Vương, được môn giải thoát, vô công dụng hạnh biết tất cả các pháp, không sinh không diệt, không đến không đi.

Vị Thiên Vương này tên là Thanh Tịnh Công Ðức Nhãn, quang minh thanh tịnh của vị này, khắp cùng hư không pháp giới. Chỗ đắc của vị này là minh bạch tất cả các pháp, vốn không sinh không diệt, không đến không đi, đó là công vô công, dụng vô dụng, không cần tạo tác, càng không cần miễn cưỡng, đó gọi là vô công dụng hạnh.

Vì nó không sinh không diệt, cho nên không đến không đi ; vì nó không đến không đi, cho nên không sinh không diệt, đó là môn giải thoát của vị này đắc được.

Khả ái lạc đại tuệ Thiên Vương, đắc hiện kiến nhất thiết pháp chân thật tướng trí tuệ hải giải thoát môn
Khả Ái Lạc Ðại Huệ Thiên Vương được môn giải thoát, biển trí huệ hiện thấy tướng chân thật của tất cả các pháp.

Vị Thiên Vương này tên là Khả Ái Lạc Ðại Huệ. Chỗ đắc được của vị này là, môn giải thoát trí huệ như biển cả, hiện thấy tất cả tướng chân thật của các pháp. Hiện thấy tức là chỗ thấy hiện tại. Tướng chân thật tức là vô tướng, vô tướng vô bất tướng.

Bất động quang Tự tại Thiên Vương, đắc dữ chúng sanh vô biên an lạc đại phương tiện định giải thoát môn
Bất Ðộng Quang Tự Tại Thiên Vương được môn giải thoát, đại định phương tiện, đem lại vô biên an lạc cho chúng sinh.

Vị Thiên Vương này tên là Bất Ðộng Quang Tự Tại, nhập vào trong định đại phương tiện, ban cho tất cả chúng sinh vô biên an lạc. Vô biên tức là chẳng có bờ mé, an lạc tức là chẳng có phiền não. Ðó là môn giải thoát đại phương tiện định của vị này đắc được.

Diệu trang nghiêm nhãn Thiên Vương, đắc lệnh quán tịch tĩnh pháp diệt chư si ám phố giải thoát môn
Diệu Trang Nghiêm Nhãn Tự Tại Thiên Vương, được môn giải thoát, diệt sự ngu si đen tối và sợ hãi, làm cho chúng sinh quán sát được pháp tịch tĩnh.

Vị Thiên Vương này tên là Diệu Trang Nghiêm Nhãn. Vị này đắc được môn giải thoát, tiêu diệt tất cả ngu si đen tối và sợ sệt, khiến cho chúng sinh quán sát được pháp tịch tĩnh.

Thiện tư duy quang minh Thiên Vương, đắc thiện nhập vô biên cảnh giới bất khởi nhất thiết chư hữu tư tánh nghiệp giải thoát môn
Thiện Tư Duy Quang Minh Thiên Vương, được môn giải thoát, chẳng khởi tư duy nghiệp tất cả các cõi, khéo nhập vào cảnh giới không bờ mé.

Vị Thiên Vương này tên là Thiện Tư Duy Quang Minh. Vị này đắc được môn giải thoát, chẳng khởi nhân tư duy tạo nghiệp (tức chấp trước vào tam giới hai mươi lăm cõi) khéo nhập vào cảnh giới chẳng có bờ mé.

Khả Ái Lạc Đại Trí Thiên Vương, đắc phổ vãng thập phương thuyết Pháp nhi bất động vô sở y giải thoát môn
Khả Ái Lạc Ðại Trí Thiên Vương, được môn giải thoát, bất động không chỗ nương, đến khắp mười phương để thuyết pháp.

Vị Thiên Vương này tên là Khả Ái Lạc Ðại Trí. Vị này đắc được môn giải thoát, đến khắp mười phương thuyết pháp, nhưng thân khắp mười phương, mà không chỗ nương. Ðó là không đến không đi mà bất động. Không chỗ nương tức là không nương tựa người, cũng không nương tựa pháp, cho nên gọi là môn giải thoát không chỗ nương.

Phổ âm trang nghiêm tràng Thiên Vương, đắc nhập Phật tịch tĩnh cảnh giới phổ hiện quang minh giải thoát môn
Phổ Âm Trang Nghiêm Tràng Thiên Vương, được môn giải thoát, phổ hiện quang minh, nhập vào cảnh giới tịch tĩnh của Phật.

Vị Thiên Vương này tên là Phổ Âm Trang Nghiêm Tràng. Vị này đắc được định và huệ của Phật, do đó mà đắc được cảnh giới, phổ hiện quang minh tịch tĩnh, vị này dùng trí huệ âm để trang nghiêm tràng báu. Ðó là môn giải thoát của vị này đắc được.

Danh xưng quang thiện tinh tấn Thiên Vương, đắc trụ tự sở ngộ xứ nhi dĩ vô biên quảng đại cảnh giới vi sở duyên giải thoát môn.
Danh Xưng Quang Thiện Tinh Tấn Thiên Vương, được môn giải thoát, ngộ được cảnh giới rộng lớn vô biên làm sở duyên.

Vị Thiên Vương này tên là Danh Xưng Quang Thiện Tinh Tấn. Vị này được môn giải thoát: ngộ được cảnh giới rộng lớn vô biên, dùng cảnh giới này làm nhân duyên sở tu, để nghiên cứu quán sát.

Nhĩ thời, diệu diệm hải Thiên Vương, thừa Phật uy lực, phổ quán nhất thiết Tự tại Thiên chúng nhi thuyết tụng ngôn
Bấy giờ, Diệu Diệm Hải Thiên Vương, nương thần lực của đức Phật, quán sát khắp tất cả chúng Trời Tự Tại mà nói ra bài kệ.

Sau khi vị Tự Tại Thiên Vương thứ mười nói ra môn giải thoát đã chứng được thì, vị Diệu Diệm Hải Thiên Vương, nương thần thông oai lực của chư Phật, quán sát khắp tất cả chúng Trời Ðại Tự Tại, mà nói bài kệ này, thuật lại cảnh giới đã chứng được. Vị này dùng kệ để khen ngợi công đức của Phật. Kệ có bốn tên gọi:

  1. A Nậu Tốt Thị Bà: Kệ này bất cứ là trường hàng hoặc là kệ ngắn, phàm là đủ ba mươi hai chữ (tức là tám chữ thành một câu, bốn câu thành kệ) thì thành một bài kệ.
  2. Già Ðà: Dịch là “phúng tụng”, là ca xướng ; hoặc là cô tụng, cô khởi hoặc là trực tụng, trực tiếp thuyết pháp. Kệ dưới đây là Già Ðà tụng, trực tiếp tán thán công đức của Phật.
  3. Kì Dạ: Dịch là “ưng tụng”, là tụng lại những gì chính đáng quan trọng, để biểu thị diễn đạt đại ý của Kinh văn, tức cũng là trùng tụng.
  4. Ốt Ðà Nam: Dịch là “tập thí tụng”, tức là dùng rất ít chữ, mà bao hàm rất nhiều ý nghĩa, tức cũng là thi ca.

Tại sao trong Kinh điển dùng nhiều kệ tụng? Vì có tám ý nghĩa.
1. Dùng chữ ít mà nhiếp nhiều nghĩa.
2. Khen ngợi các đức Phật biểu thị sự tôn kính.
3. Vì chúng sinh độn căn mà nói lại, khiến cho họ thấu hiểu.
4. Vì người sau này nói lại một lần.
5. Tùy tiện lạc thuyết, tùy ý của mình mà hoan hỷ để nói.
6. Vì dễ nhớ, dễ thọ trì.
7. Vì tăng cường sức nhớ, nói lại đại ý trường hàng.
8. Ở trong trường hàng không nói, dùng kệ tụng để nói.

Kệ, dịch là “tụng”, tụng là tán dương công đức của người, ca tụng công đức. Trong nhà Phật từ cú ca xướng gọi là kệ, từ cú của một số văn nhân ca xướng gọi là thơ. Kệ ở Ấn Ðộ là ba mươi hai chữ, kệ ở Trung Quốc hoặc là mười sáu chữ, hai mươi chữ, hai mươi bốn chữ, hai mươi tám chữ .v.v.

Vị Diệu Diệm Hải Thiên Vương này, nương thần lực của các đức Phật, quan sát hết thảy Thiên chúng trời Tự Tại, mà nói kệ tụng, tán thán công đức của Phật. Tại sao phải nói nương oai thần lực của Phật? Mà không nói là sức lực của mình? Vì tôn trọng người chủ thuyết pháp, biểu thị không có tâm cống cao ngã mạn.

Tất cả Bồ Tát và tất cả Thánh chúng, chẳng có tâm cống cao, (cống cao tức là kiêu ngạo, khinh khi người, chẳng xem ai ra gì) cũng chẳng có tâm ngã mạn (ngã mạn tức là tự đại, cho rằng việc gì cũng đều giỏi hơn người). Các Ngài cho rằng sự thành tựu thần thông biến hóa diệu dụng của mình, đều là nhờ mười phương chư Phật gia bị, là nhờ Phật pháp mà hiểu được đạo lý này mà đi tu hành. Những gì thành tựu đều là nhờ oai lực của Phật. Nếu như chẳng phải nhờ oai lực của Phật, thì vốn không thể tu hành, càng không thể có thần thông diệu dụng. Bây giờ đã có tất cả thần thông rồi, đó đều là do Phật pháp sinh ra, nẩy mầm trưởng thành ở trong Phật pháp, và còn thành tựu ở trong Phật pháp, cho nên nói nương oai lực của Phật.

Chẳng phải chỉ nương đại oai thần lực của Phật Thích Ca, Lô Xá Na Phật, hoặc Tỳ Lô Giá Na Phật, mà là nương đại oai thần lực của mười phương chư Phật, tận cùng hư không khắp pháp giới mà nói kệ tụng này.

Phật thân phổ biến chư đại hội,                Thân Phật khắp cùng các đại hội
Sung mãn Pháp giới vô cùng tận,              Ðầy khắp pháp giới không cùng tận
Tịch diệt Vô tánh bất khả thủ,                  Tịch tĩnh không tánh không thể lấy
Vì cứu thế gian nhi xuất hiện                    Vì cứu thế gian mà xuất hiện.

‘’ Thân Phật khắp cùng các đại hội.’’ Thân Phật này là nói Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni. Khắp cùng tức là vô tại vô bất tại (chỗ nào cũng có thân Phật), chẳng có trong một hạt bụi nào mà chẳng phải là chỗ sở tại của thân Phật. Các đại hội tức là đại pháp hội chư Phật thuyết pháp.
Phật Phật đạo đồng, Ðức Phật kia thuyết pháp, Ðức Phật này ủng hộ pháp hội. Ðức Phật này thuyết pháp, Ðức Phật kia ủng hộ pháp hội, cho nên nói thân Phật khắp cùng các đại hội.

‘’ Ðầy khắp pháp giới không cùng tận.’’ Thân Phật không những biến hoá khắp các đại hội, mà còn đầy khắp tận cùng hư không biến pháp giới, tất cả thế giới vô cùng tận. Tóm lại thế giới này thế giới kia, vô lượng các thế giới ; cõi nước này, cõi nước kia, vô lượng các cõi nước đều đầy khắp thân Phật, cho nên nói đầy khắp pháp giới không cùng tận.

‘’ Tịch tĩnh không tánh không thể lấy.’’ Thân Phật tuy nhiên khắp cùng các đại hội, đầy khắp pháp giới, nhưng Ngài là vắng lặng, vô tướng, lấy mà không thể được, xả bỏ cũng không thể được. Nói cho dễ hiểu là lấy cũng chẳng có, mà xả bỏ cũng chẳng có. Chính vì bổn lai chẳng có, cho nên chẳng có gì có thể giữ, càng chẳng có gì có thể bỏ.

Vậy, rõ là các pháp vốn thường vắng lặng, Phật lại cần gì xuất hiện ra đời? Trong Kinh Pháp Hoa có nói: ‘’ Phật vì một đại sự nhân duyên mà hiện ra đời.’’ Ðại sự gì? Tức là vấn đề sinh tử. Phật muốn nói với chúng sinh rằng sinh từ đâu đến và chết sẽ đi về đâu, khiến cho chúng sinh chấm dứt thoát tử, đạt đến Niết Bàn bờ bên kia.

‘’ Vì cứu thế gian mà xuất hiện.’’ Phật thấy chúng sinh trầm luân trong biển ái, không cách chi ra khỏi được, mới phát tâm đại từ bi đến thế giới Ta Bà, cứu tất cả chúng sinh thế gian, khiến cho lìa khổ được vui. Nhưng chúng sinh không nghe sự giáo hóa của Phật, còn hồ đồ mê muội tham luyến sự khổ não của thế giới này. Ý niệm trước thì muốn lìa khỏi thế giới năm trược này, ý niệm sau thì chẳng muốn lìa khỏi, cuối cùng thì không lìa khỏi được. Cho nên Phật đến thế giới này, khuyến hóa và nói với chúng sinh: ‘’ Hãy mau sớm tỉnh mộng ! Sớm trở về ngôi nhà thật của mình ! Ðừng lang thang ở bên ngoài ! Ðừng mê hồ như thế, quên mất nguồn gốc ! ‘’

Như Lai pháp vương xuất thế gian           Như Lai Pháp Vương hiện ra đời
Năng nhiên chiếu thế diệu pháp đăng,      Thắp đèn diệu pháp chiếu thế gian
Cảnh giới vô biên diệc vô tận                    Cảnh giới vô biên cũng vô tận     
Thử tự tại danh chi sở chứng.                   Môn này Tự Tại Danh chứng được.

‘’ Như Lai Pháp Vương hiện ra đời.’’ Như Lai là một trong mười danh hiệu của Ðức Phật. Ý nghĩa Như Lai là “không từ chỗ nào đến, cũng không đi về đâu” ; chỗ đến không thể đắc được, chỗ đi không thể đắc được. Nghĩa là tận hư không khắp pháp giới, đều là pháp thân của Như Lai. Vì nguyên nhân này cho nên đến lại từ đâu đến? Không đến mà đến. Ði lại đi về đâu? Không đi mà đi. Ðó gọi là không động đạo tràng, đến khắp pháp giới, cho nên gọi là Như Lai.
Pháp Vương là tên gọi tổng quát. Pháp tức là Phật pháp, Phật pháp có bao nhiêu? Nếu nói rộng thì có vô lượng vô biên, nhiều như số cát sông Hằng (vì cát sông Hằng mịn như bột mì, đó là hình dung số lượng không cách chi đếm được). Nếu nói tổng quát thì có bốn vạn tám ngàn pháp môn. Tám vạn bốn ngàn pháp môn, quy nạp vào thì có năm thứ pháp. Năm thứ pháp là gì? Tức là: Sắc pháp, tâm pháp, tâm sở pháp, bất tương ưng pháp, vô vi pháp. Vạn pháp không ra ngoài phạm vi năm pháp này.

Những pháp này ai cũng có thể diễn nói. Trời người có thể thuyết pháp, A La Hán có thể thuyết pháp, Bích Chi Phật, Bồ Tát, chư Phật càng có thể thuyết pháp. Nhưng chỉ có Phật mới có thể xưng là Pháp Vương, tức là vua nói pháp, ngoài ra chỉ xưng là người thuyết pháp, không thể xưng là pháp vương.

Vua thuyết pháp, tại sao xuất hiện ra đời? Vì Phật thấy thế giới quá ô nhiễm, tâm của chúng sinh quá đen tối. Phật vì muốn phá vô minh của chúng sinh, khiến cho thế giới sáng sủa, cho nên Như Lai Pháp Vương mới xuất hiện ra đời.

‘’ Thắp đèn diệu pháp chiếu sáng thế gian.’’ Như Lai dùng đèn diệu pháp để chiếu soi khắp thế gian. Phật pháp giống như đèn sáng chiếu đến chỗ đen tối, khôi phục ánh sáng. Do đó có câu: ‘’Phật quang phổ chiếu, lợi ích quần sinh.’’ Trước khi Phật hiện ra đời, thế gian này là đen tối. Sau khi Phật hiện ra đời, dùng đèn diệu pháp chiếu sáng thế gian. Ánh sáng đèn diệu pháp này, có công năng diệu dụng không thể tả được, khiến cho chúng sinh bỏ mê về với giác, cải tà về chánh, trở về nguồn cội, đắc được chân chánh tự tại, thật là không thể nghĩ bàn !

Muốn trở về nguồn cội, thì trước hết phải dứt sinh tử, sinh tử không dứt, thì không thể trở về nguồn cội. Muốn dứt sinh tử, trước hết phải dứt hẳn tâm dâm dục. Nếu không dứt hẳn tâm dâm dục thì, không những không cách chi dứt sinh tử, càng không cách chi ra khỏi tam giới. Trong Kinh Lăng Nghiêm nói:

“Tâm dâm dục không trừ,
Không thể ra khỏi trần lao”.

Không trừ tâm dâm, mà muốn thành tựu đạo nghiệp, thì giống như nấu cát làm cơm, người ngu nói mộng, đó là việc tuyệt đối không thể được !

‘’Cảnh giới vô biên cũng vô tận.’’ Cảnh giới của Như Lai chẳng có bờ bến, chẳng có cùng tận, trùng trùng vô tận, vô tận trùng trùng. Viên dung vô ngại, vô ngại viên dung, cảnh giới này không thể dùng lời ví dụ được.

‘’Môn này Tự Tại Danh chứng được.’’ Vị Tự Tại Danh Xưng Quang Thiên Vương đã chứng được cảnh giới này.

Phật bất tư nghị ly phân biệt,                    Phật không nghĩ bàn lìa phân biệt
Liễu tướng thập phương vô sở hữu,          Thấy rõ mười phương chẳng có tướng
Vì thế quảng khai thanh tịnh đạo,            Vì đời rộng mở đạo thanh tịnh
Như thị Tịnh nhãn năng quán kiến.          Như thế Tịnh Nhãn quán thấy được.

‘’ Phật không nghĩ bàn lìa phân biệt.’’ Phật là nửa chữ Phạn, đầy đủ là Phật Ðà Gia. Phật Ðà Gia dịch là “giác giả”, tức là bậc giác ngộ. Giác ngộ cái gì? Giác ngộ pháp thế gian là vô thường, là khổ, là không, là vô ngã. Pháp xuất thế gian là thường, là lạc, là ngã, là tịnh. Nói đơn giản, giác ngộ những gì mê hoặc chúng sinh, biết rõ những gì chúng sinh chấp trước, buông bỏ những gì chúng sinh buông bỏ chẳng đặng. Giác ngộ tất cả các pháp, đều là từ duyên mà sinh, từ duyên mà diệt. Do đó: ‘’ Ba giác tròn, vạn đức đầy.’’ Tức là Phật. Vậy ba giác là gì?

  1. Tự giác: Tức là tu pháp Bốn Diệu Ðế hoặc là pháp Mười Hai Nhân Duyên mà giác ngộ. Nhị thừa là tự giác, phàm phu thì không giác. Cho nên nói tự giác và phàm phu chẳng giống nhau.

Có người cho rằng mình là giác, thực ra là mê trong mê, tại sao? Vì họ không những không nhận thức được giác, mà cũng không nhận thức được mê. Phải biết, không giác tức là mê, mê tức là hồ đồ, tự mình cho rằng không mê, loại người này đáng thương xót nhất !

  1. Giác tha: Tức là tu pháp Lục độ, tự mình minh bạch rồi, cũng dạy người khác minh bạch, cho nên nói giác tha khác với Nhị thừa. Nhị thừa là tự giác, Bồ Tát là giác tha.
    Bậc Nhị thừa tự mình đã giác ngộ pháp sinh tử rồi, không muốn đi giáo hóa kẻ khác, chỉ muốn làm liễu hán, mà không muốn hành Bồ Tát đạo.
  2. Giác mãn: Tức là tự giác huệ đầy, giác tha phước đầy, phước huệ đều đủ, vạn đức tròn đầy. Ðức Phật là giác mãn, cho nên nói giác mãn khác với Bồ Tát.

Bồ Tát tuy nhiên trí huệ tự giác viên mãn rồi, nhưng công đức giác tha chưa đầy đủ, cho nên tận sức hành Bồ Tát đạo, tăng trưởng phước đức. Cảnh giới của Phật không thể dùng tâm thức của chúng ta để phân biệt. Trong bổn Kinh Hoa Nghiêm này có nói:

“Nếu người muốn biết cảnh giới Phật,
Hãy tịnh ý mình như hư không”.

Nếu có người muốn biết cảnh giới của Phật, nên thanh tịnh ý niệm của mình, khiến cho giống như hư không, không có phân biệt, không có chấp trước, mới có thể minh bạch được một chút cảnh giới của Phật.

‘’ Thấy rõ mười phương chẳng có tướng.’’ Tướng của Phật là vô tướng, chẳng phải không có tướng, mà là tướng của Phật tuy nhiên tận hư không khắp pháp giới, nhưng chúng ta không cách chi thấy được tướng của Phật, không cách chi minh bạch được tướng của Phật, tại sao? Vì chúng ta ở trong tướng của Phật, không biết tướng của Phật cỡ nào? Cho nên nói thấy rõ mười phương chẳng có tướng.

‘’ Vì đời rộng mở đạo thanh tịnh.’’ Phật vì tất cả chúng sinh thế gian, rộng mở đủ loại đạo thanh tịnh, lập đủ loại phương tiện pháp môn, để giáo hóa tất cả chúng sinh, độ tất cả chúng sinh.

Ðạo thanh tịnh là gì? Thanh tịnh là chẳng có tư tưởng ô nhiễm, đạo là con đường. Ðức Phật giáo hóa chúng sinh tu pháp chẳng có ô nhiễm, đi trên con đường chẳng có nhiễm ô, như thế mới có thể ra khỏi trần lao.

‘’ Như thế Tịnh Nhãn quán thấy được.’’ Diệu pháp thanh tịnh và đạo thanh tịnh như thế, chỉ có Thanh Tịnh Công Ðức Nhãn Thiên Vương, mới quán sát được và biết rõ được cảnh giới vô tướng của Phật.

Như Lai trí tuệ vô biên tế,                         Trí huệ Như Lai không bờ mé
Nhất thiết thế gian mạc năng trắc,            Tất cả thế gian không lường được
Vĩnh diệt chúng sanh si ám tâm,               Dứt trừ si tối của chúng sinh
Đại tuệ nhập thử thâm an trụ                   Ðại Huệ thâm nhập pháp môn này.

‘’ Trí huệ Như Lai không bờ mé.’’ Trí huệ của Phật chẳng có bờ mé, chẳng có hạn lượng. Giáo nghĩa của Phật giáo cũng không bờ mé. Bất cứ là Phật giáo đồ, hoặc không phải là Phật giáo đồ, đều bao quát ở trong Phật giáo. Tin hay không tin, chỉ là vấn đề thời gian sớm muộn mà thôi, thành Phật không thành Phật cũng là vấn đề sớm muộn.

Tại sao nói Phật giáo chẳng có bờ mé? Vì tâm chúng sinh chẳng có bờ mé, nghĩa là tâm chúng sinh lớn bao nhiêu, thì Phật giáo lớn bấy nhiêu. Bất cứ bạn tin Phật hay không tin Phật, đều ở trong phạm vi Phật giáo, không thể ra ngoài Phật giáo. Phật pháp tận cùng hư không khắp pháp giới, chẳng có giới hạn. Bất cứ là hữu tình (động vật) hoặc vô tình (khoáng thực vật) đều có Phật tính. Phật tính là bình đẳng, chẳng có khác biệt. Cho nên Phật giáo chủ trương tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, đều có thể thành Phật, chẳng có phân biệt, chẳng có đẳng cấp, một luật bình đẳng, đó là chỗ tư tưởng vĩ đại của Phật giáo.
Bây giờ có người không tin Phật pháp, tương lai cuối cùng sẽ tin. Bây giờ không thành Phật, tương lai nhất định sẽ thành Phật. Chỉ cần bạn chịu tinh tấn tu hành, thì nhất định có hy vọng. Phật thì không nói dối, tuyệt đối không nói lời lường gạt chúng sinh.

‘’ Tất cả thế gian không lường được.’’ Tất cả người thế gian đều không thể lường được trí huệ của Phật nhiều bao nhiêu? Cũng không thể biết được trí huệ của Phật rộng lớn cỡ nào? Tại sao? Vì trí huệ của Phật không có bờ mé, là không thể nghĩ bàn.

‘’ Diệt trừ si tối của chúng sinh.’’ Phật dùng trí huệ rộng lớn, để giáo hóa chúng sinh, khiến cho chúng sinh bỏ mê về giác, phá trừ ngu si đắc được trí huệ. Phật vĩnh viễn diệt trừ tâm ngu si đen tối của tất cả chúng sinh, tức cũng là phá vô minh của chúng sinh, làm cho chúng sinh đắc được quang minh trí huệ.

‘’Ðại Huệ thâm nhập pháp môn này.’’ Cảnh giới này, vị Khả Ái Lạc Ðại Huệ Thiên Vương, thâm nhập thấu rõ hiểu được trí huệ không ngằn mé của Phật, an trụ ở trong tam muội này.

Như Lai công đức bất tư nghị,                  Công đức Như Lai không nghĩ bàn
Chúng sanh kiến giả phiền não diệt,         Chúng sanh thấy được diệt phiền não
Phổ sử thế gian hoạch an lạc,                    Khiến khắp thế gian được an lạc
Bất động Tự tại Thiên năng kiến.             Bất Ðộng Tự Tại Thiên thấy được.

‘’ Công đức Như Lai không nghĩ bàn.’’ Như Lai làm thế nào mà tu thành? Vì có công đức, cho nên mới thành Phật. Công đức của Phật tâm không thể suy nghĩ, không thể luận bàn. Trong Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Vào Pháp Giới có bài kệ rằng:

“Bụi cõi tâm niệm đếm biết được,
Nước trong biển lớn uống hết được,
Hư không lường được, gió buộc được,
Không thể nói hết công đức Phật”.

Số hạt bụi trong thế giới nhiều vô số, mỗi chúng sinh trên thế giới khởi tâm động niệm, đều có thể biết ; nước trong biển lớn có thể uống hết được, tuy nhiên hư không vô biên, cũng có thể trắc lượng được ; gió lớn tuy không có hình tướng cũng có thể buộc nó lại được, nhưng không ai có thể biết được công đức của Phật, cho nên nói công đức Như Lai không thể nghĩ bàn.

‘’ Chúng sinh thấy được diệt phiền não.’’ Vì Phật đều từ bi đối với tất cả chúng sinh, chúng sinh thấy được bèn sinh tâm hoan hỷ, cho nên chúng sinh thấy được Phật, thì phiền não tiêu sạch, đó là sự cảm ứng của công đức.

‘’ Khiến khắp thế gian được an lạc.’’ Phật làm cho tất cả chúng sinh trên thế gian, đắc được an lạc chân chánh. Do đó:

“Thân thư thái không nguy là an,
Tâm sáng suốt không buồn là lạc”.

Ðó là an lạc nhỏ, đắc được Niết Bàn bốn đức, là đại an lạc. Phật khiến cho chúng sinh an trụ, nơi an lạc cõi Tịnh Ðộ Thường Tịch Quang.

‘’ Bất Ðộng Tự Tại Thiên thấy được.’’ Cảnh giới này, vị Bất Ðộng Tự Tại Thiên Vương thấy được, mà vào môn giải thoát này.

Chúng sanh si ám thường mê phước,        Chúng sinh si tối thường mê muội
Như Lai vi thuyết tịch tĩnh pháp,              Như Lai mở bày pháp tịch tĩnh
Thị tắc chiếu thế trí tuệ đăng,                   Là đèn trí huệ chiếu thế gian
Diệu nhãn năng tri thử phương tiện.        Diệu Nhãn biết được phương tiện này.

‘’ Chúng sinh si tối thường mê muội.’’ Chúng sinh là gì? Tức là chúng duyên giả hợp mà sinh. Ví như thực vật, trước hết phải có hạt giống, sau đó mới được thiên thời, địa lợi, nhân hòa ba điều kiện chi phối.

Trước hết phải có đất ướt, công sức nông dân, khí hậu ôn hòa, thì hạt giống mới sinh trưởng được, mới mong thu hoạch. Mùa xuân là thời kỳ gieo trồng, mùa hạ là thời kỳ canh tác trồng trọt, mùa thu thì thu hoạch, mùa đông thì cất vào kho. Bốn thời kỳ này phân ra có đủ: Thành, trụ, hoại, không bốn tướng. Gieo cấy là thời kỳ thành, canh tác trồng trọt là thời kỳ trụ, thu hoạch là thời kỳ hoại, cất vào kho là thời kỳ không. Cho nên nói thành trụ hoại không đều có thời kỳ.

Nếu như chỉ có đất mà không có duyên nước, thì hạt giống không thể sinh trưởng nảy mầm. Có đất, có mưa mà không có người gieo trồng, thì cũng không thể phát sinh được. Cho nên phải có các nhân duyên hòa hợp mới thành chúng sinh.

Chúng sinh nói ở đây, chẳng riêng gì chỉ con người mà nói, cho đến bao quát: Thai, noãn, thấp, hóa bốn loài. Nói tỉ mỉ thì có chín loài, mười hai loài .v.v. Nhưng chúng sinh phần nhiều ngu si, cho nên gọi là si ám. Si ám này, nói về phương diện thô tức là phiền não (phiền thân não tâm), nói về phương diện tế là vô minh. Chúng sinh thường bị vô minh phiền não mê hoặc, che lấp chân tâm thanh tịnh quang minh.

‘’ Như Lai mở bày pháp tịch tĩnh.’’ Vì chúng sinh thường bị ngu si che lấp, không tiếp thọ được sự giáo hóa của Phật, cho nên Phật vốn dùng bốn tâm vô lượng, vì chúng sinh mà thuyết pháp. Bốn tâm vô lượng là

  1. Tâm từ vô lượng .
    2. Tâm bi vô lượng.
    3. Tâm hỷ vô lượng.
    4. Tâm xả vô lượng.

Nói pháp gì? Nói pháp tịch tĩnh. Pháp tịch tĩnh là gì? Tức là tu thiền định.

‘’ Là đèn trí huệ chiếu thế gian.’’ Phật dạy chúng sinh tu pháp tịch tĩnh, pháp tịch tĩnh tức là đèn đại trí huệ chiếu sáng khắp thế gian. Thiền tức là định, định khống chế được các vọng tưởng, đến cảnh giới một niệm không sinh thì, trí huệ quang hiện tiền sẽ khai ngộ. Cho nên nói tịch tĩnh là đèn trí huệ.

‘’ Diệu Nhãn biết được phương tiện này.’’ Vị Diệu Nghiêm Nhãn Thiên Vương minh bạch được pháp phương tiện này.

Như Lai thanh tịnh diệu sắc thân,            Sắc thân Như Lai đẹp thanh tịnh
Phổ hiện thập phương vô hữu bỉ,              Hiện khắp mười phương không gì sánh
Thử thân Vô tánh vô y xứ,                         Thân này không tánh không chỗ nương
Thiện tư duy Thiên sở quan sát.               Thiện Tư Duy Thiên quán sát được.

‘’ Sắc thân Như Lai đẹp thanh tịnh.’’ Pháp thân của Như Lai là thanh tịnh, báo thân của Như Lai cũng thanh tịnh, ứng thân Như Lai cũng thanh tịnh, cho nên nói sắc thân Như Lai đẹp thanh tịnh, là sắc thân vàng tốt đẹp trang nghiêm.

‘’ Hiện khắp mười phương không gì sánh.’’ Sắc thân thanh tịnh quang minh tốt đẹp này không thể nghĩ bàn, thị hiện khắp mười phương thế giới của chư Phật. Tức là mười phương chư Phật, cũng không thể sánh được thân quang minh thanh tịnh của Phật, cho nên nói hiện khắp mười phương không thể sánh.

‘’ Thân này không tánh không chỗ nương.’’ Sắc thân Phật này đẹp thanh tịnh, chẳng có tự tánh cũng chẳng có chỗ nương tựa. Vì Phật rất tự tại, vô tại vô bất tại, vô sở bất tại (chẳng có chỗ nào mà không có thân Phật), cho nên nói thân này không tánh không chỗ nương.

‘’ Thiện Tư Duy Thiên quán sát được.’’ Cảnh giới này vị Thiện Tư Duy Quang Minh Thiên Vương thấy được.

Như Lai âm thanh vô hạn ngại,                Âm thanh Như Lai không hạn lượng
Kham thọ hóa giả mị bất văn,                   Người được giáo hóa thảy đều nghe
Nhi Phật tịch nhiên hằng bất động           Mà Phật tịch nhiên luôn bất động
Thử lạc trí Thiên chi giải thoát.                Giải thoát này Lạc Trí Thiên chứng.

‘’ Âm thanh Như Lai không hạn lượng.’’ Âm thanh của Như Lai vô cùng vô tận, không có hạn lượng, không có trở ngại, cho nên bất cứ đi đến đâu, cũng đều nghe được âm thanh của Phật.

Tôn giả Mục Kiền Liên vận dụng sức thần thông đi về hướng đông. Ði qua vô lượng trăm ngàn ức cõi Phật, vẫn nghe được âm thanh của Phật như ở trước mặt, nghe được rất rõ ràng, cho nên nói âm thanh của Như Lai không hạn lượng.

‘’ Người được giáo hóa thảy đều nghe.’’ Chúng sinh có duyên với Phật, đều nghe được âm thanh của Phật. Nếu chúng sinh không có duyên, thì không bàn đến, do đó:

“Nước mưa tuy nhiều,
Cỏ khô rễ không thể sống lại được,
Cửa Phật tuy rộng,
Khó độ những người không có duyên”.

Phật cũng có ba điều không thể làm được:
1. Không thể diệt được định nghiệp.
2. Không thể độ người không có duyên.
3. Không thể độ hết cõi chúng sinh.

‘’ Mà Phật tịch nhiên luôn bất động.’’ Chúng sinh không đến chỗ Phật, Phật cũng không đến chỗ chúng sinh, nhưng âm thanh của Phật, chúng sinh đều nghe khắp hết. Ðó là nhân duyên gì? Phật vẫn ngồi ở cõi Thường Tịch Quang, tu hành thường lạc ngã tịnh, vì âm thanh của Phật vô ngại, bất cứ cõi nước nào, bất cứ loại chúng sinh nào, đều nghe được âm thanh của Phật rõ ràng.

‘’ Giải thoát này Lạc Trí Thiên chứng.’’  Môn giải thoát này vị Khả Ái Lạc Ðại Trí Thiên Vương chứng được.

Tịch tĩnh Giải thoát Thiên nhân chủ,       Tịch tĩnh giải thoát chúa trời người
Thập phương vô xứ bất hiện tiền,            Mười phương không chỗ nào chẳng hiện
Quang minh chiếu diệu mãn thế gian,      Quang minh chiếu sáng khắp thế gian
Thử vô ngại Pháp nghiêm tràng kiến.      Pháp vô ngại này Nghiêm Tràng thấy.

‘’ Tịch tĩnh giải thoát chúa trời người.’’ Tịch tĩnh là nơi không ồn ào. Vì nơi tịch tĩnh mới đắc được giải thoát, đắc được giải thoát mới thật tịch tĩnh. Tên gọi này chỉ có đức Phật, mới đảm đang được, mới có tư cách xưng là, tịch tĩnh giải thoát chúa của trời, người.

‘’ Mười phương không chỗ nào chẳng hiện.’’ Pháp thân Phật, là vô tại vô sở bất tại. Mười phương thế giới, không có chỗ nào mà Phật chẳng đến, Phật chẳng đi, Phật không ở đó. Cho nên mới nói mười phương không chỗ nào không hiện.

‘’ Quang minh chiếu sáng khắp thế gian.’’ Quang minh của Phật, chiếu sáng ba ngàn đại thiên thế giới, trí huệ quang minh đầy khắp thế gian, khiến cho chúng sinh đều đắc được lợi ích, bỏ trần lao hợp với giác ngộ, lìa khổ được vui.

‘’ Pháp vô ngại này Nghiêm Tràng thấy.’’ Ðắc được pháp vô ngại này, thấy được pháp vô ngại này, là vị Phổ Âm Trang Nghiêm Tràng Thiên Vương, vị này thấu hiểu được pháp môn này.

Phật ư vô biên Đại kiếp hải,                      Phật trong vô biên biển đại kiếp
Vì chúng sanh cố cầu Bồ-đề,                      Vì chúng sinh mà cầu bồ đề
Chủng chủng Thần thông hóa nhất thiết, Các loại thần thông hóa hết thảy
Danh xưng quang Thiên ngộ tư Pháp.      Danh Xưng Quang Thiên ngộ pháp này.

‘’Phật trong vô biên biển đại kiếp. Ðức Phật:

“Tam kỳ tu phước huệ,
Bách kiếp chủng tướng hảo”.

Nghĩa là:
Ba A Tăng Kỳ kiếp tu phước huệ,
Trăm kiếp trồng tướng tốt.

Nói là ba đại A Tăng Kỳ kiếp, thực ra không biết trải qua bao nhiêu đại A Tăng Kỳ kiếp? A Tăng Kỳ kiếp dịch là “vô lượng số”. Ba vô lượng số kiếp, sâu rộng như biển cả, cho nên nói Phật trong vô biên biển đại kiếp.

‘’ Vì chúng sinh mà cầu bồ đề.’’ Mục đích Phật tu đạo, là vì giáo hóa chúng sinh, khiến cho chúng sinh đều thành Phật đạo. Chẳng phải vì chính mình, mà là vì chúng sinh mà phát tâm bồ đề, khiến cho chúng sinh đồng thời đều chứng được A Nậu Ða La Tam Miệu Tam Bồ Ðề (vô thượng chánh đẳng chánh giác).

‘’ Các loại thần thông hóa hết thảy.’’ Phật rất từ bi, dùng các loại thần thông, các loại công đức, để giáo hóa tất cả chúng sinh, không những giáo hóa chúng sinh hữu tình, mà còn giáo hóa chúng sinh vô tình.

‘’ Danh Xưng Quang Thiên ngộ pháp này.’’ Vị Danh Xưng Quang Thiện Tinh Tấn Thiên Vương ngộ được pháp môn này.

Ở trên là kệ của mười vị Ðại Tự Tại Thiên Vương nói, thuộc về sắc giới, trời Sắc Cứu Cánh cao nhất trong trời Ngũ Bất Hoàn (cũng là sắc giới Thập Bát Thiên).

Phục thứ, khả ái lạc pháp quang minh tràng Thiên Vương, đắc phổ quán nhất thiết chúng sanh căn vi thuyết Pháp đoạn nghi giải thoát môn
Lại nữa, Khả Ái Lạc Pháp Quang Minh Tràng Thiên Vương, được môn giải thoát, quán khắp tất cả căn tánh của chúng sinh, để thuyết pháp dứt nghi cho họ.

Ý nghĩa lại nữa là Kinh văn ở trước chưa nói hết lại tiếp tục nói. Vị Khả Ái Lạc Pháp Quang Minh Tràng Thiên Vương này, thuộc về sắc giới trời Quảng Quả trong Trời Tứ Thiền (Sắc giới cõi trời thứ mười hai). Vị này hoan hỷ nhất về Phật pháp. Bất cứ pháp gì, vị này đều tu hành, không những tu hành mà còn tinh tấn, cho nên đắc được đại trí huệ, giống như tràng báu quang minh.
Vị này thành tựu đắc được cũng lớn, đắc được tam muội thù đặc, biết được căn tánh của chúng sinh, đều khác nhau. Tuy nhiên đều có Phật tánh, nhưng đều khác biệt.

Căn tánh con người có hai thứ. Một là lợi căn, một là độn căn. Nói đơn giản, lợi căn là người thông minh có trí huệ. Ðộn căn là người ngu si chẳng có trí huệ. Mục đích chúng ta học Phật pháp là học trí huệ, tức là “Bát Nhã”. Làm thế nào mới có được trí huệ? Từ hai phương diện mà hạ thủ công phu:

  1. Vào sâu tạng Kinh trí huệ như biển.
  2. Tham thiền đả tọa, trí huệ giải thoát.

Người độn căn vì họ mà thuyết pháp, nói một lần họ không hiểu, nói hai lần họ cũng không hiểu, càng nói càng hồ đồ, càng hồ đồ càng phải hỏi. Giống như đệ tử của đức Phật, Tôn giả Châu Lợi Bàn Ðà, vị này là người tối tăm ngu nhất của đức Phật, về sau vị này thành tựu biện tài vô ngại, là nghĩa trì đệ nhất. Có thể thấy tu hành thì không sợ ngu độn, chỉ sợ không chịu phát tâm. Nếu chịu phát tâm thì dù hạ ngu cũng đắc được thượng trí.

Người lợi căn, nghe được một thứ đạo lý thì hiểu rõ tất cả đạo lý khác. Vị Nhan Hồi nghe một biết mười. Ðề Bà Ðạt Ða là đệ tử của Phật, là người thông minh nhất, tuy nhiên có trí huệ, nhưng thông minh ngược lại bị thông minh lầm lẫn, kết quả đọa vào địa ngục.

Lợi và độn là người bình thường, khốn khó mà học là người thông minh, khốn khó mà không học là người ngu si. Thánh nhân là sinh ra mà biết, hiền nhân thì học mà biết ; chúng ta là người bình thường thì phải học Phật pháp.
Có người sinh ra tâm từ bi rất lớn, có người sinh ra tâm từ bi rất nhỏ. Có người sinh ra tâm tham lam rất lớn, có người sinh ra tâm tham lam rất ít. Chúng sinh có đủ thứ căn tính khác nhau. Vị Thiên Vương này biết được dục vọng của chúng sinh.

Loại chúng sinh nào hoan hỷ pháp gì, thì vị này thuyết pháp đó. Ví như gặp chúng sinh tham lam thì nói pháp bố thí cho họ nghe, nói bố thí có công đức gì? Gặp chúng sinh phạm giới, thì nói pháp trì giới cho họ nghe, nói sự lợi ích về sự trì giới. Gặp người nhiều sân hận, thì nói pháp nhẫn nhục, dạy họ học theo Bồ Tát Di Lặc, mở miệng thường cười, nhẫn việc thiên hạ không thể nhẫn. Gặp chúng sinh lười biếng giải đãi thì nói pháp tinh tấn cho họ nghe, phải siêng tu khổ hạnh, mới mong thành tựu.

Do đó trồng trọt một phần thì thu hoạch một phần. Nhất là tu hành, công phu tu một ngày thì có công đức một ngày, cho nên tu hành thì không lãng phí thời gian, hy vọng mọi người đầu sào trăm trượng càng tiến tới một bước. Gặp chúng sinh tán loạn không có định lực, thì nói pháp thiền định tham thoại đầu như thế nào? (tinh thần tập trung, nghĩ “Niệm Phật là ai”?) Gặp chúng sinh ngu si thì nói pháp trí huệ, khiến cho họ khai mở trí huệ, đắc được cảnh giới thật tướng Bát Nhã. Ðó là Lục độ căn bản của pháp đại thừa.

Nói tỉ mỉ về căn tính của chúng sinh, thì có tám vạn bốn ngàn, Phật pháp có bốn vạn tám ngàn pháp môn, chuyên đối trị bệnh của chúng sinh. Pháp môn có cao thấp, môn nào cũng đệ nhất ; pháp môn nào đối cơ là đệ nhất, ngoài ra các pháp môn kia là đệ nhị.

Người hay thuyết pháp, thì khiến cho người sinh đạo tâm, người không hay thuyết pháp, thì khiến cho người sinh tâm thối lui, cho nên khi thuyết pháp, thì phải quán sát căn tính của đối phương, là lợi căn hay độn căn? Ðối với người lợi căn, thì giảng về đạo lý chân không diệu hữu trung đạo đệ nhất nghĩa, khiến cho họ hiểu rõ về thật nghĩa đại thừa. Ðối với người độn căn, thì nói pháp nhân duyên sinh diệt, hoặc pháp nhân quả báo ứng, khiến cho họ hiểu rõ về thật nghĩa tiểu thừa.

Tôn giả Xá Lợi Phất có hai vị đệ tử tu hành nhiều năm mà chẳng thành tựu. Xá Lợi Phất hỏi đức Phật là lý do gì?

Ðức Phật hỏi: ‘’ Vị đó trước khi xuất gia làm nghề gì? ‘’

Xá Lợi Phất đáp: ‘’ Một là thợ bạc, một là xem mộ.’’

Ðức Phật nói: ‘’ Nên dạy vị Tỳ kheo thợ bạc tu pháp sổ tức (đếm hơi thở), dạy vị Tỳ kheo xem mộ tu pháp quán xương trắng, như vậy thì có thể thành tựu.’’

Tôn giả Xá Lợi Phất trở về dạy tu theo như thế, không lâu hai vị đều chứng quả. Ðó là theo căn tính thích ứng với họ mà thí giáo.

Theo bệnh cho thuốc: Chúng sinh đều có bệnh phiền não, bệnh tham lam, bệnh sân hận, bệnh ngu si, vô minh .v.v. Thậm chí có tám vạn bốn ngàn thứ bệnh. Phật pháp là thuốc thần, người thuyết pháp là bác sĩ. Bác sĩ trước hết phải xem bệnh gì? Sau đó dùng thuốc thích đáng để điều trị. Bệnh nhiệt thì dùng thuốc mát, bệnh hàn thì dùng thuốc nhiệt, như vậy mới hy vọng thuốc công hiệu chữa lành bệnh. Do đó:

“Thuốc không hay dở, lành bệnh là thuốc hay ;
Pháp không cao thấp, hợp cơ là pháp diệu”.

Gặp chúng sinh căn lành thành thục, thì dạy họ xuất gia tu đạo. Gặp chúng sinh không có căn lành, thì dạy họ trồng căn lành tu phước đức. Gặp chúng sinh đã trồng căn lành, thì dạy họ phương pháp làm tăng trưởng căn lành.
Tóm lại, đã tăng trưởng thì khiến cho thành thục. Ðã thành thục khiến cho giải thoát. Cho nên vì chúng sinh thuyết pháp đoạn trừ tâm nghi của họ, mà sinh ra tâm tin, đắc được môn giải thoát không chướng ngại.

Tịnh trang nghiêm hải Thiên Vương, đắc tùy ức niệm lệnh kiến Phật giải thoát môn
Tịnh Trang Nghiêm Hải Thiên Vương được môn giải thoát, tùy sự nghĩ nhớ, khiến cho được thấy Phật.

Vị Thanh Tịnh Trang Nghiêm Hải Thiên Vương này, thanh tịnh trang nghiêm rộng lớn giống như biển, và còn trang nghiêm khắp hết thảy cõi Phật. Cảnh giới Tam muội của vị này, bất cứ lúc nào chỉ cần nghĩ nhớ đến Phật, thì sẽ thấy được Phật. Không những vị này đắc được tam muội tùy theo sự nghĩ nhớ, cũng khiến cho chúng sinh đắc được pháp môn này.

Bồ Tát Ðại Thế Chí nói: ‘’ Lúc nào bạn nghĩ nhớ Phật thì sẽ thấy Phật, trừ khi quên nghĩ nhớ thì không thấy Phật.’’ Pháp môn niệm Phật ví như mẹ con hai người, người niệm Phật là con, sở niệm Phật là người mẹ. Mẹ con sinh sống với nhau rất sung sướng, nhưng người con không giữ quy cụ, thích chơi đùa, chạy ra bên ngoài, không ở với người mẹ, lang thang phiêu bạt bên ngoài, chẳng có nghề nghiệp chính đáng. Lúc này, người mẹ luôn luôn tưởng nhớ con, có câu rằng: ‘’ Con đi ngàn dặm mẹ âu lo,’’ hôm nay nghĩ, ngày mai nghĩ, nghĩ không ngừng, nhưng người con không nghĩ đến người mẹ, lang thang bên ngoài không nhớ trở về. Trải qua nhiều năm sau đó, người con hốt nhiên nghĩ nhớ người mẹ, sinh ra hồi tưởng nhớ lại. Con nghĩ tưởng mẹ, mẹ nghĩ tưởng con, cùng nhau nghĩ tưởng, khởi lên tâm điện tác dụng tương thông, do đó:‘’ tâm điện cảm ứng ‘’, người con bèn trở về nhà cố hương của mình. Do đó:

“Nhớ Phật niệm Phật,
Hiện tiền tương lai,
Nhất định thấy Phật”.

Chúng ta niệm danh hiệu Phật A Di Ðà, thì Phật tiếp dẫn chúng ta trở về cõi Phật. Chúng ta phiêu bạt lang thang bên ngoài làm người lưu lãng, không biết trở về nhà gặp mẹ. Vị Thiên Vương này nói: ‘’ Bất cứ lúc nào, bạn nhớ Phật niệm Phật, hoặc hiện tại thấy được Phật, hoặc là vị lai sẽ thấy được Phật.’’ Bạn niệm Phật không thấy Phật, bèn sinh tâm hoài nghi, cho rằng Kinh Phật nói không linh nghiệm. Phật thì không nói dối, pháp của Phật nói đều viên dung vô ngại. Bây giờ không thấy Phật, tương lai sẽ thấy Phật, hoặc là đời sau sẽ thấy Phật, nếu tâm thật niệm Phật thì hiện tại sẽ thấy Phật, tương lai sẽ thành Phật.

Tối thắng tuệ quang minh Thiên Vương, đắc pháp tánh bình đẳng vô sở y trang nghiêm thân giải thoát môn
Tối Thắng Huệ Quang Minh Thiên Vương, được môn giải thoát, tánh bình đẳng không chỗ nương tựa trang nghiêm thân.

Vị Tối Thắng Huệ Quang Minh Thiên Vương này, trí huệ thù thắng nhất, có vô lượng vô biên quang minh, cho nên khai mở đại trí huệ. Vị này đắc được môn giải thoát, pháp tánh bình đẳng không chỗ y tựa trang nghiêm thân.

Pháp tánh vốn là bình đẳng, vì sao phải nói chữ “đắc”? Vì thành Phật rồi, pháp tánh mới bình đẳng ; ở phần chúng sinh, thì đừng nói đến pháp tánh bình đẳng. Bình đẳng thì không thêm không bớt. Ở phần chúng sinh chẳng bình đẳng, đó là một lối nói pháp. Lại có một lối nói pháp nữa là, ở phần chúng sinh bình đẳng. Tại sao? Vì pháp tánh ở phần chúng sinh chẳng bớt chút nào, ở phần chư Phật cũng chẳng thêm chút nào, nguồn gốc là bình đẳng. Vì bình đẳng cho nên không chỗ nương tựa. Tại sao không chỗ nương tựa? Tức là không chấp trước, không có tướng ta, chẳng có thị phi. Vì không chỗ nương, mới là chân chánh bình đẳng. Nếu có chỗ nương thì không bình đẳng.

Chỗ này có người nói:‘’ Pháp này tôi tin, pháp kia tôi không tin ‘’, vậy bạn tin là chấp trước, không tin cũng chấp trước. Con người là động vật kỳ quái. Quái như thế nào? Thích đầu lại thêm đầu, không việc đi tìm việc. Hôm qua muốn ăn bột, hôm nay ăn bột rồi, lại nói ăn không ngon. Lại muốn ăn mì, muốn ăn bánh, ngày mai lại muốn ăn cơm. Ðó là đem sự việc ăn để so sánh khẩu vị ba ngày không giống nhau.

Tin Phật pháp cũng như thế, trong quá khứ thì tin pháp môn niệm Phật, sớm muốn chứng niệm Phật Tam muội bèn sinh hoài nghi: ‘’Không biết cứu kính có pháp môn này chăng? ‘’ Vì sinh tâm hoài nghi như thế, cho nên chết rồi không thể vãng sinh về thế giới Cực Lạc. Ðời này lại sinh tâm hoài nghi nữa:‘’ Niệm Phật có ích lợi gì chăng? Pháp môn này là gạt người, chỉ có người già mới niệm Phật, ta là đại trượng phu, ta không niệm Phật !‘’ Bạn xem ! Kiếp trước niệm Phật, sinh ra tâm hoài nghi, đời này càng không tin niệm Phật.

Có người kiếp trước tin tham thiền đả tọa, tham đi tham lại chỉ còn chút nữa thì khai ngộ, nhưng họ lại sinh tâm thối chuyển. Tâm nghĩ: ‘’Tôi tham thiền một đời, mà chẳng khai ngộ, đây là pháp môn gạt người. Nghe nói niệm Phật là phương tiện pháp môn, có thể trực tiếp vãng sinh về Tây Phương, chi bằng hãy thử xem.’’ Như vậy, tham thiền đã không khai ngộ, niệm Phật cũng chẳng được vãng sinh. Do đó: một chân thì ở thuyền này, một chân thì ở thuyền kia, tâm muốn đi về giang nam, lại muốn về giang bắc, kết quả lạc vào giang trung, chẳng có sở đắc !

Ngoài ra bất cứ học giáo lý, học luật, học mật tông cũng đều như thế, tu một thời gian thì thay đổi, không giữ được bền lâu, thấy lạ muốn đổi cuối cùng lãng phí công phu. Vì trong quá khứ luôn luôn thay đổi mục tiêu, cho nên công phu trước kia bỏ hết, đến đời này mới luyện lại từ đầu. Có câu kệ rằng:

“Tất cả là khảo nghiệm,
Hãy xem nên làm gì?
Trước mắt không nhận thức,
Phải luyện lại từ đầu”.

Cho nên nói người là quái vật. Tâm lý một số người thích mới chán cũ, nhất là hôm nay khoa học văn minh, ngày mới tháng khác, luôn luôn dẫn dụ người. Nếu ý chí không vững chắc thì chuyển theo cảnh giới, mà mất đi đạo tâm. Muốn tu pháp môn bố thí, nhưng tham luyến tiền bạc, phải biết tiền là vật bên ngoài, sinh ra không mang đến, chết cũng không mang đi, chỉ có nghiệp theo thân đi thôi. Hy vọng người giàu có làm nhiều việc có ích cho chúng sinh, như làm trường học, lập nhà thương, cô nhi viện và viện dưỡng lão, trực tiếp giải trừ khổ cho chúng sinh, công đức vô lượng !

Tự tại trí tuệ tràng Thiên Vương, đắc liễu tri nhất thiết thế gian Pháp nhất niệm trung an lập bất tư nghị trang nghiêm hải giải thoát môn
Tự Tại Trí Huệ Tràng Thiên Vương được môn giải thoát, biết rõ tất cả pháp thế gian, trong một niệm an lập biển trang nghiêm không nghĩ bàn.

Vị Tự Tại Trí Huệ Tràng Thiên Vương này, tự tại vô cùng mà còn có trí huệ. Tự tại thì chẳng có chấp ta và chấp pháp, chẳng có chấp ta thì tướng ta là không ; chẳng có chấp pháp thì tướng pháp cũng không. Ta pháp hai chấp đều không, đó mới là tự tại, chấp ta chẳng không thì vẫn còn ta, thì chẳng đắc được tự tại. Chấp pháp chẳng không, vẫn còn chấp pháp thì cũng chẳng đắc được tự tại. Người có chấp ta, cho rằng ta là đệ nhất, ta là lớn nhất, cao nhất, tôn quý nhất, các bạn đều phải cung kính ta, tín ngưỡng ta, lễ bái ta, đem cái ta để ở trước, đó là cái ta lớn gấp vạn lần so với núi Tu Di.

Người có tư tưởng như thế thì chẳng được tự tại. Người có chấp pháp cũng như thế, cho rằng pháp này là hay nhất, hy hữu nhất, khó được nhất, là không thể nghĩ bàn, vi diệu đến cực điểm, huyền diệu đến chỗ tột cùng, thật là khó gặp. Ngày đêm sáu thời không nghỉ ngơi, chuyên khởi vọng tưởng về pháp, ở trong mộng cũng như thế. Cho nên người có chấp pháp và chấp ta thì không đắc được tự tại. Trí huệ là đối với ngu si mà nói, danh từ Phật giáo là tương đối. Ngu si là gì? Tức là người ngu dốt, không những tâm lý không kiện toàn, mà sinh lý cũng không kiện khang.

Còn có một thứ người, họ không tu đạo, không tham thiền, mà muốn khai ngộ thành Phật. Không siêng năng học hành, mà muốn đậu bác sĩ. Không gieo trồng mà muốn thu hoạch, tóm lại, không muốn bỏ công sức, mà muốn thành tựu. Ðó là người ngu nói mộng.

Người có trí huệ biết tôi muốn thành Phật, nhất định trước phải tu hành. Muốn làm bác sĩ, nhất định phải siêng năng học hành. Muốn thu hoạch ngũ cốc, phải nỗ lực canh tác. Muốn làm việc gì, thì phải y theo đó mà làm, đừng tưởng tượng những việc không thể được. Ðứng vững trên mặt đất, tuân theo quy cụ, không làm việc cẩu thả. Người có tư tưởng như thế, bất cứ làm việc gì cũng đều thành công.

Do đó, người có trí huệ, thì không làm việc ngu si, người ngu si không làm được việc có trí huệ. Người ngu si không tin nhân quả, người có trí huệ, thì tin sâu nhân quả. Cho nên nói vị Thiên Vương này, trí huệ trang nghiêm cõi Phật giống như tràng báu.

Vị Thiên Vương này có đại trí huệ, biết rõ tất cả pháp thế gian, nhưng biết rõ pháp thế gian rồi, thì cũng hiểu rõ pháp xuất thế gian. Lục Tổ Huệ Năng đại sư có nói:

“Phật pháp tại thế gian,
Không rời thế gian giác,
Bỏ thế gian cầu bồ đề,
Ví như tìm sừng thỏ”.

Vị Thiên Vương này ở trong một niệm, an lập biển trang nghiêm không thể nghĩ bàn, trang nghiêm pháp giới của Phật, trang nghiêm pháp giới của Bồ Tát, trang nghiêm pháp giới của Duyên Giác, trang nghiêm pháp giới của Thanh Văn, trang nghiêm tất cả pháp giới của chúng sinh. Vị này đắc được môn giải thoát biển trang nghiêm này.

Lạc tịch tĩnh Thiên Vương, đắc ư nhất mao khổng hiện bất tư nghị Phật sát vô chướng ngại giải thoát môn
Lạc Tịch Tĩnh Thiên Vương được môn giải thoát, trong một lỗ chân lông, hiện cõi Phật không thể nghĩ bàn không chướng ngại.

Vị Lạc Tịch Tĩnh Thiên Vương này thích tịch tĩnh, pháp môn của vị này đắc được là: môn giải thoát không chướng ngại không thể nghĩ bàn. Có thể trong một lỗ chân lông hiện ra cõi Phật không thể nghĩ bàn, đó gọi là cảnh giới ‘’ trong nhỏ hiện lớn.‘’ Ở trong một lỗ chân lông, hiện ra vô lượng cõi nước chư Phật, chư Phật ở trong cõi nước giáo hóa chúng sinh, chúng sinh lại ở trong cõi Phật, tu hành thành Phật và giáo hóa chúng sinh, đó là cảnh giới trong nhỏ hiện lớn, nhưng trong nhỏ chẳng có lớn, trong lớn cũng chẳng có nhỏ. Tuyệt đối chẳng phải nói ở trong lỗ chân lông, hiện ra cõi nước chư Phật, nhất định là cõi nước chư Phật thu nhỏ lại, hoặc là làm cho lỗ chân lông lớn rộng. Lỗ chân lông cũng không lớn, cõi Phật cũng không thu nhỏ lại, mà là hổ tương bao dung, đó gọi là hổ tương không chướng ngại.

Cảnh giới phàm phu chúng ta giống như căn phòng nhỏ, không thể dung nạp được nhiều người. Cảnh giới của Phật là nhỏ dung được lớn, lớn nhập vào nhỏ. Do đó:

“Trong nhỏ hiện lớn, trong lớn hiện nhỏ”.

Ví như dùng tấm gương khoảng một thước, dùng gương soi cảnh thì thấy được cảnh rất xa, hiện ra trong gương. Ðó là trong nhỏ hiện lớn. Dùng cảnh soi gương, đứng ở một nơi rất xa, thấy cảnh ở trong gương đó là trong lớn hiện nhỏ. Gương cũng không lớn thêm mà cảnh giới cũng không thu nhỏ, tức có thể hiện hai thứ cảnh giới.

Phổ trí nhãn Thiên Vương, đắc nhập Phổ môn quan sát Pháp giới giải thoát môn
Phổ Trí Nhãn Thiên Vương được môn giải thoát, nhập vào phổ môn quán sát pháp giới.

Vị Phổ Trí Nhãn Thiên Vương này, có con mắt đại trí huệ, quán sát khắp tất cả mọi nơi. Mắt trí huệ của vị này, từ đâu mà đắc được? Là từ trong Kinh điển. Nghiên cứu Kinh điển, học tập Kinh điển, là đường lối khai mở trí huệ. Kinh pháp Hoa là Kinh thành Phật ; Kinh Hoa Nghiêm là Kinh khai mở trí huệ, cũng là Kinh thành Phật, kiêm luôn cả hai.

Khai mở trí huệ là huệ đầy đủ, thành Phật là phước đầy đủ, phước huệ đều tròn đầy thì có con mắt trí huệ. Cho nên nói Kinh Hoa Nghiêm là Kinh thập toàn thập mỹ.

Lại có nói rằng, vị Thiên Vương này trong lỗ chân lông toàn thân đều có con mắt, không là chỉ một con mắt mà là vô lượng vô biên con mắt, quán sát được mười pháp giới. Tuy nhiên có nhiều con mắt nhưng hổ tương không chướng ngại. Vị này quán sát được tính pháp giới, lại có thể nhập vào tâm chúng sinh. Pháp giới lớn bao mhiêu? Lớn không có bờ mé. Nhưng không ra ngoài một tâm niệm. Pháp giới tuy lớn nhưng từ một tâm niệm hiện tiền mà trang nghiêm thành tựu. Cho nên vị Thiên Vương này đắc được môn giải thoát, nhập vào phổ môn quán sát pháp giới.

Lạc toàn tuệ Thiên Vương, đắc vị nhất thiết chúng sanh chủng chủng xuất hiện vô biên kiếp thường hiện tiền giải thoát môn
Lạc Toàn Huệ Thiên Vương được môn giải thoát, vì tất cả chúng sinh trong vô biên kiếp, thường xuất hiện vô lượng thân.

Vị Lạc Toàn Huệ Thiên Vương này, thích thu hồi lại trí huệ của mình. Vị này thường hồi quang phản chiếu, cầu nơi chính mình, không hướng cầu bên ngoài. Pháp môn của vị này tu là: độ tất cả chúng sinh, hiện đủ loại thân hình, xuất hiện ở trước chúng sinh để giáo hóa chúng sinh, không bỏ một chúng sinh nào, đối với chúng sinh có duyên khiến cho họ phát tâm bồ đề. Trong vô lượng kiếp, luôn luôn giáo hóa chúng sinh, không biết nhàm mỏi. Ðó là môn giải thoát vị này đắc được.

Thiện chủng tuệ quang minh Thiên Vương, đắc quán nhất thiết thế gian cảnh giới nhập bất tư nghị Pháp giải thoát môn
Thiện Chủng Huệ Quang Minh Thiên Vương, được môn giải thoát, quán tất cả cảnh giới thế gian, nhập vào pháp không nghĩ bàn.

Vị Thiện Chủng Huệ Quang Minh Thiên Vương này, khéo tài bồi trí huệ của minh, vị này luôn luôn nghiên cứu Kinh Ðại Bát Nhã, trồng xuống hạt giống trí huệ Bát Nhã, khi thời cơ thành thục thì sinh ra trí huệ, phóng đại quang minh. Vị này đắc được pháp môn, quán sát tất cả cảnh giới thế gian đều không thể nghĩ bàn.

Pháp này là pháp thế gian, cũng là pháp xuất thế gian. Chẳng phải từ bỏ pháp thế gian mà có pháp xuất thế gian. Ví như bàn tay, mặt phải và mặt trái đều là bàn tay, nhưng mặt phải thì cầm đồ được, còn mặt trái không thể cầm được. Pháp thế gian và pháp xuất thế gian cũng như thế. Trở qua là pháp xuất thế gian, trở lại là pháp thế gian. Do đó dễ như trở bàn tay. Phật pháp tức là như trở bàn tay. Hiểu rõ thì là pháp xuất thế gian, hồ đồ tức là pháp thế gian. Ðừng, trên đầu lại thêm đầu, riêng ngoài đi tìm pháp xuất thế ; ở trong pháp thế gian buông xả đặng tức là pháp xuất thế gian, không chấp trước tức là pháp xuất thế. Vị Thiên Vương này minh bạch đạo lý này, đắc được môn giải thoát này.

Vô cấu tịch tĩnh quang Thiên Vương, đắc thị nhất thiết chúng sanh xuất yếu Pháp giải thoát môn
Vô Cấu Tịch Tĩnh Quang Thiên Vương, được môn giải thoát, khai thị pháp xuất yếu cho tất cả chúng sinh.

Vị Vô Cấu Tịch Tĩnh Quang Thiên Vương này, có trí huệ quang minh vô cấu mà thanh tịnh. Vô cấu tức là chẳng có pháp ô nhiễm. Pháp ô nhiễm là gì? Nói đơn giản tức là tình ái nam nữ. Có pháp ô nhiễm thì không thể đắc được quang minh tịch tĩnh, cho nên Phật giáo đề xướng pháp môn đoạn dục khử ái. Ái là gốc rễ sanh tử, ái không đoạn, thì vĩnh viễn còn sinh tử. Cổ đức nói: ‘’ Tâm nhiễm dễ sinh, tịnh đức nan thành.’’ Tức là nói tâm ô nhiễm dễ sinh ra, đức tính thanh tịnh không dễ thành tựu.

Vị Thiên Vương này không có tư tưởng ô nhiễm, cho nên đắc được quang minh chân chính trí huệ tịch tĩnh. Vị này đắc được quang minh vô cấu tịch tĩnh, không ích kỷ đem chỗ đắc được xuất yếu pháp của mình, truyền thọ cho chúng sinh thế gian.

Xuất yếu pháp là gì? Tức là dùng bảo kiếm trí huệ chém sạch tất cả ma ái và ma tình, chém ma phiền não, chém ma tham lam, chém ma sân hận, chém ma ngu si, chém ma cống cao ngã mạn, chém ma vô minh, chém ma chấp trước, đó đều là yếu pháp xuất thế. Ðắc được yếu pháp xuất thế rồi, thì mới ra khỏi được thế gian, mới được giải thoát. Vị Thiên Vương này đắc được môn giải thoát yếu pháp xuất thế.

Quảng Đại Thanh Tịnh Quang Thiên Vương, đắc quan sát nhất thiết ưng hóa chúng sanh lệnh nhập Phật Pháp giải thoát môn.
Quảng Ðại Thanh Tịnh Quang Thiên Vương, được môn giải thoát, quán sát tất cả chúng sinh đáng được hóa độ, khiến cho họ vào Phật pháp.

Vị Quảng Ðại Thanh Tịnh Quang này, có quang minh thanh tịnh rộng chẳng có bờ, lớn chẳng có mé. Thanh tịnh tức là chẳng có ô nhiễm, chẳng có vô minh. Vị này đắc được tam muội quán sát, bèn biết được chúng sinh nào cơ duyên thành thục, đáng độ được. Chúng sinh nào cơ duyên chưa thành thục thì nên đợi chờ.

Chúng sinh tin Phật cũng phải có nhân duyên. Nhân duyên thành thục, thì tự nhiên họ sẽ tín ngưỡng Tam Bảo, cúng dường Tam Bảo, cung kính Tam Bảo, hộ trì Tam Bảo, cuối cùng quy y Tam Bảo. Nhân duyên chưa thành thục, thì dù Phật ở bên cạnh, họ cũng không sinh tín tâm. Chẳng phải cưỡng bách chúng sinh tin Phật, cũng chẳng phải dùng vật chất để dẫn dụ chúng sinh tin Phật, càng không dùng quan hệ nam nữ, hoặc quan hệ chính trị, khiến cho chúng sinh có sở sí đồ mà tin Phật. Mục tiêu của Phật giáo là, hoàn toàn cứu đời cứu người làm cho họ thức tỉnh, cải ác hướng thiện, chỉ dẫn chúng sinh quay đầu thì thấy bờ. Tín đồ đều ngưỡng mộ Phật và cảnh giới giải thoát viên mãn vô ngại, mà tự động đến quy y Tam Bảo, tuyệt đối không có tơ hào miễn cưỡng. Phàm là thiện nam tín nữ quy y Phật giáo, đều mong muốn tâm linh an ổn và giải thoát, mà không cầu hưởng thụ vật chất.

Nhĩ thời, khả ái lạc pháp Quang Minh Tràng Thiên Vương, thừa Phật uy lực, Phổ quán nhất thiết thiểu quảng Thiên, Vô lượng quảng Thiên, Quảng quả Thiên chúng nhi thuyết tụng ngôn
Bấy giờ, Khả Ái Lạc Quang Minh Tràng Thiên Vương, nương oai lực của đức Phật, quán sát khắp tất cả Thiên chúng trời Thiểu Quang, trời Vô Lượng Quảng, trời Quảng Quả mà nói ra bài kệ.

Lúc bấy giờ, vị Khả Ái Lạc Pháp Quang Minh Thiên Vương, trời Tứ Thiền, thuộc về sắc giới, nương đại oai thần lực của chư Phật, quán sát khắp tất cả Thiên chúng trời Thiểu Quang, trời Vô Lượng Quảng, trời Quảng Quả, mà nói ra bài kệ dưới đây, để tán thán công đức của Phật, khiến cho chúng sinh tin sâu và hiểu rõ đạo lý này.

Trời Tứ Thiền gọi là Xả Niệm Thanh Tịnh Ðịa. Ở cõi trời này chẳng có hoan hỷ khoái lạc, chỉ có thọ bình đẳng không thể hình dung. Cõi trời này phân làm ba cõi trời:

  1. Trời Thiểu Quảng còn gọi là trời Phước Sinh, chúng sinh cõi trời này chẳng còn hỷ lạc (vui thích), chỉ có tinh thần tồn tại.
  2. Trời Vô Lượng Quảng, còn gọi là trời Phước Thọ, vì phước báu của cõi trời này đáng ưa nhất. Chúng sinh cõi trời này xả bỏ hỷ lạc, tu phước đức cầu thăng lên trời.
  3. Trời Quảng Quả, chúng sinh cõi trời này siêng tu thiền định, tu thiền hữu lậu thì sinh vế trời Vô Tưởng (ngoại đạo) ; tu thiền vô lậu thì sinh về trời Ngũ Bất Hoàn ( A La Hán và Bồ Tát ở).

Chư Phật cảnh giới bất tư nghị,                Cảnh giới chư Phật không nghĩ bàn
Nhất thiết chúng sanh mạc năng trắc,      Tất cả chúng sinh không lường được
Phổ lệnh kỳ tâm sanh tín giải,                   Khiến cho tâm họ sinh tin hiểu
Quảng đại ý lạc vô cùng tận.                     Ý vui rộng lớn không cùng tận.

‘’ Cảnh giới chư Phật không nghĩ bàn.’’ Không nghĩ bàn tức là chẳng có cảnh giới. Bổn lai không nhiều, không ít, không lớn, không nhỏ. Vậy còn có cảnh giới gì? Nếu nói có cảnh giới tức là chấp trước tướng, cho nên nói không nghĩ bàn tức là chẳng có cảnh giới.

Các pháp không tướng tức là cảnh giới của Phật. Các pháp không tướng là gì? Cảnh giới này từ hàng Bồ Tát cho đến chúng sinh địa ngục, chúng sinh chín pháp giới này, chẳng có một giới chúng sinh nào biết được, chỉ có Phật mới biết được. Trong bổn Kinh này có nói:

“Nếu ai muốn biết cảnh giới Phật,
Hãy tịnh ý mình như hư không”.

Tức là nói nếu muốn biết cảnh giới của Phật, trước hết phải quét sạch rác rến trong tâm của mình cho thanh tịnh, không còn sự phân biệt giống như hư không, thì mới biết được cảnh giới của Phật.

Cảnh giới của Phật là gì? Tức là hư không. Không vô sở không, sở không cũng không, đó tức là cảnh giới của Phật.

‘’ Tất cả chúng sinh không lường được.’’ Ðạo lý của các pháp không tướng, tất cả chúng sinh không dò được, không hiểu được, không thấu suốt được, không rốt ráo được, cho nên nói tất cả chúng sinh không lường được.

‘’ Khiến cho tâm họ sinh tin hiểu.’’ Ðức Phật khiến cho tất cả chúng sinh sanh tâm tin hiểu. Học Phật pháp có bốn giai đoạn. Tức là: Tín, giải, hạnh, chứng (tin, hiểu, thực hành và chứng ngộ). Trước hết phải tin. Tin các pháp do đức Phật nói ra, tin Tam Tạng mười hai bộ là chân thật nghĩa. Có tâm tin rồi mới nghiên cứu Phật lý, thấu hiểu rồi, mới y theo những gì Phật nói mà tu hành, từ từ sẽ chứng được quả vị.

‘’ Ý vui rộng lớn vô cùng tận.’’ Phật lấy sự lợi ích của chúng sinh làm ý vui, bao quát hết thảy cho nên rộng lớn không cùng tận. Ðó là kệ của vị Khả Ái Lạc Pháp Quang Minh Tràng Thiên Vương tán thán chư Phật.

Nhược hữu chúng sanh kham thọ PhápNếu ai thọ được pháp của Phật
Phật uy thần lực khai đạo bỉ,                    Phật dùng thần lực khai đạo họ
Lệnh kỳ hằng đổ Phật hiện tiền,               Khiến cho thường thấy Phật hiện tiền
Nghiêm hải Thiên Vương như thị kiến.    Nghiêm Hải Thiên Vương thấy môn này.

‘’ Nếu ai thọ được pháp của Phật.’’ Giả sử, có một loài chúng sinh nào, có thể tiếp thọ được pháp của Phật, tức cũng là trình độ có thể gần tiếp thọ được pháp.

‘’ Phật dùng thần lực khai đạo họ.’’ Phật xử dụng đại oai thần lực, để gia bị cho họ, khiến cho họ tiến từng bước từng, bước trên con đường Phật pháp. Phật dùng pháp quyền xảo phương tiện, để dẫn dụ chúng sinh, khiến cho họ đi trên bồ đề đại đạo. Nếu pháp này không thành tựu, thì đổi pháp khác, khi nào họ tiếp thọ được thì thôi. Khiến cho chúng sinh, từ ngu si đắc được trí huệ, từ trí huệ đắc được giác ngộ. Giác ngộ cái gì? Giác ngộ pháp thế gian là khổ, pháp xuất thế gian là vui, do đó lìa khổ được vui, đó tức là khai đạo.

‘’ Khiến cho thường thấy Phật hiện tiền.’’ Làm cho chúng sinh thường thấy được phật, không những mở mắt thấy được chân thân của Phật, mà nhắm mắt cũng thấy được kim thân của Phật. Tóm lại, là luôn luôn đều thấy Phật ở trước mắt, luôn luôn vì họ mà thuyết pháp.

‘’ Nghiêm Hải Thiên Vương thấy môn này.’’ Cảnh giới này vị Thanh Tịnh Trang Nghiêm Hải Thiên Vương thấy được.

Oai thần lực của Phật là không thể nghĩ bàn, chúng ta phàm phu, chẳng có cách chi có thể hiểu được, cho nên bây giờ chúng ta vẫn còn là phàm phu, không hiểu thấu được cảnh giới của Phật. Nhưng Phật hiểu được tâm của chúng sinh. Bất cứ trong tâm tưởng gì? Phật đều biết. Kinh Kim Cang có nói:

“Tất cả chúng sinh có những tâm gì,
Như Lai đều biết đều thấy”.

Nghĩa là tất cả hết thảy chúng sinh, không màng có bao nhiêu thứ tâm, Phật hoàn toàn biết bạn đang nghĩ gì? Thích gì? Chán bỏ cái gì? Phật đều nhìn thấy rõ ràng.

Nhất thiết pháp tánh vô sở y,                    Tất cả pháp tánh không chỗ nương
Phật hiện thế gian diệc như thị,                Phật hiện ra đời cũng như thế
Phổ ư chư hữu vô y xứ,                              Hết thảy các cõi không chỗ tựa
Thử nghĩa thắng trí năng quan sát.          Nghĩa này Thắng Trí quán sát được.

‘’ Tất cả pháp tánh không chỗ nương.’’ Tất cả pháp tánh vốn là không, không chẳng chỗ có. Vì là không cho nên không cần nương tựa, chẳng có nương tựa chỗ nào hết.

‘’ Phật hiện ra đời cũng như thế.’’ Phật hiện ra trong thế gian, cũng giống như pháp tánh, là không. Không cái gì? Không tất cả đều có. Nếu không có cái có, làm sao có cái không?

‘’ Hết thảy các cõi không chỗ tựa.’’ Khắp trong hết thảy các cõi không chỗ nương tựa. Phật là không, không tất cả cõi, không nương tất cả các cõi. Phật là vô tướng, giáo hóa chúng sinh không có tướng ta, tướng người, tướng chúng sinh, tướng thọ mạng. Còn bốn tướng này là chúng sinh, không còn bốn tướng này là Phật. Cho nên Phật dạy chúng sinh phá trừ bốn tướng, chẳng chấp trước bốn tướng, mới có thể giác ngộ.

‘’ Nghĩa này Thắng Trí quán sát được.’’ Nghĩa lý này vị Tối Thắng Huệ Quang Minh Thiên Vương quán sát được cảnh giới này, hiểu được đạo lý này.

Tùy chư chúng sanh tâm sở dục,               Tùy tâm sở thích của chúng sinh
Phật thần thông lực giai năng hiện,          Phật dùng thần lực để thị hiện
Các các sái biệt bất tư nghị,                      Hết thảy khác nhau không nghĩ bàn
Thử trí tràng Vương giải thoát hải.          Môn giải thoát này Trí Tràng biết.

‘’ Tùy tâm sở thích của chúng sinh.’’ Phải tùy thuận tâm chúng sinh, phải tùy thuận sở thích của chúng sinh, phàm là chúng sinh có mong cầu gì, đều khiến cho họ được như ý.

Mười hạnh nguyện lớn của Bồ Tát Phổ Hiền phát ra, là tùy sở thích của tâm chúng sinh. Mười hạnh nguyện lớn là:

  1. Kính lễ các đức Phật.
    2. Khen ngợi Như Lai.
    3. Rộng tu cúng dường.
    4. Sám hối nghiệp chướng.
    5. Tùy hỷ công đức.
    6. Thỉnh chuyển bánh xe pháp.
    7. Thỉnh Phật ở lại đời.
    8. Thường học theo Phật.
    9. Luôn thuận chúng sinh.
    10. Hồi hướng khắp hết.1. Lễ kính chư Phật: Lễ có bảy thứ:
    a. Ngã mạn lễ.
    b. Cầu danh lễ.
    c. Cung kính lễ.
    d. Vô tướng lễ.
    e. Khởi dụng lễ.
    f. Nội quán lễ.
    g. Thật tướng lễ.

Khi nào giảng đến phẩm này, thì sẽ giải thích cặn kẽ. Trong sự lễ có một thứ lễ “ngã mạn lễ”. Tức là khi lạy xuống thì tâm không quán tưởng, không nghĩ ta đang lễ mười phương Phật, lễ mười phương Pháp, lễ mười phương Tăng. Thân cũng chẳng cung kính, chỉ là hình thức mà thôi, là việc phô diễn, cẩu thả, không thành tâm, không trang nghiêm.

Phải lễ như thế nào? Phải nên thân tâm cung kính lễ. Trong tâm quán tưởng ta đang lạy Phật, lạy Pháp, lạy Tăng. Tư thế thân lạy phải tự nhiên, năm thể (đầu, hai tay, hai chân) phải đụng đất, như thế mới có công đức.

  1. Khen ngợi Như Lai: Tức là khen ngợi công đức mười phương Như Lai, đem công đức của Phật nói cho chúng sinh nghe, tốt đẹp như thế nào ! Trang nghiêm ra sao ! Khen ngợi tán thán lợi ích của Như Lai, trừ được chướng ác khẩu đắc được biện tài vô ngại.
  2. Rộng tu cúng dường: Tức là phải luôn luôn cúng dường Tam Bảo, cúng dường tài vật là tu phước, cúng dường pháp là tu huệ. Phước huệ đều đủ mới có công đức.
  3. Sám hối nghiệp chướng: Tức là đem tội lỗi của mình nói ra hết, do đó:

“Tội lỗi tày trời, sám hối liền tiêu”.

Những tội lỗi đã tạo trong quá khứ phải thật tâm hối cải, mới mong cứu được. Ðó là cho chúng sinh cơ hội sửa đổi lỗi lầm, làm con người mới. Người xưa nói:

“Người chẳng phải Thánh Hiền,
Ai mà chẳng có tội,
Có tội mà biết cải,
Còn việc thiện nào hơn” !

  1. Tùy hỷ công đức: Tức là tùy thuận vui vẻ tất cả công đức pháp lành. Phật thuyết pháp độ chúng sinh, công đức dạy người không mỏi mệt, chúng ta phải tùy hỷ. Công đức của Phật vì pháp mà xả thân cũng phải tùy hỷ. Thậm chí công đức của Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn .v.v., cũng phải tùy hỷ.
  2. Thỉnh chuyển bánh xe pháp: Tức là chúng sinh thỉnh Phật nói diệu pháp. Ðức Phật vào Niết Bàn rồi thì, chúng sinh thỉnh đại thiện trí thức, đại pháp sư để chuyển bánh xe pháp, tiếp nối huệ mạng của Phật.
  3. Thỉnh Phật ở lại đời: Tức là thỉnh mười phương chư Phật và các đại Bồ Tát, các đại A La Hán, các đại thiện tri thức đừng vào Niết Bàn, vì lợi lạc chúng sinh mà ở lại đời.
  4. Thường học theo Phật: Tức là thường học theo hạnh của Phật. Mỗi cử chỉ hành động của đức Phật đều là quy cụ, không những phải học theo lời dạy của Phật (ngôn giáo) mà còn phải học theo oai nghi cử chỉ của Phật (thân giáo). Ngôn giáo (lời dạy) là Kinh điển, thân giáo là giới luật.
  5. Luôn thuận chúng sinh: Tức là thường tùy thuận căn tính của chúng sinh, khiến cho họ đắc được lợi ích, khiến cho họ đắc được thành tựu. Cúng dường chúng sinh, khiến cho họ hoan hỷ, lấy chúng sinh đáng làm cha mẹ để cung kính, lấy chúng sinh đáng làm chư Phật để cung kính.
  6. Hồi hướng khắp hết: Tức là đem tất cả căn lành công đức của mình tu được, hồi hướng cho tất cả chúng sinh, chính mình không cần. Bất cứ pháp hội gì, cuối cùng nhất định phải hồi hướng. Do đó:‘’ Nguyện đem công đức này, hướng vế khắp tất cả, đệ tử và chúng sinh, đều trọn thành Phật đạo.’’

‘’ Phật dùng thần lực để thị hiện.’’ Trong tâm của chúng sinh thích gì thì đều được như ý. Phật đại từ đại bi dùng sức thần thông, khiến cho tất cả chúng sinh đạt được nguyện vọng, không làm cho chúng sinh thất vọng. Tóm lại, phàm là sự mong cầu chánh đáng, đức Phật nhất định có cảm ứng. Chúng sinh mong cầu gì? Phật bèn thị hiện cái đó.

‘’ Hết thảy khác biệt không nghĩ bàn.’’ Tất cả tâm chúng sinh đều không giống nhau. Có những người có tín tâm đối với Phật pháp, có những người chẳng có tín tâm đối với Phật pháp. Có những người bán tín bán nghi đối với Phật pháp. Có người vì nghe Kinh điển, cảm thấy có đạo lý mà sinh tín tâm, do đó đến nghiên cứu Phật pháp. Có người nghe Kinh như gió ngoài tai, qua rồi chẳng lưu lại, quên hết tất cả. Có người nghe Kinh thì khởi vọng tưởng, tưởng đi du lịch đến cung trăng. Có người nghe Kinh thì sinh chấp trước, đây là ta, đó là họ, Kinh này là Kinh đời nhà Tấn, Kinh nọ là Kinh đời nhà Ðường, đó là tâm phân biệt. Những người này đều có tư tưởng khác nhau, suy nghĩ khác nhau, cho nên nói hết thảy khác biệt không nghĩ bàn.

‘’ Môn giải thoát này Trí Tràng biết.’’ Nhiều thứ cảnh giới khác nhau, chẳng có cách chi hiểu được, nhưng vị Vua Trời Tự Tại Trí Huệ Tràng này đắc được pháp môn giải thoát này.

Quá khứ sở hữu chư quốc độ,                   Tất cả cõi nước trong quá khứ
Nhất mao khổng trung giai thị hiện,         Ðều thị hiện trong lỗ chân lông
Thử thị chư Phật đại thần thông,              Ðó là thần thông của chư Phật
Ái lạc tịch tĩnh năng tuyên thuyết.            Ái Lạc Tịch Tĩnh diễn nói được.

‘’ Tất cả cõi nước trong quá khứ.’’ Quá khứ chẳng có quá khứ, hiện tại chẳng có hiện tại, vị lai chẳng có vị lai, đó là đạo lý trong Kinh Kim Cang nói. Kinh văn nói như vầy:

“Tam tâm liễu bất khả đắc,
Quá khứ tâm bất khả đắc,
Hiện tại tâm bất khả đắc,
Vị lai tâm bất khả đắc”.

Sao lại nói tâm quá khứ không thể được? Vì quá khứ đã qua rồi, qua rồi thì chẳng có, cho nên nói:‘’ Quá khứ tâm bất khả đắc.’’

Sao lại nói tâm hiện tại không thể được? Vì hiện tại thì không ngừng lại, nói bây giờ là hiện tại, nói xong cũng qua rồi, thời gian không thể ngừng lại bất động cho nên nói ‘’ Hiện tại tâm bất khả đắc.’’

Sao lại nói tâm vị lai không thể đắc được? Vì vị lai thì chưa đến, không có đến cũng không thể được, cho nên nói: ‘’ Vị lai tâm bất khả đắc.’’

Do đó:
“Tam tâm bất liễu thủy nan tiêu,
Ngũ quán yếu minh kim dã hóa”.

Tạm dịch:

Ba tâm không thấu nước khó tiêu
Năm quán tỏ rõ vàng cũng tiêu hoá được.

Nghĩa là nói: Nếu tồn tại tâm quá khứ, tâm hiện tại, tâm vị lai, dù thí chủ cúng dường một ly nước trà, cũng không tiêu thọ được, càng không cách chi tiêu hóa được tách trà. Nếu hiểu được đạo lý năm quán niệm thì dù vàng cũng tiêu hóa được.

Năm quán là gì? Tức là khi ăn Quá đường thì phải niệm năm quán niệm:

  1. Tính xem công bao nhiêu, thức ăn từ đâu đến?
    2. Xem xét đức hạnh của mình thiếu hay đủ, để nhận đồ cúng dường.
    3. Phòng ngừa tâm tạo tội, tham là gốc.
    4. Thức ăn là thuốc hay, chữa được bệnh khô gầy.
    5. Vì thành đạo nghiệp mới dùng cơm này.

Người xuất gia khi ăn cơm, thì phải quán tưởng năm điều này, mới thọ sự cúng dường.

‘’ Ðều thị hiện trong lỗ chân lông.’’ Tất cả các cõi Phật trong quá khứ, tuy nhiên là vô lượng vô biên, nhưng trong một lỗ chân lông thị hiện ra các cõi Phật. Có người nói: ‘’ Ðạo lý này tôi không tin.’’ Ðương nhiên bạn không tin, vì bạn là phàm phu. Nếu bạn tin thì minh bạch được cảnh giới của Phật. Vì căn lành của bạn không đủ, gặp được Phật pháp chân chánh, nghe được Phật lý chân chánh, còn không tin. Vì sao không tin? Vì nghiệp chướng quá nặng, nghiệp chướng quá sâu ! Cho nên bạn không tin Phật pháp là thuốc hay cứu đời cứu người.

Ma vương mong muốn chúng sinh đừng tin Phật pháp, vì sao? Nếu chúng sinh tin Phật pháp, thì quyến thuộc của chúng bớt đi, cho nên Ma vương phái con ma cháu ma phá hoại Phật pháp, thấy người tu hành thành tựu, thì chúng bèn đến dẫn dụ, đến uy hiếp. Ðịnh lực của người tu hành không đủ, thì dễ tẩu hỏa nhập ma, chịu sự khống chế của chúng. Cho nên người tu đạo phải chú ý, phải cẩn thận, bất cứ cảnh giới gì hiện ra, tốt cũng đừng chấp trước, xấu cũng đừng chấp trước, căn bản tâm đừng lay động. Lúc này phải một lòng một dạ, niệm danh hiệu của Phật, cảnh giới thật càng niệm càng sáng sủa, càng niệm càng rõ ràng ; nếu là cảnh giới giả, càng niệm càng đen tối, càng niệm càng lờ mờ. Ðó là phương pháp Kinh nghiệm thật giả.

Cảnh giới ảo diệu bất khả tư nghì này, bạn không cách chi thấu hiểu được. Ðợi khi nào có ngũ nhãn lục thông, thì mới biết là việc rất bình thường, chẳng có gì là lạ. Giống như hai mươi năm về trước, có người nói con người có thể lên mặt trăng, tương lai có thể du hành đến mặt trăng, bạn sẽ cho rằng đó là thần thoại. Bây giờ thực hiện được, mọi người đều tin. Trong một lỗ chân lông, hiện ra cõi nước chư Phật cũng là đạo lý này.

‘’ Ðây là thần thông của chư Phật.’’ Tức là đại thần thông lực của mười phương chư Phật, mới hiện ra được cảnh giới này.

Phật giáo lấy pháp giới làm tánh, ai cũng chạy không ra khỏi ngoài pháp giới. Tất cả các tôn giáo, đều bao dung ở trong Phật giáo. Nhất là bộ Kinh Hoa Nghiêm này, chỗ diệu dụng là lấy pháp giới làm tông, chuyên nói về đạo lý, lý sự vô ngại trong pháp giới.

‘’ Ái Lạc Tịch Tĩnh diễn nói được.’’ Thần thông lực của Phật là tận hư không khắp pháp giới. Vị Ái Lạc Tịch Tĩnh Thiên Vương diễn nói được đạo lý này.

Nhất thiết pháp môn vô tận hải,                Tất cả biển pháp môn vô tận
Đồng hội nhất pháp đạo tràng trung,       Ðồng vào một pháp trong đạo tràng
Như thị pháp tánh Phật sở thuyết,            Ðó là pháp tánh của Phật nói
Trí nhãn năng minh thử phương tiện.      Trí Nhãn thấu được phương tiện này.

‘’ Tất cả biển pháp môn vô tận.’’ Tất cả pháp tức là tám vạn bốn ngàn pháp môn. Mỗi pháp môn trong tám vạn bốn ngàn pháp môn, lại có tám vạn bốn ngàn pháp môn, là vô lượng vô biên, trùng trùng vô tận, cho nên nói tất cả biển pháp môn vô tận.

‘’ Ðồng vào một pháp trong đạo tràng.’’ Pháp môn có rất nhiều không thể nói, bây giờ đem dung vào thành một pháp môn. Tức cũng là vô lượng pháp môn nhiếp làm một pháp môn, một pháp môn tán làm vô lượng pháp môn, cho nên nói đồng vào một pháp trong đạo tràng.

‘’ Ðó là pháp tánh của Phật nói.’’ Pháp này một tức là nhiều, nhiều tức là một. Một nhiều vô lượng, một nhiều vô ngại, pháp tính này là Phật Thích Ca Mâu Ni nói.

‘’ Trí Nhãn thấu được phương tiện này.’’ Phổ Trí Nhãn Thiên Vương đắc được môn giải thoát: biển tam muội vô tận này, cho nên vị này thấu rõ phương tiện pháp môn này.

Thập phương sở hữu chư quốc độ,           Tất cả cõi nước trong mười phương
Tất tại kỳ trung nhi thuyết Pháp,              Ðều ở trong đó mà thuyết pháp
Phật thân vô khứ diệc vô lai,                     Thân Phật không đến cũng không đi
Ái lạc tuệ toàn chi cảnh giới.                     Ðây là cảnh giới Lạc Huệ Toàn.

‘’ Tất cả cõi nước trong mười phương.’’ Trên thế giới không những chỉ có thế giới Ta Bà, mà còn có mười phương thế giới, mỗi phương lại có vô lượng vô biên thế giới. Do đó, thế giới này, thế giới kia, vô lượng các thế giới, cõi nước này, cõi nước kia, vô lượng các cõi nước.

‘’ Ðều ở trong đó mà thuyết pháp.’’ Trong tất cả cõi nước chư Phật mười phương, trong mỗi cõi nước đều có Phật Thích Ca Mâu Ni, đang thuyết pháp ở trong đó, đang giáo hóa chúng sinh ở trong đó.

‘’ Thân Phật không đến cũng không đi.‘’ Ở trong mỗi thế giới này đều có Phật đang nói Kinh Hoa Nghiêm Ðại Phương Quảng Phật. Phải chăng thân Phật đi đến mỗi thế giới? Chẳng phải, vì thân Phật không đến cũng không đi. Trong Kinh Kim Cang nói:

“Như Lai giả,
Vô sở tùng lai,
Diệc vô sở khứ,
Cố danh Như Lai”.

Nghĩa là:
Bậc Như Lai,
Không từ đâu đến,
Cũng không về đâu,
Nên gọi Như Lai.

‘’ Ðó là cảnh giới Lạc Huệ Toàn.’’ Ðây là cảnh giới của vị Ái Lạc Huệ Toàn Thiên Vương biết rõ được, cảnh giới này thật là không thể nghĩ bàn. Người không hiểu Phật pháp, cho rằng Kinh Hoa Nghiêm Ðại Phương Quảng Phật, là bộ Kinh đại vọng ngữ, thật ra đạo lý của Kinh này nói là lý chân thật, ngàn chân vạn thật, bất quá chúng ta phàm phu chưa đạt được cảnh giới này, cho nên không hiểu được cảnh giới này.

Phật quán thế Pháp như quang ảnh,             Phật quán thế pháp như hình bóng
Nhập bỉ thậm thâm u áo xứ,                            Vào nơi thâm sâu tối u ám
Thuyết chư pháp tánh thường tịch nhiên,   Nói các pháp tánh thường tịch nhiên
Thiện chủng tư tánh năng kiến thử.              Thiện Chủng Tư Duy thấy môn này.

‘’ Phật quán thế pháp như hình bóng.’’ Phật quán sát pháp thế gian như hình như bóng, không thường, không thật. Trong Kinh Kim Cang nói:

“Tất cả pháp hữu vi,
Như mộng huyễn bọt bóng,
Như sương cũng như điện,
Nên quán sát như thế”.

‘’ Vào nơi thâm sâu tối u ám.’’ Tức nhiên pháp thế gian không thường, không thật, là hư vọng. Nhưng Phật đến nơi thâm sâu đen tối không thể nghĩ bàn, ở trong thế gian để hoằng dương Phật pháp.

‘’ Nói các pháp tánh thường tịch nhiên.’’ Phật nói các pháp là tướng tịch diệt, không thể diễn nói. Tức là nói không ra, đó là pháp tánh tịch diệt.

‘’ Thiện Chủng Tư Duy thấy môn này.’’ Vị Thiện Chủng Tư Duy Thiên Vương, thấy được cảnh giới này, hiểu được pháp môn này.

Phật thiện liễu tri chư cảnh giới,               Phật khéo biết rõ các cảnh giới
Tùy chúng sanh căn vũ Pháp vũ,              Tùy tâm chúng sinh mưa pháp vũ
Vi khải nan tư xuất yếu môn,                    Nói pháp xuất thế khó nghĩ lường
Thử tịch tĩnh Thiên năng ngộ nhập.          Môn này Tịch Tĩnh Thiên ngộ được.

‘’ Phật khéo biết rõ các cảnh giới.’’ Phật không có gì mà không biết, không có gì mà không làm được, không có chỗ nào mà không đến, không có gì mà không thông. Phật biết rõ tất cả cảnh giới, tất cả căn tánh của chúng sinh.

‘’ Tùy tâm chúng sinh mưa pháp vũ.’’ Căn tính chúng sinh giống như cây cỏ hoa lá, rễ lớn thì hút lượng nước mưa nhiều, rễ nhỏ thì hút lượng nước mưa ít. Chúng ta chúng sinh cũng như thế, chúng sinh căn lành sâu dày, thì đắc được mưa pháp của Phật nhiều một chút, chúng sinh căn lành cạn cợt thì đắc được mưa pháp của Phật ít hơn một chút.

‘’ Nói pháp xuất thế khó nghĩ lường.’’ Vì mở bày diệu pháp không thể nghĩ bàn, đó là pháp môn xuất thế quan trọng hơn hết.

‘’ Môn này Tịch Tĩnh Thiên ngộ được.’’ Vị Vô Cấu Tịch Tĩnh Quang Thiên Vương minh bạch được cảnh giới này.

Thế Tôn hằng dĩ đại từ bi,                         Thế Tôn thường dùng đại từ bi
Lợi ích chúng sanh nhi xuất hiện,             Lợi ích chúng sinh hiện ra đời
Đẳng vũ Pháp vũ sung kỳ khí,                   Mưa pháp cam lồ nhuận hết thảy
Thanh Tịnh Quang Thiên năng diễn thuyết.  Thanh Tịnh Quang Thiên diễn nói được.

‘’ Thế Tôn thường dùng đại từ bi.’’ Phật là đấng chí tôn, Ngài thường dùng tâm đại từ đại bi, để giáo hóa chúng sinh, bất cứ chúng sinh có sai lầm gì, Phật cũng đều tha thứ, cho nên nói Thế Tôn thường dùng đại từ bi.

‘’ Lợi ích chúng sinh hiện ra đời.’’ Phật vì lợi ích tất cả chúng sinh, cho nên mới xuất hiện ra đời, hiện tám tướng thành đạo ở thế giới Ta Bà.

‘’ Mưa pháp cam lồ nhuận hết thảy.’’ Phật là bình đẳng nhất, chẳng có quan niệm phân biệt, về giai cấp, về chủng tộc, về quốc tịch. Ngài thuyết pháp thì tất cả chúng sinh đều đắc được lợi ích. Bồ Tát thì đắc được lợi ích của Bồ Tát, A La Hán thì được lợi ích của A La Hán. Tu pháp đại thừa thì đắc được lợi ích đại thừa, tu tiểu thừa thì được lợi ích tiểu thừa, hết thảy đều có lợi ích khác nhau. Giống như bồn đựng nước, bồn lớn thì chứa nhiều nước một chút, bồn nhỏ thì chứa ít nước một chút.

‘’ Thanh Tịnh Quang Thiên diễn nói được.’’ Vị Quảng Ðại Thanh Tịnh Quang Thiên Vương diễn nói được cảnh giới này.

Ở trên là mười bài kệ của mười vị Quảng Quả Thiên Vương, trời Tứ Thiền thuộc về sắc giới, nói để tán thán công đức của Phật.

Phục thứ, Thanh Tịnh Tuệ Danh Xưng Thiên Vương, đắc liễu đạt nhất thiết chúng sanh giải thoát đạo phương tiện giải thoát môn
Lại nữa, Thanh Tịnh Huệ Danh Xưng Thiên Vương, được môn giải thoát, thấu rõ phương tiện, con đường giải thoát cho tất cả chúng sinh.

Ý nghĩa ở trước chưa nói hết, bây giờ nói tiếp theo, khiến cho mọi người càng minh bạch càng hiểu rõ.

Vị Thanh Tịnh Huệ Danh Xưng Thiên Vương, thuộc về cõi trời Biến Tịnh, trong cõi sắc giới trời Tam Thiền (cõi trời thứ chín thuộc về sắc giới). Vị này có trí huệ thanh tịnh, ở trong các Thiên Vương, vị này rất có danh vọng được mọi người tôn làm lãnh tụ để chỉ đạo tất cả. Vị này ngộ được Tam muội gọi là: Thấu đạt tất cả đạo giải thoát của chúng sinh. Vị này hiểu rõ chúng sinh trong chín pháp giới. Bồ Tát là chúng sinh đại đạo tâm. Duyên Giác là chúng sinh trung đạo tâm. Thanh Văn là chúng sinh tiểu đạo tâm. Thiên đạo, nhân đạo, A tu la là chúng sinh trong ba đường lành. Súc sinh, ngạ quỷ, địa ngục là chúng sinh trong ba đường ác. Ðó là chúng sinh trong chín pháp giới, mỗi loài đều có nhân, có quả của mỗi loài.

Do đó trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu. Tức là trồng nhân lành kết quả tốt, trồng nhân ác kết quả xấu. Trong bổn Kinh này có nói:

‘’ Nếu ai muốn biết rõ,
Hết thảy Phật ba đời,
Hãy quán tánh pháp giới,
Tất cả do tâm tạo.’’

Vạn pháp đều từ tâm tạo ra. Người xưa nói:
“Tâm sinh vạn pháp sinh,
Tâm diệt vạn pháp diệt”.

Bây giờ phân tích chữ “Tâm” này, ý nghĩa đại khái là:
“Tam điểm như tinh bố,
Loan quân tự nguyệt nhạ,
Phi mao tùng thử khởi,
Tác Phật dã do tha”.

Tạm dịch:
Ba điểm bày như sao
Uốn cong tợ trăng non
Mang lông khởi từ đây
Thành Phật cũng do nó.

Ba điểm chữ tâm, giống như sao bày la liệt trên bầu trời. Chữ tâm, cong giống như hình trăng non mồng ba. Làm trâu bò, ngựa dê đều từ tâm tạo ra ; thành Phật làm Tổ cũng từ tâm tạo ra. Cho nên nói:‘’ Mười pháp giới không ngoài một niệm tâm.’’ Mười pháp giới này do mình lựa chọn. Muốn đến pháp giới nào, thì làm nghiệp pháp giới đó. Tạo ra nghiệp pháp giới nào, thì vãng sinh về pháp giới đó, đó thật là tuyệt đối công bằng.

Tâm của chúng ta không ổn định, giống như hạt bụi trong hư không, lúc cao, lúc thấp, lúc trái, lúc phải, lúc lên trời, lúc xuống đất, lúc cõi Phật, lúc nhân gian. Lại có lối giải thích khác về tâm:

‘’ Thao chi tắc tồn, xả chi tắc vong,
Xuất nhập vô thời, mạc chi kỳ hướng.’’

Nghĩa là: Giống như một con ngựa, dắt nó thì nó không chạy ; nếu không dắt nó thì nó chạy. Tâm của chúng ta cũng như thế, tiết chế nó, xem giữ nó thì nó ở, không tiết chế, không xem giữ nó thì nó chạy. Cho nên người tu hành tức là tu tâm. Luôn luôn niệm Phật, luôn luôn tham thiền. Tu hành như vậy thì tâm không chạy đi, do đó ‘’ Tâm viên ý mã,’’ tâm không an tĩnh giống như con khỉ, chạy nhảy lăn xăn. Ý không an phận giống như con ngựa, chạy rong bên ngoài. Hai loài súc sinh này khó điều phục được. Chúng ta hằng ngày khởi vọng tưởng, tức là tâm chạy bên ngoài ; niệm Phật tham thiền là pháp môn duy nhất khống chế tâm ý tại một chỗ.

Xuất nhập vô thời: Tức là tâm ra đi lúc nào? Lúc nào trở về? Ðều không biết. Mạc tri kỳ hướng: Khi tâm ra đi thì không biết tâm đi về đâu? Khi đến cũng không biết đến đâu?

Vị Thiên Vương này thấu đạt được tâm của tất cả chúng sinh, biết cách làm thế nào để giáo hóa chúng sinh, khiến cho chúng sinh hiểu rõ sự giải thoát. Cho nên vị này dùng đủ thứ phương tiện, khiến cho chúng sinh đắc được môn giải thoát xuất thế.

Tối Thắng Kiến Thiên Vương, đắc tùy nhất thiết chư Thiên Chúng sở lạc như quang ảnh phổ thị hiện giải thoát môn
Tối Thắng Kiến Thiên Vương được môn giải thoát, khắp thị hiện như hình bóng, tùy sự ưa thích của tất cả chúng chư Thiên.

Vị Tối Thắng Kiến Thiên Vương này, kiến giải nhạy bén phi thường, chính xác phi thường. Vị này đắc được môn giải thoát, khắp thị hiện tùy sự ưa thích của tất cả Thiên chúng như hình như bóng.

Có hình thì có bóng, có bóng mới có hình, hình là ánh sáng, bóng là đen tối. Hình tức là mặt trăng, mặt trăng trong nước tức là bóng. Mặt trăng chẳng đến, nước cũng chẳng đi, đó đây hổ tương chiếu soi, mà sinh ra bóng này.
Lại giống như gương sáng, nếu có vật rọi vào thì hình xuất hiện, vì quan hệ có sáng thì mới hiện ra bóng. Cho nên ánh sáng bóng này thị hiện khắp. Giống như đạo lý một ngàn vũng nước, đều có ngàn mặt trăng trong nước. Bổn thể của mặt trăng chẳng đến trong nước, nó chỉ có một, chỉ cần ngàn vũng nước thì hiện ra ngàn mặt trăng trong nước. Vạn vũng nước thì có vạn mặt trăng trong vũng nước. Bất cứ vũng nước lớn hoặc nhỏ, chỉ cần chỗ nào có nước, thì đều hiện ra bóng mặt trăng. Mặt trăng chẳng có tâm phân biệt, là bình đẳng.

Phật và chúng sinh cũng như thế. Phật tương tợ như mặt trăng, tâm chúng sinh giống như nước. Tâm nước của chúng sinh thanh tịnh thì hiện Phật quang minh ; tâm nước của chúng sinh không thanh tịnh, thì không hiện Phật quang minh. Trong bổn Kinh này nói:

“Bồ Tát thanh lương nguyệt,
Thường du tất kính không,
Chúng sinh tâm cấu tịnh,
Bồ đề ảnh hiện trung”.

Tạm dịch:
Bồ Tát như trăng sáng
Thường lơ lửng trên trời
Tâm chúng sinh trong sạch
Bóng bồ đề hiện ra.

Quang minh của Phật, giống như mặt trăng sáng mát mẻ ở không trung, hiện ra ở trong tất kính không, nếu tâm nước chúng sinh thanh tịnh thì, bồ đề giác đạo tùy thời hiện bóng ở trong tâm.

Tịch Tĩnh Đức Thiên Vương, đắc phổ nghiêm tịnh nhất thiết Phật cảnh giới đại phương tiện giải thoát môn
Tịch Tĩnh Ðức Thiên Vương được môn giải thoát, đại phương tiện trang nghiêm thanh tịnh, khắp tất cả cảnh giới của Phật.

Vị Tịch Tĩnh Ðức Thiên Vương này, có đức tịch tĩnh. Ðức tịch tĩnh là gì? Tức là có công phu thiền định. Vị này không những có công phu thiền định, mà còn khiến cho chúng sinh, cũng có công phu thiền định. Phàm là chúng sinh thấy được vị này, đều sinh ra thứ định tâm này. Vị này cũng khiến cho chúng sinh, tinh tấn tu thiền định. Lâu dần tích tụ được vô lượng vô biên công đức, có đức tịch tĩnh, cho nên xưng là Tịch Tĩnh Ðức Thiên Vương.

Môn giải thoát của vị này đắc được gọi là: đại phương tiện trang nghiêm thanh tịnh, khắp tất cả cảnh giới của Phật. Vị Thiên Vương này trong khoảng một niệm, có thể trang nghiêm khắp cõi Phật trong mười phương. Ðồng thời, đó đều là trang nghiêm tốt đẹp thù thắng, và thanh tịnh hết thảy tất cả cảnh giới của Phật, lại có thể trang nghiêm thần thông tất cả cõi Phật trong mười phương, và vị này lại có thể hiển hiện cảnh giới này làm đại phương tiện.

Ðại phương tiện là gì? Tức là phương tiện trong sự bất phương tiện. Bổn lai pháp phương tiện này không thể dùng, nhưng vị này dùng được phương tiện này, không những dùng được mà còn không chướng ngại.

Tu-Di Âm Thiên Vương, đắc tùy chư chúng sanh vĩnh lưu chuyển sanh tử hải giải thoát môn
Tu Di Âm Thiên Vương được môn giải thoát, tuỳ thuận các chúng sinh, vĩnh viễn lưu chuyển trong biển sinh tử.

Vị Tu Di Âm Thiên Vương này. Tu Di dịch là “Diệu cao”, âm thanh của vị này rất vi diệu, ở cõi trời Ðao Lợi đều nghe được. Môn giải thoát của vị này đắc được là: tùy thuận chúng sinh. Chúng sinh thích gì? Thì đều làm cho họ thỏa mãn nguyện vọng, làm cho họ được toại nguyện. Nhưng sự mong muốn của chúng sinh chẳng giống nhau.

Nguyện vọng của A La Hán là tự độ mà không độ người, do đó:‘’ Ma Ha Tát bất quản tha, Di Ðà Phật các cố các.’’ Chỉ lo cho mình liễu sinh thoát tử, không muốn đi cứu vớt sự khổ của chúng sinh. Bạn khổ là việc của bạn, chẳng liên can gì đến tôi, tự liễu hán không muốn đi độ chúng sinh.

Dục vọng của chư Thiên là, cứ lo hưởng thụ phước báu, nghĩ đến y phục thì có y phục, nghĩ thức ăn thì có thức ăn. Nghĩ mặc y phục đẹp thì có y phục đẹp, không lớn không nhỏ, vừa vặn thích hợp. Y phục của người trời không những nhẹ nhàng, mà còn không có đường khâu, không bao giờ cần giặt, không dính bụi bặm, sạch sẽ vô cùng. Muốn ăn đồ ngon thì có ngay, có khi nhiều một chút, có khi ít một chút, không giống như thế giới Cực Lạc không nhiều không ít ăn vừa đủ no.

Chư Thiên tuy nhiên sung sướng, nhưng cũng có đau khổ. Ðau khổ gì? Ðau khổ về sinh tử. Khi phước trời hưởng hết rồi, thì có năm tướng suy hiện ra. Năm tướng suy là gì?

  1. Hoa trên đầu héo: Người trời có mũ bằng hoa, dùng hoa tươi làm thành, hoa này không những không héo, ngược lại ngày càng xanh tươi tốt đẹp. Nhưng đến khi sắp hết tuổi thọ, thì hoa trên đầu khô héo.
  2. Y phục dơ bẩn: Y của người trời mặc rất sạch sẽ không dơ bẩn, vĩnh viễn không cần giặt. Nhưng đến khi tuổi thọ hết, thì y phục dơ bẩn. Sự dơ bẩn này từ đâu đến? Là từ nghiệp chướng hiện ra.
  3. Hai nách ra mồ hôi: Thân thể người trời không ra mồ hôi, luôn luôn sạch sẽ. Nhưng đến khi tuổi thọ hết, thì hai nách chảy ra mồ hôi, thân thể nhơ nhuốc.
  4. Thân thể có mùi hôi: Người trời thân thể luôn luôn có hương thơm, vì người trời tu mười điều lành, và giữ năm giới cấm, cho nên thân cảm ứng có mùi thơm. Nhưng khi tuổi thọ hết rồi, thì thân phát ra mùi thây chết, làm cho người bịt mũi không dám lại gần.
  5. Ngồi không yên: Người trời thường tu thiền định, tham thiền đả tọa, công phu sâu dày thì thăng lên, công phu ít thì trầm xuống. Lúc bấy giờ đã phát sinh ra bốn hiện tượng, biết được thọ mạng sắp kết thúc, cho nên ngồi không yên, ngồi xuống lại đứng lên, đứng lên lại ngồi xuống, cứ như vậy nhiều lần, thọ mạng chấm dứt thì chuyển sinh trong sáu nẻo luân hồi. Ðó là hiện tượng năm tướng suy, phàm là chư Thiên trong tam giới đều có sinh tử, ngay cả Thượng Ðế cũng còn sinh tử.

Dục vọng của A Tu La là muốn được hưởng phước ở trên trời, muốn chư Thiên sớm về nhân gian, để nhường việc trên trời cho chúng quản lý. Chúng còn ham muốn làm lãnh tụ chư Thiên, việc gì cũng muốn tranh đệ nhất, muốn đứng đầu.

Dục vọng của con người là giàu sang danh lợi. Muốn làm quan, muốn phát tài, không cầu danh thì cầu lợi, không thoát ra được vòng danh lợi.
Hoàng đế Càn Long đời nhà Thanh, giá lâm Trấn Giang Kim Sơn Tự, lên chỗ cao để ngắm phong cảnh bèn hỏi Thiền sư Pháp Khánh:‘’ Mỗi ngày sông Trường Giang này có bao nhiêu chiếc thuyền qua lại? ‘’

– Thiền sư đáp: ‘’ Chỉ có hai chiếc thuyền.’’
– Hoàng đế lại hỏi: ‘’ Hai chiếc thuyền sao? ‘’
– Thiền sư đáp: ‘’ Phải ! Một chiếc là danh, một chiếc là lợi.’’ Sự tham muốn của con người không bao giờ ngừng, được danh lại muốn được lợi, được lợi rồi lại muốn có danh, đều muốn được cả danh và lợi, do đó:

‘’ Nhân tâm bất túc xà tôn tượng.’’

Nghĩa là: “Tâm con người không biết đủ giống như rắn nuốt voi”, làm được Hoàng đế lại muốn sống mãi không chết.

Dục vọng của loài súc sinh: Vừa có lòng tham ngu si và điên đảo. Sở thích của chúng là không làm mà muốn có đồ ăn. Không phấn đấu sinh hoạt. Chúng ta người tu đạo phải học tinh thần loài ong. Chúng hút mật trăm loài hoa về tụ tập một chỗ, meo lên mà thành mật ong, không những lợi mình mà cũng lợi người.

Dục vọng của loài ngạ quỷ là muốn ăn đồ vật, nhưng chẳng có vật gì để ăn ; dù uống nước, nước cũng biến thành lửa. Vì nghiệp chướng quá nặng, cổ họng nhỏ như cây kim, bụng thì to như trống, không có khi nào ăn no, thật đáng thương !

Dục vọng của loài địa ngục là tâm sân hận, luôn luôn muốn nóng giận, chẳng có tâm từ bi. Chúng sinh nóng giận như lửa thì chịu sự khổ lửa đốt thân ; chúng sinh nóng giận như đao thì chịu sự khổ cắt thịt. Nóng giận như thế nào, thì có phiền não như thế đó.

Các pháp giới chúng sinh đều có lòng tham muốn của họ. Phàm là chúng sinh có lòng tham muốn, thì vĩnh viễn lưu chuyển trong biển sinh tử, ngóc đầu lên lại chìm xuống, sinh rồi lại chết, chết rồi lại sinh, luân hồi trong sáu nẻo không khi nào ngừng. Ðó gọi là biển sinh tử.

Vị Thiên Vương này hiểu rõ đạo lý này, cho nên tùy thuận chúng sinh lưu chuyển trong biển sinh tử, khiến cho chúng sinh giác ngộ, mà ra khỏi biển sinh tử đắc được giải thoát. Vị này đắc được môn giải thoát này.

Tịnh Niệm Nhãn Thiên Vương, đắc ức niệm Như Lai điều phục chúng sanh hạnh giải thoát môn
Tịnh Niệm Nhãn Thiên Vương được môn giải thoát, nghĩ nhớ hạnh của Như Lai điều phục chúng sinh.

Vị Thanh Tịnh Nhãn Thiên Vương này, nhờ công đức niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, mà đắc được mắt thanh tịnh. Và còn đắc được định lực nghĩ nhớ của Như Lai. Nghĩ nhớ tức là không quên. Không quên ai? Không quên Như Lai. Cho nên chúng ta là người tu đạo phải bỏ vọng tồn chân. Khử sạch tâm vọng, chỉ tồn tâm chân thành. Yêu thích cõi nước chư Phật, phát nguyện vãng sanh, đó là nghĩ nhớ. Nghĩ nhớ pháp thân của Phật, nghĩ nhớ hóa cảnh của Phật, nghĩ nhớ Tam Bảo thì hàng phục được các hạnh của chúng sinh.

Chúng sinh trong thế giới Ta Bà, không dễ gì điều phục được, trong Kinh Ðịa Tạng có nói: ‘’ Chúng sinh cõi Nam Diêm Phù Ðề căn tánh khó điều phục.’’ Chúng sinh thế giới này chấp trước cái ta, ngã mạn, cho nên khó điều phục. Họ không chịu nghe, dù có bạn tốt thầy hiền khéo dụ, khiến cho họ phát bồ đề tâm, lợi mình lợi người, nhưng họ không tin, không nghe dạy bảo. Cho nên chúng sinh thường làm chúng sinh, không siêu thoát được.

Vị Thiên Vương này điều phục được chúng sinh hạnh. Ðiều là điều hòa, giống như nước hòa với sữa, lập tức điều hòa thành một thể. Phục là điều phục, giống như cọp, xem người là thức ăn. Hòa Thượng Hư Vân khiến cho cọp quy y Tam Bảo, không ăn thịt mà ăn chay đó là điều phục. Chúng sinh không giữ quy cụ mà dạy họ giữ được quy cụ, đó là điều phục chúng sinh hạnh. Vị Thiên Vương này đắc được môn giải thoát này.

Khả Ái Lạc phổ chiếu Thiên Vương, đắc Phổ môn Đà-la-ni hải sở lưu xuất giải thoát môn
Khả Ái Lạc Phổ Chiếu Thiên Vương được môn giải thoát, phổ môn chảy ra từ biển Ðà La Ni.

Vị Khả Ái Lạc Phổ Chiếu Thiên Vương này, bất cứ là người ở trên trời, hoặc người ở tại nhân gian, ai thấy được vị này, đều sinh tâm hoan hỷ và ái hộ. Vì quang minh của vị này, chiếu khắp tất cả chúng sinh, thì tất cả đều có nhân duyên. Vị này đắc được pháp Tam muội Phổ môn biển Ðà la ni.

Phổ môn là gì? Tức là do một cửa mà sinh ra vô lượng cửa (một môn sinh ra vô lượng môn), từ vô lượng cửa trở về một cửa, là cửa viên dung vô ngại chu khắp pháp giới.

Ðà la ni là gì? Dịch là “tổng trì”. Tổng là tổng tất cả pháp, trì là trì vô lượng nghĩa. Tóm lại, tổng thân, khẩu, ý ba nghiệp thanh tịnh. Trì giới, định, huệ ba học viên minh.

Biển tổng trì là gì? Tức là từ trong một tổng trì sinh ra vô lượng vô biên tổng trì. Trong mỗi tổng trì lại sinh ra bất khả thuyết, bất khả thuyết tổng trì. Sự biến hóa nhiều này giống như biển cả, cho nên gọi là biển tổng trì.

Tuy nhiên có biển tổng trì nhiều như thế, nhưng đừng chấp trước. Không chỗ chấp trước, thì viên dung vô ngại. Chẳng giống như chúng ta có một thì chấp một, có hai thì chấp hai, có ba thì chấp ba, cho đến có vô lượng thì chấp vô lượng. Phải lìa tất cả chấp trước tướng, thì biển tổng trì cũng chẳng có. Nếu không bỏ sự chấp trước tướng, thì chẳng bao giờ được giải thoát. Vị Thiên Vương này được môn giải thoát này.

Thế Gian Tự Tại Chủ Thiên Vương, đắc năng lệnh chúng sanh trị Phật sanh tín tạng giải thoát môn
Thế Gian Tự Tại Chủ Thiên Vương được môn giải thoát, khiến cho chúng sinh gặp được Phật thì sinh tín tạng.

Vị Thế Gian Tự Tại Chủ Thiên Vương này, tức là Thiên Chúa hoặc là Thượng Ðế mà một số người tin. Vị này tuy nhiên làm Chúa Trời nhưng vẫn không biết đủ (tri túc). Lại đến nhân gian để làm Tự Tại Chủ, dạy người nhân gian khởi tâm tham, tâm sân, tâm si, dạy người nhân gian tin mình, tín ngưỡng mình, sùng bái mình, còn phán giáo nói rằng:

  1. Tin ta thì được cứu, không tin ta thì không được cứu. Người có tâm tham, nghe rồi thì nghĩ rằng họ sẽ được cứu bèn tin Thuợng đế.
  2. Người nào tin ta thì được sinh về nước Chúa, ai không tin thì đọa địa ngục. Tóm lại bất cứ có bao nhiêu tội lỗi, chỉ cần tin Thượng đế, thì sẽ được sinh lên thiên đường. Bất cứ có bao nhiêu thiện nghiệp, nếu không tin Thượng đế thì sẽ đọa vào địa ngục. Người có tâm sân hận nghe rồi thì muốn nổi nóng, tạo ra nhiều nghiệp, bây giờ tin Thượng đế thì sẽ được cứu cho nên liền tin.
  3. Tin ta thì là con của Thượng đế, không tin ta thì là quyến thuộc của ma quỷ. Người có tâm si mê, nghe rồi thì một lòng muốn làm con của Thượng đế, tôi phải sinh về đất Chúa, do đó bèn tin Thượng đế.

Người ngu si thì bất cứ ai nói điều gì, họ đều tin là thật. Nếu có ai nói: ‘’ Trứng gà đẻ ở trên cây ‘’ họ cũng sẽ tin. Tại sao? Vì họ chẳng có năng lực biện rõ thị phi, đó tức là mê tín.

Cho nên vị Thế Gian Tự Tại Chủ ở tại nhân gian lập giáo mà hành đại đạo, đến khắp nơi dùng quan hệ tình cảm để thuyết giáo, dạy người tin Chúa trời, Chúa trời là thần vạn năng, sáng được thế giới, tạo vạn vật, xét đoán tội người, nhưng không công bằng, là giáo đồ thì có quyền ưu tiên thăng lên thiên đường, chẳng phải giáo đồ thì không thể tha thứ, còn phải chịu tội.

Nói về vị Chúa trời này bây giờ đã phản tỉnh. Vị này đã kiểm thảo lại những gì đã làm trong quá khứ, biết phạm sự sai lầm, cho nên bây giờ sám hối nói: ‘’ Tin ta thì nương tựa không vững, chết rồi tuy nhiên sinh lên thiên đường, nhưng khi hưởng hết phước trời thì vẫn phải chịu sinh tử, chẳng phải pháp rốt ráo. Chỉ có tin Phật pháp mới chân chánh được cứu, vĩnh viễn chấm dứt sinh tử.’’

Vị Thiên Vương này, khiến chúng sinh gặp được Phật, thì sinh tín tạng. Phật là Vô thượng chánh đẳng chánh giác, bất cứ Thần, Thánh, Chúa trời đều không thể so sánh với trí huệ của Phật. Vì Phật có đại trí huệ không thể sánh được. Vị Thiên Vương này đắc được môn giải thoát này.

Quang Diệm Tự Tại Thiên Vương, đắc năng lệnh nhất thiết chúng sanh văn Pháp tín hỉ nhi xuất ly giải thoát môn
Quang Diệm Tự Tại Thiên Vương được môn giải thoát, khiến cho tất cả chúng sinh, nghe pháp tin vui mà ra khỏi ba cõi.

Vị Quang Diệm Tự Tại Thiên Vương này, có trí huệ quang minh giống như lửa ngọn. Vị này đắc được sự giác ngộ, khiến cho chúng sinh trong chín pháp giới, nghe pháp mà sinh tín tâm, và còn hoan thiên hỷ địa tín thọ. Như vậy mới ra khỏi tam giới, ra khỏi luân hồi, ra khỏi đời ác năm trược. Vị Thiên Vương đắc được môn giải thoát này.

Tam giới là gì? Tức là dục giới, sắc giới và vô sắc giới. Dục giới thì có dục (tham muốn) nam nữ, tham muốn về vật chất và tư tưởng tham muốn. Cho nên gọi là dục giới. Sắc giới chẳng còn tham muốn nam nữ, nhưng có sự tham muốn vật chất và tư tưởng tham muốn, cho nên gọi là sắc giới. Vô sắc giới chẳng còn tham muốn nam nữ, cũng chẳng còn tham muốn vật chất, chỉ có tư tưởng tham muốn, tức là thức, cho nên gọi là vô sắc giới.

Luân hồi là gì? Tức là bánh xe sinh tử, chạy trong vòng sáu nẻo, bị nghiệp lực sở cảm chi phối. Lúc còn sống, thực hành thượng phẩm mười điều lành, giữ năm giới, thì được sinh về cõi trời. Lúc còn sống, thực hành trung phẩm mười điều lành, giữ năm giới, thì sinh về cõi người. Lúc còn sống, thực hành hạ phẩm mười điều lành, giữ năm giới, thì sinh về cõi A Tu La. Lúc còn sống, thực hành hạ phẩm mười điều ác, không giữ năm giới, thì sinh về đường súc sinh. Lúc còn sống, thực hành trung phẩm mười điều ác, không giữ năm giới, thì sinh về ngạ quỷ. Lúc còn sống, thực hành thượng phẩm mười điều ác, không giữ năm giới, thì đọa vào địa ngục.

Ðời ác năm trược là gì? Thế giới này chúng ta đang ở có năm thứ cấu nhiễm.

  1. Kiếp trược: Ðến thời đại mạt pháp, tuổi thọ con người đến lúc thấp nhất thì thành diệt kiếp, có ba tai nạn lớn.
  2. Kiến trược: Trong tâm con người đầy dẫy tư tưởng ngũ chủng kiến (năm thứ thấy không chân chánh) tức là: Thân kiến, biên kiến, giới thủ kiến, kiến thủ kiến, tà kiến.
  3. Phiền não trược: Trong tâm con người đầy dẫy năm thứ ngu độn tức là: Tham dục, sân hận, ngu si, ngã mạn, nghi hoặc.
  4. Chúng sinh trược: Sinh mạng của chúng sinh là do năm uẩn giả hợp mà thành, phải chịu sinh già bệnh chết, đủ sự thống khổ và phiền não, vĩnh viễn luân hồi trong sáu nẻo.
  5. Mạng trược: Sinh mạng của chúng sinh khổ nhiều vui ít, thọ mạng như sương buổi sáng, khoảng nháy mắt thì quỷ vô thường đến, thì sinh mạng sẽ chấm dứt.

Thân chúng sinh dễ được, nhưng thân người khó được, vì con người là thông minh nhất trong các loại chúng sinh, cho nên được thân người chẳng phải dễ. Cổ đức nói:
“Thân người khó được, Phật pháp khó nghe,
Nước lớn khó sinh, bạn hiền khó gặp”.

Bây giờ người Mỹ đều có phước báu, nếu không có phước báu thì không thể sinh vào nước Mỹ. Có người nói: ‘’ Tây phương Cực Lạc Thế Giới là nước Mỹ bây giờ.’’ Mới nghe còn có chút nghi ngờ, không tin lời nói như thế, nhưng phân tích tỉ mỉ thì thật có lý. Thế giới Cực Lạc, căn cứ tên gọi mà suy nghĩ nghĩa của nó, là vui sướng đến cùng cực, mà chẳng có chút lo lắng gì. Bây giờ khắp nơi trên thế giới chịu sự uy hiếp về chiến tranh, uy hiếp về lương thực kinh tế, mà nước Mỹ là một nước giàu mạnh, không bao giờ sợ thiếu lương thực và chẳng sợ có chiến tranh, đây là thế giới cực lạc ở nhân gian.

Bây giờ Phật pháp đã truyền đến đất Mỹ, quang minh của Phật chiếu khắp, Phật pháp độ khắp. Phàm là người ở nước Mỹ đều đắc được lợi ích Phật pháp. Hạt giống bồ đề đã trồng xuống mười năm về trước, bây giờ là thời kỳ mầm non, hy vọng thiện nam tín nữ nước Mỹ cố gắng nỗ lực tài bồi, luôn luôn cạo cỏ, luôn luôn thêm phân tưới nước, khiến cho mầm bồ đề lớn dần phát triển tươi tốt, khai hoa kết quả. Ai ai cũng tin Phật pháp thì thế giới chẳng có chiến tranh.

Chúng ta hôm nay sanh vào nước lớn, lại có bạn hiền, thật là cơ hội tốt ngàn năm khó gặp, cho nên phải nắm lấy cơ hội, đừng để trôi qua. Bốn điều khó được đều đã được, thật là hy hữu, may mắn, cũng là nghiệp lực sở cảm. Cho nên nghe pháp phải sinh tín tâm mới có công đức, không sinh tín tâm thì bất cứ nghe pháp gì cũng chẳng ích lợi gì. Bây giờ chúng ta không những tin còn phải tu hành. Do đó:

‘’ Thân người khó được nay đã được,
Phật pháp khó nghe nay đã nghe,
Thân này đời nay không độ,
Còn đợi chừng nào độ thân này.’’

Lạc Tư Tánh Pháp Biến Hóa Thiên Vương, đắc nhập nhất thiết Bồ Tát điều phục hạnh như hư không vô biên vô tận giải thoát môn
Lạc Tư Duy Pháp Biến Hóa Thiên Vương, được môn giải thoát, nhập vào tất cả hạnh điều phục của Bồ Tát, vô biên vô tận như hư không.

Vị Tư Duy Pháp Biến Hóa Thiên Vương này, hoan hỷ tu pháp môn tư duy. Pháp tư duy tức là thiền định. Vị này hiểu rõ tất cả các pháp, biến hóa vô cùng hổ tương vô ngại. Hiểu rõ pháp này, nhập vào được tất cả cảnh giới của Bồ Tát, thấu hiểu điều phục được hạnh chúng sinh, hiểu rõ làm thế nào điều phục loại chúng sinh đó. Vị này đắc được môn giải thoát này.

Vị này còn hiểu rõ tự tánh như hư không chẳng có bờ mé, cho nên nói vô biên vô tận, chẳng có bờ mé là lớn nhất, chẳng có cùng tột là dài nhất. Thiên Vương này hiểu được pháp môn này, cho nên đắc được môn giải thoát này.

Biến Hóa Tràng Thiên Vương, đắc quán chúng sanh vô lượng phiền não phổ bi trí giải thoát môn
Biến Hóa Tràng Thiên Vương được môn giải thoát, phổ bi trí quán sát vô lượng phiền não của chúng sinh.

Vị Biến Hóa Tràng Thiên Vương này, có tràng báu biến hóa vô cùng, có thể biến lớn biến nhỏ, có thể biến nhiều biến ít, biến hóa đủ loại bảy báu để trang nghiêm tràng báu. Vị này quán sát được tất cả phiền não chúng sinh. Phiền não từ đâu mà có? Nói đơn giản là từ vô minh mà sinh ra. Vô minh khởi mà biến làm phiền não tham sân si. Phiền não có đại phiền não, trung phiền não và tiểu phiền não. Lại sinh ra vô lượng vô biên phiền não, cho nên nói vô lượng phiền não.

Chúng sinh có phiền não chướng và sở tri chướng. Phiền não chướng tức là chấp ta quá nặng. Sở tri chướng tức là chấp pháp quá nặng. Do hai sự chướng ngại này, mà chúng ta lưu chuyển trong sáu nẻo luân hồi, không giải thoát được.
Mỗi một chúng sinh đều có phiền não của họ. Người giàu thì có phiền não kiêu ngạo, kẻ nghèo thì có phiền não tự ti. Phiền não là gì? Tức là không biết đủ. Nếu biết đủ thì chẳng có phiền não. Do đó:‘’ Biết đủ thì vui, nhịn được thì yên.’’

Vị Thiên Vương này đắc được môn giải thoát: phổ biến từ bi trí huệ, phát nguyện độ chúng sinh, xem chúng sinh bình đẳng, không phân biệt người thân kẻ oán, hết thảy đều như nhau.

Tinh tú âm diệu trang nghiêm Thiên Vương, đắc phóng quang hiện Phật tam luân nhiếp hóa giải thoát môn.
Tinh Tú Âm Diệu Trang Nghiêm Thiên Vương, được môn giải thoát, phóng quang hiện tam luân thân khẩu ý của Phật, để nhiếp hóa chúng sinh.

Vị Tinh Tú Âm Diệu Trang Nghiêm Thiên Vương này, phóng quang minh, quang minh như tinh tú rất vi diệu trang nghiêm các cõi nước chư Phật. Vị này đắc được môn giải thoát, phóng quang hiện tam luân nhiếp hóa của Phật. Phật tức là Phật Thích Ca hoặc là mười phương chư Phật. Tam luân tức là thân khẩu ý. Tam luân của Phật, tam luân của Bồ Tát, tam luân của A La Hán, tam luân của chúng sinh đều khác nhau.

Tam luân của Phật có thể nói là một luân, lại có thể nói là chín luân. Trong mỗi một luân có ba luân tác dụng. Ví như miệng. Miệng không chỉ riêng thuyết pháp luân, cũng có thể nói là ý niệm luân, cũng có thể nói là thần túc luân. Như vậy mỗi một luân đầy đủ công dụng ba luân, luân chuyển không ngừng, chuyển đại pháp luân. Cho nên tam luân của Phật, với tam luân của chúng sinh chẳng giống nhau.

Tam luân của chúng sinh, thân tức là thân, miệng tức là miệng, ý tức là ý, không thể dùng lẫn nhau, mà có sự chướng ngại.

Tam luân của Phật lấy bốn pháp nhiếp làm chủ, cho nên nói nhiếp hóa chúng sinh. Nhiếp là nhiếp thọ, giống như hút sắt vậy. Nhiếp phân làm hai thứ:

  1. Nhiếp hữu hình, giống như có người ở Nữu Ước, tiếp được thơ hoặc điện thoại của bạn bè ở Cựu Kim Sơn, bèn đến Cựu Kim Sơn.
  2. Nhiếp vô hình, tức là nhiếp tinh thần, tức cũng là thần túc thông, có thể nhiếp người đến. Ví như có người vốn chưa từng thấy mặt, hoặc là chỉ thấy trong mộng, thì người này bèn đến, đó là tác dụng về nhiếp tinh thần.
    Phật thường dùng nhiếp hữu hình và vô hình, để nhiếp hóa chúng sinh, dùng đủ loại thần thông để nhiếp hóa chúng sinh, dùng từ bi hỷ xả để nhiếp hóa chúng sinh. Tóm lại có bốn loại nhiếp:
  3. Bố Thí: Phân làm ba loại:
  4. Bố thí tài: Thấy người khốn khổ hoạn nạn, dùng vàng bạc vật chất để cứu họ, họ sẽ cảm động mà tin bạn.
  5. Bố thí pháp: Thấy người không rõ sự lý, dùng Phật pháp nhân quả để khai đạo cho họ, khiến cho họ khai mở trí huệ, họ sẽ cảm động mà tin bạn.
  6. Bố thí không sợ hãi: Thấy người bất hạnh, dùng lời khéo để an ủi họ, làm cho họ không hoảng hốt sợ hãi, họ sẽ cảm động mà nương tựa bạn. Như vậy sẽ phát sinh cảm tình với chúng sinh thì dễ gần gũi chúng sinh.
  7. Ái ngữ: Tức là lời nói thái độ giống như cha mẹ nói với con cái, không những nhu hòa mà còn từ bi, đối với chúng sinh cũng lại như thế, khiến cho chúng sinh có hảo cảm. Do đó:‘’ Lời hay nửa câu ấm suốt ba mùa Ðông.’’

Lời nói là biểu đạt sự cảm tình. Biết dùng người thì kết duyên lành khắp nơi, không biết dùng người thì kết duyên ác kháp nơi. Cho nên người tu đạo phải rộng kết duyên lành.

Có câu chyện như vầy, lúc Ðức Phật còn tại thế, Ðức Phật và hai vị Tôn giả Ca Diếp và A Nan đi đến xứ nọ thuyết pháp, giáo hóa chúng sinh. Gặp lúc mùa hạ thời tiết nóng bức, mồ hôi chảy nhễ nhại, bèn đến nghỉ dưới gốc cây. Lúc bấy giờ Ðức Phật thấy một phụ nữ đến giếng gánh nước bèn sai Tôn giả A Nan đi xin nước. A Nan dến bên giếng, người thiếu phu nổi giận, không những không cho nước, mà còn mắng chửi Tôn giả A Nan. Tôn giả A Nan im lặng cúi đầu trở về chỗ Phật. Phật sai Tôn giả Ca Diếp đến xin nước, Tôn giả Ca Diếp đến bên giếng, người phụ nữ cười hỏi: ‘’ Thầy đến đây làm gì? ‘’

Tôn giả Ca Diếp nói rõ ý của mình đến, thì người phụ nữ này múc đầy hai bầu nước, một bầu cúng dường Phật, một bầu cúng dường ngài Ca Diếp. Tôn giả A Nan thấy như vậy, trong tâm nghi vấn, bèn hỏi Phật là nhân duyên gì? Phật bèn nói ra một đoạn nhân duyên trong vô lượng kiếp. Lúc đó người phụ nữ này là con chuột, vì quan hệ nghiệp chướng, chuột bị xe cáng chết ở giữa đường, thân thể đã hôi thối. Tôn giả A Nan là một vị Tỳ kheo đi ngang qua, ngửi thấy mùi chuột thối muốn mửa ra, tâm nghĩ lão chuột đáng chết, rồi bịt mũi đi qua. Ðằng xa cũng có một Tỳ kheo đi đến, đó là tiền thân Tôn giả Ca Diếp, Tôn giả phát tâm từ bi, thấy chuột chết thật đáng thương xót, mới mai táng xác chuột dưới đất, rồi vì nó mà niệm bảy lần Chú Vãng Sinh, cho nên nó mới có duyên sinh làm người. Ðó là nhân quả kết duyên lành hoặc kết duyên ác.

  1. Lợi hành: Tức là có lợi gì thì phân chia đồng đều cho mọi người, không thể chiếm làm của riêng. Nên học Bảo Thúc Nha và Quản Trọng về việc chia vàng. Hai người hợp tác làm ăn, đến khi chia lợi nhuận thì Quản Trọng lấy phần nhiều, còn Bảo Thúc Nha thì ít hơn. Có người cho rằng không công bằng, mới hỏi Bảo Thúc Nha tại sao lại như thế? Bảo Thúc Nha nói: ‘’ Quản Trọng có mẹ già còn sinh tiền, ăn uống phải có dinh dưỡng, cho nên mới lấy phần nhiều.’’ Quản Trọng nghe được điều này rất cảm động vô cùng, rất cảm kích nói rằng: ‘’ Cha mẹ là người sinh ta, người biết ta là Bảo Thúc Nha.’’
  2. Ðồng sự: Bồ Tát nghĩ muốn độ người gì, thì hiện ra thân đó, cho nên Bồ Tát Quán Thế Âm có ba mươi hai thân tướng. Ðáng dùng thân người nam độ được, thì hiện thân người nam để độ, đáng dùng thân người nữ độ được, thì hiện ra thân người nữ để độ. Ðáng dùng thân sĩ, nông, công, thương độ được thì hiện ra thân sĩ, nông, công, thương để độ. Tóm lại, phải hiện ra thân cùng thân, cùng thân phận, thì mới độ được dễ dàng. Nếu với chúng sinh giống nhau, chẳng có giới hạn, không phân biệt đó đây, như vậy thì bạn với chúng sinh thành một thể, lúc đó thuyết pháp cho chúng sinh nghe, thì hiệu quả trăm phần trăm.

Vị Thiên Vương này, đắc được môn giải thoát: bốn pháp nhiếp, để nhiếp hóa chúng sinh. Ở trên là môn giải thoát của mười vị Biến Tịnh Thiên Vương. Dưới đây là những bài kệ của các vị đó.

Nhĩ thời, thanh tịnh tuệ danh xưng Thiên Vương, thừa Phật uy lực, phổ quán nhất thiết thiểu tịnh Thiên, vô lượng tịnh Thiên, biến tịnh Thiên chúng nhi thuyết tụng ngôn
Bấy giờ, Thanh Tịnh Huệ Danh Xưng Thiên Vương, nương oai lực của đức Phật, quán sát khắp tất cả Thiên chúng cõi trời Thiểu Tịnh, trời Vô Lượng Tịnh, trời Biến Tịnh mà nói ra bài kệ.

Tức là lúc đó, vị Thanh Tịnh Huệ Danh Xưng Thiên Vương, trời Tam Thiền thuộc về sắc giới, nương đại oai thần lực của chư Phật, quán sát khắp hết tất cả Thiên chúng trời Thiểu Tịnh, trời Vô Lượng Tịnh, trời Biến Tịnh. Ở trong ba cõi trời này, lại phân ra vô lượng vô biên trời Thiểu Tịnh, trời Vô Lượng Tịnh, trời Biến Tịnh. Vị Thiên Vương này, nói ra mười bài kệ để tán thán công đức của Phật.

Trời Tam Thiền gọi là Ly Hỷ Diệu Lạc, ở cõi trời này chẳng cần hoan hỷ cảnh giới nữa, cảnh giới thuần túy rất vi diệu khoái lạc. Trời Tam Thiền này có ba cõi trời:

  1. Trời Thiểu Tịnh: Thiên chúng ở cõi trời này đã thoát khỏi tâm vui mừng, đắc được khoái lạc tịch tĩnh vi diệu. Sự khoái lạc này là từ nội tâm sinh ra, chẳng phải từ ngoại cảnh mà có.
  2. Trời Vô Lượng Tịnh: Thiên chúng ở cõi trời này, thân tâm đắc được khinh an như hư không, là cõi trời khoái lạc nhất (người tu đạo không nên ở cõi trời này, vì quá khoái lạc mà quên tu hành, rất dễ đọa lạc).
  3. Trời Biến Tịnh: Thiên chúng ở cõi trời này, đắc được thuần chân thanh tịnh diệu lạc, tiêu diệt tất cả tâm hoan hỷ.

Liễu tri pháp tánh vô ngại giả,                   Bậc biết rõ pháp tánh vô ngại
Phổ hiện thập phương vô lượng sát,         Hiện khắp mười phương vô lượng cõi
Thuyết Phật cảnh giới bất tư nghị,           Nói cảnh giới Phật khó nghĩ bàn
Lệnh chúng đồng quy giải thoát hải.         Khiến chúng đồng về biển giải thoát.

‘’ Bậc biết rõ pháp tánh vô ngại.’’ Chỉ có Phật mới biết rõ và hiểu được pháp thế gian và pháp xuất thế gian, thấy rõ được tất cả các pháp đều viên dung vô ngại. Phật không những tự mình thấy rõ được đạo lý này mà cũng dạy chúng sinh thấy rõ được đạo lý này.

‘’ Hiện khắp mười phương vô lượng cõi.’’ Phật hiện khắp hết cõi nước chư Phật trong mười phương, để giáo hóa chúng sinh. Phàm phu chúng ta cho rằng, Phật chỉ hiện ở thế giới Ta Bà, để giáo hóa chúng sinh, thực ra mười phương thế giới, đồng thời đều có Phật xuất hiện ra đời, cho nên nói hiện khắp mười phương vô lượng cõi.

‘’ Nói cảnh giới Phật không nghĩ bàn.’’ Phật ở trong vô lượng vô biên cõi Phật, thuyết pháp giáo hóa chúng sinh, khiến cho chúng sinh hiểu được, cảnh giới của Phật là không thể nghĩ bàn, là diệu không thể nói. Tóm lại, tâm phàm phu nghĩ không đến, miệng nói không ra cảnh giới.

‘’ Khiến chúng đồng về biển giải thoát.’’ Khiến cho chúng sinh đồng đắc được giác ngộ, Phật đem chân lý của mình đã giác ngộ để giáo hóa chúng sinh, khiến cho họ đắc được biển giải thoát này.

Như Lai xứ thế vô sở y,                              Thế gian Như Lai không chỗ nương
Thí như quang ảnh hiện chúng quốc,       Ví như hình bóng hiện các cõi
Pháp tánh cứu cánh vô sanh khởi,            Pháp tánh rốt ráo không sinh khởi
Thử thắng kiến Vương sở nhập môn.       Thắng Kiến Thiên Vương vào môn này.

‘’ Thế gian Như Lai không chỗ nương.’’ Phật ở trong thế gian, chẳng có xứ sở nhất định, cũng chẳng có quốc độ giáo hóa nhất định. Tại sao? Vì tất cả cõi nước trong mười phương, đều là nơi Ðức Phật giáo hóa. Trong Kinh Phạm Võng nói: ‘’ Ta đến thế giới Ta Bà này giáo hóa chúng sinh đã tám ngàn lần.’’

‘’ Ví như hình bóng hiện các cõi.’’ Tại sao nói Phật chẳng có chỗ nương? Chẳng có cõi nước nhất định? Vì thân của Phật giống như ánh sáng, hình bóng, hiện khắp trong tất cả cõi nước, tất cả thế giới.

‘’ Pháp tánh rốt ráo không sinh khởi.’’ Bổn thể của pháp tánh rốt ráo chẳng sinh diệt. Trong Kinh Bát Nhã nói: ‘’ Không sinh không diệt, không dơ không sạch, không thêm không bớt,’’ tức là đạo lý các pháp không tướng.

‘’ Thắng Kiến Thiên Vương vào môn này.’’ Ðây là đạo lý thấy được của vị Tối Thắng Kiến Thiên Vương, vị này còn nhập vào trong môn giải thoát này, và tinh tấn tu hành pháp môn các pháp không tướng này.

Vô lượng kiếp hải tu phương tiện,            Vô lượng biển kiếp tu phương tiện
Phổ tịnh thập phương chư quốc độ,          Tịnh các cõi nước khắp mười phương
Pháp giới như như thường bất động,        Pháp giới như như thường bất động
Tịch tĩnh đức Thiên chi sở ngộ.                 Tịch Tĩnh Ðức Thiên ngộ môn này.

‘’ Vô lượng biển kiếp tu phương tiện.’’ Phật tu hành công đức thành Phật, chẳng phải trong một đời một kiếp mà thành tựu được, mà là trong vô lượng đại kiếp tu nhiều pháp môn mà thành tựu. Do đó:

“Ba Tăng Kỳ tu phước huệ,
Trăm kiếp trồng tướng tốt”.

Trải qua thời gian lâu dài, tu lục độ vạn hạnh, nhiều phương tiện pháp môn, không thể nhẫn cũng nhẫn được, không thể xả bỏ cũng xả bỏ được, không thể nhường cũng nhường được, đó mới là tu hành. Nếu người nhẫn được, bạn nhẫn được, người xả được bạn xả được, người nhường được bạn nhường được, vậy đó chẳng phải người tu đạo, mà là một nhóm người.

Những gì không nhẫn được cần phải nhẫn? Giống như lúc Ðức Phật tại nhân địa tu hạnh nhẫn nhục. Lúc đó tên gọi là Nhẫn Nhục Tiên Ông, tu hành trong núi Tuyết. Một ngày nọ vua Ca Lợi dẫn cung phi mỹ nữ đi vào trong núi săn bắn. Cung phi mỹ nữ phát hiện có một người ngồi dưới gốc cây, mới đến hỏi Tiên Ông hoàn cảnh tu hành. Lúc đó Tiên Ông thuyết pháp cho bọn cung phi mỹ nữ. Vua Ca Lợi phát hiện bọn cung nữ đi đâu mất mới đi tìm, thấy bọn cung nữ ngồi xung quanh Tiên Ông khi nói khi cười. Vua Ca Lợi bèn sinh tâm hoài nghi, nghi rằng vị Tiên Ông này động lòng phàm tục mới đến hỏi tội, nổi giận hỏi Tiên Ông rằng: ‘’ Nhà ngươi tu hạnh gì? ‘’

– Tiên Ông đáp: ‘’ Tu hạnh nhẫn nhục.’’
– Vua nói: ‘’ Ta sẽ chặt tứ chi của nhà ngươi ra, xem nhà ngươi nhẫn được chăng? ‘’ Nói xong bèn chặt tứ chi của Tiên Ông, rồi hỏi: ‘’ Nhà ngươi nhẫn được chăng? ‘’
– Tiên Ông nói: ‘’ Nhẫn được.’’
– Vua nói: ‘’ Có gì để chứng minh nhà ngươi nhẫn được? ‘’
– Tiên Ông đáp: ‘’ Nếu tôi không nhẫn được thì tứ chi đã chặt ra không thể khôi phục lại. Nếu thật sự tôi nhẫn được thì tứ chi của tôi sẽ khôi phục lại như cũ.’’ Vừa nói xong thì tứ chi khôi phục lại bình thường, đó là câu chuyện chứng minh được sự nhẫn nhục.

Những gì không xả được cần phải xả? Lúc đức Phật tu hành tại nhân đîa, thì lóc thịt bố thí cho chim ưng, xả thân cứu hổ đói. Một ngày nọ chim ưng hung ác rượt bắt chim cáp. Chim cáp kinh sợ bay đến chỗ đức Phật, cầu Phật bảo hộ. Chim ưng bay đến nói với đức Phật rằng: ‘’ Ông là người tu đạo, đều có tâm từ bi, ông cứu sinh mạng chim cáp, nhưng tôi phải chết đói, làm thế nào đây? ‘’ Do đó Phật bèn cắt thịt thân mình để cho chim ưng, cắt hết thịt mới ngừng. Ðó là hành Bồ Tát đạo.

Một ngày nọ đức Phật tu hành ở trong núi Tuyết, trời tuyết rơi quá nhiều, khắp nơi đều biến thành màu trắng, động vật chẳng có thức ăn, khổ sở khó tả được. Ðức Phật thấy một con cọp mẹ dẫn cọp con đi tìm thức ăn. Cọp mẹ đói quá thể lực kiệt sức, cọp con kiệt sức cũng đi không muốn nổi. Ðức Phật thấy thảm trạng như vậy bèn sinh tâm từ bi: ‘’ Ta xả thân của ta có thể cứu sống hai sinh mạng này.’’ Do đó hy sinh thân mạng cứu sống cọp mẹ cọp con. Ðó là tinh thần thật là vĩ đại ! Chúng ta là người tu đạo ít nhất phải có tâm từ bi, ban bố cho chúng sinh phương tiện. Do đó người xuất gia, lấy từ bi làm hoài bảo, phương tiện làm gốc, tiến thêm bước nữa phải đạt được sự hy sinh tiểu ngã để hoàn thành đại ngã.

Phải nhường những gì không thể nhường? Ðức Phật trong quá khứ, làm thái tử nước Diệp Ba tên là Tu Ðại Noa. Thái tử rộng tu bố thí, sau đó bị vua cha Thấp Ba đuổi ra khỏi hoàng cung. Thái tử dẫn vợ là Man Viên và hai con trai và gái vào rừng sâu sinh sống. Thái tử cõng con trai, vợ bồng con gái trải qua nhiều ngày mới đến rừng sâu núi thẳm làm am mà ở.

Lúc đó, có vị Bà La Môn từ xa đến xin hai đứa con, thái tử đều bố thí. Trời Ðế Thích biết cũng hiện ra thân khác đến xin người vợ, thái tử cũng bố thí, nhưng gửi chỗ thái tử, thái tử thấy lạ bèn hỏi: ‘’ Tại sao? ‘’ Trời Ðế Thích biết tâm thái tử kiên cố, vì bố thí mà hy sinh tất cả, mới hiện ra thân trời nói với thái tử: ‘’ Tôi là Thích Ðề Hoàn Nhân, đặc biệt đến đây để thử tâm của Ngài phải chăng trước sau như một? Nay mới thấy, quyết thật như thế, đáng kính đáng phục ! ‘’

Việc không thể nhường mà nhường được, Ðức Phật cũng làm được. Do đó:

“Trong thì xả bỏ đầu mắt tủy não,
Ngoài thì xả bỏ đất nước vợ con”.

Sự khổ hạnh khó làm mà làm được, đó là pháp phương tiện, cho nên nói:‘’ Vô lượng biển kiếp tu phương tiện.’’

‘’ Tịnh khắp cõi nước trong mười phương.’’ Ðức Phật dùng trí huệ quang minh để chiếu soi, để thanh tịnh, để trang nghiêm cõi nước chư Phật trong mười phương. Do đó, quang minh của Phật chiếu khắp tận hư không khắp pháp giới. Tóm lại, không có chỗ nào mà chẳng thanh tịnh, chẳng chỗ nào mà chẳng trang nghiêm.

‘’ Pháp giới như như thường bất động.’’ Pháp giới chẳng có biến đổi, như như bất động.

‘’ Tịch Tĩnh Ðức Thiên ngộ môn này.’’ Ðạo lý này vị Tịch Tĩnh Ðức Thiên Vương thấy được.

Chúng sanh ngu si sở phước chướng,       Chúng sinh ngu si bị chướng che
Manh ám hằng cư sanh tử trung,              Mù tối thường ở trong sinh tử
Như Lai thị dĩ thanh tịnh đạo,                  Như Lai mở bày đạo thanh tịnh
Thử Tu-Di âm chi giải thoát.                     Giải thoát này của Tu Di Âm.

‘’ Chúng sinh ngu si bị chuớng che.’’ Chúng sinh là do chúng duyên giả hợp mà sinh. Chúng sinh thông minh thì đi trên con đường chánh, chúng sinh ngu si thì đi theo con đường tà. Người ngu si, vì họ mà nói chánh pháp thì họ không tin. Tại sao? Vì họ ngu si ! Tại sao ngu si? Vì không tin Phật pháp, cho nên càng ngày càng ngu si. Phải học Phật pháp thì càng ngày càng thông minh. Người thông minh thì chẳng có nghiệp chướng che đậy, kẻ ngu si thì có nghiệp chướng che đậy.

Che đậy là gì? Tức là bị một vật che đậy, chẳng được giải thoát. Giống như La Hầu La con của Ðức Phật. La Hầu La dịch là “che đậy”. Vì nghiệp chướng quá nặng, ở trong thai mẹ sáu năm mới sinh ra, tại sao? Vì trong quá khứ, La Hầu La là một đứa trẻ nghịch ngợm. Một ngày nọ, thấy một con chuột chạy vào hang động, La Hầu La lấy đá lấp hang động sáu ngày, tạo ra ác nghiệp này, do đó mới thọ quả báo che đậy ở trong thai mẹ sáu năm.

Có thuyết nói rằng: Ðức Phật Thích Ca lúc mười bảy tuổi, thì kết hôn với Gia Du Ðà La. Kết hôn rồi, Gia Du Ðà La muốn có con, đức Phật dùng tay chỉ vào bụng thì phu nhân thọ thai. Ðức Phật xuất gia rồi, tu hành ở trong núi Tuyết sáu năm, La Hầu La mới sinh ra. Lúc đó hoàng tộc Thích Ca nói Gia Du Ðà La không giữ đạo làm vợ. Không có chồng mà sinh con? Bèn dùng lửa để thiêu sống Gia Du Ðà La, để bảo tồn danh dự dòng họ Thích Ca, Gia Du Ðà La vì muốn chứng minh sự thanh bạch của mình mới phát thệ rằng:’’ Nếu tôi giữ đạo làm vợ, thì lửa đỏ biến thành hoa sen, nếu tôi không giữ đạo làm vợ thì lửa sẽ thiêu hủy thân của tôi, không một lời oán trách.’’ Nói xong bồng con là La Hầu La, nhảy vào trong đống lửa cháy dữ dội, quả nhiên lửa biến thành hoa sen màu đỏ, do đó ‘’ Hoa sen trong lửa,’’ là để chứng minh quyết thực không phải là không giữ quy cụ.

‘’ Mù tối thường ở trong sinh tử.’’ Người mù tối thì vừa điếc vừa câm. Nghĩa là sinh thì hồ đồ mà đến, chết thì hồ đồ mà đi, luôn luôn ở trong biển sinh tử, vĩnh viễn không được giải thoát.

‘’ Như Lai mở bày đạo thanh tịnh.’’ Vì người mù tối, không biết đạo lý sinh tử, luôn luôn sinh rồi lại chết, chết rồi lại sinh. Cho nên Phật từ bi thương xót chúng sinh, hướng dẫn chỉ dạy họ tu đạo thanh tịnh. Ðạo thanh tịnh là gì? Tức là chẳng có tư tưởng ô nhiễm. Tóm lại, tức là chẳng có quan hệ tình dục nam nữ. Ai ai cũng đoạn dục khử ái, thì thức thứ tám tuy nhiên có hạt giống, nhưng chẳng có duyên với cha mẹ thì cũng chẳng sinh ra. Cho nên đoạn dục khử ái, là phương pháp cơ bản giải quyết vấn đề sinh tử, chẳng có gì là huyền diệu. Ai ai cũng biết nhưng chẳng làm được. Tại sao? Vì ngu si che đậy. Vua Ðường Thái Tông có nói câu này: ‘’ Xuất gia mới là việc đại trượng phu.’’ Xuất gia thật là như thế, ném vứt năm dục lên chín từng mây, thứ nhất là không tham tài, thứ hai là không cưới vợ, thứ ba là không cầu danh, thứ tư là không ăn thịt, thứ năm là không ngủ nhiều. Tại sao phải khổ như thế? Là vì muốn chấm dứt sinh tử, cầu tự tại, cầu giải thoát.

‘’ Giải thoát này của Tu Di Âm.’’ Vị Tu Di Âm Thiên Vương đắc được cảnh giới môn giải thoát này.

Chư Phật sở hạnh vô thượng đạo,            Chư Phật tu hành vô thượng đạo
Nhất thiết chúng sanh mạc năng trắc,      Tất cả chúng sinh chẳng biết được
Thị dĩ chủng chủng phương tiện môn,      Thị hiện đủ thứ môn phương tiện
Tịnh nhãn đế quán năng tất liễu.              Tịnh Nhãn quán rõ thấy môn này.

‘’ Chư Phật tu hành vô thượng đạo.’’ Vô thượng đạo của chư Phật tu hành, là pháp môn cao nhất, sâu nhất và rộng lớn nhất, cho nên nói tu hành vô thượng đạo.

‘’ Tất cả chúng sinh chẳng biết được.’’ Hết thảy tất cả chúng sinh không thể dò biết được vô thượng đạo của Phật tu. Tại sao? Vì chúng sinh bị vô minh che đậy. Cho nên chẳng có chân chánh trí tuệ, không thể suy lường cảnh giới của Phật, cứu kính là gì?

‘’ Thị hiện đủ loại môn phương tiện.’’ Vì chúng sinh không cách chi hiểu được cảnh giới của Phật, cho nên Phật từ bi đến chỉ thị cho tất cả chúng sinh, tu vô thượng đạo như thế nào, dùng đủ thứ pháp môn quyền xảo phương tiện giáo hóa chúng sinh, khiến cho chúng sinh cũng biết được phương pháp tu vô thượng đạo của Phật.

‘’ Tịnh Nhãn quán rõ thấy môn này.’’ Ðạo lý này Tịnh Niệm Nhãn Thiên Vương quán sát thấy rõ, cho nên hiểu được cảnh giới này.

Như Lai hằng dĩ tổng trì môn,                  Như Lai thường dùng môn tổng trì
Thí như sát hải vi trần số,                         Ví như hạt bụi các cõi nước
Thị giáo chúng sanh biến nhất thiết,         Giáo hóa chúng sinh khắp hết thảy
Phổ chiếu Thiên Vương thử năng nhập.   Phổ Chiếu Thiên Vương vào môn này.

‘’ Như Lai thường dùng môn tổng trì.’’ Bài kệ này vị Khả Ái Lạc Tối Thắng Quang Chiếu Thiên Vương minh bạch được, cho nên mới nói Phật thường dùng pháp môn tổng trì, để giáo hóa chúng sinh. Pháp môn tổng trì này, lại phân ra vô lượng vô biên pháp môn tổng trì, rồi lại phân ra vô lượng vô biên pháp môn tổng trì nữa. Do đó, trùng trùng vô tận, vô tận trùng trùng.

‘’ Ví như cõi nước số hạt bụi.’’ Môn đại tổng trì này, giống như cõi nước chư Phật, nhiều như số hạt bụi, tóm lại có bất khả thuyết, bất khả thuyết biển cõi nhiều như số hạt bụi.

‘’ Giáo hóa chúng sinh khắp hết thảy.’’ Ðức Phật khai thị giáo hóa tất cả chúng sinh, khiến cho tất cả chúng sinh đắc được môn tổng trì, khắp cùng tất cả cõi nước chư Phật.

‘’ Phổ Chiếu Thiên Vương vào môn này.’’ Cảnh giới này, vị Khả Ái Lạc Tối Thắng Quang Phổ Chiếu Thiên Vương, đắc được pháp môn giải thoát này.

Như Lai xuất thế thậm nan trị,                  Như lai ra đời rất khó gặp
Vô lượng kiếp hải thời nhất ngộ,               Vô lượng biển kiếp gặp một lần
Năng lệnh chúng sanh sanh tín giải,          Khiến khắp chúng sinh sinh tin hiểu
Thử Tự tại Thiên chi sở đắc.                     Tự Tại Thiên Vương được môn này.

‘’ Như Lai ra đời rất khó gặp.’’ Vị Thế Gian Tự Tại Chủ Thiên Vương này nói: ‘’ Như Lai xuất hiện ra đời, không dễ gì gặp được.’’ Do đó:

‘’ Phật pháp cao siêu rất nhiệm mầu,
Trăm ngàn ức kiếp khó gặp được,
Nay con thấy nghe được thọ trì,
Nguyện hiểu nghĩa chân thật của Như Lai.’’

Ðây là bài kệ mở đầu Kinh. Bất cứ tụng niệm Kinh gì, thì trước hết đọc bài kệ này. Bài kệ này là pháp khen ngợi, do Võ Tắc Thiên vào đời Ðường trước tác. Tuy trong việc chính trị nữ Hoàng đế Võ Tắc Thiên là người lãng mạn, nhưng trong Phật giáo bà ta là người đại hộ pháp. Nếu chẳng có bà ta đề xướng Phật pháp, thì chúng ta hôm nay sợ chẳng thấy được bộ Kinh Hoa Nghiêm này.

‘’ Vô lượng biển kiếp gặp một lần.’’ Diệu giác quả vị Phật này, là Phật chí tôn vô thượng, chẳng có gì so sánh cao hơn Ngài được, chẳng có gì so sánh tôn quý hơn Ngài được. Phải trải qua trăm ngàn vạn ức kiếp mới có thể gặp một lần, chẳng phải thường gặp được.

‘’ Khiến khắp chúng sinh sinh tin hiểu.’’ Mục đích Phật xuất hiện ra đời là: làm cho tất cả chúng sinh sanh chánh tín, khiến cho tất cả chúng sinh y theo pháp mười hai nhân duyên tu hành, mới có thể chấm dứt sinh tử, chấm dứt bốn sự khổ lớn: Sinh, già, bệnh, chết. Tại sao Phật xuất gia? Vì muốn biết rõ sinh từ đâu đến? Chết sẽ đi về đâu? Cho nên mới đi tầm đạo sáu năm tu khổ hạnh, cũng không giải quyết được vấn đề sinh tử. Cuối cùng ngồi tĩnh tọa dưới cội bồ đề, mà ngộ được sinh tử, pháp mười hai nhân duyên. Pháp này tuy nhiên là pháp tiểu thừa, nhưng là pháp cơ bản sinh tử. Người đại thừa đừng có chấp trước, cho rằng pháp tiểu thừa là pháp tự liễu hán, có tư tưởng như thế là hoàn toàn sai lầm. Ví như Bát chánh đạo trong ba mươi bảy phẩm trợ đạo là cơ bản của Phật giáo, nếu không hiểu rõ Bát chánh đạo, không tu Bát chánh đạo, chỉ tu pháp đại thừa, e rằng công đức chẳng viên mãn.

‘’ Tự Tại Thiên Vương được môn này.’’ Cảnh giới này, vị Thế Gian Tự Tại Thiên Vương thấy rõ, đắc được môn giải thoát này.

Phật thuyết Pháp tánh giai Vô tánh,         Phật nói pháp tánh đều không tánh
Thậm thâm quảng đại bất tư nghị,           Thâm sâu rộng lớn không nghĩ bàn
Phổ sử chúng sanh sanh tịnh tín,              Khiến khắp chúng sinh tin thanh tịnh
Quang diệm Thiên Vương năng thiện liễu.       Quang Diệm Thiên Vương khéo rõ được.

‘’ Phật nói pháp tánh đều không tánh.’’ Vị Quang Diệm Thiên Vương và vị Thế Gian Tự Tại Chủ Thiên Vương, thấy cảnh giới của Phật chẳng giống nhau. Vị Thiên Vương này nói:‘’ Phật nói các pháp đều chẳng có tự tánh.’’

‘’ Thâm sâu rộng lớn không nghĩ bàn.’’ Các pháp không tánh, vậy chẳng phải là đoạn diệt chăng? Chẳng phải. Vì nó là thâm sâu, rộng lớn, không nghĩ bàn. Muốn nói thâm sâu, chẳng thể so sánh sự thâm sâu của pháp này. Muốn nói lớn, chẳng thể so sánh sự rộng lớn của pháp này. Không thể dùng tâm ý để suy lường, cũng không thể dùng lời nói để diễn đạt.

‘’ Khiến khắp chúng sinh tin thanh tịnh.’’ Phật dùng sức đại trí huệ, sức đại thần thông của Ngài, khiến cho tất cả chúng sinh sanh ra tâm tin chân chánh thanh tịnh, tức cũng là chánh tri chánh kiến, chẳng phải tà tri tà kiến.

‘’ Quang Diệm Thiên Vương khéo rõ được.’’ Vị Quang Diệm Tự Tại Thiên Vương, khéo minh bạch cảnh giới môn giải thoát này.

Tam thế Như Lai công đức mãn,               Ba đời Như Lai công đức đầy
Hóa chúng sanh giới bất tư nghị,              Giáo hóa chúng sinh không nghĩ bàn
Ư bỉ tư tánh sanh khánh duyệt,                 Khiến họ tư duy sinh vui mừng
Như thị lạc Pháp năng khai diễn.              Môn này Lạc Pháp ngộ vào được.

‘’ Ba đời Như Lai công đức đầy.’’ Ba đời tức là đời quá khứ, đời hiện tại, đời vị lai. Phật tu công đức trong ba đời đều viên mãn. Dù phước nhỏ nhất cũng chẳng mất đi, huệ nhỏ nhất cũng phải tu, phước nhỏ huệ nhỏ cũng phải bảo tồn.

‘’ Giáo hóa chúng sinh chẳng nghĩ bàn.’’ Phật dùng đủ thứ pháp phương tiện để giáo hóa chúng sinh. Tại sao? Vì phải tài bồi phước huệ của mình, phước huệ chưa đầy thì phải giáo hóa chúng sinh, phước huệ đầy rồi vẫn giáo hóa chúng sinh. Vì phước huệ càng nhiều càng tốt, cho nên xưng đức Phật là Lưỡng Túc Tôn. Nghĩa là phước của Phật đã đầy đủ, huệ của Phật cũng đầy đủ. Công đức của Phật giáo hóa chúng sinh không thể nghĩ bàn.

‘’ Khiến họ tư duy sinh vui mừng.’’ Khiến cho tất cả chúng sinh chẳng có phiền não, suy nghĩ Phật pháp đều sinh tâm vui mừng, đó là niềm an lạc không gì sánh bằng, là sự vui nội tâm chẳng có cách chi có thể hình dung được.

‘’ Môn này Lạc Pháp ngộ vào được.’’ Ðạo lý cảnh giới này vị Lạc Tư Duy Pháp Biến Hóa Thiên Vương hiểu rõ.

Chúng sanh một tại phiền não hải,           Chúng sinh chìm trong biển phiền não
Ngu si kiến trược thậm khả phố,              Ngu si kiến trược rất đáng sợ
Đại sư ai mẩn lệnh vĩnh ly,                        Ðại sư thương sót cứu ra khỏi
Thử hóa tràng Vương sở quán cảnh.        Môn này Hóa Tràng quán sát được.

‘’ Chúng sinh chìm trong biển phiền não.’’ Chúng sinh tức là chúng sinh trược, biển phiền não tức là phiền não trược. Chúng sinh chìm đắm trong phiền não trược, phiền não trược giống như biển. Phiền não có tám vạn bốn ngàn thứ. Nói tổng quát không ra ngoài phạm vi ba độc tham sân si, đơn giản hơn nữa tức là vô minh.

Vì chúng sinh trược là vô biên vô tận, cho nên Bồ Tát phát nguyện muốn độ khắp chúng sinh.

‘’ Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ,
Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn,
Pháp môn vô lượng thệ nguyện học,
Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.’’

Ðó là bốn thệ nguyện lớn của Bồ Tát, dùng bốn thệ nguyện này để độ chúng sinh trong đời ác năm trược, là pháp môn hay nhất. Phàm là người học pháp đại thừa, đều phải phát tâm bồ đề như vậy.

‘’ Ngu si kiến trược rất đáng sợ.’’ Ngu si tức là mạng trược. Vì sao? Vì vận mạng người ngu si là ô trược, sinh ra thì chẳng thông minh, đều có mối quan hệ với nhau. Kiến trược tức là sự thấy chẳng chánh quyết, không thanh tịnh, có năm thứ kiến giải (thấy hiểu) không chánh đáng.

  1. Thân kiến: Chấp trước thân thể là thực tại, chẳng biết là do các duyên giả hợp mà có.
  2. Biên kiến: Chấp trước sinh mạng là vĩnh viễn bất biến, đó là thường kiến. Chấp trước sinh mạng tùy nhục thể mà tiêu diệt, đó là đoạn kiến. Ðều rơi vào hai bên.
  3. Tà kiến: Tức là nhận thức chẳng sáng suốt, thiện ác chẳng rõ, điên đảo thị phi, phán đoán sai lầm.
  4. Kiến thủ kiến: Chấp kiến giải sai lầm của mình, cho rằng đúng, cuối cùng chấp mê chẳng ngộ.
  5. Giới thủ kiến: Chấp trước giới điều không hợp lý của mình, hoặc hành vi sai lầm cho rằng đúng, không chịu sửa lỗi làm lành. Năm thứ ác kiến này đáng sợ nhất.

‘’ Ðại Sư thương sót cứu ra khỏi.’’ Ðại sư tức là đức Phật, lại xưng là Thiên Nhân Sư (thầy của trời và người). Bậc Thánh nhân đều có tâm thương xót chúng sinh trôi nổi ở trong biển sinh tử, mới chuyển bánh xe pháp, khiến cho chúng sinh ra khỏi đời ác năm trược, sinh về cõi Thường Tịch Quang Tịnh Ðộ, hoặc là sinh về Thế Giới Cực Lạc, chân chánh lìa khổ được vui.

‘’ Môn này Hóa Tràng quán sát được.’’ Cảnh giới môn giải thoát này, vị Hóa Tràng Thiên Vương quán thấy được.

Như Lai hằng phóng đại quang minh,      Như Lai thường phóng đại quang minh
Nhất nhất quang trung vô lượng Phật,     Trong mỗi quang có vô lượng Phật
Các các hiện hóa chúng sanh sự,               Thảy đều giáo hóa độ chúng sinh
Thử diệu âm thiên sở nhập môn.              Diệu Âm Thiên Vương vào môn này.

‘’ Như Lai thường phóng đại quang minh.’’ Vị Tinh Tú Âm Diệu Trang Nghiêm Thiên Vương, thấy mười phương Như Lai thường phóng đại quang minh, đại quang minh tạng này khắp pháp giới.

‘’ Trong mỗi quang có vô lượng Phật.’’ Ở trong mỗi đạo quang minh hiện ra vô lượng vô biên chư Phật. Mỗi vị Phật lại phóng ra trăm ngàn ức quang minh.

‘’ Thảy đều giáo hóa độ chúng sinh.’’ Những vị Phật này đều ở tại đó giáo hóa chúng sinh, khiến chúng sinh nghe pháp tu hành, đắc đạo thành Phật. Ðó là trách nhiệm của mỗi vị Phật.

‘’ Diệu Âm Thiên Vương vào môn này.’’ Cảnh giới môn giải thoát này vị Tinh Tú Âm Diệu Trang Nghiêm Thiên Vương vào được. Ở cõi trời này có mười một vị Thiên Vương.

Trên đây là những bài kệ của mười một vị Thiên Vương cõi Tam Thiền Trời Biến Tịnh, thuộc về sắc giới, nói ra để tán thán công đức của Phật. Dưới đây bắt đầu giảng về những bài kệ của Quang Âm Thiên Vương thuộc về trời Nhị Thiền.

Phục thứ, Khả Ái Lạc Quang Minh Thiên Vương, đắc hằng thọ tịch tĩnh lạc nhi năng hàng hiện tiêu diệt thế gian khổ giải thoát môn
Lại nữa, Khả Ái Lạc Quang Minh Thiên Vương, được môn giải thoát, thường thọ vui tịch tĩnh, mà hàng phục và tiêu diệt khổ của thế gian.

Ðạo lý Kinh văn ở trước chưa nói hết, cho nên nói tiếp theo. Vị Khả Ái Lạc Quang Minh Thiên Vương này, ở cõi Nhị Thiền trời Quang Âm. Vị này ở trong định đắc được cảnh giới thiền duyệt vi thực, pháp hỷ sung mãn, đắc được chân chánh khoái lạc, cho nên gọi thường hưởng thọ vui tịch tĩnh. Vị này ở trong định hàng phục được, tất cả thiên ma ngoại đạo, và còn hiện ra nhiều thứ thân, để tiêu diệt khổ của thế gian, và dùng đủ loại thần thông biến hóa, để cứu chúng sinh lìa khổ được vui. Ðó là môn giải thoát của vị Thiên Vương này đắc được.

Thanh Tịnh Diệu Quang Thiên Vương, đắc đại bi tâm tướng ứng hải nhất thiết chúng sanh thiện lạc tạng giải thoát môn
Thanh Tịnh Diệu Quang Thiên Vương, được môn giải thoát, biển tâm đại bi tương ưng tạng hoan hỉ an lạc của tất cả chúng sinh.

Vị Thanh Tịnh Diệu Quang Thiên Vương này, đắc được biển đại bi tâm tương ưng. Tâm đại bi tức là độ khắp chúng sinh, bỏ mê về giác, đều thành Phật đạo. Nếu có một chúng sinh chưa thành Phật, thì vị này cũng không thành Phật. Bồ Tát đều phát nguyện lớn như vậy.

Vị này dùng tâm đại bi để nhiếp thọ chúng sinh có duyên. Biển tương ưng tức là tâm lượng của tâm đại bi rộng lớn như biển cả, không phân biệt kẻ thân người oán, do đó, vô duyên đại từ, đồng thể đại bi. Vị Thiên Vương này, vì tu tâm đại bi, hành hạnh đại bi, cho nên khiến tất cả chúng sinh hoan hỷ khoái lạc, sự khoái lạc này không thể so sánh được, đó là môn giải thoát của vị này đắc được.

Tự Tại Âm Thiên Vương, đắc nhất niệm trung phổ hiện vô biên kiếp nhất thiết chúng sanh phước đức lực giải thoát môn
Tự Tại Âm Thiên Vương được môn giải thoát, trong một niệm hiện khắp tất cả sức phước đức của hết thảy chúng sinh trong vô biên kiếp.

Vị Tự Tại Âm Thiên Vương này, ở trong một niệm hiện khắp vô biên kiếp trong ba đời, khiến cho đời quá khứ thành đời hiện tại, biến đời hiện tại thành đời vị lai, đời vị lai lại có thể làm đời quá khứ. Ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai, đồng thời hiển hiện ở trong một niệm. Do đó :

“Nhiếp vô lượng kiếp làm một niệm,
Phóng một niệm làm vô lượng kiếp.”

Ở trong vô lượng kiếp, lại có vô lượng chúng sinh, tu phước tu huệ tu thành Phật. Tu phước thì có phước, tu huệ thì có huệ. Tóm lại phước huệ tu viên mãn thì sẽ thành Phật. Ðó là môn giải thoát của vị Thiên Vương này đắc được.

Tối Thắng Niệm Trí Thiên Vương, đắc phổ sử thành trụ hoại nhất thiết thế gian giai tất như hư không thanh tịnh giải thoát môn
Tối Thắng Niệm Trí Thiên Vương được môn giải thoát, khiến cho kiếp thành trụ hoại không của tất cả thế gian, thảy đều thanh tịnh như hư không.

Vị Tối Thắng Niệm Trí Thiên Vương này, đắc được cảnh giới, khiến cho tất cả kiếp : Thành, trụ, hoại, không của tất cả thế gian, hoàn toàn thanh tịnh như hư không.

Thế giới có : thành, trụ, hoại, không, bốn trung kiếp (một trung kiếp có hai mươi tiểu kiếp, bốn trung kiếp là một đại kiếp). Kiếp là đơn vị tính thời gian, lại dịch là “tai nạn”. Cuối thời kỳ diệt kiếp của mỗi tiểu kiếp ở trong trụ kiếp có ba tai tạn nhỏ :

  1. Nạn đói.
    2. Nạn dịch.
    3. Nạn binh đao.

Thời kỳ bây giờ là diệt kiếp, trong tiểu kiếp thứ chín của trụ kiếp. Lúc Phật Thích Ca ra đời thì tuổi thọ con người là một trăm tuổi. Từ khi Ðức Phật vào Niết Bàn gần khoảng ba ngàn năm, cho nên bây giờ tuổi thọ của con người khoảng bảy mươi tuổi. Nếu qua bốn ngàn năm thì tuổi thọ con người giảm còn ba mươi tuổi thì sẽ bắt đầu phát sinh ba tai nạn nhỏ.

  1. Nạn đói : Thời xưa đại địa thanh tịnh, nhân dân hòa lạc, sau đó từ từ phát sinh các điều ác như : giết hại, trộm cắp, tà dâm và nói dối, đợi đến khi tuổi thọ con người còn khoảng ba mươi tuổi, thì tâm con người chẳng như xưa, tà kiến điên đảo làm đủ mười điều ác. Trời rồng nổi giận mà không mưa xuống, chẳng có cây cỏ, ngũ cốc, thậm chí người ăn người. Trải qua bảy năm bảy tháng bảy ngày nhân loại chết đói phân nửa, đó là nạn đói.
  2. Nạn ôn dịch : Tuổi thọ của con người, vào khoảng hai mươi tuổi, thì tâm con người ác đến cực điểm, bèn phát sinh bệnh ôn dịch, ai bị cũng chết, chẳng có thuốc trị được. Bịnh ôn dịch này, truyền nhiễm nhanh chóng, xương khô phơi đầy đồng. Trải qua bảy tháng bảy ngày mới hết, nhân loại chết gần hết, chỉ còn lại một phần mười.
  3. Nạn đao binh : Khi tuổi thọ con người còn khoảng mười tuổi, thì thân cao chỉ được một thước (kiếp diệt thì một tuổi giảm một tấc, kiếp tăng thì một tuổi tăng lên một tấc), con người đều chẳng hiếu chẳng kính, giết hại lẫn nhau, không cha mẹ, không vợ chồng, không con cái, không nhìn nhận lục thân quyến thuộc. Vì nghiệp lực sở cảm, cỏ cây có thể dùng vũ khí mà giết chết người. Ai ai cũng cho rằng : mình không giết chết họ thì họ giết mình, cho nên thấy người thì giết, gặp người thì chém, chém giết vô số, trải qua bảy ngày nhân loại chết hết khoảng chín mươi chín phần trăm. Còn lại chẳng bao nhiêu người. Người còn lại không bị giết thì chạy vào núi trốn, có thiện thần bảo hộ. Sau đó tai nạn qua rồi, họ từ trong núi đi ra, gặp người thì ôm nhau khóc lóc, vui mừng an ủi với nhau, kết làm bạn bè. Lúc bấy giờ, ai cũng sinh tâm hổ thẹn, cải ác làm lành, có quan niệm luân lý, đạo đức, từ bi, nhân quả .v.v., từ từ tăng trưởng hướng thượng, ai ai cũng hòa bình tương xứ, nói nhân nghĩa, nói đạo đức, cảm tình dung hợp, chẳng có tư tưởng ích kỷ tư lợi, chẳng có hành vi xấu ác. Lúc bấy giờ sinh sống an định, cơm no áo ấm, ai ai cũng có tâm từ bi hỷ xả bốn vô lượng tâm, ai ai cũng tin chân lý nhân quả báo ứng.

Khi kiếp hoại, ở trong mỗi đại kiếp phải phát sinh một lần nạn lửa lớn. Trải qua bảy lần nạn lửa lớn (đại hoả tai) rồi, bèn có một lần nạn nước lớn (đại thuỷ tai). Trải qua bảy lần nạn nước lớn rồi, bèn có một lần nạn gió lớn (đại phong tai). Có năm mươi sáu lần nạn lửa lớn, có bảy lần nạn nước lớn, có một lần nạn gió lớn. Tóm lại, trong sáu mươi bốn đại kiếp, thì phát sinh ba tai nạn lớn. Nạn lửa lớn thì thiêu hủy đến trời Sơ Thiền, nạn nước lớn thì ngập đến trời Nhị Thiền, nạn gió lớn thì thổi đến trời Tam Thiền. Trừ khi tu đến trời Tứ Thiền thì mới thoát khỏi sự uy hiếp của ba nạn lớn này.

Pháp tính về kiếp số : Bắt đầu từ tuổi thọ con người, mỗi một trăm năm thì tăng thêm một tuổi, tăng đến bốn vạn tám ngàn tuổi thì ngừng. Rồi lại cứ một trăm năm giảm xuống một tuổi, giảm đến mười tuổi thì ngừng. Một tăng một giảm như vậy là một tiểu kiếp. Công thức tính là : (84.000 – 10) x 100 x 2 = 16.798.000 năm (mười sáu triệu, bảy trăm chín mươi tám ngàn năm) đó là số mục một tiểu kiếp. Một trung kiếp thì gấp hai mươi lần tiểu kiếp (16.798.000 x 20 = 335.960.000 năm. Ba trăm ba mươi lăm triệu chín trăm sáu chục ngàn năm). Một đại kiếp thì gấp bốn lần trung kiếp (335.960.000 x 4 = 1.343.840.000 năm). Một tỷ ba trăm bốn mươi ba triệu tám trăm bốn chục ngàn năm).

Thế giới thành : Trong hai mươi tiểu kiếp không, thì thế giới chẳng có gì. Ðến khi kiếp thành thì đầu tiên trời đổ mưa to, nước dâng đến Ðại Phạm Thiên, từ từ hết mưa nước rút, gió thổi mà thành thế giới. Thế giới thành thì có chúng sinh và thực vật sinh trưởng, dần dần có bộ lạc, có văn hóa, có quốc gia, có chiến tranh. Từ trụ kiếp diễn biến đến hoại kiếp ; hoại kiếp qua rồi thì kiếp không ; kiếp không qua rồi thì đến kiếp thành. Cứ hết rồi lại bắt đầu, tuần hoàn không ngừng.

Khả Ái Lạc Tịnh Diệu Âm Thiên Vương, đắc ái lạc tín thọ nhất thiết Thánh nhân Pháp giải thoát môn
Khả Ái Lạc Tịnh Diệu Âm Thiên Vương, được môn giải thoát, ưa thích tin thọ tất cả pháp của Thánh nhân.

Vị Khả Ái Lạc Tịnh Diệu Âm Thiên Vương này, đắc được cảnh giới, khiến cho tất cả chúng sinh hoan hỷ khoái lạc, tự động đến nghe pháp, và còn tin thọ tất cả pháp của Thánh nhân. Pháp Thánh nhân là gì ? Tức là pháp bốn Thánh pháp giới :

  1. Pháp giới của Phật : Một thừa pháp chân thật, pháp chân không diệu hữu trung đạo đệ nhất nghĩa.
    2. Pháp giới của Bồ Tát : Pháp lục độ vạn hạnh.
    3. Pháp giới của Duyên Giác: Pháp mười hai nhân duyên.
    4. Pháp giới của Thanh Văn : Pháp bốn Diệu Ðế. Ðó đều là pháp tu hành của các bậc Thánh nhân, pháp giáo hóa chúng sinh. Ðó là môn giải thoát của vị Vua Trời này đắc được.

Thiện Tư Duy Âm Thiên Vương, đắc năng Kinh kiếp trụ diễn thuyết nhất thiết địa nghĩa cập phương tiện giải thoát môn
Thiện Tư Duy Âm Thiên Vương được môn giải thoát, trải qua kiếp trụ, diễn nói tất cả nghĩa, của các bậc và phương tiện.

Vị Thiện Tư Duy Âm Thiên Vương này, đắc được cảnh giới tĩnh lự âm, ở trong âm thanh mà ngộ đạo được. Vị này ở trong định trải qua vô lượng kiếp, ở trong định thuyết pháp, không rời tòa ngồi, mà đi đến mười phương thế giới giáo hóa chúng sinh, diễn nói tất cả nghĩa của các bậc, tức là bậc của Phật, bậc Bồ Tát, bậc Duyên Giác, bậc Thanh Văn .v.v., và tất cả pháp môn phương tiện. Ðó là môn giải thoát vị Thiên Vương này đắc được.

Diễn Trang Nghiêm Âm Thiên Vương, đắc nhất thiết Bồ Tát tùng Đâu suất thiên cung một hạ sanh thời Đại cúng dường phương tiện giải thoát môn
Diễn Trang Nghiêm Âm Thiên Vương, được môn giải thoát, đại phương tiện cúng dường tất cả Bồ Tát, từ cung trời Ðâu Suất muốn hạ sinh xuống nhân gian.

Vị Diễn Trang Nghiêm Âm Thiên Vương này, âm thanh trang nghiêm phi thường. Vị này đắc được cảnh giới tất cả Bồ Tát muốn thành Phật. Những vị Bồ Tát này, hậu bổ Phật vị, ở tại nội viện cung trời Ðâu Suất, đợi nhân duyên chín mùi, thì cỡi voi trắng sáu ngà, hàng sinh xuống nhân gian, bắt đầu tám tướng thành đạo :

1. Hàng thế : Từ cung trời hàng xuống nhân gian.
2. Trụ thai : Lựa chọn cha mẹ có duyên.
3. Xuất thai : Sinh ra từ bên hông người mẹ.
4. Xuất gia : Từ bỏ nhà năm dục.
5. Hàng ma : Hàng phục thiên ma ngoại đạo nhiễu loạn.
6. Thành chánh giác : Chứng đắc vô thượng chánh đẳng chánh giác.
7. Chuyển pháp luân : Diễn nói bốn Diệu Ðế, mười hai Nhân Duyên, Lục Ðộ .v.v.
8. Niết Bàn : Ðắc được cứu kính Niết Bàn.

Niết Bàn có ba :
A. Hữu Dư Niết Bàn : Là Niết Bàn của các bậc A La Hán đắc được.
B. Vô Dư Niết Bàn : Là Niết Bàn của Bồ Tát đắc được.
C. Cứu Kính Niết Bàn : Là Niết Bàn của chư Phật đắc được.

Báo thân phàm phu của chúng ta là : vô thường, khổ, không, vô ngã bốn sự khổ. Pháp thân của chư Phật là : thường, lạc, ngã, tịnh bốn sự vui. Mục đích chúng ta học Phật pháp là : lìa khỏi bốn sự khổ của báo thân, mà đắc được bốn sự vui của pháp thân.
Cơ bản luân lý của Phật giáo tức là chân không và diệu hữu. Tiểu thừa nói về có, đại thừa nói về không, rơi vào sự thấy hai bên có và không. Cuối cùng Phật nói trung đạo chân không diệu hữu, không thiên về có, cũng không thiên về không, đó là trung đạo, khiến cho chúng sinh không chấp trước. Trong không có cái có, trong có có cái không. Không, có chẳng hai. Trong Tâm Kinh có nói :

“Sắc chẳng khác không,
Không chẳng khác sắc.
Sắc tức là không,
Không tức là sắc”.
Ðạo lý này nói rất rõ ràng.

Vị Thiên Vương này, dùng đủ thứ pháp phương tiện để giáo hóa chúng sinh, đó là môn giải thoát của vị này đắc được.

Thậm Thâm Quang Âm Thiên Vương, đắc quan sát vô tận thần thông trí tuệ hải giải thoát môn
Thậm Thâm Quang Âm Thiên Vương, được môn giải thoát, quán sát biển thần thông trí huệ vô tận.

Vị Thậm Thâm Quang Âm Thiên Vương này, dùng quang minh để thay thế âm thanh mà thuyết pháp, dùng trí huệ để quán sát cảnh giới của Phật. Thần thông của Phật vô tận, trí huệ vô tận, cho nên nói thần thông biển trí huệ, giống như biển cả chẳng có bờ mé. Trong Kinh Phật thường dùng chữ “biển” để hình dung nghĩa lý rộng lớn.

Thần thông có sáu thứ :
1. Thiên nhãn thông.
2. Thiên nhĩ thông.
3. Tha tâm thông.
4. Túc mạng thông.
5. Thần túc thông.
6. Lậu tận thông.

Trí huệ có hai thứ :
1. Căn bản trí tức là trí huệ tiên thiên.
2. Hậu đắc trí tức là trí huệ hậu thiên.

Một là từ trong thiền định mà đắc được (tiên thiên trí) ; một là từ trong kinh nghiệm đắc được (hậu thiên trí). Vị Thiên Vương này đắc được môn giải thoát này.

Quảng Đại Danh Xưng Thiên Vương, đắc nhất thiết Phật công đức hải mãn túc xuất hiện thế gian phương tiện lực giải thoát môn
Quảng Ðại Danh Xưng Thiên Vương, được môn giải thoát, biển công đức của tất cả chư Phật, đầy đủ sức phương tiện xuất hiện thế gian.

Vị Quảng Ðại Danh Xưng Thiên Vương này, đắc được cảnh giới tất cả công đức tu hành của mười phương chư Phật, vì công đức của chư Phật tu là vô lượng vô biên, chẳng có cách chi có thể tính đếm được có bao nhiêu ? Cho nên gọi là biển công đức. “Tam kỳ tu phước huệ, bách kiếp chủng tướng hảo.” Khi nào công đức viên mãn thì đạt được giai đoạn Lưỡng Túc Tôn, bèn thành Phật, đến thế gian dùng đủ thứ sức phương tiện, để giáo hóa chúng sinh, đó là môn giải thoát vị Thiên Vương này đắc được.

Tối Thắng Tịnh Quang Thiên Vương, đắc Như Lai vãng tích thệ nguyện lực phát sanh thâm tín ái lạc tạng giải thoát môn
Tối Thắng Tịnh Quang Thiên Vương, được môn giải thoát, phát sinh lòng tin sâu, ưa thích sức thệ nguyện của Như Lai.

Vị Tối Thắng Tịnh Quang Thiên Vương, đắc được cảnh giới, sự phát nguyện tại nhân địa của chư Phật trong quá khứ. Sức thệ nguyện này khắp cùng pháp giới, chẳng có một chỗ nào mà chẳng phải chỗ tồn tại nguyện lực của Phật. Tất cả các cõi nước thường chuyển bánh xe pháp. Vị này hiểu được sức lực này rồi, bèn phát sinh vui mừng, tin sâu cảnh giới của Phật, chẳng có hoài nghi, mà còn ưa thích, học theo đại pháp tạng của Phật. Ðó là môn giải thoát của vị Thiên Vương này đắc được.

Nhĩ thời, Khả Ái Lạc Quang Minh Thiên Vương, thừa Phật uy lực, phổ quán nhất thiết thiểu quang Thiên, Vô lượng quang Thiên, Cực quang Thiên Chúng nhi thuyết tụng ngôn
Bấy giờ, Khả Ái Lạc Quang Minh Thiên Vương, nương oai lực của đức Phật, quán khắp tất cả Thiên chúng trời Thiểu Quang, trời Vô Lượng Quang, trời Cực Quang mà nói kệ rằng.

Lúc này vị Khả Ái Lạc Quang Minh Thiên Vương, cõi trời Nhị Thiền thuộc về sắc giới, nương đại oai thần lực của chư Phật, quán sát khắp tất cả Thiên chúng trời Thiểu Quang, trời Vô Lượng Quang, trời Cực Quang (trời Quang Âm). Vị này dùng kệ để diễn nói, khiến cho chúng sinh thấu hiểu đạo lý này.

Trời Nhị Thiền gọi là Ðịnh Sinh Hỷ Lạc. Ở cõi trời này, thường ở trong định thì tâm càng hỷ lạc. Gồm có ba cõi trời :

  1. Trời Thiểu Quang : Thiên chúng cõi này, ở trong định phóng quang từ thân, miệng, tâm chẳng có vọng tưởng, miệng chẳng nói năng, dùng quang minh để thay thế lời nói.
  2. Trời Vô Lượng Quang : Thiên chúng cõi này, không những thân và miệng phóng quang, mà tâm cũng phóng quang để chiếu khắp chúng sinh.
  3. Trời Quang Âm (trời Cực Quang) : Thiên chúng cõi này dùng trí huệ quang phóng ra từ thân, miệng, tâm để làm đại Phật sự, giáo hóa chúng sinh.

 

Ngã niệm Như Lai tích sở hạnh,               Tôi nhớ xưa kia Như Lai tu
Thừa sự cúng dường vô biên Phật,           Cúng dường vô lượng các đức Phật
Như bổn tín tâm thanh tịnh nghiệp,         Là gốc tâm tin nghiệp thanh tịnh
Dĩ Phật uy thần kim tất kiến.                    Nhờ thần lực Phật nay thấy được.

Tôi nhớ xưa kia Như Lai tu.” Vị Khả Ái Lạc Quang Minh Thiên Vương này nói : “Tôi nhớ trong quá khứ Như Lai tu các công đức lành.” Công đức gì ?

Cúng dường vô lượng các Ðức Phật.” Trong quá khứ cúng dường vô số Ðức Phật, và tu các công đức lành. Ðức Phật Thích Ca tại nhân địa tu hành, gặp Ðức Phật Nhiên Ðăng ra đời, Ngài cúng dường năm cành hoa sen và dùng tóc trải dưới bùn, thỉnh Ðức Phật bước qua, cho nên được thọ ký vị lai sẽ thành Phật.
Cúng dường mới là y giáo phụng hành, y pháp tu hành mới có công đức. Một số người cho rằng trang nghiêm đạo tràng, cúng dường pháp cụ, hương đèn hoa quả thì có công đức. Tuy nhiên có công đức nhưng công đức nhỏ.

– Vua Lương Võ Ðế hỏi Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma : “Tôi tạo rất nhiều chùa, biên chép rất nhiều Kinh, Luận, độ rất nhiều Tăng, Ni, có công đức gì chăng ? “

– Tổ Ðạt Ma đáp : “Chẳng có công đức gì hết ! “

– Vua Lương Võ Ðế lại hỏi : “Tại sao chẳng có công đức ? “

– Tổ đáp : “Công đức này, bất quá là quả báo nhỏ ở cõi trời cõi người, là nhân hữu lậu, là nhân thế tục, giống như bóng theo hình, xem thì có nhưng thực tế là hư vọng.”

– Vua lại hỏi : “Chân công đức là gì ? “

– Tổ đáp : “Công đức chân chánh là trí huệ thuần tịnh, thần diệu và viên dung, bổn tính của nó là không tịch. Công đức này chẳng phải dùng phương pháp thế tục mà có được.”

Là gốc tâm tin nghiệp thanh tịnh.” Cúng dường mười phương chư Phật, là dùng gốc để sinh ra tâm tin, thì tu gì cũng đều là nghiệp thanh tịnh, mà chẳng phải là nghiệp nhiễm ô, tức cũng là thân thanh tịnh, miệng thanh tịnh, ý thanh tịnh, ba nghiệp thanh tịnh chẳng có một chút nhiễm ô.

Nhờ thần lực Phật nay thấy được.” Hiện tại nhờ đại oai thần lực của Phật, mới hiểu được cảnh giới này. Nhờ Phật gia bị cho nên thấu hiểu được hạnh môn của Như Lai tu trong quá khứ.

Phật thân vô tướng ly chúng cấu,              Thân Phật vô tướng lìa cấu nhiễm
Hằng trụ từ bi ai mẩn địa,                         Thường trụ từ bi thương chúng sinh
Thế gian ưu hoạn tất sử trừ,                      Ưu hoạn thế gian thảy tiêu trừ
Thử thị diệu quang chi giải thoát.             Giải thoát này Diệu Quang đắc được.

Thân Phật vô tướng lìa cấu nhiễm.” Pháp thân của Phật là khắp pháp giới. Tuy nhiên đầy khắp pháp giới, nhưng chẳng có hình tướng. Vì chẳng có hình tướng, mới đầy khắp pháp giới. Nếu có hình tướng thì có giới hạn, có bờ mé. Vì vô hình tướng cho nên tất cả trần cấu chẳng nhiễm ô. Nếu như có hình tướng thì sẽ có trần cấu. Vô tướng thì tự nhiên chẳng dính bụi trần.
Trần cấu là gì ? Trần cấu này chẳng phải trần cấu có hình tướng, mà là vô minh phiền não cấu, tức cũng là khởi vọng tưởng. Phàm là trong tâm chẳng thanh tịnh, tư tưởng không chân chánh, đều là hiện tượng của sự dơ bẩn.

Ðức Phật thì chẳng còn tướng ta, tướng người, tướng chúng sinh, tướng thọ mạng. Bốn tướng này đều không, muốn có trần cấu cũng chẳng có được. Cho nên nói lìa cấu nhiễm, tức cũng là lìa tất cả pháp ô nhiễm.

Thường trụ từ bi thương chúng sinh.” Thường trụ đại từ, đại từ là thương xót chúng sinh. Tóm lại, Phật dùng đại từ đại bi luôn luôn thương xót chúng sinh, luôn luôn phát nguyện cứu chúng sinh, khiến cho chúng sinh thoát khỏi sự khổ trong tam giới, đắc được sự vui sướng Niết Bàn.

Thế gian ưu hoạn thảy tiêu trừ.” Thế gian tức là thế giới, ưu hoạn tức là ưu sầu hoạn nạn. Ưu hoạn thế giới này quá nhiều. Vì quá nhiều cho nên chúng sinh ở trong biển ưu hoạn, chìm đắm không ngộ. Song, Phật dùng tâm từ bi, tâm thương xót để giải thoát ưu hoạn, khiến cho không tồn tại nữa.

Giải thoát này Diệu Quang đắc được.” Môn giải thoát tam muội này vị Vua Trời Thanh Tịnh Diệu Quang đắc được.

 

Phật Pháp quảng đại vô nhai tế,               Phật pháp rộng lớn không bờ mé
Nhất thiết sát hải ư trung hiện,                 Tất cả các cõi hiện ở trong
Như kỳ thành hoại các bất đồng,              Các tướng thành hoại đều chẳng giống
Tự tại âm Thiên giải thoát lực.                 Tự Tại Âm Thiên ngộ môn này.

Phật pháp rộng lớn chẳng bờ mé.” Ở trên vị Thanh Tịnh Diệu Quang Thiên Vương, thấy được cảnh giới của Phật là vô hình tướng, là lìa cấu nhiễm. Bây giờ vị Tự Tại Âm Thiên Vương, thấy được cảnh giới của Phật rộng lớn không bờ mé.
Phật pháp có tám vạn bốn ngàn pháp môn, đối trị tám vạn bốn ngàn bịnh phiền não. Tóm lại, chúng sinh có bao nhiêu phiền não, thì chư Phật có bấy nhiêu pháp môn để đối trị. Mỗi một pháp môn trị một thứ phiền não, cho nên mới nói Phật pháp rộng lớn không bờ mé.

Tất cả cõi nước hiện ở trong.” Tất cả cõi nước đều hiện ra ở trong Phật pháp, lại có thể nói tất cả Phật pháp hiện ra ở trong các cõi nước.

Các tướng thành hoại đều chẳng giống.” Thế giới có thành, trụ, hoại, không bốn tướng. Chúng sinh có sinh, già, bệnh, chết bốn tướng. Tâm niệm có sinh, trụ, dị, diệt bốn tướng, tất cả đều là vô thường.

Mỗi thế giới đều có thành, trụ, hoại, không bốn giai đoạn. Mỗi giai đoạn đều có hai mươi tiểu kiếp ; tám mươi tiểu kiếp làm một đại kiếp. Tóm lại, một thế giới từ thời kỳ thành cho đến diệt vong, phải trải qua tám mươi tiểu kiếp. Trong mỗi đại kiếp bao gồm thành, trụ, hoại, không. Thế giới này thành thì thế giới kia hoại. Thế giới kia thành thì thế giới này hoại. Khi thành thì địa cầu sinh tồn. Khi hoại thì địa cầu hủy diệt. Ðịa cầu này diệt thì địa cầu khác lại sinh. Ở trong hư không có vô lượng thế giới, vô lượng cõi nước. Thế giới này chẳng giống thế giới kia, cõi nước này khác với cõi nước kia. Thế giới Ta Bà mà chúng ta đang ở, chẳng giống thế giới Cực Lạc. Thế giới Ta Bà thì cực khổ còn thế giới Cực Lạc thì cực lạc. Trong mỗi thế giới có rất nhiều quốc gia, mà mỗi quốc gia lời nói, văn hóa, phong tục đều chẳng giống.

Tự Tại Âm Thiên ngộ môn này.” Cảnh giới môn giải thoát này là vị Tự Tại Âm Thiên Vương đắc được.

Phật thần thông lực vô dữ đẳng,               Thần thông của Phật không nghĩ bàn
Phổ hiện thập phương quảng đại sát,       Hiện khắp mười phương cõi rộng lớn
Tất lệnh nghiêm tịnh thường hiện tiền,    Thảy đều nghiêm tịnh thường hiện tiền
Thắng niệm giải thoát chi phương tiện.    Thắng Niệm ngộ môn giải thoát này.

Thần thông của Phật không nghĩ bàn.” Phật là bậc Ðại Giác. Ai chân chánh giác ngộ thì người đó là Phật. Nếu ai hồ đồ thì người đó là chúng sinh. Do đó, biết chúng sinh và Phật khác biệt giữa mê và giác. Mê là chúng sinh, giác là Phật. Lục Tổ Huệ Năng nói :

“Pháp vốn chẳng đốn tiệm,
Mê ngộ có sớm muộn”.

Nghĩa là pháp bổn thể chẳng có đốn và tiệm (đốn pháp là do tiệm mà thành đốn, tiệm pháp là do đốn mà thành tiệm). Chỉ là chúng sinh mê và giác, có sớm có muộn, bất quá là thời gian sớm muộn mà thôi. Thần thông lực của Phật là gì ? Tức là ba thân, bốn trí, năm nhãn, sáu thông.

Ba thân là :
Pháp thân
Báo thân và
Ứng hóa thân.

Bốn trí là :
Thành sở tác trí
Diệu quán sát trí
Bình đẳng tánh trí
Ðại viên cảnh trí.

Năm nhãn là :
Nhục nhãn
Thiên nhãn
Pháp nhãn
Huệ nhãn
Phật nhãn.

Sáu thông là :
Thiên nhãn thông
Thiên nhĩ thông
Tha tâm thông
Túc mạng thông
Thần túc thông và
Tậu tận thông.

Cho nên nói thần thông lực của Phật không thể nghĩ bàn.

Hiện khắp mười phương cõi rộng lớn.” Phật ở trong một niệm, hiện khắp cõi nước chư Phật trong mười phương, đi giáo hóa chúng sinh. Phật nói Kinh Hoa Nghiêm, tuy nhiên là ngồi dưới cội bồ đề, nhưng pháp thân đến cõi nước chư Phật, đồng thời diễn nói giáo lý viên đốn.

Thảy đều nghiêm tịnh thường hiện tiền.” Phật có thể làm cho tất cả cõi nước chư Phật hoàn toàn trang nghiêm thanh tịnh, cảnh giới này luôn luôn hiện tiền.

Thắng Niệm ngộ môn giải thoát này.” Vị Tối Thắng Niệm Thiên Vương, đắc được phương tiện môn giải thoát này.

Như chư sát hải vi trần số,                        Hạt bụi số cõi trong mười phương
Sở hữu Như Lai hàm kính phụng,            Thảy đều cúng dường các Như Lai
Văn Pháp ly nhiễm bất đường quyên,       Nghe pháp lìa nhiễm không quên mất
Thử diệu âm thiên Pháp môn dụng.          Diệu Âm Thiên Vương thấy môn này.

Hạt bụi số cõi trong mười phương  . Tất cả Như Lai, số nhiều như hạt bụi trong biển cõi đều phải kính phụng, đều phải cúng dường, đều phải lễ bái.

Thảy đều cúng dường các Như Lai.” Ðức Phật Thích Ca khi còn tại nhân đîa, thì cung kính cúng dường các Như Lai, nhiều như số hạt bụi biển cõi.

Nghe pháp lìa nhiễm không quên sót.” Khi Phật tại nhân địa tu hành, thì nghe tất cả các pháp, xa lìa tất cả vô minh, tất cả nhiễm ô, không bỏ qua tất cả các pháp, dù pháp rất vi tế, pháp không quan trọng cũng không quên được, cũng đặc biệt chú ý không bỏ sót. Vì y theo pháp tu hành, cho nên lìa nhiễm, không quên sót.

Diệu Âm Thiên Vương thấy môn này.” Pháp môn đại dụng này, vị Khả Ái Lạc Thanh Tịnh Diệu Âm Thiên Vương minh bạch được.

Phật ư vô lượng Đại kiếp hải,                   Phật trong vô lượng biển đại kiếp
Thuyết địa phương tiện vô luân thất,       Nói bậc phương tiện chẳng ai bằng
Sở thuyết vô biên vô hữu cùng,                 Sở nói vô biên vô cùng tận
Thiện tư âm Thiên tri thử nghĩa.              Thiện Tư Âm Thiên biết nghĩa này.

Phật trong vô lượng biển đại kiếp.” Phật Thích Ca trong quá khứ, khi còn tại nhân địa, trải qua vô lượng vô biên số đại kiếp, vì đại kiếp quá nhiều, giống như biển, không cách chi tính được số chắc chắn, cho nên gọi là biển đại kiếp.

Nói bậc phương tiện chẳng ai bằng.” Trong lúc đó, Ðức Phật khéo nói tất cả nghĩa các bậc. Ðất dùng sinh trưởng làm nghĩa, vạn vật đều từ đất sinh trưởng lớn lên. Bậc nghĩa là từ bậc phàm phu mà đạt đến bậc Thánh nhân. Ở trong khoảng giữa này, phải trải qua thời gian rất dài, mới có thể thành tựu địa vị Thánh nhân, cho nên bậc nghĩa là : dùng đủ thứ phương tiện để giảng nói. Chẳng ai bằng tức là bất cứ Thánh nhân nào cũng không thể sánh được.

Sở nói vô biên vô cùng tận.” Sở thuyết pháp phương tiện chẳng có bờ mé, nói không hết được, nói ngang nói dọc, cũng nói chẳng hết được.

Thiện Tư Âm Thiên biết nghĩa này.” Cảnh giới đạo lý này, vị Thiện Tư Duy Âm Thiên Vương minh bạch được.

Như Lai thần biến vô lượng môn,             Như Lai thần biến vô lượng môn
Nhất niệm hiện ư nhất thiết xử,                Một niệm hiện trong tất cả chỗ
Hàng thần thành đạo đại phương tiện,     Ðản sinh thành đạo đại phương tiện
Thử trang nghiêm âm chi giải thoát.        Trang Nghiêm Âm được giải thoát này.

Như Lai thần biến vô lượng môn.” Thần thông biến hóa của Phật vô lượng vô biên. Chẳng giống như thần thông của A La Hán, chỉ có mười tám thứ biến hóa. Cũng chẳng giống như thần thông của Bồ Tát. Tuy nhiên có trăm ngàn vạn ức biến hóa, nhưng vẫn còn có bờ mé. Còn thần thông của Phật thì biến hóa vô cùng vô tận.
Thần biến là gì ? Thần là thần diệu không dò được. Phàm phu chúng ta không thể dùng tâm để suy nghĩ, cũng không thể dùng lời nói để hình dung. Biến là thiên biến vạn hóa, biến hóa vô cùng, từ một môn mà sinh ra vô lượng môn, vô lượng môn quy về một môn.

Một niệm hiện trong tất cả chỗ.” Thần thông biến hóa, một tức là nhiều, nhiều tức là một, một nhiều không hai, một nhiều vô lượng. Như vậy thì mới có thể khoảng một niệm hiện tiền, hiện trong tất cả chỗ. Phật không động đạo tràng mà biến khắp pháp giới, vẫn ngồi nhập định ở đó. Song, ở trong hư không khắp pháp giới, chẳng có một chỗ nào mà chẳng phải Phật hiện tiền. Cho nên nói : một niệm hiện trong tất cả chỗ.

Ðản sinh thành đạo đại phương tiện.” Tất cả Bồ Tát muốn thành Phật, trước hết đều phải ở cung trời Ðâu Suất, đợi cơ duyên chín mùi, sẽ hàng sinh xuống nhân gian hậu bổ Phật vị, giáo hóa tất cả chúng sinh, khiến cho chúng sinh lìa khổ được vui.

Bây giờ Bồ Tát Di Lặc, đang ở tại cung trời Ðâu Suất, đợi tương lai sẽ đến thế giới này thành Phật, làm giáo chủ. Khi nào Bồ Tát Di Lặc mới thành Phật ? Bây giờ là trụ kiếp, kiếp thứ chín của kiếp giảm. Tuổi thọ của con người khoảng bảy mươi. Mỗi một trăm năm giảm xuống một tuổi, giảm đến mười tuổi thì mới tăng thêm tuổi thọ, cũng một trăm năm tăng lên một tuổi. Tăng đến tám vạn bốn ngàn tuổi thì mới giảm, giảm xuống tuổi thọ con người còn tám vạn tuổi, thì Bồ Tát Di Lặc bèn cưỡi voi trắng sáu ngà, từ cung trời Ðâu Suất hàng sinh nhân gian, giáo hóa chúng sinh. Chỉ cần thời gian một ngày một đêm, những chúng sinh đáng được độ thì độ xong. Vào thời Ðức Phật Thích Ca, còn lại những chúng sinh không thể giáo hóa, họ có duyên với Bồ Tát Di Lặc, tương lai sẽ được giáo hóa mà được giải thoát. Bây giờ Bồ Tát Di Lặc ở Nội Viện cung trời Ðâu Suất, trong hội Long Hoa vì chúng sinh mà thuyết pháp.

Ngài Vô Trước lúc còn ở Ấn Ðộ, mỗi ngày đi lên cung trời Ðâu Suất nghe Kinh, về lại nhân gian ghi chép lại thành bộ Du Già Sư Ðịa Luận. Nội dung là nói về pháp tướng vạn pháp duy thức, do Phật Thích Ca nói, lược thành sáu trăm sáu mươi pháp. Sau đó, em của Ngài là Thế Thân Bồ Tát đúc kết lại thành Bách Pháp Minh Môn Luận.

Trang Nghiêm Âm được giải thoát này.” Cảnh giới này vị Trang Nghiêm Âm Thiên Vương minh bạch được.

Uy lực sở trì năng diễn thuyết,                  Oai lực gia trì diễn nói được
Cập hiện chư Phật thần thông sự,             Chư Phật thị hiện các thần thông
Tùy kỳ căn dục tất lệnh tịnh,                     Tùy theo sở thích khiến thanh tịnh
Thử Quang âm Thiên giải thoát môn.      Vua Trời Quang Âm chứng môn này.

Oai lực gia trì diễn nói được.” Ðại oai thần lực của Phật, là do đức hạnh tích tập nhiều kiếp mà thành tựu. Bổn lai thế giới này sẽ hư hoại, nhưng Ðức Phật dùng đại oai thần lực, bảo trì cho thế giới được bình an, và còn diễn nói đủ thứ pháp lành, dùng phương tiện khéo léo để giáo hóa chúng sinh, làm cho chúng sinh giác ngộ, biết : “Khổ hải vô biên, hồi đầu thị ngạn.” Nghĩa là : biển khổ mênh mông, quay đầu là bờ.

Chư Phật thị hiện các thần thông.” Chư Phật hiện tất cả thần thông diệu dụng, khiến cho căn tính chúng sinh và sở thích thanh tịnh không ô nhiễm. Không những thân thanh tịnh mà tâm cũng thanh tịnh.

Tùy theo sở thích khiến thanh tịnh.” Chúng sinh nào có căn lành, là do trong kiếp trước đã trồng rất nhiều căn lành, rất nhiều công đức trong ruộng phước, cho nên đời này có phước báu, có căn lành.

Có những chúng sinh trong đời này, không làm lành mà làm ác, tại sao chẳng có quả báo ác ? Vấn đề này có một số người không hiểu được. Ðó là vì kiếp trước họ đã trồng căn lành, đời này tuy làm ác, nhưng quả lành kiếp trước chín mùi, còn quả ác chưa chín mùi. Ðợi khi nào quả ác chín mùi thì họ sẽ thọ quả báo ác.

Có những chúng sinh đời này, làm lành không làm ác, nhưng lại chịu quả báo ác, đó là vì kiếp trước trồng rất nhiều nhân ác, đời này tuy làm việc lành, nhưng thọ quả báo ác. Ðợi đến khi quả lành chín mùi thì sẽ được quả lành, hoặc đời này hoặc đời sau. Ðạo lý này rất đơn giản, giống như trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu. Tóm lại trồng nhân gì ? Ðược quả đó.

Căn tính chúng sinh mỗi người đều khác nhau, do đó cảnh giới của mỗi người cũng chẳng giống nhau. Sự tham muốn của mỗi chúng sinh cũng khác biệt, có người muốn làm quan, có người muốn phát tài, có người muốn ở nhà cao cửa rộng, có người muốn chạy xe mới. Ðủ thứ tham muốn về vật chất này, làm cho khí chất bẩm tính của con người mai một, và che lấp trí huệ quang minh của con người. Tất cả chư Phật, tùy theo sở thích của chúng sinh để giáo hóa họ, khiến cho họ trồng căn lành. Có căn lành rồi thì sở thích cũng thanh tịnh, chẳng có tất cả dục niệm.

Tại sao chúng ta không giải thoát được ? Vì bị tài, sắc, danh, ăn, ngủ năm dục trói buộc. Tu đạo tức là cởi mở sự trói buộc của năm dục. Khi nào cởi mở được sự trói buộc thì lúc đó đắc được tự tại.

Vua Trời Quang Âm chứng môn này.” Cảnh giới môn giải thoát này, vị Thậm Thâm Quang Âm Thiên Vương chứng được.

Như Lai trí tuệ vô biên tế,                         Trí huệ Như Lai không ngằn mé
Thế trung vô đẳng vô sở trước,                 Trong đời chẳng bằng chẳng chấp trước
Từ tâm ưng vật phổ hiện tiền,                   Tâm từ hiện khắp trước chúng sinh
Quảng đại danh Thiên ngộ tư đạo.           Quảng Ðại Danh Thiên ngộ môn này.

Trí huệ Như Lai không ngằn mé.” Phật là bậc đại giác đại trí huệ. Phật là bậc Thánh nhân thông minh nhất, chẳng có gì mà không biết, không có gì mà không giác, không có gì mà không thấu rõ, không có gì mà không làm được. Vì trí huệ của Phật tận hư không khắp pháp giới, chẳng có giới hạn, chẳng có phạm vi, cho nên nói trí huệ Như Lai không ngằn mé.

Trong đời chẳng bằng chẳng chấp trước.” Trí huệ của Phật không thể sánh, không những tại nhân gian không ai bằng được, mà trên cõi trời cũng chẳng có ai bằng được. Trí huệ của Phật tuy chẳng ai bằng, nhưng Phật cũng chẳng chấp trước.

Tâm từ hiện khắp trước chúng sinh.” Phật không những có đại trí huệ mà còn có đại từ bi. Dùng đại trí huệ quang minh, tâm đại từ bi để giáo hóa tất cả chúng sinh, độ khắp tất cả chúng sinh. Ai có duyên thì người đó được cứu. Cho nên Phật hiện khắp tất cả chúng sinh.

Quảng Ðại Danh Thiên ngộ môn này.” Cảnh giới môn giải thoát này, vị Quảng Ðại Danh Xưng Thiên Vương minh bạch được.

Phật tích tu tập Bồ-đề hạnh                      Quá khứ Phật tu hạnh bồ đề
Cúng dường thập phương nhất thiết Phật,       Cúng dường tất cả Phật mười phương
Nhất nhất Phật sở phát thệ tâm,               Mỗi chỗ đức Phật đều phát nguyện
Tối thắng quang văn đại hoan hỉ.             Tối Thắng Quang Vương đại hoan hỷ.

Quá khứ Phật tu hạnh Bồ đề.” Phật Thích Ca khi còn ở tại nhân địa, thì rộng tu hạnh Bồ đề, hành Bồ Tát đạo. Hạnh bồ đề là gì ? Tức là hạnh nguyện giác đạo, đó là:

“Tự tính chúng sinh thệ nguyện độ,
Tự tính phiền não thệ nguyện đoạn,
Tự tính pháp môn thệ nguyện học,
Tự tính Phật đạo thệ nguyện thành”.

Bồ Tát đạo là gì ? Tức là hành vi bỏ mình cứu người, “Ngoài thì, thí đất nước vợ con, trong thì, thí đầu mắt tủy não.” Phải có tinh thần bố thí như thế mới hành Bồ Tát đạo được. Khi đức Phật tại nhân địa thì tu vạn hạnh, tập thiền định, do đó :

“Siêng tu giới định huệ,
Diệt trừ tham sân si”.

Vun bồi công đức, khi phước huệ đầy đủ thì mới thành Phật.

Cúng dường tất cả Phật mười phương.” Vì Phật tu đạo bồ đề, trên thì cầu thành Phật, dưới thì độ chúng sinh, không tiếc thân mạng, cúng dường tất cả chư Phật trong mười phương, hà huống là vật ngoài thân càng không tiếc. Mỗi hạt bụi trên thế giới này, đều là chỗ của chư Phật quá khứ, chư Phật hiện tại và chư Phật vị lai xả bỏ thân mạng.

Mỗi chỗ chư Phật đều phát nguyện.” Ðức Phật ở trước mỗi vị Phật, đều phát thệ nguyện lớn, cúng dường tất cả chư Phật trong mười phương. Trong quá khứ hạnh lực và nguyện lực của Phật, đều vĩ đại cho nên mới thành tựu. Chúng ta là người học đạo phải phát đại nguyện lực, tất cả đều vì chúng sinh, mà chẳng vì chính mình. Nếu chỉ có tâm tu hành, mà chẳng có tâm phát nguyện, thì cũng giống như hoa nở mà chẳng kết trái, chẳng thành tựu được.

Tối Thắng Quang Vương đại hoan hỷ.” Cảnh giới này, vị Tối Thắng Tịnh Quang Thiên Vương minh bạch được, cho nên vị này sanh đại tâm hoan hỷ.

Ở trên là mười bài kệ của Quang Âm Thiên Vương trời Nhị Thiền thuộc về sắc giới nói ra, tán thán công đức của Phật. Dưới đây là kệ của Ðại Phạm Thiên Vương, trời Sơ Thiền nói.

Phục thứ, Thi-Khí Phạm Vương, đắc phổ trụ thập phương đạo tràng trung thuyết Pháp nhi sở hạnh thanh tịnh vô nhiễm trước giải thoát môn
Lại nữa, Thi Khí Phạm Vương được môn giải thoát, thuyết pháp khắp các đạo tràng trong mười phương, mà các sự tu hành thảy đều thanh tịnh không nhiễm trước.

Ðạo lý ở trên chưa nói hết, bây giờ lại tiếp tục.

Vị Thi Khí Phạm Vương này là Ðại Phạm Thiên, trong cõi Sơ Thiền thuộc về sắc giới. Vị này nói về pháp thanh tịnh của mình tu hành, khắp hết tất cả đạo tràng trong mười phương. Pháp thanh tịnh là gì ? Tức là không ích kỷ, không tự lợi, không đố kỵ, không chướng ngại, không có ô nhiễm tham sân si ba thứ độc.

Tất cả các đức Phật ở đời hiện tại, đều kiến lập đạo tràng. Ðạo tràng là gì ? Tức là chỗ tu đạo. Ðức Phật Thích Ca nói Kinh Hoa Nghiêm Ðại Phương Quảng Phật ở tại bảy đạo tràng :

  1. Bồ Ðề Ðạo Tràng.
    2. Ðiện Phổ Quang Minh.
    3. Cung trời Ðao Lợi.
    4. Cung trời Dạ Ma.
    5. Cung trời Ðâu Suất.
    6. Cung trời Tha Hóa.
    7. Rừng Thệ Ða.

Phàm là chỗ nào có giảng Kinh thuyết pháp, đều gọi là đạo tràng. Giảng Kinh gì thì gọi là pháp hội đó, ví như pháp hội Hoa Nghiêm, pháp hội Pháp Hoa .v.v.

Vị Thiên Vương này, đắc được môn giải thoát không nhiễm không ngại.

Tuệ Quang Phạm Vương, đắc sử nhất thiết chúng sanh nhập Thiền tam muội trụ giải thoát môn
Huệ Quang Phạm Vương được môn giải thoát, khiến cho tất cả chúng sinh nhập thiền định tam muội.

Vị Huệ Quang Phạm Vương này, có trí huệ quang minh, khiến cho tất cả chúng sinh nhập thiền định tam muội. Thiền dịch là “tĩnh lự” ; tĩnh tức là chỉ tức, lự tức là tư lự. Tóm lại, tức là ngưng bặc tất cả mọi sự suy nghĩ vọng tưởng. Tam muội dịch là “định”, cho nên danh từ thiền định này nửa là tiếng Phạn, nửa tiếng Tàu.

Vọng tưởng là mây trôi, chân tâm là mặt trời. Mây che lấp mặt trời, cho nên ánh sáng mặt trời không hiện được. Thiền định là gió, thổi tan sạch mây trôi. Mây bay đi rồi thì ánh sáng hiện ra. Tu thiền định tức là ngưng bặc vọng tưởng, không còn vọng tưởng thì trí huệ hiện tiền, tức cũng là khai ngộ. Do đó :

“Vọng niệm không sinh là thiền,
Ngồi thấy bản tánh là định.”

Vị Thiên Vương này minh bạch được cảnh giới này, vị này ở trong tam muội, thiền duyệt vi thực, pháp hỷ sung mãn, đắc được môn giải thoát như thế.

Thiện tư tuệ quang minh phạm Vương, đắc phổ nhập nhất thiết bất tư nghị Pháp giải thoát môn
Thiện Tư Huệ Quang Minh Phạm Vương, được môn giải thoát, vào khắp tất cả các pháp không nghĩ bàn.

Vị Thiện Tư Huệ Quang Minh Phạm Vương này có văn huệ, tư huệ, tu huệ ba thứ trí huệ. Văn là nghe pháp có thể đắc được trí huệ. Tư là tư duy, cũng có thể đắc được trí huệ. Tu là tu hành, càng có thể đắc được trí huệ. Ðây là ba yếu tố trí huệ. Ba huệ này là hậu đắc trí, là do học mà biết. Thiền định là căn bản trí sinh mà có.

Ba thứ trí huệ này phóng ra một thứ quang minh, chiếu khắp tất cả chúng sinh, khiến cho chúng sinh cũng đắc được lợi ích ba thứ trí huệ. Vị này đắc được pháp môn giải thoát, nhập vào khắp tất cả các pháp diệu không thể tả. Thứ diệu pháp này nói cũng không ra lời, nghĩ cũng không ra, do đó :”Như người uống nước, nóng lạnh tự biết.” Cảnh giới này cần phải tu hành thì tự mình sẽ thể hội, liễu ngộ, mới có thể sinh ra vô sinh pháp nhẫn.

Phổ Vân Âm Phạm Vương, đắc nhập chư Phật nhất thiết âm thanh hải giải thoát môn
Phổ Vân Âm Phạm Vương được môn giải thoát, vào tất cả biển âm thanh của chư Phật.

Vị Phổ Vân Âm Phạm Vương này, nhập vào tất cả biển âm thanh của chư Phật trong mười phương, tức vị này cũng nghe và hiểu được lời nói của tất cả chư Phật. Phàm phu chúng ta bất cứ thông minh như thế nào, cũng không thể học hết được tất cả ngôn ngữ trên toàn thế giới. Nhưng Phật đầy đủ tất cả biển ngôn ngữ. Khi Phật thuyết pháp thì, bất cứ loại chúng sinh nào cũng đều hiểu được, đều hiểu rõ ý nghĩa của Phật muốn nói gì. Mỗi loài đều có sở đắc, đều có sở ngộ. Do đó :

“Một âm thanh diễn nói pháp,
Tùy loài thảy đều hiểu được.”

Mỗi loại chúng sinh sở ngộ đều khác, cảnh giới đắc được cũng khác nhau. Các vị Phạm Vương mỗi vị đều đắc được cảnh giới giác ngộ đều khác nhau. Vị Phạm Vương này đắc được môn giải thoát tam muội vô ngại.

Quán Thế Ngôn Âm Tự Tại Phạm Vương, đắc năng ức niệm Bồ Tát giáo hóa nhất thiết chúng sanh phương tiện giải thoát môn
Quán Thế Ngôn Âm Tự Tại Phạm Vương, được môn giải thoát, nghĩ nhớ phương tiện của Bồ Tát, giáo hóa tất cả chúng sinh.

Vị Quán Thế Ngôn Âm Tự Tại Phạm Vương này, quán sát tất cả ngôn ngữ và âm thanh trên thế gian mà đắc được tự tại. Vì đắc được tam muội ngôn ngữ và âm thanh, cho nên nghĩ nhớ được. Bất cứ pháp gì ? Chỉ cần lọt qua căn tai của vị này, thì vĩnh viễn không bao giờ quên.

Tất cả Bồ Tát giáo hóa tất cả chúng sinh, đều dùng phương pháp phương tiện khéo léo, chẳng phải là pháp hằng thường không đổi. Pháp phương tiện này, lúc này có thể dùng, nhưng đến lúc khác thì không nhất định có thể dùng. Ðó là pháp phương tiện quán căn cơ thí giáo, vì người thuyết pháp, theo bệnh cho thuốc.

Ví như Tì Sương, bổn thể của nó rất kịch độc, nếu biết xử dụng thì thuốc hay, có thể trị được tất cả bệnh độc, đó là pháp phương tiện “dùng độc trị độc”. Tì Sương tuy nhiên trị được bệnh, nhưng không thể dùng quá lượng. Pháp phương tiện cũng như thế, không thể lạm dụng, cần đối trị thì mới dùng được.

Bây giờ tôi kể một câu chuyện về “tay không độ em bé”. Lúc Ðức Phật còn tại thế, một ngày nọ, đi ra ngoài khất thực, đi ngang qua một cái giếng nước, ở xa trông thấy một em bé bò đến bên giếng (em bé chưa biết đi), mắt trông thấy em bé muốn rơi xuống giếng. Lúc này thật là sợi tóc treo ngàn cân, Ðức Phật muốn chạy đến bên giếng để cứu sinh mạng em bé, nhưng thời gian đã không kịp nữa. Do đó, Ðức Phật bèn lớn tiếng nói với em bé rằng : “Này em bé ! Em bé ! Trong tay của ta có kẹo, mau bò đến đây.” Ðứa bé nghe có kẹo ăn bèn bò qua chỗ đức Phật. Thật ra trong tay đức Phật chẳng có kẹo, đó là gạt đứa bé, vì cứu sinh mạng của nó, cho nên chỉ dùng được pháp phương tiện. Phật độ chúng sinh cũng như thế, xem chúng sinh thích gì ? Thì cho chúng sinh cái đó ! Sau đó từ từ thuyết pháp cho họ nghe, đó là pháp môn phương tiện khéo léo. Vị Phạm Vương này đắc được môn giải thoát này.

Tịch Tĩnh Quang Minh Nhãn Phạm Vương, đắc hiện nhất thiết thế gian nghiệp báo tướng các sái biệt giải thoát môn
Tịch Tĩnh Quang Minh Nhãn Phạm Vương, được môn giải thoát, hiện tất cả tướng nghiệp báo thế gian, thảy đều khác biệt.

Vị Tịch Tĩnh Quang Minh Nhãn Phạm Vương, được tướng nghiệp báo tất cả thế gian. Tướng nghiệp báo là gì ? Tức là trồng nhân gì thì được quả đó. Tóm lại, trồng nhân lành thì được quả lành, trồng nhân ác thì được quả ác. Quả lành có thể thành A La Hán, Duyên Giác, Bồ Tát, và Phật. Ðó là quả báo lành của bốn pháp giới bậc Thánh. Lại có thể sinh về cõi trời, có thể làm người, đó là quả báo trời, người. Quả ác thì làm súc sinh, làm ngạ quỷ, đọa địa ngục, đó là quả báo ba đường ác. Nhân quả nghiệp báo tơ hào cũng không sai. Do đó có câu :

“Muốn biết nhân đời trước làm gì ?
Hãy xem quả đời này mình có ;
Muốn biết quả đời sau thế nào ?
Xem mình làm gì trong đời này.”

Muốn biết đã trồng nhân gì trong đời trước ? Thì đời này mình đang gặp những gì, hưởng thụ những gì, đó là nhân đã trồng trong đời quá khứ. Nếu trồng nhân lành thì đời này sẽ gặt quả lành, tất cả đều thuận cảnh. Nếu trồng nhân ác thì đời này gặt quả ác, tất cả đều nghịch cảnh. Muốn biết về tương lai như thế nào ? Thì hãy xem đời này đang làm gì ? Nếu làm công đức lành thì đời sau được phước báu ; nếu làm nghiệp ác quá nhiều thì đời sau nhất định làm bò làm ngựa, đố kỵ thì làm mãng xà, gạt người thì làm gà. Tóm lại, tạo nghiệp gì thì thọ cái đó.

Mỗi chúng sinh đều có tướng nghiệp báo của mỗi người, chẳng ai giống ai. Người thì có tướng nghiệp báo của người, bò có tướng nghiệp báo của bò, heo thì có tướng nghiệp báo của heo. Bò ở Ấn Ðộ không bị giết, heo ở xứ Hồi giáo không bị giết, đó cũng là tướng nghiệp báo của chúng sinh khác nhau. Có người rất giàu có mà không có con cái, đó là có sự giàu có mà không con. Có người rất nghèo mà đông con cái, đó là đông con cái nhưng không giàu có. Mỗi người đều có hoàn cảnh riêng, đều khác nhau. Việc trong trời đất tuyệt đối không thập toàn thập mỹ. Dù thập toàn thập mỹ nhưng người vẫn cảm thấy không đầy đủ. Tại sao ? Vì lòng tham muốn không đáy.

Vị Phạm Vương này minh bạch được tướng nghiệp báo thế gian đều khác biệt, vị này đắc được môn giải thoát này.

Phổ Quang Minh Phạm Vương, đắc tùy nhất thiết chúng sanh phẩm loại sái biệt giai hiện tiền điều phục giải thoát môn
Phổ Quang Minh Phạm Vương được môn giải thoát, tùy theo tất cả phẩm loại chúng sinh khác biệt, đều hiện ra thân tướng để điều phục.

Vị Phổ Quang Minh Phạm Vương này, đắc được tùy theo chúng sinh khác nhau, mà hiện thân tướng cảnh giới khác nhau. Ví như thấy cọp thì hiện thân cọp để điều phục cọp. Gặp rồng thì hiện thân rồng để điều phục rồng, gặp chúng sinh phi cầm, thì hiện thân phi cầm để điều phục chúng. Gặp chúng sinh thủy tộc, thì hiện thân thủy tộc để điều phục chúng. Cho nên gọi là hiện ra để điều phục, khiến cho tất cả chúng sinh đều phát tâm bồ đề, tu vô thượng đạo. Vị Phạm Vương này đắc được môn giải thoát này.

Phổ quang minh Phạm Vương, đắc tùy nhất thiết chúng sanh phẩm loại sái biệt giai hiện tiền điều phục giải thoát môn
Biến Hóa Âm Phạm Vương được môn giải thoát, trụ tất cả cảnh giới pháp tướng hạnh thanh tịnh tịch tĩnh.

Vị Biến Hóa Âm Phạm Vương này, có âm thanh biến hóa được, có trăm ngàn vạn thứ âm thanh. Vì vị này biến hóa âm thanh được, cho nên trụ ở trong tất cả các pháp, đắc được pháp tướng thanh tịnh quang minh. Hạnh tịch tĩnh tức là cảnh giới vô vi mà vô bất vi, vị này đắc được môn giải thoát cảnh giới hạnh tịch tĩnh.

Quang Diệu Nhãn Phạm Vương, đắc ư nhất thiết hữu vô sở trước, vô biên tế, vô y chỉ, thường cần xuất hiện giải thoát môn
Quang Diệu Nhãn Phạm Vương được môn giải thoát, thường siêng xuất hiện trong tất cả các cõi, mà không chấp trước, không bờ mé, không chỗ nương tựa.

Vị Quang Diệu Nhãn Phạm Vương này, có trí huệ quang minh chiếu soi chúng sinh, khiến cho họ đều đắc được mắt biết chọn pháp, biết được pháp này là đúng hay sai. Vị này biết được pháp thân của Phật như hư không. Trong tất cả các cõi chẳng có chấp trước, tức là không chấp không, cũng chẳng chấp có. Không chấp vào có không hai bên.

Vì pháp thân của Phật như hư không, chẳng có bờ mé, cho nên chẳng có chỗ nương tựa. Pháp thân của Phật tuy nhiên như hư không, nhưng Phật luôn luôn xuất hiện ra đời. Tại sao ? Vì vấn đề sinh tử của chúng sinh chưa chấm dứt, cho nên Phật thường thị hiện ra đời để giáo hóa chúng sinh, khiến cho chúng sinh bỏ mê về giác, hết khổ được vui sướng. Vị Phạm Vương này đắc được tam muội pháp môn giác ngộ giải thoát này.

Duyệt Ý Hải Âm Phạm Vương, đắc thường tư tánh quan sát vô tận Pháp giải thoát môn.
Duyệt Ý Hải Âm Phạm Vương, được môn giải thoát, thường tư duy quán sát các pháp vô tận.

Vị Duyệt Ý Hải Âm Phạm Vương này, có âm thanh êm tai vi diệu phi thường, chúng sinh nghe được đều sinh tâm hoan hỷ. Âm thanh thuyết pháp của vị này giống như âm vang của biển cả. Vị này cũng đắc được công phu tu thiền. Thiền dịch là “tư duy tu”. Vị này quán sát được, khắp tất cả các pháp thế gian và xuất thế gian, vô cùng vô tận không thể nghĩ bàn. Vị này ở trong thiền định khai mở đại trí huệ, minh bạch tất cả diệu lý thật tướng, vô tận pháp tạng không thể nghĩ bàn của tất cả các pháp. Ðó là môn giải thoát của vị này đắc được.

Nhĩ thời, Thi-Khí Đại Phạm Vương, thừa Phật thần lực, phổ quán nhất thiết phạm thân thiên, phạm phụ Thiên, phạm chúng Thiên, đại phạm thiên chúng nhi thuyết tụng ngôn
Bấy giờ, Thi Khí Ðại Phạm Vương, nương oai lực của Ðức Phật, quán sát khắp tất cả chúng Phạm Thiên, Phạm Phụ Thiên, Ðại Phạm Thiên mà nói kệ rằng.

Lúc đó, khi Duyệt Ý Hải Âm Phạm Vương nói xong môn giải thoát của mình đắc được rồi, thì vị Thi Khí Ðại Phạm Vương trời Sơ Thiền thuộc Sắc giới, thừa đại oai thần của chư Phật quán sát khắp tất cả Phạm Chúng Thiên, Phạm Phụ Thiên, Ðại Phạm Thiên, thiên chúng ba cõi trời này nói ra bài kệ để tán thán công đức của Phật, để hiểu rõ nghĩa chân thật của Phật pháp.
Trời Sơ Thiền gọi là ly sinh hỷ lạc, chúng sinh ở trong cõi trời này bỏ sạch tất cả khổ não mà sinh tâm hoan hỷ sung sướng. Hết thảy có ba cõi trời :

  1. Phạm Chúng Thiên : Phạm dịch là thanh tịnh, chúng sinh cõi trời này trong tâm thanh tịnh, không có dục niệm, có người nam mà chẳng có người nữ, đều là hóa sinh.
  2. Phạm Phụ Thiên : Chúng sinh cõi này chẳng có sự thống khổ phiền muộn, chỉ có khoái lạc an vui.
  3. Ðại Phạm Thiên : Chúng sinh cõi này tự nhiên thanh tịnh, siêng tu giới định huệ, tức diệt tham sân si.

Phật thân thanh tịnh thường tịch diệt,     Thân Phật thanh tịnh thường tịch diệt
Quang minh chiếu diệu biến thế gian,      Quang minh chiếu sáng khắp thế gian
Vô tướng vô hạnh vô ảnh tượng,             Không tướng không hạnh không hình bóng
Thí như không vân như thị kiến.              Như mây lơ lững trong không trung.

Thân Phật thanh tịnh thường tịch diệt.” Thi Khí Ðại Phạm Vương nói : ‘’Thân thể của Phật thanh tịnh, tịch diệt”. Tuy nhiên là thanh tịnh tịch diệt, nhưng có quang minh.

Quang minh chiếu sáng khắp thế gian“. Quang minh của Phật chiếu sáng khắp tất cả thế gian, chẳng có chỗ nào mà chẳng chiếu, chẳng có chỗ nào mà chẳng sáng. Tất cả chúng sinh ở trong quang minh từ bi chiếu sáng, biết được sự hồi quang phản chiếu là pháp môn giác ngộ.

Không tướng không hạnh không hình bóng“. Chẳng có hình tướng, chẳng có hành vi, chẳng có hình, chẳng có bóng, giống như mây trong hư không.

Như mây lơ lững trong không trung“. Chúng sinh tuy thấy mây trong không trung, nhưng mây trong không trung chẳng chấp trước, chỉ tồn tại trong thời gian ngắn rồi sẽ tiêu mất.

Phật thân như thị định cảnh giới,             Thân Phật ở trong cảnh giới định
Nhất thiết chúng sanh mạc năng trắc,      Tất cả chúng sinh không thể dò
Thị bỉ nan tư phương tiện môn,                 Mở bày phương tiện khó nghĩ bàn
Thử tuệ quang Vương chi sở ngộ.             Môn này Huệ Quang Vương ngộ được.

Thân Phật ở trong cảnh giới định“. Phật thường ở trong định, trong định thì như thế. Không ở trong định thì không như thế. Cảnh giới ở trong định, chẳng có bất định thì luôn luôn đều là định. Phật ở trong định diễn nói bộ Kinh Hoa Nghiêm Ðại Phương Quảng Phật này.

Tất cả chúng sinh không thể dò“. Cảnh giới của Phật ở trong định, tất cả chúng không thể hiểu biết được, không thể dò được.

Mở bày phương tiện khó nghĩ bàn“. Cảnh giới này, Ðức Phật mở bày cho tất cả chúng sinh phát tâm đại bồ đề, sớm thành chánh giác, đây là phương tiện pháp môn không thể nghĩ bàn.

Môn này Huệ Quang Vương ngộ được.” Cảnh giới này vị Huệ Quang Vương minh bạch được.

Phật sát vi trần Pháp môn hải,                 Cõi Phật hạt bụi biển pháp môn
Nhất ngôn diễn thuyết tận vô dư,              Một lời diễn nói hết không thừa
Như thị kiếp hải diễn bất cùng,                 Như vậy biển kiếp nói không hết
Thiện tư tuệ quang chi giải thoát.             Thiện Tư Huệ Quang thấy môn này.

Cõi Phật hạt bụi biển pháp môn“. Cõi nước chư Phật trong mười phương có bao nhiêu ? Nhiều giống như hạt bụi. Biển pháp môn gọi là gì ? Trong một hạt bụi làm một biển cả, trong một biển cả đầy đủ vô lượng pháp môn, đó là hình dung nhiều pháp môn giống như biển cả, cho nên gọi là biển pháp môn.

Một lời diễn nói hết không thừa“. Một lời tức là thật tướng, thật tướng tức là vô tướng, vô tướng tức là vô sở bất tướng. Chỉ cần nói ra thật tướng thì tất cả các pháp đều bao quát trong đó. Cũng có thể nói là chân như, lại có thể nói là Phật tánh. Vì tất cả pháp môn đều từ Phật tánh chảy ra, chỉ cần nói ra một lời thì tất cả pháp môn đều bao quát không thừa.

Như vậy biển kiếp nói không hết“. Biển pháp môn nhiều giống như số hạt bụi, tận hư không khắp pháp giới. Muốn diễn nói pháp môn này hết thuở vị lai, suốt kiếp vị lai cũng diễn nói không hết, nói không hết biển pháp môn, đó là vì phương tiện mà nói.

Lúc này có người đề ra vấn đề : “Vậy câu trước nói một lời thì nói hết, câu sau lại nói dù nói thế nào cũng nói không hết, đó chẳng phải là trước sau mâu thuẫn chăng” ? Trên thực tế thì trước sau chẳng mâu thuẫn. Câu trước thì dùng thật tướng để nói, cho nên nói một lời diễn nói hết không thừa. Câu sau dùng quyền xảo phương tiện để nói, nói đến khi nào cũng nói không hết. Câu trước là tổng, câu sau là biệt. Tổng lại để nói, một câu có thể nói hết : phân biệt để nói thì hết kiếp vị lai cũng nói không hết. Theo hiển giáo mà nói thì, những gì người biết thì, một câu có thể nói hết. Theo mật giáo mà nói thì có vô lượng nghĩa, nói không hết.

Thiện Tư Huệ Quang thấy môn này.” Môn giải thoát này vị Thiện Huệ Quang Phạm Vương minh bạch được.

Chư Phật viên âm đẳng thế gian,              Viên âm chư Phật đồng thế gian
Chúng sanh tùy loại các đắc giải,              Tùy loại chúng sinh đều hiểu rõ
Nhi ư âm thanh bất phân biệt,                  Mà nơi âm thanh không phân biệt
Phổ âm phạm thiên như thị ngộ.               Phổ Âm Phạm Thiên ngộ như thế.

Viên âm chư Phật đồng thế gian“. Âm thanh của chư Phật là âm viên mãn. Âm viên mãn âm là gì ? Tức là bất cứ loài chúng sinh nào, nghe được âm thanh của chư Phật thì sẽ khai ngộ, chứng thành đạo quả, liễu thoát sinh tử, đắc được Niết Bàn. Loài người, loài A Tu La, loài ngạ quỷ, loài địa ngục cũng đều như thế mà ngộ hiểu.

Mà nơi âm thanh không phân biệt“. Tất cả chúng sinh trong chín pháp giới, nghe được âm thanh thuyết pháp của Phật tùy theo loài mà hiểu rõ, tăng trưởng căn lành, bỏ mê về giác. Mỗi loài chúng sinh nghe được âm viên mãn của Phật, bèn cảm thấy Phật đối với họ mà thuyết pháp, tự nhiên chuyên nhất tin thọ, không sinh tâm phân biệt hoài nghi.

Phổ Âm Phạm Thiên ngộ môn này“. Ðây là đạo lý ngộ hiểu của Phổ Vân Âm Phạm Thiên.

Tam thế sở hữu chư Như Lai,                   Ba đời tất cả các Như Lai
Thú nhập Bồ-đề phương tiện hành           Hướng nhập bồ đề hành phương tiện
Nhất thiết giai ư Phật thân hiện,               Tất cả đều hiện nơi thân Phật
Tự tại âm Thiên chi giải thoát.                  Tự Tại Âm Thiên thấy môn này.

Ba đời tất cả các Như Lai“. Ðời quá khứ có vô lượng vô biên Phật, đời hiện tại cũng có vô lượng vô biên Phật, đời vị lai cũng có vô lượng vô biên Phật.

Hướng nhập bồ đề hành phương tiện“. Tất cả chư Phật ba đời, lúc ban đầu các Ngài tu giác đạo, đều trải qua đủ thứ phương tiện pháp môn để tu hành, sau đó mới thành Phật được.

Tất cả đều hiện nơi thân Phật“. Các Ngài trải qua thời gian tu hành lâu dài, cuối cùng chứng được viên mãn giác ngộ cứu kính mà thành Phật đạo, cho nên nói tất cả đều hiện nơi thân Phật.

Tự Tại Âm Thiên thấy môn này“. Môn giải thoát này vị Quán Sát Ngôn Âm Tự Tại Phạm Thiên đắc được.

Nhất thiết chúng sanh nghiệp sái biệt,      Tất cả nghiệp chúng sinh khác biệt
Tùy kỳ nhân cảm chủng chủng thù,          Tùy theo nhân chiêu cảm quả báo
Thế gian như thị Phật giai hiện,                Thế gian như vậy Phật đều hiện
Tịch tĩnh quang Thiên năng ngộ nhập.     Tịch Tĩnh Quang Thiên ngộ nhập được.

Tất cả nghiệp chúng sinh khác biệt“. Tất cả chúng sinh mỗi người đều khác nhau về nghiệp báo. Làm lành thì quả lành, làm ác thì quả ác. Lành là gì ? Phàm là việc có ích lợi cho chúng sinh tức là lành, ví như sửa đường làm cầu, xây trường học, mở nhà thương (lấy từ thiện làm mục đích, chẳng phải vì kiếm tiền làm mục đích). Ác là gì ? Phàm là việc lợi mình mà hại người tức là ác. Ví như mở lò sát sinh (lò thịt), mua bán vũ khí, lò chế bom đạn, lợi mình mà hại chúng sinh.

Tùy theo nhân chiêu cảm quả báo“. Tùy theo nhân của chúng sinh trồng mà cảm thọ quả báo. Tóm lại trồng nhân gì thì được quả đó. Ví như giết cha của người thì người giết cha của mình ; giết con của họ thì họ giết con của mình. Người không giữ giới sát thì tương lai nhất định sẽ bị người giết, đây là quả báo thế gian.

Thế gian như vậy Phật đều hiện“. Nhân như vậy, quả như vậy, nghiệp như vậy, báo như vậy, đó là đạo lý tự nhiên, cho nên Phật tại thế gian hiện ra đủ thứ cảnh giới để nói rõ đạo lý này, để đối trị nghiệp báo của chúng sinh, khiến cho chúng sinh thấy được cảnh giới này mà sinh ra tâm giác ngộ, cầu vô thượng đạo.

Tịch Tĩnh Quang Thiên ngộ nhập được“. Ðạo lý này Tịch Tĩnh Quang Minh Nhãn Phạm Vương minh bạch được.

Vô lượng Pháp môn giai tự tại,                 Vô lượng pháp môn đều tự tại
Điều phục chúng sanh biến thập phương,     Ðiều phục chúng sinh khắp mười phương
Diệc bất ư trung khởi phân biệt,               Cũng chẳng ở trong khởi phân biệt
Thử thị phổ quang chi cảnh giới.              Ðây là cảnh giới Phổ Quang Thiên.

Vô lượng pháp môn đều tự tại“. Vị Phổ Quang Minh Phạm Vương này, đắc được tất cả pháp môn, tùy ý tự tại thuyết pháp, nói ngang nói dọc đều là viên dung vô ngại.

Ðiều phục chúng sinh khắp mười phương.” Dùng triết, nhiếp hai môn để điều phục chúng sinh, triết là triết phục, khiến cho chúng sinh thấy oai đức mà triết phục, đó là môn triết phục. Nhiếp là nhiếp thọ, dùng tâm từ bi để cảm hóa, dùng đạo đức để nhiếp thọ, đây là môn nhiếp thọ. Vị này dùng hai pháp môn này đến khắp mười phương để giáo hóa chúng sinh.

Cũng không ở trong khởi phân biệt“. Ở trong phần chúng sinh, chẳng khởi tất cả tâm phân biệt. Không thể nói chúng sinh này là thiện, tôi đi độ họ ; chúng sinh kia là ác tôi không đi độ họ. Cũng không thể nói chúng sinh này có duyên với tôi, tôi phải độ họ ; chúng sinh kia không có duyên với tôi, tôi không cần độ họ. Chẳng có tâm phân biệt như thế mà dùng từ bi bình đẳng đối với tất cả chúng sinh, tuyệt đối chẳng có tâm phân biệt, một luật bình đẳng.

Ðây là cảnh giới Phổ Quang Thiên“. Cảnh giới này vị Phổ Quang Biến Thập Phương Phạm Vương đắc được.

Phật thân như không bất khả tận,            Thân Phật vô tận như hư không
Vô tướng vô ngại biến thập phương,         Không tướng không ngại khắp mười phương
Sở hữu ưng hiện giai như hóa,                  Tất cả ứng hiện đều như huyễn
Biến hóa âm Vương ngộ tư đạo.                Biến Hóa Âm Vương ngộ môn này.

Thân Phật vô tận như hư không“. Thân thể của Phật giống như hư không, tuy nhiên như hư không nhưng không thể cùng tận.

Không tướng không ngại khắp mười phương“. Thân thể của Phật chẳng có hình, cũng chẳng có tướng, nhưng khiến cho chúng sinh nhìn thấy được. Vì chẳng có hình tướng cho nên mới không ngại. Nếu có hình tướng thì có chướng ngại. Tuy nhiên chẳng có tướng, nhưng thường hiện khắp mười phương.

Tất cả ứng hiện đều như huyễn“. Tất cả chư Phật ứng hiện đều như huyễn như hóa, giống như ánh trăng dưới ngàn con sông, chỉ có một mặt trăng mà mặt trăng ứng hiện dưới ngàn con sông.

Biến Hóa Âm Vương ngộ môn này.” Ðạo lý này vị Biến Hóa Âm Phạm Vương minh bạch được.

Như Lai thân tướng vô hữu biên,              Tướng thân Như Lai không ngằn mé
Trí tuệ âm thanh diệc như thị,                  Trí huệ âm thanh cũng như thế
Xử thế hiện hình vô sở trước,                    Hiện ra trong đời chẳng chấp trước
Quang diệu Thiên Vương nhập thử môn. Quang Diệu Thiên Vương vào môn này.

Tướng thân Như Lai không ngằn mé“. Tướng thân của Phật là tận hư không khắp pháp giới, cho nên nói tướng thân của Như Lai không ngằn mé, cũng chẳng có chỗ nương tựa, không chấp trước vào tất cả các cõi (có), cũng không chấp trước nơi tất cả không, từ bỏ có, không, hiển hiện trung đạo. Cho nên nói thân tướng không ngằn mé.

Trí huệ âm thanh cũng như thế“. Không những trí huệ của Như Lai chẳng có bờ mé mà âm thanh của Như Lai cũng chẳng có bờ mé.
Một ngày nọ, Tôn giả Mục Kiền Liên dùng sức thần thông đi về hướng tây, đi qua vô số cõi Phật, muốn thử âm thanh của Phật đến đâu, kết quả không biết được, bất cứ đi xa bao nhiêu, thì âm thanh của Phật cũng giống như ở trước mắt. Do đó, có thể chứng minh âm thanh Như Lai chẳng có bờ mé.

Hiện ra trong đời chẳng chấp trước“. Phật hiện ra đời thuyết pháp độ chúng sinh, nhưng chẳng chấp trước, phá tất cả các chấp. Vì rời tất cả chấp trước cho nên mới thành Phật, nếu không thì chẳng thể thành Phật.

Quang Diệu Thiên Vương nhập môn này“. Môn giải thoát này vị Quang Diệu Phạm Thiên Vương nhập được.

Pháp vương an xứ diệu pháp cung,           Pháp Vương an trụ Diệu pháp đường
Pháp thân quang minh vô bất chiếu,        Pháp thân quang minh chiếu hết thảy
Pháp tánh vô bỉ vô chư tướng,                  Pháp tánh không tướng chẳng gì bằng
Thử hải âm Vương chi giải thoát.             Giải thoát này của Hải Âm Vương.

Pháp Vương an trụ diệu pháp đường“. Pháp Vương tức là Phật, vì Phật ở trong các pháp đắc được tự tại thù thắng, cho nên gọi là Pháp Vương. Ðịa vị tột đỉnh của phàm phu là Chuyển luân thánh vương. Ðịa vị tột đỉnh của Thánh nhân là Pháp Vương. Chuyển luân thánh vương cũng có ba mươi hai tướng, Pháp Vương cũng có ba mươi hai tướng. Vị Hải Âm Phạm Thiên Vương này, luôn luôn tư duy quán sát, pháp môn giải thoát vô tận, tư duy Phật là bậc Pháp Vương, tự tại nơi các pháp, lại tư duy Pháp Vương an trụ ở trong Diệu pháp đường.

Pháp thân quang minh chiếu hết thảy“. Pháp thân quang minh của Phật, chiếu khắp tất cả cõi nước chư Phật, chẳng có chỗ nào mà không chiếu đến.

Pháp tánh không tướng chẳng gì bằng“. Pháp tánh không thể so sánh. Pháp tánh tuy nhiên có tên, nhưng chẳng có hình tướng. Pháp tính đầy khắp pháp giới, chẳng có bất cứ cảnh giới nào có thể so sánh được.

Giải thoát này của Hải Âm Vương“. Môn giải thoát này vị Hải Âm Phạm Thiên Vương minh bạch được.
Hiện tại đã giảng xong sở đắc được môn giải thoát và kệ của năm chúng năm mươi vị Thiên Vương thuộc về Sắc giới. Dưới đây tiếp tục giảng về sở đắc môn giải thoát và kệ của bảy chúng bảy mươi vị Thiên Vương thuộc về dục giới.

Phục thứ, Tự Tại Thiên Vương, đắc hiện tiền thành thục vô lượng chúng sanh tự tại tạng giải thoát môn
Lại nữa, Tự Tại Thiên Vương được môn giải thoát, tự tại tạng hiện tiền thành thục vô lượng chúng sinh.

Vị Tự Tại Thiên Vương này là trời Tha Hóa Tự Tại, từng trời thứ sáu thuộc về dục giới. Vị này chẳng sầu, chẳng lo, chẳng phiền não, chẳng đấu tranh với ai, đều hòa bình tương xứ với mọi người. Vị này đến đâu cũng đều khiến cho chúng sinh, sinh thành thục tự tại tạng. Vì vị này đắc được tự tại, khiến cho tất cả chúng sinh nghe pháp khai ngộ, đắc được môn giải thoát tự tại tạng. Vị này có tâm từ bi vô lượng, tâm hỷ xả vô lượng, thật là một vị đại hộ pháp Bồ Tát.

Thiện Mục Chủ Thiên Vương, đắc quan sát nhất thiết chúng sanh lạc lệnh nhập thánh cảnh giới lạc giải thoát môn
Thiện Mục Chủ Thiên Vương, được môn giải thoát, quán sát tất cả sự vui sướng của chúng sinh, khiến cho họ nhập vào cảnh giới vui sướng của bậc Thánh.

Vị Thiện Mục Chủ Thiên Vương này cặp mắt rất hiền từ. Vị này dùng mắt từ bi để nhìn chúng sinh, quán sát sự vui sướng của chúng sinh, không quán sát sự khổ của chúng sinh. Tại sao ? Vì vị này chẳng có khổ, cho nên chẳng biết chúng sinh có sự khổ, chỉ quán sát sự vui sướng của chúng sinh. Sự khoái lạc của chúng sinh tức là thành tựu danh và thành tựu lợi, tức cũng là muốn gì được nấy. Cầu con trai được con trai, cầu con gái được con gái, cầu giàu sang được giàu sang, cầu công danh được công danh, đó là sư khoái lạc của thế gian. Vị Thiên Vương này đều làm cho sở cầu của chúng sinh được mãn nguyện. Muốn dạy cho chúng sinh hiểu Phật pháp, thì trước hết làm cho chúng sinh được đầy đủ sự ham muốn.

Tóm lại, phàm là những gì chúng sinh ưa thích, vị Thiên Vương này đều làm cho họ mãn nguyện về sở cầu, khiến cho họ hoan hỷ, sau đó khiến cho họ nhập vào cảnh giới khoái lạc của Thánh nhân. Cảnh giới khoái lạc của Thánh nhân là gì ? Tức là Niết Bàn bốn đức : Thường, lạc, ngã, tịnh. Sự khoái lạc này là cứu kính. Sự khoái lạc thế gian là trong khổ làm vui sướng. Tại sao nói khoái lạc thế gian là trong khổ làm vui ? Vì sự khoái lạc nhất của thế gian là phát tài, nhưng có tiền rồi thì một đồng một xu cũng tính đếm rõ ràng, thậm chí tối ngủ cũng không yên, lăn qua trở lại không ngủ được, thử nghĩ đây là khổ hay là sướng ?

Sự vui sướng thế gian ngoài việc phát tài, kế tiếp là làm quan. Do đó, sự vui sướng nhất chẳng gì bằng làm quan có quyền có thế. Người làm ông quan tốt, thì lo cho dân cơm no áo ấm, vì hạnh phúc của nhân dân. Còn ông quan ác, thì chuyên bóc lột giấu làm của riêng, tức cũng là quan tham ô hối lộ. Thứ tham quan ô sử này, tuy nhiên sung sướng đến cực điểm, cậy quyền cậy thế lường gạt người, nhân dân phẫn nộ mà không dám nói, nhưng trong biển hoạn nạn trôi nổi hốt lên hốt xuống, có lúc sẽ gặp họa bị giết, nghĩ xem đó là khổ hay vui ?

Vị Thiên Vương này hiểu rõ lý này, cho nên khiến cho chúng sinh bỏ sự khổ thế gian, đắc được môn giải thoát cứu kính tự tại.

Sự vui sướng xuất thế gian mới là vui sướng chân thật, tức cũng là thường, lạc, ngã, tịnh Niết Bàn bốn đức. Tóm lại, tức là chứng được thanh tịnh pháp thân, ở cõi Thường Tịch Quang Tịnh Ðộ, hoặc ở cõi Cực Lạc Thế Giới, hoa sen hóa sinh, chẳng có khổ về sinh tử, đó mới là vui sướng chân thật.

Diệu Bảo Tràng Quan Thiên Vương, đắc tùy chư chúng sanh chủng chủng dục giải lệnh khởi hành giải thoát môn
Diệu Bảo Tràng Quan Thiên Vương, được môn giải thoát, tùy theo sự mong muốn của chúng sinh, khiến cho họ tu hành.

Vị Diệu Bảo Tràng Quan Thiên Vương này, đội mũ báu do các thứ báu đẹp trang nghiêm, giống như tràng báu phóng quang minh. Vị này thường tùy thuận tất cả dục vọng của chúng sinh, vì chúng sinh nói diệu pháp họ thích nghe, khiến cho họ y pháp tu hành, y giáo phụng hành, sớm thành Phật quả. Vị này đắc được môn giải thoát này.

Dũng mãnh tuệ Thiên Vương, đắc phổ nhiếp vi nhất thiết chúng sanh sở thuyết nghĩa giải thoát môn
Dũng Mãnh Huệ Thiên Vương được môn giải thoát, diễn nói nghĩa chân thật, nhiếp khắp tất cả chúng sinh.

Vị Dũng Mãnh Huệ Thiên Vương này, có đại trí huệ dũng mãnh không ai sánh bằng, có thể nhiếp trì khắp tất cả chúng sinh, giống như nam châm hút sắt, nhiếp thu tất cả chúng sinh, lợi căn và độn căn vào trong Phật pháp, và diễn nói với họ nghĩa chân thật của Như Lai. Ðối với chúng sinh lợi căn, thì giảng thật nghĩa, tức cũng là nghĩa trung đạo chân không diệu hữu. Ðối với chúng sinh độn căn, thì giảng quyền giáo, trước thì giảng đạo lý có, sau thì giảng đạo lý không, từ từ dẫn vào trong thật giáo nhất thừa.

Diệu-Âm Cú Thiên Vương, đắc ức niệm Như Lai quảng đại từ tăng tiến tự sở hạnh giải thoát môn
Diệu Âm Cú Thiên Vương được môn giải thoát, tăng tấn sự tu hành, nghĩ nhớ lòng từ bi rộng lớn của Như Lai.

Vị Diệu Âm Cú Thiên Vương này, có âm thanh vi diệu không thể nghĩ bàn, khéo về thuyết pháp, nói lời lẽ vi diệu không thể nghĩ bàn, cho nên gọi là Diệu Âm Cú Thiên Vương.

Vị này đắc được cảnh giới, nghĩ nhớ lòng từ rộng lớn của Như Lai. Nghĩ nhớ tức là vĩnh viễn không quên, luôn luôn nghĩ nhớ niệm Phật ở trong bộ não, từ bi của Ðức Phật giống như hư không, rộng lớn vô lượng vô biên. Sự từ bi này chẳng có Thánh nhân nào có thể so sánh được.

Tăng thêm sự tinh tấn hạnh môn tu hành, thì sẽ có sự thành tựu. Vị Thiên Vương này đắc được môn giải thoát này.

Diệu Quang Tràng Thiên Vương, đắc thị hiện đại bi môn tồi diệt nhất thiết kiêu mạn tràng giải thoát môn
Diệu Quang Tràng Thiên Vương được môn giải thoát, thị hiện môn đại bi, phá sạch tất cả tâm kiêu mạn.

Vị Diệu Quang Tràng Thiên Vương, đắc được môn đại bi lìa khổ được vui, bỏ mê về giác, phá sạch tất cả tâm cống cao ngã mạn, đầy đủ vô duyên đại từ, đồng thể đại bi. Thấy chúng sinh chẳng có cơm ăn, thì giống như chính mình chẳng có cơm ăn, thấy chúng sinh chẳng có quần áo để mặc, thì giống như chính mình chẳng có quần áo để mặc. Tóm lại, thấy chúng sinh có tất cả thống khổ, thì cũng giống như chính mình thọ tất cả thống khổ, đó là biểu hiện lòng từ bi.

Vị Thiên Vương này chẳng có tâm kiêu mạn, không khinh khi chúng sinh, không coi nhẹ chúng sinh chẳng có căn lành hoặc người cùng khổ, hoặc người ngu si mà rời bỏ họ. Vị này chẳng có tư tưởng phân biệt cao thấp quý tiện, xem tất cả chúng sinh đồng đều và bình đẳng, đó là môn giải thoát vị này đắc được.

Tịch Tĩnh Cảnh Thiên Vương, đắc điều phục nhất thiết thế gian sân hại tâm giải thoát môn
Tịch Tĩnh Cảnh Thiên Vương, được môn giải thoát, điều phục tất cả tâm sân hại, của chúng sinh thế gian.

Vị Tịch Tĩnh Cảnh Thiên Vương thường ở trong cảnh giới định, điều phục được tất cả tâm sân hại của chúng sinh thế gian, khiến cho họ biến thành tâm từ bi, biến thành tâm hỷ xả.

Người có tâm sân hận thì thuộc về đường A Tu La. A Tu La thích đấu tranh, luôn luôn tranh thắng, tranh đệ nhất. Trên trời có A Tu La, ở nhân gian cũng có A Tu La. A Tu La trên trời thường tác chiến với chư Thiên. A Tu La nhân gian thường phát sinh đại chiến, dẫn đến nước này đánh với nước kia, chủng tộc này đánh với chủng tộc kia, tôn giáo này đánh với tôn giáo kia, tương lai địa cầu và tinh cầu cũng sẽ chiến tranh với nhau. Những chiến tranh xảy ra đều do A Tu La tác quái.

A tu La có hai loại âm và dương. A Tu La thuộc dương tức là quân đội trên thế gian ; A Tu La thuộc âm là những kẻ trộm cướp bất lương. Phàm là kẻ làm ác giết người đều là A Tu La, hoặc chúng sinh nào thích đấu tranh cũng đều gọi là A Tu La. Trong loài súc sinh và ngạ quỷ cũng có A Tu La. Tâm sân hận của chúng rất lớn, chúng hổ tương xâm phạm, hổ tương nhiễu loạn, chẳng được yên ổn. Vị Thiên Vương này điều phục được tâm sân hận chuyển thành tâm từ bi. Nếu ai ai cũng có tâm từ bi thì sẽ không có sát sinh, không chiến tranh. Ðó là cảnh giới môn giải thoát vị Thiên Vương này đắc được.

Diệu Luân Trang Nghiêm Tràng Thiên Vương, đắc thập phương vô biên Phật tùy ức niệm tất lai phó giải thoát môn
Diệu Luân Trang Nghiêm Tràng Thiên Vương, được môn giải thoát, vô lượng vô biên chư Phật tùy sự nghĩ nhớ mà đến.

Vị Diệu Luân Trang Nghiêm Tràng Thiên Vương, đắc được thân Phật trong mười phương không cách chi tính đếm được, chư Phật tùy sự nghĩ nhớ mà phóng quang, đều đến đạo tràng. Trong Kinh Lăng Nghiêm nói :

“Hiện tiền nhớ Phật niệm Phật,
Tương lai nhất định thấy Phật.”

Bạn nhớ nghĩ mười phương chư Phật thì mười phương chư Phật cũng nghĩ nhớ bạn. Nếu bạn không nghĩ nhớ chư Phật thì chư Phật cũng không nghĩ nhớ bạn, bất quá đó là một phương diện, cần phải hai phương diện thì mới cảm ứng đạo giao được. Sở cầu của chúng sinh là cảm, Phật và Bồ Tát ban cho là ứng.

Phật thì luôn luôn nghĩ nhớ tất cả chúng sinh, cho nên phát nguyện độ chúng sinh. Nếu Phật không nghĩ nhớ chúng sinh thì không thể phát nguyện độ chúng sinh. Chúng sinh nghĩ nhớ Phật thì nên cúng dường Phật, gần gũi Phật, cung kính Phật, lễ bái Phật, hổ tương nghĩ nhớ thì sẽ có cảm ứng, sẽ tiếp được quang minh của Phật. Ai nghĩ nhớ Phật thì Phật hiện ra trong tâm người đó. Vị Thiên Vương này đắc được môn giải thoát này.

Hoa Quang Tuệ Thiên Vương, đắc tùy chúng sanh tâm niệm phổ hiện thành chánh giác giải thoát môn
Hoa Quang Huệ Thiên Vương được môn giải thoát, tùy tâm niệm chúng sinh, hiện khắp thành chánh giác.

Vị Hoa Quang Huệ Thiên Vương này, đắc được tùy tâm niệm của chúng sinh mà hiện ra khắp chư Phật, để giáo hóa chúng sinh tu hành tất cả hạnh môn. Tất cả chúng sinh có những tâm niệm gì, Phật đều biết đều thấy, cho nên dùng đủ loại pháp môn để giáo hóa chúng sinh khiến cho thành chánh giác. Chánh giác tức là Vô thượng chánh đẳng chánh giác, tiếng Phạn là A Nậu Ða La Tam Miệu Tam Bồ Ðề. Ðó là môn giải thoát của vị này đắc được.

Nhân Đà La Diệu Quang Thiên Vương, đắc phổ nhập nhất thiết thế gian đại uy lực tự tại Pháp giải thoát môn.
Nhân Ðà La Diệu Quang Thiên Vương, được môn giải thoát, pháp tự tại đại oai lực, vào khắp tất cả thế gian.

Nhân Ðà La dịch là “thiên chủ, làm Thiên chủ trên cung trời Ðao Lợi. Trong Kinh A Di Ðà xưng là Thích Ðề Hoàn Nhân, trong Kinh Lăng Nghiêm xưng là Nhân Ðà La Gia. Vị Nhân Ðà La Diệu Quang Thiên Vương này, là Thiên Vương Tha Hóa Tự Tại, vị này đắc được đại oai đức thần thông lực, thâm nhập khắp tất cả thế gian, vì chúng sinh thuyết pháp, và có một thứ pháp tự tại tức là, lúc Phật thuyết pháp thì chẳng có đến đi, pháp được nói ra là vô lượng vô biên. Ðó là môn giải thoát pháp tự tại của vị này đắc được.

Nhĩ thời, Tự tại Thiên Vương, thừa Phật uy thần, biến quán nhất thiết Tự tại Thiên chúng nhi thuyết tụng ngôn
Bấy giờ, vị Tự Tại Thiên Vương, nương oai lực của Ðức Phật, quán sát khắp tất cả chúng Tự Tại Thiên mà nói ra bài kệ.

Ðương lúc đó, vị Tự Tại Thiên Vương này, nương sức thần thông đại oai đức của Ðức Phật, mà quán sát khắp tất cả Thiên chúng trời Tha Hóa Tự Tại, dùng kệ để diễn nói lại những gì đã nói ở trên, khiến cho các Thiên chúng càng hiểu thêm đạo lý Phật pháp.

Phật thân chu biến đẳng Pháp giới,          Thân Phật đến khắp cùng pháp giới
Phổ ưng chúng sanh tất hiện tiền,             Ứng khắp chúng sinh đều hiện tiền
Chủng chủng giáo môn thường hóa dụ,    Ðủ loại giáo môn hóa quần sinh
Ư pháp tự tại năng khai ngộ                      Tự Tại Thiên Vương ngộ môn này.

Thân Phật đến khắp cùng pháp giới“. Pháp giới lớn bao nhiêu ? Thì thân Phật lớn bấy nhiêu. Pháp giới nhỏ bao nhiêu thì thân Phật nhỏ bấy nhiêu. Thân Phật và pháp giới đồng nhau. Pháp giới tuy lớn nhưng không hơn thân Phật.

Ứng khắp chúng sinh đều hiện tiền“. Mỗi chúng sinh đều đắc được quang minh của Phật chiếu đến, đều đắc được Phật thị hiện ở trước họ. Tâm của Phật và tâm chúng sinh có sự cảm ứng. Pháp thân của Phật giống như tấm gương trong sáng, tất cả chúng sinh đều hiển hiện ở trong gương.

Ðủ loại giáo môn hóa quần sinh“. Phật nói đủ thứ giáo môn, bao quát tất cả Phật giáo và chẳng phải Phật giáo. Tất cả tôn giáo đều bao quát ở trong Phật giáo, chẳng có một tôn giáo nào thoát ra khỏi ngoài phạm vi Phật giáo. Phật luôn luôn giáo hóa chúng sinh, khiến cho chúng sinh phát tâm bồ đề, cầu vô thượng đạo, đắc vô thượng giác.

Tự Tại Thiên Vương ngộ môn này“. Khiến tất cả chúng sinh ở trong các pháp đắc được tự tại, đắc được giải thoát, đắc được khai ngộ, đắc được trí huệ. Vị Thiên Vương này, đắc được môn giải thoát tự tại khai ngộ, khai ngộ tự tại.

Phật thân chu biến đẳng Pháp giới,          Tất cả dục lạc trong thế gian
Phổ ưng chúng sanh tất hiện tiền,             Vui Thánh tịch diệt là tối thắng
Chủng chủng giáo môn thường hóa dụ,    Trụ ở trong pháp tánh rộng lớn
Ư pháp tự tại năng khai ngộ                      Diệu Nhãn Thiên Vương quán thấy được.

Tất cả dục lạc trong thế gian“. Sự khoái lạc trong thế gian là gì ? Người thích uống rượu thì cho rằng uống rượu là sự hưởng thụ khoái lạc nhất của con người. Khi uống rượu thì cảm thấy tự tại, uống say thì cảm thấy không tự tại. Người thích đánh bạc thì cho rằng đánh bạc là thú vui nhất của con người. Khi ăn thì cảm thấy tự tại, còn thua thì cảm thấy không tự tại. Ðó là khổ hay là sướng ? Người thích thi đấu thì cho rằng thắng lợi là sung sướng nhất, nhưng khi thất bại thì không đau khổ chăng ? Tóm lại việc khoái lạc nhất trên thế gian tức là nhân đau khổ nhất.

Thánh tịch diệt lạc là tối thắng“. Vậy sự khoái lạc nhất là gì ? Tức là khoái lạc xuất thế gian mới là chân chánh khoái lạc, mới là khoái lạc thù thắng, Niết Bàn bốn đức là vui tối thắng nhất.

Trụ ở trong pháp tính rộng lớn“. Có niềm vui tịch diệt của bậc Thánh này rồi, thì mới trụ ở trong pháp tính rộng lớn chẳng có ngằn mé.

Diệu Nhãn Thiên Vương quán thấy được“. Vị Diệu Nhãn Thiên Vương quán sát cảnh giới này và đắc được môn giải thoát này.

Như Lai xuất hiện biến thập phương,       Như Lai xuất hiện khắp mười phương
Phổ ưng quần tâm nhi thuyết Pháp,         Theo tâm chúng sinh mà thuyết pháp
Nhất thiết nghi niệm giai trừ đoạn,           Tất cả nghi hoặc đều dứt trừ
Thử diệu tràng quan giải thoát môn.        Môn giải thoát này Diệu Tràng chứng.

Như Lai xuất hiện khắp mười phương.” Phật xuất hiện ra đời là đến khắp mười phương pháp giới, do đó : ‘’vô tại vô bất tại, vô sở bất tại.” Lại có thể nói tận hư không khắp pháp giới.

Theo tâm chúng sinhh mà thuyết pháp.” Phổ biến ứng khắp căn cơ của chúng sinh, vì họ mà thuyết pháp. Người đáng dùng quyền giáo độ được thì, Phật vì họ mà nói pháp quyền giáo ; người nên dùng thật giáo độ được thì, Phật vì họ mà nói pháp thật giáo. Người căn tính đại thừa thì, Phật vì họ mà nói pháp đại thừa, người căn tính tiểu thừa thì, Phật vì họ mà nói pháp tiểu thừa. Người không gieo căn lành thì, Phật vì họ nói pháp gieo căn lành. Người đã trồng căn lành thì, Phật vì họ nói pháp thành thục căn lành. Người đã thành thục căn lành thì, Phật vì họ mà nói pháp giải thoát. Phật thì quán sát căn tính của chúng sinh để vì họ thuyết pháp.

Tất cả nghi hoặc đều dứt trừ.” Nếu chúng sinh có tâm nghi hoặc, thì Phật vì họ nói pháp, khiến cho họ dứt trừ tất cả nghi hoặc, mà sinh ra tâm chánh tín.

Môn giải thoát này Diệu Tràng chứng.” Diệu Tràng Quan Thiên Vương đắc được môn giải thoát này.

Chư Phật biến thế diễn Diệu-Âm,              Chư Phật khắp nơi diễn diệu âm
Vô lượng kiếp trung sở thuyết pháp,        Trong vô lượng kiếp nói diệu pháp
Năng dĩ nhất ngôn hàm thuyết tận,           Chỉ dùng một lời diễn nói hết
Dũng mãnh tuệ Đại chi giải thoát.            Dũng Mãnh Huệ Thiên thấy môn này.

Chư Phật khắp nơi diễn diệu âm.” Mười phương chư Phật ở trong khắp mười phương thế giới. Bất cứ trong thế giới nào, cũng đều có chư Phật ở trong đó, diễn nói diệu âm. Diệu âm của chư Phật diễn nói khắp tận cùng hư không khắp pháp giới. Bất cứ có âm thanh hoặc không âm thanh, có hình hoặc không hình, diễn nói hoặc không diễn nói, tất cả hết thảy đều là sự diễn diệu âm của chư Phật. Vào đời Tống, Tô Ðông Pha viếng thăm núi Lư Sơn có làm bài thơ, trong đó có hai câu rằng :

‘’Khê thanh tận thị quảng trường thiệt
Sơn sắc vô phi thanh tịnh thân.”

Tức là nói âm thanh nước chảy, là Phật đang nói pháp, hình thái màu sắc núi non đâu chẳng phải là thanh tịnh pháp thân của Phật. Không những “khê thanh” là “quảng trường thiệt” mà tất cả âm thanh trên thế giới đều là tướng lưỡi rộng dài của Phật (âm thanh thuyết pháp), do đó : “nước chảy, gió thổi “đều là diễn nói pháp âm, tất cả hình sắc trên thế giới đều là pháp thân của Phật. Lời vi diệu của Phật là vô thuyết vô bất thuyết. Pháp thân của Phật là vô tại vô bất tại. Diệu âm và diệu sắc này, khi chúng sinh thấy được rồi, thì hiểu rõ tức là giác ngộ, nếu không minh bạch thì bị cảnh giới làm mê hoặc, mà không thể giác ngộ. Cho nên nói giác và không giác chỉ ở tại một niệm.

Trong vô lượng kiếp diễn diệu pháp.” Từ vô lượng kiếp đến nay, Phật luôn nói diệu pháp, phổ độ chúng sinh. Ngày ngày nói pháp, thời thời nói pháp chẳng gián đoạn. Ban đầu Phật nói Kinh Hoa Nghiêm trong hai mươi mốt ngày, kế tiếp nói Kinh A Hàm khoảng hai mươi năm. Rồi nói Kinh Phương Ðẳng tám năm, và nói Kinh Bát Nhã hai mươi hai năm. Sau nói Kinh Pháp Hoa tám năm, cuối cùng khi nhập Niết bàn nói Kinh Ðại Bát Niết Bàn. Phật thuyết pháp bốn mươi chín năm, giảng hơn ba trăm hội, không bao giờ nghỉ ngơi, tinh thần truyền đạo thật là vĩ đại ! Có thể nói trước sau chẳng có ai so sánh được.

Chỉ dùng một lời diễn nói hết.” Tuy nhiên Phật trong vô lượng kiếp thuyết pháp, nhưng pháp này chỉ dùng một lời nói, thì có thể nói hết. Phật trong vô lượng kiếp nói pháp, đó là quyền xảo phương tiện, khiến cho chúng sinh hiểu rõ Phật pháp. Nếu dùng một lời nói mà nói hết các pháp thì, hầu hết chúng sinh sẽ không hiểu. Phật muốn dùng thật giáo để thuyết pháp, nhưng thật giáo là vô pháp khả thuyết (không có cách chi nói được). Nếu vô pháp khả thuyết thì chúng sinh vô pháp khả văn (không cách chi nghe được).

Dũng mãnh Huệ Thiên thấy môn này.” Vị Dũng Mãnh Huệ Thiên Vương đắc được môn giải thoát này.

Chư Phật biến thế diễn Diệu-Âm,             Tất cả quảng đại từ thế gian
Vô lượng kiếp trung sở thuyết pháp,        Chẳng bằng một phần của Như Lai
Năng dĩ nhất ngôn hàm thuyết tận,           Lòng từ của Phật như hư không
Dũng mãnh tuệ Đại chi giải thoát.            Diệu Âm Thiên Vương ngộ môn này.

‘’Tất cả quảng đại từ thế gian.” Tâm từ lớn nhất trong thế gian như cha mẹ đối với con cái, nhưng tâm từ rộng lớn này, không bằng tơ hào tâm từ của Ðức Phật.

‘’Chẳng bằng một phần của Như Lai.” Một phần tâm từ của Phật ái hộ chúng sinh, lớn hơn nhiều so với tâm từ của cha mẹ thương con cái. Tâm đại từ của Phật là cứu chúng sinh ra khỏi biển khổ, dù có thể hy sinh tánh mạng của mình. Giống như Bồ tát Ðịa Tạng Vương, Ngài cứu chúng sinh ở trong địa ngục, Ngài phát đại nguyện rằng :

“Ðịa ngục không trống không,
Thề không thành Phật
Chúng sinh độ hết
Mới chứng Bồ đề.”

Hạnh của Ngài là Bồ Tát đạo, nguyện của Ngài phát ra là cứu chúng sinh. Mười phương chư Phật trong quá khứ vô lượng kiếp đều phát đại nguyện này. Tâm từ của cha mẹ làm sao so sánh với tâm từ của Ðức Phật ? Cha mẹ thương con cái chỉ một đời, còn Phật thì thương chúng sinh nhiều đời. Phật đối với chúng sinh đều có tâm từ bi rộng lớn, vì giáo hóa chúng sinh, mà xả bỏ thân thể của mình, bất cứ nguy hiểm thế nào cũng không từ, nhất định phải cứu chúng sinh, khiến cho họ đắc được an lạc

Lòng từ của Phật như hư không.” Tâm từ của Phật rộng lớn cỡ nào ? Lớn giống như hư không vô cùng tận, chẳng khi nào hết được.

Diệu Âm Thiên Vương ngộ môn này.” Vị Diệu Âm Cú Thiên Vương hiểu được cảnh giới lòng đại từ của Phật đối với chúng sinh, đó là môn giải thoát của vị này đắc được.

Nhất thiết chúng sanh mạn cao sơn,         Chúng sinh ngã mạn cao như núi
Thập lực tồi điễn tất vô dư,                       Thập lực phá tan không còn sót
Thử thị Như Lai đại bi dụng,                    Ðó là bi dụng của Như Lai
Diệu quang tràng Vương sở hạnh đạo.     Diệu Quang Tràng Vương hành đạo này.

Chúng sinh ngã mạn cao như núi.” Tại sao chúng sinh vẫn là chúng sinh ? Vì có tâm ngã mạn, tức cũng là cống cao ngã mạn. Tâm ngã mạn cao hơn núi Tu Di. Tu hành tức là tiêu diệt tâm ngã mạn, cho nên trong Lục độ có nhẫn nhục Ba La Mật. Bạn nhẫn nhục được thì chẳng có tâm tự kiêu.

Thập lực phá tan không còn sót.” Phải dùng pháp môn thập lực thì, sẽ phá tan tâm ngã mạn của chúng sinh. Thập lực là mười trí huệ lực :

  1. Xứ phi xứ trí lực.
    2. Tam thế nghiệp báo trí lực.
    3. Thiền định giải thoát tam muội trí lực.
    4. Các căn thắng liệt trí lực.
    5. Chủng chủng giải trí lực.
    6. Chủng chủng giới trí lực.
    7. Nhất thiết chí xứ đạo trí lực.
    8. Thiên nhãn vô ngại trí lực.
    9. Túc mạng vô lậu trí lực.
    10. Vĩnh đoạn tập khí trí lực.

Ðây là bi dụng của Như Lai.” Ðây là tác dụng đại từ đại bi của Phật, đủ tiêu trừ chướng ngại sự tu đạo của chúng sinh. Chúng ta phải có ý chí kiên nhẫn, phá tan núi ngã mạn.

Diệu Quang Tràng Vương hành đạo này.” Vị Diệu Quang Trang Thiên Vương tu hành pháp môn này mới đắc được môn giải thoát này.

Tuệ quang thanh tịnh mãn thế gian,         Huệ quang thanh tịnh đầy thế gian
Nhược hữu kiến giả trừ si ám,                   Nếu ai thấy được trừ si tối
Lệnh kỳ viễn ly chư ác đạo,                       Khiến họ thoát khỏi các đường ác
Tịch tĩnh Thiên Vương ngộ tư Pháp.        Tịch Tĩnh Thiên Vương ngộ pháp này.

Huệ quang thanh tịnh đầy thế gian.” Trí huệ quang của Phật, là tận hư không khắp pháp giới, do đó : ‘’Phật quang phổ chiếu.” Quang minh của Phật không những thanh tịnh mà còn trang nghiêm. Nếu chúng sinh nào bị quang minh của Phật chiếu đến, thì nhất định sẽ khai mở đại trí huệ. Muốn được quang minh của Phật chiếu, thì phải tinh tấn tu hành.

Nếu ai thấy được trừ si ám.” Nếu như người có căn lành lớn, thấy được quang minh của Phật, thì nhất định sẽ tiêu trừ sự đen tối ngu si của họ. Tại sao chúng sinh phải ngu si ? Vì tâm cảnh không chánh đại quang minh, luôn luôn ích kỷ tư lợi, chỉ nghĩ lợi ích cho cá nhân mình, cho nên vô minh càng ngày càng đen tối, càng đen tối thì càng ngu si, càng ngu si thì càng đen tối. Trong sách Luận Ngữ có câu :

“Những gì mình không muốn,
Ðừng bố thí cho người khác”.

Nghĩa là việc gì mình không muốn, thì đừng gây tổn hại đến người khác, khiến cho họ sinh phiền não, do đó :‘’Suy bụng ta ra bụng người “, đó là đạo lý nhà Nho, cũng là nhân sinh quan tiêu cực. Phật giáo đề xướng từ bi, tức cũng là nhân sinh quan tích cực. Ðáng tiếc một số Phật tử hiểu lầm ngã Phật chân thật nghĩa, chuyên vì chính mình mà không đếm xỉa gì đến kẻ khác, cách xa tư tưởng Bồ Tát mười vạn tám ngàn dặm, nếu không hồi đầu thì càng đi càng xa.

Khiến họ thoát khỏi các đường ác.” Phật khiến tất cả chúng sinh đều thoát khỏi đường A tu la, súc sinh, ngạ quỷ và địa ngục. Tóm lại thoát khỏi sáu nẻo luân hồi, liễu sinh thoát tử, lìa khổ được vui, đạt đến Niết bàn.

Tịch Tĩnh Thiên Vương ngộ pháp này.”      Vị Tịch Tĩnh Thiên Vương minh bạch pháp môn này.

Mao khổng quang minh năng diễn thuyết,        Lỗ lông phóng quang diễn diệu pháp
Đẳng chúng sanh số chư Phật danh,         Số chúng sinh đồng danh hiệu Phật
Tùy kỳ sở lạc tất đắc văn,                        Tùy theo sở thích đều được nghe
Thử diệu luân tràng chi giải thoát.           Diệu Luân Tràng Vương được môn này.

Lỗ lông phóng quang diễn diệu pháp.” Lỗ chân lông trên thân của Phật, đều phóng đại quang minh, không những phóng quang minh, mà mỗi chân lông đều diễn nói tất cả diệu pháp.

Số chúng sinh đồng danh hiệu Phật.” Chúng sinh có bao nhiêu thì danh hiệu Phật có bấy nhiêu. Vì chúng sinh đều có Phật tính đều sẽ thành Phật. Thành Phật thì có danh hiệu Phật.

Tùy theo sở thích đều được nghe.” Tùy theo căn tính chúng sinh đều nghe được diệu pháp của Phật nói.

Diệu Luân Tràng Vương được môn này.” Ðây là môn giải thoát của vị Diệu Luân Tràng Thiên Vương đắc được.

Như Lai tự tại bất khả lượng,                   Như Lai tự tại không thể lường
Pháp giới hư không tất sung mãn,            Hư không pháp giới đều đầy khắp
Nhất thiết chúng hội giai minh đổ,            Tất cả chúng hội đều thấy rõ
Thử giải thoát môn hoa tuệ nhập.             Môn giải thoát này Hoa Huệ chứng.

Như Lai tự tại không thể lường.” Sức đại thần thông của Phật diệu không thể nói, tức là không thể suy nghĩ, không thể luận bàn, không cách chi trắc lượng, chẳng có bờ mé.

Hư không pháp giới đều đầy khắp.” Sức đại thần thông của Phật sung mãn pháp giới, sung mãn hư không, cho nên nói không thể lường.

Tất cả chúng hội đều thấy rõ.” Sức đại thần thông của Phật ở trong mười phương thế giới, phàm là chỗ nào có pháp hội thì, tất cả chúng sinh nhìn thấy thần lực của Phật rõ ràng, trong suốt không có gì chướng ngại. Khi Phật thuyết pháp thì, phóng quang hoặc là địa chấn. Phóng quang là từ : giữa lông mày, miệng, đầu gối, chân .v.v… Ðịa chấn thì có : chấn, hống, kích, động, dũng, khởi sáu thứ, đó là thần thông lực.

Môn giải thoát này Hoa Huệ chứng.” Cảnh giới môn giải thoát này vị Hoa Quang Huệ Thiên Vương đắc được.

Vô lượng vô biên Đại kiếp hải,                  Vô lượng vô biên biển đại kiếp
Phổ hiện thập phương nhi thuyết Pháp,   Hiện khắp mười phương mà thuyết pháp
Vị tằng kiến Phật hữu khứ lai,                  Chưa từng thấy Phật có đến đi
Thử chủ quang Thiên chi sở ngộ.              Diệu Quang Thiên Vương ngộ môn này.

Vô lượng vô biên biển đại kiếp.” Phật ở trong vô lượng vô biên biển đại kiếp, thuyết pháp không ngừng nghỉ, đến khắp nơi phổ độ giáo hóa chúng sinh.

Hiện khắp mười phương mà thuyết pháp.” Phật hiện khắp trong mười phương thế giới, mà vì chúng sinh thuyết pháp. Có khi ‘’đảo giá từ thuyền “trở lại cõi chúng sinh mà vì chúng sinh thuyết pháp.

Chưa từng thấy Phật có đến đi.” Phật tuy nhiên hiện khắp trong mười phương mà thuyết pháp, nhưng chẳng nhìn thấy Phật đi đến mười phương, cũng chẳng thấy Phật từ mười phương đến. Nghĩa như thế nào ? Cũng giống như mặt trăng hiện ở trong tất cả nước, mặt trăng trong tất cả nước, đều do mặt trăng trong hư không hiện ra. Mặt trăng vốn có tuy nhiên chiếu sáng ở trong nước, nhưng mặt trăng vốn có chẳng động. Mặt trăng trong nước là phản ảnh ánh sáng mặt trăng vốn có mà thành, cho nên gốc chẳng động mà không đến đi.

Ðức Phật giống như mặt trăng sáng, chiếu khắp mười phương mà không đến đi, trong tâm của chúng ta nếu thanh tịnh, thì quang minh của Phật xuất hiện, nếu dơ đục thì quang minh của Phật sẽ không hiện. Tu đạo tức là tu tâm, làm cho thanh tịnh, một bụi trần không nhiễm, một niệm không sinh, lúc này thì quang minh của Phật sẽ hiện tiền.

Diệu Quang Thiên Vương ngộ môn này.” Môn giải thoát này vị Diệu Quang Thiên Vương đắc được.

Phục thứ, thiện hóa Thiên Vương, đắc khai thị nhất thiết nghiệp biến hóa lực giải thoát môn
Lại nữa, Thiện Hóa Thiên Vương được môn giải thoát, khai thị tất cả nghiệp lực biến hóa.

Ở trên đã giải thích xong những bài kệ và môn giải thoát của mười vị Tha Hóa Tự Tại Thiên Vương. Bây giờ giải thích kệ tụng tán thán công đức của Phật và các môn giải thoát đắc được của mười vị Hóa Lạc Thiên Vương.

Vị Thiện Hóa Thiên Vương này là Thiên Vương từng trời thứ năm thuộc về dục giới. Vị này khiến cho chúng sinh bỏ mê về giác, lìa khổ được vui, phá vô minh, hiển pháp tính. Vì chúng sinh vô minh cho nên sinh ra mê hoặc. Do đó : ‘’Khởi hoặc, tạo nghiệp, thọ báo.” Hiểu rõ thì tạo nghiệp lành, mê hoặc thì tạo nghiệp ác. Tạo nghiệp lành thì thọ quả báo lành, tạo nghiệp ác thì thọ quả báo ác.

Nghiệp phân ra làm ba thứ :

  1. Nghiệp thiện : Bạn tu bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí huệ, đó là lục độ vạn hạnh, lợi ích chúng sinh đó là nghiệp thiện.
  2. Nghiệp ác : Bạn không tu lục độ vạn hạnh, không lợi ích chúng sinh, chuyên làm việc tổn hại người lợi mình, đó là nghiệp ác.
  3. Nghiệp thiện ác hỗn tạp : Tạo nghiệp thiện thì có thể sinh về cõi trời, tạo nghiệp ác thì có thể đọa vào địa ngục. Nếu tạo nửa nghiệp thiện nửa nghiệp ác thì có thể làm người, cũng có thể làm súc sinh. Thiện nhiều ác ít thì gặp thuận cảnh, nếu ác nhiều thiện ít thì gặp nghịch cảnh, cho nên nếu chúng ta :‘’đừng làm các điều ác, mà làm các điều thiện‘’, thì sẽ dứt sạch nghiệp ác, tăng trưởng nghiệp thiện, như thế thì sẽ đắc được giải thoát.

Vị Thiên Vương này dùng đủ thứ ngôn ngữ văn tự, để nói rõ về lý thiện ác, khiến cho chúng sinh biết nghiệp thiện và nghiệp ác, đều hổ tương biến hóa. Nếu trong thiện có ác, thì quả báo đắc được cũng có tốt có sấu. Nếu trong ác có thiện thì quả báo đắc được cũng có khổ có vui. Ðó là sức lực hổ tương biến hóa. Tóm lại, trồng nhân gì thì kết quả đó. Trồng nhân thiện thì kết quả tốt, trồng nhân ác thì kết quả xấu, đó là môn giải thoát của vị Thiên Vương này đắc được.

Tịch tĩnh âm quang minh Thiên Vương, đắc xả ly nhất thiết phàn duyên giải thoát môn
Tịch Tĩnh Âm Quang Minh Thiên Vương, được môn giải thoát, lìa bỏ tất cả sự phan duyên.

Vị Tịch Tĩnh Âm Quang Minh Thiên Vương đắc được môn giải thoát, xả lìa tất cả phan duyên. Một số chúng sinh thường có đủ thứ tâm phan duyên. Phan duyên là gì ? Tức là muốn được lợi ích, dùng đủ thứ thủ đoạn để phan duyên, đó là vì danh mà phan duyên. Nếu khiến được sáu căn không phan duyên với sáu trần, thì tâm sẽ thanh tịnh. Trên thế giới này có hai loại người, một là vì danh mà phan duyên, một là vì lợi mà phan duyên. Cầu danh thì chết về danh, chết ở trong lửa, cầu lợi thì chết về lợi, chết ở trong nước. Danh thuộc về lửa, lợi thuộc về nước. Kẻ vì danh lợi mà phan duyên, thì không bị lửa thiêu chết thì cũng bị chết vì nước. Vị Thiên Vương này buông xả hết tâm phan duyên, đắc được môn giải thoát tự tại.

Biến hóa lực quang minh Thiên Vương, đắc phổ diệt nhất thiết chúng sanh si ám tâm lệnh trí tuệ viên mãn giải thoát môn
Biến Hóa Lực Quang Minh Thiên Vương được môn giải thoát, diệt trừ tâm si tối của tất cả chúng sinh, khiến cho họ được trí huệ viên mãn.

Vị Biến Hóa Lực Quang Minh Thiên Vương này, khiến cho tất cả chúng sinh tiêu diệt tâm ngu si đen tối, khiến cho trí huệ của tất cả chúng sinh đều viên mãn. Tại sao có tâm si ám ? Vì không có trí huệ. Vị Thiên Vương này, khiến cho chúng sinh tu tập Bát Nhã. Bát Nhã càng ngày càng tăng trưởng thì, đen tối càng ngày càng tiêu diệt. Như vậy thì trí huệ sẽ viên mãn, viên mãn tức là giác ngộ, giác ngộ tức là giải thoát. Ðó là môn giải thoát của vị này đắc được.

Trang nghiêm chủ Thiên Vương, đắc thị hiện vô biên duyệt ý thanh giải thoát môn
Trang Nghiêm Chủ Thiên Vương được môn giải thoát, thị hiện vô biên âm thanh vừa ý.

Vị Trang Nghiêm Chủ Thiên Vương này do thanh trần mà ngộ đạo. Âm thanh của vị này phát ra, khiến cho chúng sinh nghe được đều sinh vui mừng, không những khiến cho chúng sinh vui mừng mà cũng khiến cho chúng sinh được giải thoát, đó là môn giải thoát thị hiện vô biên âm thanh vừa ý của vị này đắc được.

Niệm quang Thiên Vương, đắc liễu tri nhất thiết Phật vô tận phước đức tướng giải thoát môn
Niệm Quang Thiên Vương được môn giải thoát, biết rõ vô tận tướng phước đức của tất cả chư Phật.

Vị Niệm Quang Thiên Vương minh bạch vô tận phước đức tướng, của tất cả chư Phật trong mười phương ba đời. Ba mươi hai tướng và tám mươi vẻ đẹp của Phật, đều là do lúc ở tại nhân địa thì, Phật tu từng chút từng chút mà thành, tích lũy từng chút từng chút, cho nên tu thành vô tận phước và vô tận đức, mới đắc được tướng tốt như vậy để trang nghiêm thân, đó là môn giải thoát của vị này đắc được.

Tối thượng vân âm Thiên Vương, đắc phổ tri quá khứ nhất thiết kiếp thành hoại thứ đệ giải thoát môn
Tối Thượng Vân Âm Thiên Vương, được môn giải thoát, biết hết tất cả kiếp, thứ tự thành hoại trong quá khứ.

Vị Vân Âm Thiên Vương này đắc được cảnh giới không gì mà chẳng biết. Trong quá khứ vô lượng vô biên kiếp thứ tự thành trụ hoại không. Kiếp nào thành, kiếp nào trụ, kiếp nào hoại, kiếp nào không, vị này đều biết. Biết rõ kiếp nào trước kiếp nào sau. Thời đại chúng ta bây giờ gọi là kiếp Hiền, quá khứ gọi là kiếp Trang Nghiêm, vị lai gọi là kiếp Tinh Tú. Kiếp hiện tại sẽ có một ngàn vị Thánh hiền nhân xuất hiện ra đời. Phật Thích Ca Mâu Ni là vị Thánh hiền nhân thứ tư. Tương lai vị Thánh hiền nhân thứ năm là Bồ tát Di Lặc. Ðó là môn giải thoát của vị này đắc được.

Thắng quang Thiên Vương, đắc khai ngộ nhất thiết chúng sanh trí giải thoát môn
Thắng Quang Thiên Vương, được môn giải thoát, khai ngộ trí huệ của tất cả chúng sinh.

Vị Thắng Quang Thiên Vương này, thắng hơn tất cả quang minh của Thiên Vương, vị này đắc được khai ngộ tất cả trí huệ tất cả chúng sinh. Trong sự khai ngộ bao quát : khai Phật tri kiến, thị Phật tri kiến, ngộ Phật tri kiến và nhập Phật tri kiến bốn thứ. Khai ngộ tất cả chúng sinh trí, tức là khai ngộ tất cả chúng sinh, khiến cho họ đắc được bốn thứ tri kiến, cho nên gọi là nhất thiết trí. Nhất thiết trí tức là Phật trí, đó là môn giải thoát của vị Thiên Vương này.

Diệu kế Thiên Vương, đắc thư quang tật mãn thập phương hư không giới giải thoát môn
Diệu Kế Thiên Vương, được môn giải thoát, phóng quang chiếu đầy khắp cõi hư không trong mười phương.

Vị Diệu Kế Thiên Vương này, đắc được một môn giải thoát đó là, phóng quang chiếu sáng mười phương, tận hư không khắp pháp giới, không chỗ nào mà không chiếu, không chỗ nào mà không có. Cho nên quang minh của vị này phóng ra sung mãn tất cả cõi hư không, đó là môn giải thoát của vị Thiên Vương này đắc được.

Hỉ tuệ Thiên Vương, đắc nhất thiết sở tác vô năng hoại tinh tấn lực giải thoát môn
Hỷ Huệ Thiên Vương được môn giải thoát, sức tinh tấn tất cả việc làm không ai phá hoại được.

Vị Hỷ Huệ Thiên Vương hoan hỷ có đại trí huệ. Vị này đắc được tất cả việc thiện, chẳng có ai phá hoại được. Tất cả công đức của vị này làm, cũng chẳng có ai phá hoại được. Ðạo nghiệp của vị này tu, cũng chẳng có ai phá hoại được. Vị này lại có sức tinh tấn, càng tu càng tinh tấn, càng tinh tấn càng phát tâm, càng làm việc thiện càng thích làm, càng tu công đức càng thích tu, luôn luôn tu hành, luôn luôn tinh tấn, đó là môn giải thoát của vị này đắc được.

Hoa Quang kế Thiên Vương, đắc tri nhất thiết chúng sanh nghiệp sở thọ báo giải thoát môn
Hoa Quang Kế Thiên Vương, được môn giải thoát, biết nghiệp thọ báo của tất cả chúng sinh.

Vị Hoa Quang Kế Thiên Vương đắc được cảnh giới, biết sự tạo nghiệp, sự thọ báo của tất cả chúng sinh tơ hào cũng không sai. Tạo nghiệp sát sinh thì thọ quả báo sát sinh, tạo nghiệp trộm cắp thì thọ quả báo trộm cắp, tạo nghiệp dâm thì thọ quả báo dâm, tạo nghiệp vọng ngữ thì thọ quả báo vọng ngữ, đó là môn giải thoát của vị Thiên Vương này đắc được.

Phổ kiến thập phương Thiên Vương, đắc thị hiện bất tư nghị chúng sanh hình loại sái biệt giải thoát môn.
Phổ Kiến Thập Phương Thiên Vương, được môn giải thoát, thị hiện thân hình đủ loại chúng sinh, khác biệt không nghĩ bàn.

Vị Phổ Kiến Thập Phương Thiên Vương, đắc được cảnh giới, thị hiện đủ loại hình chúng sinh. Mỗi loài chúng sinh, đều có hình khác nhau của mỗi loài, chẳng giống nhau, đó là môn giải thoát của vị này đắc được.

Nhĩ thời, thiện hóa Thiên Vương, thừa Phật uy lực, phổ quán nhất thiết thiện hóa Thiên Chúng nhi thuyết tụng ngôn
Bấy giờ, Thiện Hóa Thiên Vương, nương oai lực của đức Phật, quán khắp tất cả chúng Thiện Hóa Thiên, mà nói ra bài kệ.

Vừa lúc Phổ Kiến Thập Phương Thiên Vương nói xong, thì lúc bấy giờ vị Thiện Hóa Thiên Vương nương thần lực của Phật, quán sát khắp tất cả Thiên chúng Thiện Hóa Thiên (Hoá Lạc Thiên) mà nói bài kệ này, khiến cho Thiên chúng minh bạch nghĩa lý Phật pháp.

Thế gian nghiệp tánh bất tư nghị,             Tánh nghiệp thế gian không nghĩ bàn
Phật vị quần mê tất khai thị,                     Phật vì quần mê mà khai thị
Xảo thuyết nhân duyên chân thật lý,         Khéo nói nhân duyên lý chân thật
Nhất thiết chúng sanh sái biệt nghiệp.      Tất cả chúng sinh nghiệp khác nhau.

Tánh nghiệp thế gian không nghĩ bàn.” Tánh nghiệp thế gian vi diệu vô cùng không thể nghĩ bàn.

Phật vì quần mê mà khai thị.” Phật vì tất cả quần mê chúng sinh trên thế gian, mà khai thị nhân duyên không thể nghĩ bàn.

Khéo nói nhân duyên lý chân thật.” Phật khéo dùng thiện xảo phương tiện, diễn nói nghĩa lý chân thật nhân duyên sinh diệt với nhau.

Tất cả chúng sinh nghiệp khác nhau.” Chúng sinh khởi hoặc, tạo nghiệp, thọ báo, mỗi người đều khác nhau.

Chủng chủng quán Phật vô sở hữu,          Các môn quán Phật không chỗ có
Thập phương cầu mịch bất khả đắc,        Tìm khắp mười phương không thể được
Pháp thân thị hiện vô chân thật,               Pháp thân thị hiện không chân thật
Thử pháp Tịch Âm chi sở kiến.                 Tịch Tĩnh Âm Thiên thấy môn này.

Các môn quán Phật không chỗ có.” Chúng sinh muốn quán pháp thân của Phật, dùng hết đủ loại phương pháp cũng không nhìn thấy Phật. Vậy nhìn không thấy Phật, phải chăng không có Phật ? Không phải. Giống như chúng ta nhìn hư không, nhìn thấy hư không chăng ? Không thấy. Vì hư không chẳng có hình tướng, nhìn không thấy hư không, mà dùng đủ thứ phương pháp để xem hư không ra sao ? Kết quả vẫn nhìn chẳng thấy, nếu nhìn thấy thì chẳng phải là hư không.

Pháp thân Phật cũng thế. Bạn nhìn không thấy hư không, nhưng không thể nói là chẳng có hư không. Bạn nhìn không thấy Phật, nhưng không thể nói là chẳng có Phật, đó là đạo lý tương đồng.

Tìm khắp mười phương không thể được.” Muốn đến mười phương để tìm Phật, chẳng thể được vì pháp thân Phật là vô tại vô bất tại.

Pháp thân thị hiện không chân thật.” Pháp thân của Phật như hư không. Chỗ nào có hư không thì chỗ đó có pháp thân Phật tồn tại, cho nên nói pháp thân không có tánh chân thật.

Tịch Tĩnh Âm Thiên thấy môn này.” Vị Tịch Tĩnh Âm Quang Minh Thiên Vương thấy được, hiểu được môn giải thoát này.

Phật ư kiếp hải tu chư hạnh,                     Phật trong biển kiếp tu các hạnh
Vì diệt thế gian si ám hoặc,                       Vì diệt si tối hoặc thế gian
Thị cố thanh tịnh tối chiếu minh,              Trí huệ thanh tịnh chiếu sáng nhất
Thử thị lực quang tâm sở ngộ.                  Lực Quang Thiên Vương ngộ môn này.

Phật trong biển kiếp tu các hạnh.” Mỗi vị Phật đều ở trong vô lượng biển kiếp mà tu thành, cho nên tất cả chư Phật đều siêu việt hơn người. Vì tâm nhẫn nại của Phật lớn nhất, bất cứ gặp việc gì cũng đều nhẫn nhục được, nhẫn được những gì người khác không thể nhẫn. Bất cứ gặp việc gì cũng đều khiêm nhường, nhường những gì người khác không thể nhường. Bất cứ gặp việc gì cũng đều chịu được, chịu những gì người khác không thể chịu được. Phật tu đủ thứ hạnh môn như vậy, đều tu hành viên mãn.
Phật có đại nhẫn nhục, đại khiêm nhường, đại chịu đựng, đều do tu tập các hạnh mà được. Phật đại bố thí, đại trì giới, đại nhẫn nhục, đại tinh tấn, đại thiền định, đại Bát nhã cũng do tu các hạnh mà được.

Vì diệt si tối hoặc thế gian.” Tại sao Phật phải tu các hạnh ? Vì muốn diệt trừ tất cả : vô minh, ngu si, đen tối của chúng sinh thế gian. Vô minh sinh ra tức là ngu si. Ngu si tức là đen tối. Phải diệt sạch si, ám, hoặc thì sẽ đắc được đại quang minh tạng.

Trí huệ thanh tịnh chiếu sáng nhất.” Trí huệ của Phật thanh tịnh nhất, chiếu khắp tất cả quang minh, khiến tất cả chúng sinh dứt sạch si ám hoặc, cũng đắc được trí huệ quang minh.

Lực Quang Thiên Vương ngộ môn này.” Cảnh giới này vị Biến Hóa Lực Quang Minh Thiên Vương ngộ được.

Thế gian sở hữu diệu âm thanh,                Tất cả diệu âm thanh thế gian
Vô hữu năng bỉ Như Lai âm,                     Không thể sánh được tiếng Như Lai
Phật dĩ nhất âm biến thập phương,          Phật dùng một âm khắp mười phương
Nhập thử giải thoát trang nghiêm chủ.     Trang Nghiêm Thiên Vương chứng môn này.

Tất cả diệu âm thanh thế gian.” Trong thế gian có nhiều âm thanh hay, ai ai cũng đều thích nghe, nghe rồi thì sinh tâm mê hoặc. Do đó Lão Tử có nói : “

Ngũ sắc khiến cho người mờ mắt,
Ngũ âm khiến cho người tai điếc,
Ngũ vị khiến người miệng lầm lỡ.”

Ngũ sắc : Tức là xanh, vàng, đỏ, trắng, đen. Ngũ sắc này hổ tương tạp loạn, khiến cho con mắt phân biệt không rõ ràng cứu kính là màu gì ? Giống như người mắt mờ, cho nên nói năm màu làm cho người mờ mắt.

Ngũ âm : Tức là cung, thương, giác, chủy, vũ. Năm âm thanh này êm tai vô cùng, làm cho người nghe rồi sinh mê hoặc, bị ngũ âm mê hoặc rồi thì chẳng có trí huệ. Người chẳng có trí huệ thì sẽ làm việc điên đảo, cho nên nói ngũ âm khiến cho người tai điếc.

Ngũ vị : Tức là ngọt, mặn, đắng, chua, cay. Năm vị này điều hòa hợp khẩu vị, khiến cho người thích ăn, càng thích ăn thì càng ăn, khiến cho chân chánh trí huệ của con người bị mê hoặc, cho nên nói ngũ vị khiến cho người miệng lầm lỡ

Không thể sánh được tiếng Như Lai.” Bất cứ âm thanh gì trên thế gian, đều không thể sánh với âm thanh của Ðức Phật. Âm thanh của Phật là hay nhất, biến hóa vô cùng, bất cứ một loài chúng sinh nào nghe cũng đều hiểu được

Phật dùng một âm khắp mười phương.” Phật dùng một thứ âm thanh thuyết pháp, mà mười phương thế giới đều nghe được diệu âm này, không những nghe được mà còn hiểu được nghĩa lý pháp của Phật nói.

Trang Nghiêm Thiên Vương chứng môn này.” Vị Trang Nghiêm Chủ Thiên Vương được cảnh giới môn giải thoát này.

Thế gian sở hữu chúng phước lực,            Tất cả phước báu của thế gian
Bất dữ Như Lai nhất tướng đẳng,             Không bằng một tướng của Như Lai
Như Lai phước đức đồng hư không,         Phước đức Như Lai đồng hư không
Thử niệm quang Thiên sở quán kiến.       Niệm Quang Thiên Vương quán sát thấy.

Tất cả phước báu của thế gian.” Tại sao chúng ta thọ khổ ? Vì chúng ta chẳng tu phước. Tại sao Phật không khổ ? Vì Phật tu phước tu huệ trong ba đại A tăng kỳ kiếp. Do đó :

“Chịu khổ thì hết khổ,
Hưởng phước thì hết phước.”

Phước là do tích lũy từng chút từng chút mà thành. Chúng ta luôn luôn làm lợi ích cho người là tu phước, luôn luôn giúp đỡ người là tu phước, luôn luôn không ích kỷ là tu phước, luôn luôn không tư lợi là tu phước. Tóm lại luôn luôn phải vun bồi tu phước.

Chẳng bằng một tướng của Như Lai.” Tất cả phước báu của thế gian, không thể so sánh bất cứ một tướng nào, trong ba mươi hai tướng của Phật. Do đó :

“Ba Tăng kỳ tu phước huệ,
Trăm kiếp trồng tướng tốt.”

Khi Ðức Phật tại nhân địa thì, dù phước rất nhỏ cũng phải tu, không bỏ qua, thời gian trải qua ba đại A tăng kỳ tu hành, mới đắc được ba mươi hai tướng tốt.

Phước đức Như Lai đồng hư không.” Phước đức của Phật vô lượng vô biên giống như hư không.

Niệm Quang Thiên Vương quán sát thấy.” Cảnh giới này vị Niệm Quang Thiên Vương quán sát thấy được, và hiểu được đạo lý này.

Tam thế sở hữu vô lượng kiếp,                  Tất cả vô lượng kiếp ba đời
Như kỳ thành bại chủng chủng tướng,      Như thành trụ hoại không các tướng
Phật nhất mao khổng giai năng hiện,       Một lỗ lông Phật đều hiện được
Tối thượng vân âm sở liễu tri.                   Tối Thượng Vân Âm biết rõ hết.

Tất cả vô lượng kiếp ba đời.” Trong đời quá khứ có vô lượng kiếp, trong đời hiện tại có vô lượng kiếp, trong đời vị lai có vô lượng kiếp. Ba đời có vô lượng số đại kiếp.

Như thành trụ hoại không các tướng.” Như kiếp : thành, trụ, hoại, không. Tướng kiếp thành là gì ? Tướng kiếp trụ, tướng kiếp hoại, tướng kiếp không là gì ?

Một lỗ lông Phật đều hiện được.” Tướng bốn kiếp này, trong một lỗ lông của Phật, đều hiện ra được, có thể lấy quá khứ đem về hiện tại, lại có thể lấy vị lai đem về hiện tại, lại có thể lấy hiện tại đem về quá khứ hoặc vị lai, lấy quá khứ đem về vị lai, lấy vị lai đem về quá khứ, hổ tương biến hóa vô cùng.

Tối Thượng Vân Âm biết rõ hết.” Trong lỗ lông của Phật hiện ra đủ loại cảnh giới, đó là cảnh giới giải thoát vị Tối Thượng Vân Âm Thiên Vương thấy và hiểu tường tận.

Thập phương hư không khả tri lượng,     Mười phương hư không có thể lường
Phật mao khổng lượng bất khả đắc,         Nhưng không thể lường lỗ lông Phật
Như thị vô ngại bất tư nghị,                       Như vậy vô ngại không nghĩ bàn
Diệu kế Thiên Vương dĩ năng ngộ.            Diệu Kế Thiên Vương ngộ môn này.

Mười phương hư không có thể lường.” Hư không là vô tận vô biên, bổn lai không thể biết lượng rộng lớn của nó. Bây giờ thì cho rằng có thể biết lượng của hư không.

Nhưng không thể lường lỗ lông Phật.” Tuy nhiên biết được lượng của mười phương hư không, nhưng lượng lỗ lông của Phật không biết được, cũng không thể hiểu được.

Như vậy vô ngại không nghĩ bàn.” Lượng hư không có thể biết, nhưng lượng lỗ lông của Phật không cách chi biết được. Tại sao ? Vì lỗ lông của Phật dung nạp được vô lượng hư không. Mười phương hư không đều bao quát ở trong một lỗ chân lông của Phật, đó là cảnh giới viên dung vô ngại không thể nghĩ bàn.

Diệu Kế Thiên Vương ngộ môn này.” Ðây là cảnh giới giải thoát của vị Diệu Kế Thiên Vương minh bạch được.

Phật ư nẵng thế vô lượng kiếp,                 Phật trong vô lượng kiếp xa xưa
Cụ tu quảng đại Ba-la-mật,                       Tu đủ các pháp Ba la mật
Cần hành tinh tấn vô yếm đãi,                   Siêng hành tinh tấn không biếng lười
Hỉ tuệ năng tri thử pháp môn.                   Hỷ Huệ biết được pháp môn này.

Phật trong vô lượng kiếp xa xưa.” Phật ở trong vô kiếp quá khứ xa xưa, tu các pháp môn Ba la mật.

Tu đủ các pháp Ba la mật.” Phật rộng tu đầy đủ viên mãn các pháp Ba la mật. Ba la mật dịch là “đáo bỉ ngạn” (đến bờ kia). Pháp Ba la mật rộng lớn này, từ Ba la mật nhỏ mà hạ thủ công phu, tích lũy từng chút từng chút mà thành. Ba la mật nhỏ tu nhiều rồi thì thành Ba la mật rộng lớn.

Siêng hành tinh tấn không biếng lười.” Phật tu pháp Ba la mật thì, không màng lớn nhỏ hoặc cao thấp đều tu hết, tức là pháp vi tế nhất cũng tu, tuyệt đối không bỏ qua. Phật tu lục độ Ba la mật thì, rất cẩn thận mà nhận chân, “không chê việc thiện nhỏ mà không làm, còn việc ác dù nhỏ cũng không làm.” Như thế trải qua thời gian dài lâu, mới tu đầy đủ các pháp Ba la mật, tức cũng là pháp đến bờ bên kia. Phật tu hành thì luôn luôn không giải đãi lười biếng, luôn luôn tinh tấn.

Hỷ Huệ biết được pháp môn này.” Hỷ Huệ Thiên Vương biết rõ ràng Ðức Phật tu pháp môn này.

Nghiệp tánh nhân duyên bất khả tư,        Nhân duyên tánh nghiệp không nghĩ bàn
Phật vi thế gian giai diễn thuyết,             Phật vì thế gian mà diễn nói
Pháp tánh bản tịnh vô chư cấu,                Pháp tánh vốn sạch không dơ bẩn
Thử thị Hoa Quang chi nhập xứ.             Môn này Hoa Quang thấu triệt được.

Nhân duyên tánh nghiệp không nghĩ bàn.” Tánh của ghiệp vốn chẳng có, vì chúng sinh vô minh cho nên sinh ra hoặc, hoặc sinh ra rồi thì tạo nghiệp. Khi hiểu biết thì tạo nghiệp thiện ; khi hồ đồ thì tạo nghiệp ác. Tạo nghiệp thiện thì có nhân duyên thiện ; tạo nghiệp ác thì có nhân duyên ác. Như vậy chẳng có pháp nhất định, không thể nói nhất định là như vầy, cũng không thể suy lường, chẳng phải một số người minh bạch được.

Phật vì thế gian mà diễn nói.” Phật vì tất cả chúng sinh thế gian, cho nên thường nói pháp nhân duyên tánh của nghiệp. Khiến cho chúng sinh minh bạch nguồn gốc tánh của nghiệp, nhân duyên gì thì sinh tánh nghiệp đó.

Pháp tánh vốn sạch không dơ bẩn.” Bất cứ pháp gì, bản tính của nó đều thanh tịnh, chẳng có dơ bẩn.

Môn này Hoa Quang thấu triệt được.” Hoa Quang Kế Thiên Vương, do cảnh giới này mà ngộ nhập đắc được môn giải thoát này.

Nhữ ưng quán Phật nhất mao khổng,       Hãy quán một lỗ lông của Phật
Nhất thiết chúng sanh tất tại trung,          Tất cả chúng sinh đều ở trong
Bỉ diệc Bất-lai diệc bất khứ,                      Ðó đây không đến cũng không đi
Thử phổ kiến Vương chi sở liễu.               Phổ Kiến Thiên Vương ngộ môn này.

Hãy quán một lỗ lông của Phật.” Bạn hãy quán sát kỹ càng trong mỗi lỗ chân lông của Phật có những gì ?

Tất cả chúng sinh đều ở trong.” Chỉ cần quán sát kỹ thì, sẽ thấy tất cả chúng sinh, đều ở trong lỗ lông của Phật, đó là đạo lý gì ?

Ðó đây không đến cũng không đi.” Chúng sinh cũng không đến trong lỗ chân lông Phật, Phật cũng chẳng đi bên cạnh chúng sinh. Nhưng chúng sinh đều xuất hiện ở trong lỗ lông của Phật, đó là cảnh giới không thể nghĩ bàn.
Phật cũng chẳng đến, chúng sinh cũng chẳng đến ; Phật cũng chẳng đi, chúng sinh cũng chẳng đi, nhưng cảnh giới này xuất hiện, cho nên nói đó đây chẳng đến cũng chẳng đi.

Phổ Kiến Thiên Vương ngộ môn này.” Cảnh giới này Phổ Kiến Thiên Vương thấy rõ mà đắc được môn giải thoát không thể nghĩ bàn này.

Phục thứ, Tri túc Thiên Vương, đắc nhất thiết Phật xuất hưng thế viên mãn giáo luân giải thoát môn
Lại nữa, Tri Túc Thiên Vương, được môn giải thoát, tất cả chư Phật xuất hiện ra đời, đều chuyển bánh xe pháp giáo lý viên mãn.

Vị Tri Túc Thiên Vương này thuộc về từng trời thứ tư (trời Ðâu Xuất) của dục giới, vị này biết tri túc cho nên thường an lạc. Không tri túc thì luôn luôn khổ. Như Bồ Tát Di Lặc, Ngài thường tri túc cho nên Ngài luôn luôn hoan hỷ, mở miệng liền cười chẳng có sầu lo. Do đó :”tâm rộng thể mập‘’, tôn dung của Ngài đầu to tai lớn, mặt đầy sự hoan hỷ vui cười, bụng to lớn, chịu đựng được những việc thiên hạ không thể chịu đựng được. Bất cứ ai biết tri túc thì dù nghèo cũng an vui. Nay có bài thơ tả về sự không biết đủ:

“Suốt ngày bận rộn chỉ vì đói
Vừa mới ăn no nghĩ áo quần
Cơm áo hai thứ đều đầy đủ
Lại mơ dung nhan người vợ đẹp

Hỏi được vợ đẹp sinh con cái
Hận không ruộng vườn ít đất đai
Tậu được nhiều ruộng lắm đất đai
Ra vào không kiệu chẳng ngựa cưỡi

Mua được một số lừa và ngựa
Lại than chẳng được làm quan bị người khinh
Ðược làm quan huyện hiềm còn nhỏ
Lại muốn làm vua trong thiên hạ.”

Ðó là hình dung của người tham lam không biết chán. Không bao giờ biết đủ.
Vị Thiên Vương này đắc được môn giải thoát : tất cả chư Phật trong mười phương ba đời, xuất hiện ra đời chuyển pháp luân giáo lý viên mãn.

Giáo lý viên mãn là gì ? Căn cứ theo Hiền Thủ Giáo thì phân làm : Tiểu giáo, thủy giáo, chung giáo, đốn giáo, viên giáo. Tiểu, thủy, chung ba giáo này là bán tự giáo. Ðốn, viên hai giáo này là viên mãn giáo. Căn cứ theo Thiên Thai Giáo thì phân làm tạng giáo, thông giáo, biệt giáo, viên giáo. Tạng, thông hai giáo này là bán tự giáo, biệt giáo là đối với bán tự giáo nói rõ mãn tự giáo, viên giáo là mãn tự giáo. Thiên Thai Giáo còn có đốn, tiệm, bí mật, bất định bốn giáo, đây là thuộc về bất viên giáo.

Những gì nói bây giờ là giáo lý viên mãn tức là viên giáo. Chuyển bánh xe pháp giáo lý viên mãn, tức là pháp đại thừa. Kinh điển đại thừa là gì ? Như : Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Pháp Hoa, Kinh Niết Bàn, Kinh Lăng Nghiêm, Kinh Lăng Già, Kinh Kim Cang, Kinh Di Ðà .v.v., đều là pháp đại thừa. Vị Thiên Vương này đắc được môn giải thoát chuyển bánh xe pháp giáo lý viên mãn.

Thiện lạc hải kế Thiên Vương, đắc tận hư không giới thanh Tịnh Quang minh thân giải thoát môn
Hỷ Lạc Hải Kế Thiên Vương, được môn giải thoát, thân thanh tịnh quang minh tận cõi hư không.

Vị Hỷ Lạc Hải Kế Thiên Vương này hoan hỷ và khoái lạc phi thường. Vị này đắc được cảnh giới, trí huệ thân thanh tịnh quang minh, tận cõi hư không, và còn hiểu được pháp thân của Phật, tận hư không khắp pháp giới, quang minh chiếu sáng khắp tất cả.

Tối thắng công đức tràng Thiên Vương, đắc tiêu diệt thế gian khổ tịnh nguyện hải giải thoát môn
Tối Thắng Công Ðức Tràng Thiên Vương, được môn giải thoát, biển nguyện thanh tịnh, tiêu diệt khổ của thế gian.

Vị Tối Thắng Công Ðức Tràng Thiên Vương này đầy đủ công đức thù thắng nhất, giống như tràng báu cho nên được tên này.

Khổ thế gian có ba sự khổ, tám sự khổ, vô lượng sự khổ, những sự khổ này không dễ gì tiêu diệt được. Nhưng vị Thiên Vương này tiêu diệt được những sự khổ này, còn phát nguyện thanh tịnh nhiều như nước trong biển, đó là môn giải thoát vị này đắc được. Nay giải thích ba sự khổ, tám sự khổ và vô lượng sự khổ. Ba sự khổ tức là khổ khổ, hoại khổ và hành khổ.

  1. Khổ khổ : Là khổ của người nghèo. Tuy nhiên ăn không được no, mặc không đủ ấm, nhưng vẫn có nhà để ở, một ngày nọ chẳng may bị cháy, không nhà để ở, đó là sự khổ trong sự khổ.
  2. Hoại khổ : Là khổ của người giàu. Buôn bán chẳng may bị thua lỗ, hoặc nhà cửa bị cháy, tài sản bị cháy sạch, hoặc bị trộm cướp, tất cả đều mất hết, đó là khổ về sự hủy hoại.
  3. Hành khổ : Chẳng phải khổ khổ của người nghèo, cũng chẳng phải hoại khổ của kẻ giàu, mà là khổ về sinh già bệnh chết của con người. Là con người đến lúc thì sinh già bệnh chết đều đến để tìm phiền não, chính mình chẳng làm chủ được, đó là hành khổ.

Tám sự khổ là sinh, già, bệnh, chết, ái biệt ly, oán tắng hội, cầu bất đắc, ngũ ấm xí thạnh.

  1. Khổ về sinh : Sinh khổ như thế nào ? Khi sinh ra thì giống như rùa bị lột mu, sự khổ không thể nói được.
  2. Khổ về già : Về già thì tai điếc, mắt mù, tay chân yếu ớt, bạn nói khổ chăng ?
  3. Khổ về bệnh : Bệnh thì toàn thân đau khổ, không tự tại, cũng rất khổ.
  4. Khổ về chết : Chết thì giống như bò bị lột da, khó mà tả được. Lúc này dù muốn niệm Phật, cũng niệm không ra. Cho nên lúc bình thường phải niệm Phật cho nhiều, huấn luyện thành tự nhiên, thành tập quán, đến khi lâm chung thì tâm miệng nhớ niệm Phật, không bị hoảng hốt.
  5. Khổ về ái biệt ly : Khi người thân sinh ly tử biệt là việc đau khổ nhất của con người.
  6. Khổ về ghét mà gặp nhau : Người mà bạn không thích, ghét mà thường gặp, đó cũng là một nỗi khổ.
  7. Khổ về cầu không được : Cầu tài không được tài, cầu danh không được danh, cầu con cái không được cũng khổ.
  8. Khổ về năm ấm xí thạnh : Sắc, thọ, tưởng, hành, thức năm ấm này giống như lửa lớn thiêu đốt, khiến cho bạn không được tự tại mát mẻ cũng là khổ.

Vô lượng khổ tức là khổ không nói hết được. Thế giới Ta Bà này đầy dẫy sự thống khổ, nhưng chúng sinh thế giới này lấy khổ làm vui, còn không muốn ra khỏi tam giới, thật đáng thương xót !

Tịch tĩnh quang Thiên Vương, đắc phổ hiện thân thuyết Pháp giải thoát môn
Tịch Tĩnh Quang Thiên Vương, được môn giải thoát, khắp hiện thân để thuyết pháp.

Vị Tịch Tĩnh Quang Thiên Vương này ở trong định phóng ra trí huệ quang minh, thấy Phật hiện thân khắp các nơi, vì chúng sinh mà thuyết pháp, đó là môn giải thoát của vị này đắc được.

Thiện mục Thiên Vương, đắc phổ tịnh nhất thiết chúng sanh giới giải thoát môn
Thiện Mục Thiên Vương, được môn giải thoát, tịnh khắp tất cả cõi chúng sinh.

Vị Thiện Mục Thiên Vương này, dùng mắt từ bi xem chúng sinh, rất có thiện duyên với chúng sinh. Vị này minh bạch đức Phật, khiến cho chúng sinh từ nhiễm ô chuyển thành thanh tịnh, từ ngu si chuyển thành trí huệ, từ kiêu ngạo chuyển thành khiêm nhường, từ tham sân chuyển thành từ bi, đó là môn giải thoát của vị này đắc được.

Bảo phong nguyệt Thiên Vương, đắc phổ hóa thế gian thường hiện tiền vô tận tạng giải thoát môn
Bảo Phong Nguyệt Thiên Vương, được môn giải thoát, vô tận tạng thường hiện tiền giáo hóa khắp thế gian.

Vị Bảo Phong Nguyệt Thiên Vương hiểu đức Phật giáo hóa khắp tất cả chúng sinh thế gian, thường hiện ở trước mặt chúng sinh, dùng pháp môn vô tận tạng để giáo hóa chúng sinh vô tận, đó là môn giải thoát của vị này đắc được.

Dũng kiện lực Thiên Vương, đắc khai thị nhất thiết Phật chánh giác cảnh giới giải thoát môn
Dũng Kiện Lực Thiên Vương, được môn giải thoát, khai thị tất cả cảnh giới thành Chánh Giác của chư Phật.

Vị Dũng Kiện Lực Thiên Vương này rất dũng mãnh và cường kiện, sức lực của vị này hàng phục được tất cả thiên ma ngoại đạo, đắc được môn giải thoát cảnh giới tất cả Phật thành chánh giác. Phật tu thành chánh giác như thế nào ? Khi vị Phật này thành chánh giác, có cảnh giới gì ? Vị Phật kia thành chánh giác, có cảnh giới gì ? Vị Thiên Vương này đều hiểu rõ.

Kim cương diệu quang Thiên Vương, đắc kiên cố nhất thiết chúng sanh Bồ-đề tâm lệnh bất khả hoại giải thoát môn
Kim Cang Diệu Quang Thiên Vương, được môn giải thoát, khiến tâm bồ đề của tất cả chúng sinh, kiên cố không thể hoại.

Vị Kim Cang Diệu Quang Thiên Vương phát bồ đề tâm kiên cố như kim cang, vĩnh viễn không thối bồ đề tâm. Và có diệu quang kim cang trí huệ, vị này đắc được chư Phật kiên cố tất cả bồ đề tâm chúng sinh, khiến cho không thối chuyển, bồ đề tâm này kiên cố như kim cang, chẳng có cách chi có thể phá hoại, đó là môn giải thoát của vị này đắc được.

Tinh tú tràng Thiên Vương, đắc nhất thiết Phật xuất hưng hàm thân cận quan sát điều phục chúng sanh phương tiện giải thoát môn
Tinh Tú Tràng Thiên Vương, được môn giải thoát, tất cả chư Phật xuất hiện ra đời, đều gần gũi quán sát phương tiện điều phục chúng sinh.

Vị Tinh Tú Tràng Thiên Vương này, đắc được cảnh giới tất cả chư Phật xuất hiện ra đời, thì đều gần gũi chư Phật, để nghe pháp và quán sát pháp của chư Phật tu hành. Chúng sinh khó điều khó phục, nhưng tất cả chư Phật điều phục được tất cả chúng sinh cang cường, dùng đủ thứ phương tiện pháp môn để điều phục, khiến cho chúng sinh cải ác hướng thiện, chí công vô tư, đó là môn giải thoát của vị Thiên Vương này đắc được.

Diệu trang nghiêm Thiên Vương, đắc nhất niệm tất tri chúng sanh tâm tùy ky ưng hiện giải thoát môn.
Diệu Trang Nghiêm Thiên Vương, được môn giải thoát, tùy cơ ứng hiện, một niệm biết được tâm chúng sinh.

Vị Diệu Trang Nghiêm Thiên Vương vừa trang nghiêm vừa vi diệu, vị này minh bạch được chư Phật trong khoảng một niệm, biết được tâm chúng sinh, tùy sở thích của chúng sinh mà hiện thân, vì chúng sinh thuyết pháp, giáo hóa chúng sinh, khiến cho chúng sinh, toại tâm mãn nguyện, đó là môn giải thoát của vị này đắc được.

Nhĩ thời, Tri túc Thiên Vương, thừa Phật uy lực, phổ quán nhất thiết Tri túc Thiên chúng nhi thuyết tụng ngôn
Bấy giờ, Tri Túc Thiên Vương nương oai lực của Ðức Phật, quán sát khắp tất cả Thiên chúng trời Tri Túc mà nói kệ rằng.

Lúc đó, vị Tri Túc Thiên Vương, nương đại oai đức thần thông lực của chư Phật, quán sát khắp tất cả Thiên chúng trời Tri Túc (trời Ðâu Xuất) mà nói kệ rằng :

Như Lai quảng đại biến Pháp giới,           Như Lai rộng lớn khắp pháp giới
Ư chư chúng sanh tất bình đẳng,              Nơi các chúng sinh đều bình đẳng
Phổ ưng quần Tình xiển diệu môn,           Ứng khắp quần sinh xiển diệu môn
Lệnh nhập nan tư thanh tịnh Pháp.         Khiến vào pháp thanh tịnh khó lường.

Như Lai rộng lớn khắp pháp giới.” Pháp thân của Phật rộng lớn cho nên đến khắp pháp giới.

Nơi các chúng sinh đều bình đẳng.” Tuy nhiên pháp thân của Phật đến khắp pháp giới, nhưng đều bình đẳng với tất cả chúng sinh, do đó :”Tâm, Phật, chúng sinh, cả ba không khác biệt.”

Ứng khắp quần sinh xiển diệu môn.” Ứng khắp căn cơ của chúng sinh, để nói rõ tất cả pháp môn vi diệu không thể nghĩ bàn.

Khiến vào pháp thanh tịnh khó lường.” Khiến cho tất cả chúng sinh, nhập vào trong pháp môn thanh tịnh không thể nghĩ bàn, đắc được khoái lạc vô thượng, đắc được đại giác viên mãn, đó là bản hoài của tất cả chư Phật.

Phật thân phổ hiện ư thập phương,          Thân Phật hiện khắp trong mười phương
Vô Trước vô ngại bất khả thủ,                  Vô trước vô ngại không thể lấy
Chủng chủng sắc tượng thế hàm kiến,      Ðủ thứ sắc tướng thảy đều thấy
Thử hỉ kế Thiên chi sở nhập.                     Hỷ Kế Thiên Vương được môn này.

Thân Phật hiện khắp trong mười phương.” Pháp thân của Phật, hiện khắp cõi nước chư Phật trong mười phương, để giáo hóa tất cả chúng sinh, khiến cho tất cả chúng sinh, phát vô thượng bồ đề tâm, thành vô thượng bồ đề quả.
Ðức Phật chẳng phải cố ý biểu hiện thần thông, mà là vì giáo hóa tất cả chúng sinh, khiến cho họ sớm thành Phật đạo, cho nên mới thị hiện đủ loại thần thông diệu dụng không thể nghĩ bàn.

Vô trước vô ngại không thể lấy.” Tuy nhiên Phật thị hiện thần thông diệu dụng, nhưng chẳng chấp trước về thần thông diệu dụng, cũng chẳng chấp trước về chân không và cũng không ngại diệu hữu, do đó :

“Vô trước nơi chân không, cho nên có diệu dụng ;
Vô ngại nơi diệu dụng, cho nên có chân không.”

Chân không diệu hữu là không thể lấy không thể bỏ, tức là giữ lấy chẳng đặng mà xả cũng chẳng đặng, đó là cảnh giới chân không diệu hữu

Ðủ thứ sắc tướng thảy đều thấy.” Vì quan hệ diệu hữu, cho nên Phật có ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, chúng sinh thế gian đều có thể nhìn thấy được.

Hỷ Kế Thiên Vương được môn này.” Cảnh giới môn giải thoát này, vị Hỷ Lạc Hải Kế Thiên Vương đắc được.

Như Lai vãng tích tu chư hạnh,                Quá khứ Như Lai tu các hạnh
Thanh tịnh đại nguyện thâm như hải,      Thanh tịnh đại nguyện sâu như biển
Nhất thiết Phật Pháp giai lệnh mãn,         Tất cả Phật pháp đều đầy đủ
Thắng đức năng tri thử phương tiện.        Thắng Ðức Thiên Vương ngộ môn này.

Quá khứ Như Lai tu các hạnh.” Phật tại nhân địa tu lục độ vạn hạnh, tu tất cả các pháp môn. Vì hành Bồ tát đạo, đã từng bố thí sinh mạng của mình, chỉ cần tất cả chúng sinh, cần tất cả mọi sự thì Phật đều bố thí, tuyệt đối không xan tham.

Thanh tịnh đại nguyện sâu như biển.” Phật tại nhân địa tu đủ thứ hạnh môn, để lợi ích chúng sinh và còn phát đại nguyện thanh tịnh để hóa độ chúng sinh. Ðại nguyện thanh tịnh tức là, chẳng còn một chút tâm dục niệm, tức cũng là đoạn dục khử ái. Nguyện đời đời kiếp kiếp xuất gia tu hành, tu giới tu định tu huệ, xa rời tất cả pháp nhiễm ô. Nguyện lực của Phật sâu rộng như biển, cao như núi Tu Di.

Tất cả Phật pháp đều đầy đủ.” Vì đại nguyện sâu hơn biển cả, cao hơn núi, cho nên tất cả Phật pháp, đều đầy khắp thế gian, để giáo hóa tất cả chúng sinh. Phật đắc được Phật pháp viên mãn, cũng dạy chúng sinh đắc được Phật pháp viên mãn, đó là biểu hiện đại từ đại bi của Phật.

Thắng Ðức Thiên Vương ngộ môn này.” Vị Tối Thắng Công Ðức Tràng Thiên Vương biết được pháp môn phương tiện này, đó là cảnh giới không thể nghĩ bàn.

Như Lai pháp thân bất tư nghị,                Pháp thân Như Lai không nghĩ bàn
Như ảnh phần hình đẳng Pháp giới,         Như bóng phân hình đồng pháp giới
Xứ xứ xiển minh nhất thiết pháp,             Nơi nơi xiển minh tất cả pháp
Tịch tĩnh quang Thiên giải thoát môn.     Tịch Tĩnh Quang Thiên chứng môn này.

Pháp thân Như Lai không nghĩ bàn.” Pháp thân của Phật không thể suy nghĩ, không thể luận bàn. Tại sao ? Vì pháp thân khắp tất cả mọi nơi.

Như bóng phân hình đồng pháp giới.” Giống như bóng với hình, đầy khắp pháp giới, khắp nơi đều có pháp thân của Phật. Do đó, pháp thân của Phật vô tại vô bất tại. Cảnh giới này, phàm phu chúng ta không thể hiểu biết được.

Nơi nơi xiển minh tất cả pháp.” Pháp thân của Phật đến khắp mọi nơi, để xiển minh tất cả các pháp, khiến cho chúng sinh minh bạch tất cả các pháp.

Tịch Tĩnh Quang Thiên chứng môn này.” Môn giải thoát này vị Tịch Tĩnh Quang Thiên Vương đắc được.

Chúng sanh nghiệp hoặc sở triền phước, Chúng sinh bị nghiệp hoặc ràng buộc
Kiêu mạn phóng dật tâm trì đãng,            Kiêu mạn phóng dật tâm buông lung
Như Lai vi thuyết tịch tĩnh pháp,     Như Lai vì nói pháp tịch tĩnh
Thiện mục chiếu tri tâm hỉ khánh.            Thiện Mục thấu rõ pháp môn này.

Chúng sinh bị nghiệp hoặc ràng buộc.” Chúng sinh : khởi hoặc, tạo nghiệp, cho nên phải chịu quả báo. Giống như bị dây thừng trói buộc, không thể động đậy và giống như ở trong lu, bị đậy nắp lại không thể động đậy được.

Kiêu mạn phóng dật tâm buông lung.” Kiêu là kiêu mạn, mạn là ngã mạn. Kiêu ngạo là khinh khi người, chẳng coi ai ra gì, ngã mạn là chẳng có lễ phép. Phóng dật là không giữ quy cụ. Ba hành vi không chánh đáng này, khiến cho tâm thần lêu lổng. Phật dạy chúng sinh phải thu tâm lại, tâm đừng chạy bên ngoài, đừng lêu lổng, phải xa rời ba tư tưởng không chánh đáng này.

Như Lai vì nói pháp tịch tĩnh.” Làm thế nào để từ bỏ tư tưởng kiêu ngạo, ngã mạn và phóng dật ? Phật vì chúng sinh nói pháp tịch tĩnh, đó là thuốc rất hiệu nghiệm, tiêu diệt ba thứ tư tưởng không tốt này.

Thiện Mục thấu rõ pháp môn này.” Ðó là cảnh giới môn giải thoát vị này đắc được.

Nhất thiết thế gian chân Đạo sư,               Tất cả chân đạo sư thế gian
Vì cứu vi quy nhi xuất hiện,                       Vì cứu chúng sinh mà xuất hiện
Phổ thị chúng sanh an lạc xứ,                   Khiến khắp chúng sinh được an lạc
Phong nguyệt ư thử năng thâm nhập.       Phong Nguyệt thâm nhập pháp môn này.

Tất cả chân đạo sư thế gian.” Thế gian chẳng phải là một, mà là có vô lượng vô biên thế gian, cho nên nói tất cả thế gian. Trong tất cả thế gian phân làm ba thế gian :

  1. Chánh giác thế gian : Tức là lúc Phật còn tại thế.
  2. Khí thế gian : Tức là sơn hà đại địa, tức cũng là y báo.
  3. Chúng sinh thế gian : Tức là thế giới chúng sinh ở, tức là chánh báo.

Còn có lối nói khác, phân ra thế gian này, thế gian kia và vô lượng các thế gian. Thế giới này, thế giới kia và vô lượng thế giới. Quốc độ này, quốc độ kia và vô lượng các quốc độ, đó cũng gọi là tất cả thế gian.

Chân đạo sư tức là đạo sư chỉ dẫn chân chánh, cũng là đạo sư chân chánh hiểu biết tất cả chân lý, chẳng có tâm ích kỷ tự lợi, là đại công vô tư, đại từ bình đẳng, giáo hóa hết thảy tất cả chúng sinh, bất cứ là thiện hay ác đều chẳng có tâm phân biệt, đều giáo hóa bình đẳng. Chúng sinh thiện thì khiến cho họ thiện căn tăng trưởng, chúng sinh ác thì khiến cho họ cải ác hướng thiện. Ðức Phật chẳng bỏ một chúng sinh nào, cho nên mới là đạo sư chân chánh.

Phật là Ðạo sư xuất thế gian, hướng dẫn bạn từ con đường đen tối chỉ dẫn đến con đường ánh sáng, khiến cho vô minh phiền não của bạn thành bồ đề trí huệ, khiến cho bạn bỏ mê về giác, bỏ tà theo chánh, cho nên là chân chánh đại đạo sư.

Vì cứu chúng sinh mà xuất hiện.” Phật xuất hiện ra đời, là vì cứu độ tất cả chúng sinh lìa khổ được vui, liễu sinh thoát tử, khiến cho tất cả chúng sinh, đắc được chánh giác, đạt được Niết Bàn. Trong Kinh Pháp Hoa có nói : “Phật vì một đại sự nhân duyên mà xuất hiện ra đời.” Ðại sự nhân duyên đó là : sinh tử của chúng sinh. Phật vì sinh tử của chúng sinh mà đến thế giới này.

Khiến khắp chúng sinh được an lạc.” Phật độ tất cả chúng sinh, không riêng gì chúng sinh thiện mới độ, mà chúng sinh ác cũng đều độ họ, khiến cho tất cả đều bỏ mê về giác, bỏ tà về chánh. An lạc tức là chẳng có tham sân si tất cả phiền não. Khi đắc được an lạc chân chánh thì sinh ra giới tâm, định tâm và huệ tâm.

Phong Nguyệt thâm nhập pháp môn này.” Bảo Phong Nguyệt Thiên Vương minh bạch môn giải thoát này.

Chư Phật cảnh giới bất tư nghị,                Cảnh giới chư Phật không nghĩ bàn
Nhất thiết pháp giới giai chu biến,            Ðều bao khắp tất cả pháp giới
Nhập ư chư Pháp đáo bỉ ngạn,                  Vào nơi các pháp đến bờ kia
Dũng tuệ kiến thử sanh hoan hỉ.               Dũng Huệ chứng ngộ sinh vui mừng.

Cảnh giới chư Phật không nghĩ bàn.” Cảnh giới của mười phương chư Phật diệu không thể tả, chẳng phải phàm phu hiểu biết được. Cảnh giới này tuy nhiên không thể nghĩ bàn, nhưng không ra ngoài một niệm tâm hiện tiền.

Ðều bao khắp tất cả pháp giới.” Pháp giới rộng lớn phi thường, lớn mà không ở ngoài. Pháp giới cực nhỏ phi thường, nhỏ mà không ở trong. Tất cả pháp giới tức là tất cả chúng sinh, tất cả chúng sinh tức là tất cả pháp giới. Quang minh của Phật chiếu khắp tất cả pháp giới, mỗi chúng sinh đều tiếp thọ được quang minh của Phật chiếu sáng, khiến cho chúng sinh hiểu được nghĩa lý các pháp, y theo pháp mà tu hành.

Vào nơi các pháp đến bờ kia.” Nếu y theo pháp tu hành, thì sẽ đạt đến bờ bên kia không sinh không diệt. Từ tâm tham biến thành bố thí, bèn đạt đến bờ bên kia bố thí. Từ không giữ giới mà giữ giới được, bèn đạt đến bờ bên kia giới luật. Nguồn gốc tâm nóng giận quá lớn, vì tâm sân hận quá nặng, khi hiểu Phật pháp rồi thì tu pháp môn nhẫn nhục ; nhẫn nhục thì đối trị tâm sân hận. Tâm sân hận chẳng còn, thì đạt được bờ bên kia nhẫn nhục. Nguồn gốc rất lười biếng, việc gì cũng chẳng muốn làm, khi hiểu Phật pháp rồi, thì tinh tấn không giải đãi, tức là đạt được bờ bên kia tinh tấn. Nguồn gốc chẳng muốn ngồi thiền vì lưng ê chân đau phát chán nản, khi hiểu Phật pháp rồi thì tự động muốn tu thiền định, tức là đạt được bờ bên kia thiền định. Nguồn gốc rất ngu si, không rõ lý sự, khi hiểu Phật pháp rồi thì siêng tụng Kinh điển, nghiên cứu tạng luận, đắc được trí huệ, đó là bờ bên kia trí huệ.

Dũng Huệ chứng ngộ sinh vui mừng.” Vị Dũng Huệ Kiến Thiên Vương minh bạch được cảnh giới này, cho nên trong tâm sinh ra đại hoan hỷ.

Nhược hữu chúng sanh kham thọ hóa,       Nếu có chúng sinh đáng được độ
Văn Phật công đức thú Bồ-đề,                   Nghe công đức Phật phát bồ đề
Lệnh trụ phước hải thường thanh tịnh,    Trụ ở biển phước thường thanh tịnh
Diệu quang ư thử năng quan sát.              Diệu Quang quán thấy pháp môn này.

Nếu có chúng sinh đáng được độ.” Nếu như có chúng sinh, đáng được sự giáo hóa của Phật, thì khiến cho họ, tiếp thọ được sự giáo hóa của Phật. Những chúng sinh không đáng được độ, tức là chúng sinh phạm ngũ nghịch mười điều ác. Ngũ nghịch tức là: Giết cha, giết mẹ, giết A La Hán, làm thân Phật chảy máu, phá hòa hợp Tăng. Mười điều ác tức là : Sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, thêu dệt, hai lưỡi, chưởi mắng, tham dục, sân hận, ngu si. Những loại chúng sinh này không kham thọ được sự giáo hóa.

Nghe công đức Phật phát bồ đề.” Những chúng sinh kham thọ sự giáo hóa, khi nghe công đức của Phật, thì đều phát tâm bồ đề, trên cầu Phật đạo, dưới độ muôn loài. Phật khiến cho những chúng sinh phát bồ đề tâm, vĩnh viễn không sinh tâm thối chuyển.

Trụ ở biển phước thường thanh tịnh.” Phật khiến cho họ trụ ở trong biển phước, luôn luôn đắc được thanh tịnh, chẳng có tư tưởng nhiễm ô.

Diệu Quang quán thấy pháp môn này.” Vị Kim Cang Diệu Quang Thiên Vương quán sát và minh bạch được cảnh giới môn giải thoát này.

Thập phương sát hải vi trần số,                Mười phương cõi nước số hạt bụi
Nhất thiết Phật sở giai vãng tập,               Hết thảy đều tụ nơi chư Phật
Cung kính cúng dường thính văn Pháp,   Cung kính cúng dường nghe Phật pháp
Thử trang nghiêm tràng chi sở kiến.         Trang Nghiêm Tràng thấy rõ môn này.

Mười phương cõi nước số hạt bụi.” Mười phương tức là : Ðông, tây, nam, bắc, tứ duy, thượng, hạ. Mười phương cõi nước chư Phật nhiều như số hạt bụi, cho nên gọi là cõi nước số hạt bụi. Thế giới mà chúng ta đang ở, chỉ là một hạt bụi trong thế giới mà thôi. Ngoài ra các thế giới khác, số lượng không cách chi mà tính đếm được. Trong một số Kinh điển đều dùng Hằng hà sa số (số cát sông Hằng) để đại biểu, bổn Kinh này dùng số hạt bụi để đại biểu. Tên gọi tuy chẳng giống, nhưng ý nghĩa đều giống nhau.

Tất cả đều tụ nơi chư Phật.” Những bậc Bồ Tát đều tụ tập nơi chỗ Ðức Phật.

Cung kính cúng dường nghe Phật pháp.” Mười phương chư Phật trong mười phương thế giới, nói pháp không điên đảo, tất cả chúng sinh nghe Phật nói pháp không điên đảo rồi, liền minh bạch pháp không điên đảo. Pháp không điên đảo là gì ? Tức là pháp phá vô minh. Nếu phá được vô minh thì dứt được tập khí phiền não, chẳng còn điên đảo nữa. Vì có vô minh mà sinh hoặc, sinh hoặc thì đi tạo đủ thứ nghiệp, sau đó thì thọ đủ thứ quả báo, đó là khởi hoặc tạo nghiệp thọ quả báo.

Trang Nghiêm Tràng thấy rõ môn này.” Tất cả chúng sinh đến chỗ chư Phật để nghe pháp, cung kính Phật, cúng dường Phật, cảnh giới này vị Trang Nghiêm Tràng Thiên Vương thấy rõ.

Chúng sanh tâm hải bất tư nghị,               Biển tâm chúng sinh không nghĩ bàn
Vô trụ vô động vô y xứ,                              Không trụ không động không chỗ nương
Phật ư nhất niệm giai minh kiến,              Phật trong một niệm đều thấy rõ
Diệu trang nghiêm Thiên tư thiện liễu.     Diệu Trang Nghiêm Thiên ngộ môn này.

Biển tâm chúng sinh không nghĩ bàn.” Chúng sinh tức là chúng duyên giả hợp mà sinh. Có rất nhiều giống loài, mỗi loài có nhân duyên của mỗi loài mà sinh. Thông thường có bốn thứ sinh :

  1. Sinh bằng thai, như loài thú đi bằng bốn chân.
    2. Sinh bằng trứng, như phi cầm hai chân.
    3. Sinh bằng ẩm thấp như loại côn trùng.
    4. Sinh bằng biến hóa như bươm bướm.

Con người thì sinh bằng thai. Người trời thì hóa sinh, chúng sinh cõi Cực Lạc Thế Giới là hóa sinh trên hoa sen, chúng sinh địa ngục là nghiệp cảm hóa sinh.

Nói rộng hơn, chúng sinh có chín loài :
1. Thai sinh.
2. Noãn sinh.
3. Thấp sinh.
4. Hóa sinh.
5. Có sắc.
6. Không sắc.
7. Có tưởng.
8. Không tưởng.
9. Chẳng có tưởng chẳng không tưởng.

Trong Kinh Lăng Nghiêm, tám loài đồng như ở trên, riêng còn vài loài nữa là : Chẳng có sắc, chẳng không sắc, chẳng có tưởng, chẳng không tưởng, cộng thành mười hai loài. Thật ra đại đồng tiểu dị, nội dung chẳng khác mấy. Tâm chúng sinh như biển cả, không thể nghĩ bàn. Pháp giới tuy lớn nhưng không ra ngoài tâm của chúng sinh. Tâm chúng sinh tuy nhỏ, nhưng bao khắp pháp giới. Vì quan hệ như vậy cho nên nói : Tâm pháp, Phật pháp, chúng sinh pháp chẳng có sự khác nhau. Pháp giới lớn, tâm lượng chúng sinh cũng lớn, Phật tánh cũng lớn, cho nên biển tâm của chúng sinh, chẳng có cách chi dùng ngôn ngữ để diễn đạt. Vì nó không thể suy nghĩ, không thể luận bàn.

Không trụ không động không chỗ nương.” Tâm chúng sinh chẳng chấp trước trụ vào chỗ nào. Trong Kinh Kim Cang nói:

“Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm,” tâm là như như bất động, liễu liễu thường minh. Bát nhã trí huệ vốn hiện tiền, tâm chẳng có một xứ sở nào. Vì tâm là vô trụ vô bất trụ.

Phật Trong một niệm Phật đều thấy rõ.” Phật ở trong một niệm đều biết và thấy rõ tất cả mọi tâm niệm, mọi tư tưởng của chúng sinh.

Diệu Trang Nghiêm Thiên ngộ môn này.” Cảnh giới này vị Diệu Trang Nghiêm Thiên Vương minh bạch được.

Phục thứ, thời phần Thiên Vương, đắc phát khởi nhất thiết chúng sanh thiện căn lệnh vĩnh ly ưu não giải thoát môn
Lại nữa, Thời Phần Thiên Vương, được môn giải thoát, phát khởi căn lành của tất cả chúng sinh, khiến cho họ vĩnh viễn lìa khỏi ưu bi khổ não.

Nay giảng tiếp theo. Vị Thời Phần Thiên Vương thuộc về dục giới, từng trời thứ ba (trời Dạ Ma). Vị này khiến cho chúng sinh, sinh khởi căn lành, và làm cho chúng sinh thoát khỏi ưu sầu phiền não, cải tà quy chánh, bỏ ác hướng thiện, bỏ mê về giác, thì vĩnh viễn lìa khỏi ưu bi khổ não, đó là môn giải thoát của vị Thiên Vương này đắc được.

Diệu quang Thiên Vương, đắc phổ nhập nhất thiết cảnh giới giải thoát môn
Diệu Quang Thiên Vương, được môn giải thoát, vào khắp tất cả cảnh giới.

Vị Diệu Quang Thiên Vương đắc được tất cả phương tiện pháp môn, vào khắp tất cả cảnh giới trong mười phương cõi nước. Vị này không những thấy rõ cảnh giới của chư Phật và cảnh giới của chúng sinh, mà còn nhập vào cảnh giới này, nhưng không bị cảnh giới chuyển, cũng chẳng tùy thuận cảnh giới, có định lực mà chẳng động tâm, đó là môn giải thoát của vị này đắc được.

Vô tận tuệ công đức tràng Thiên Vương, đắc diệt trừ nhất thiết hoạn đại bi luân giải thoát môn
Vô Tận Huệ Công Ðức Tràng Thiên Vương, được môn giải thoát, đại bi luân diệt trừ tất cả hoạn nạn.

Vị Vô Tận Huệ Công Ðức Tràng Thiên Vương này, trí huệ không cùng tận và công đức như tràng báu. Vị này diệt trừ tất cả hoạn nạn như bệnh hoạn, tai hoạn, họa hoạn, hỏa hoạn, thủy hoạn, phong hoạn .v.v.

Và còn có một thứ hoạn nữa đó là tâm hoạn, tức là hoạn được hoạn mất. Nếu không được vật mong muốn thì, nghĩ hết biện pháp để chiếm cho được đó là hoạn được. Ðã được rồi thì lại sợ mất đó là hoạn mất. Vị Thiên Vương này dùng đại bi luân, đến khắp tất cả chỗ hoạn nạn. Nơi nào mà có hoạn nạn thì, có vị này dùng đại bi luân đi diệt trừ. Ðại bi luân tức là tâm đại bi. Vị này dùng tâm đại bi đi cứu tất cả khổ hoạn nạn của chúng sinh, đó là môn giải thoát của vị này đắc được.

Thiện hóa đoan nghiêm Thiên Vương, đắc liễu tri tam thế nhất thiết chúng sanh tâm giải thoát môn
Thiện Hóa Ðoan Nghiêm Thiên Vương được môn giải thoát, biết rõ tất cả tâm của chúng sinh trong ba đời.

Vị Thiện Hóa Ðoan Nghiêm Thiên Vương, khéo về sự giáo hóa và rất đoan chánh trang nghiêm, mắt chẳng nhìn xiên, tai chẳng nghe lệch, khi ngồi thì ngay ngắn, đi thì uy nghiêm. Dùng phương pháp quyền xảo phương tiện, để giáo hóa tất cả chúng sinh, và còn biết rõ tất cả tâm chúng sinh trong ba đời nào là thiện, là ác, tham, sân, si, bất cứ tâm gì, vị này đều biết rõ, không những biết một đời mà còn biết ba đời, đó là môn giải thoát mà vị này đắc được.

Tổng trì đại quang minh Thiên Vương, đắc đà-la-ni môn quang minh ức trì nhất thiết pháp vô vong thất giải thoát môn
Tổng Trì Ðại Quang Minh Thiên Vương, được môn giải thoát, Ðà la ni quang minh, ghi nhớ tất cả các pháp không quên mất.

Vị Tổng Trì Ðại Quang Minh Thiên Vương, có đại trí huệ, đại quang minh, tổng tất cả các pháp, trì vô lượng nghĩa. Bất cứ việc gì, không cần ép phải nhớ, chỉ cần qua tai mắt, thì vĩnh viễn không bao giờ quên. Vị này đắc được cảnh giới môn Ðà la ni quang minh. Ghi nhớ giống như dùng tay cầm vật gì, nhớ rất rõ ràng, không quên. Ghi nhớ tất cả các pháp, tức là sắc pháp, tâm pháp, tâm sở pháp, bất tương ưng pháp, vô vi pháp. Những pháp này đều nhớ hết không quên. Làm thế nào để không quên mất ? Tức là xem Kinh điển cho nhiều, nghiên cứu Kinh điển, lâu dần thì tự nhiên sẽ khai mở đại trí huệ, đó là môn giải thoát của vị này đắc được.

Bất tư nghị tuệ Thiên Vương, đắc thiện nhập nhất thiết nghiệp tự tánh bất tư nghị phương tiện giải thoát môn
Bất Tư Nghì Huệ Thiên Vương, được môn giải thoát, phương tiện không nghĩ bàn, khéo vào tự tánh của tất cả nghiệp.

Vị Bất Tư Nghì Huệ Thiên Vương, có trí huệ không thể nghĩ bàn, giáo hóa tất cả chúng sinh, khiến cho tất cả chúng sinh, cũng đắc được trí huệ không thể nghĩ bàn. Vị này đắc được một thứ tam muội, dùng đủ thứ phương tiện pháp môn, để giáo hóa tất cả chúng sinh, khiến cho họ phát bồ đề tâm, tu hạnh Bồ Tát. Ðều từ trong tự tánh sinh ra. Phương tiện pháp môn này khéo nhập vào tất cả nghiệp, để giáo hóa chúng sinh.

Luân tề Thiên Vương, đắc chuyển pháp luân thành thục chúng sanh phương tiện giải thoát môn
Luân Tề Thiên Vương, được môn giải thoát, phương tiện chuyển bánh xe pháp, để thành thục chúng sinh.

Vị Luân Tề Thiên Vương hiểu biết cảnh giới của đức Phật, chuyển bánh xe pháp giáo hóa chúng sinh. Chuyển bánh xe pháp, tức là giảng Kinh thuyết pháp, khiến cho chúng sinh thành quả vị Phật, đắc được vô thượng chánh đẳng chánh giác. Vị này muốn khiến cho chúng sinh đắc được quả vị Phật vô thượng chánh đẳng chánh giác, cho nên trước dùng phương tiện pháp môn, quyền xảo phương tiện từ bi cứu độ, để giáo hóa chúng sinh.

Quang diệm Thiên Vương, đắc quảng đại nhãn phổ quán chúng sanh nhi vãng điều phục giải thoát môn
Quang Diệm Thiên Vương được môn giải thoát, mắt rộng lớn quán sát khắp chúng sinh, mà đến điều phục.

Vị Quang Diệm Thiên Vương có quang minh màu lửa ngọn, do trí huệ mà thành tựu. Vị này đắc được mắt trí huệ rộng lớn. Mắt trí huệ này sinh ra ở chỗ nào ? Ở tại mỗi lỗ chân lông, cho nên vị này quán sát được khắp hết thảy chúng sinh, thấy chúng sinh nào cơ duyên thành thục thì, đến giáo hóa chúng sinh đó, khiến cho họ phát bồ đề tâm, chứng vô thượng đạo. Vị này quán sát mỗi chúng sinh khi nào độ được, thì lúc đó sẽ đến độ. Chúng sinh nào nên dùng thân gì để độ được, thì hiện thân đó để thuyết pháp.
Ví như, nên dùng thân Phật để độ được, thì hiện thân Phật để thuyết pháp cho họ nghe. Nên dùng thân Bồ Tát độ được, thì hiện thân Bồ Tát để thuyết pháp. Nên dùng thân A La Hán để độ được, thì hiện thân A La Hán để thuyết pháp. Nên dùng thân Ðế thích, tể tướng, trưởng giả, Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, cư sĩ nam, cư sĩ nữ .v.v., độ được thì hiện các thứ thân để thuyết pháp. Cho nên vị này quán cơ đầu giáo, vì người thuyết pháp, dùng đủ thứ phương tiện pháp môn, để điều phục chúng sinh, khiến cho chúng sinh bỏ tà về chánh, đó là môn giải thoát của vị này đắc được.

Quang chiếu Thiên Vương, đắc siêu xuất nhất thiết nghiệp chướng bất tùy ma sở tác giải thoát môn
Quang Chiếu Thiên Vương, được môn giải thoát, vượt khỏi tất cả nghiệp chướng, không thuận theo chỗ làm của ma.

Vị Quang Chiếu Thiên Vương này, phóng đại quang minh, chiếu sáng ba ngàn đại thiên thế giới, cho nên không tùy thuận theo chỗ của ma. Ma thuộc về đen tối, nhưng đại quang minh phá trừ đen tối. Vị này đắc được môn giải thoát vượt khỏi tất cả nghiệp chướng.

Tất cả nghiệp chướng có báo chướng và phiền não chướng. Nghiệp chướng tức là tạo tất cả nghiệp ác làm chướng ngại tâm tu đạo. Báo chướng tức là nghiệp đã tạo ra phải thọ quả báo, quả báo này cũng chướng ngại sự tu đạo. Làm súc sinh thì không dễ gì nghe Kinh nghe pháp, làm ngạ quỷ thì càng không dễ gì nghe được Phật pháp, những loại chúng sinh này không dễ gì tu đạo. Phiền não chướng tức là người tu đạo phiền não quá nhiều, cũng sẽ chướng ngại sự tu đạo. Tất cả chướng này đều gần với ma, nếu không cẩn thận thì sẽ lạc vào đường ma.

Vị Thiên Vương này dùng trí huệ để chiếu soi, chiến thắng ma quân, không tùy thuận chỗ làm của ma. Ma vương dạy đừng bố thí, nhưng vị này nhất quyết bố thí. Ma vương dạy đừng trì giới, nhưng vị này nhất định phải trì giới. Ma vương dạy đừng tinh tấn, vị này nhất định phải tinh tấn. Ma vương dạy nóng giận, nhưng vị này nhất định phải nhẫn nhục. Ma vương dạy đừng chuyển bánh xe pháp, vị này nhất định phải chuyển bánh xe pháp. Ma vương dạy đừng tham thiền, vị này nhất định tham thiền. Tóm lại, vị này không chuyển theo ma cảnh, đó là môn giải thoát của vị này đắc được.

Phổ quan sát Đại danh xưng Thiên Vương, đắc thiện dụ hối nhất thiết chư Thiên Chúng lệnh thọ hành tâm thanh tịnh giải thoát môn.
Phổ Quán Sát Ðại Danh Xưng Thiên Vương, được môn giải thoát, khéo dạy bảo tất cả các Thiên chúng, khiến cho họ tâm được thanh tịnh.

Vị Phổ Quán Sát Ðại Danh Xưng Thiên Vương quán sát khắp hết thảy tất cả các Thiên chúng. Vì tất cả các Thiên chúng quá sung sướng, dễ quên tu hành, cho nên vị Thiên Vương này dùng đủ thứ phương tiện pháp môn để dẫn dụ tất cả Thiên chúng, khiến cho họ hiểu Phật pháp, dạy bảo các Thiên chúng tiếp thọ Phật pháp, nhận chân tu hành, sinh tâm thanh tịnh, khử trừ vọng niệm hỗn tạp, đó là môn giải thoát vị này đắc được.

Nhĩ thời, thời phần Thiên Vương, thừa Phật uy lực, phổ quán nhất thiết thời phần Thiên Chúng nhi thuyết tụng ngôn
Bấy giờ, Thời Phần Thiên Vương nương oai lực của đức Phật, quán sát khắp tất cả Thiên chúng Thời Phần mà nói ra bài kệ.

Lúc đó vị Thời Phần Thiên Vương, nương sức đại oai đức thần thông của đức Phật, quán sát khắp tất cả Thiên chúng Thời Phần (trời Dạ Ma) mà nói kệ tán thán công đức của Phật.

Phật ư vô lượng cửu viễn kiếp,                  Phật trong vô lượng kiếp xa xưa
Dĩ kiệt thế gian ưu não hải,                       Ðã sạch biển ưu não thế gian
Quảng tịch ly trần thanh tịnh đạo,           Chẳng còn nhiễm trần thanh tịnh đạo
Vĩnh diệu chúng sanh trí tuệ đăng            Ðèn trí huệ luôn chiếu chúng sinh.

Phật trong vô lượng kiếp xa xưa.” Phật trong vô lượng vô biên kiếp về trước chẳng có ưu não.

Ðã sạch biển ưu não thế gian.” Phật trong vô lượng kiếp về trước, đã cạn sạch biển ưu não thế gian, chẳng còn chút ưu não nào tồn tại.

Chẳng còn nhiễm trần thanh tịnh đạo.” Phật dứt hết tất cả nhiễm ô thì đại đạo sẽ thanh tịnh.

Ðèn trí huệ luôn chiếu chúng sinh.” Ðạo thanh tịnh này vĩnh viễn chiếu soi tâm chúng sinh, trở thành đèn trí huệ tâm. Ðèn tâm này thường sáng không tắt, khiến cho chúng sinh hiểu được thế gian này là khổ nhiều vui ít, mà sớm thoát khỏi tam giới, đắc được khoái lạc vĩnh cửu.

Như Lai pháp thân thậm quảng đại,        Pháp thân Như Lai thật rộng lớn
Thập phương biên tế bất khả đắc,            Mười phương bờ mé không thể được
Nhất thiết phương tiện vô hạn lượng,       Tất cả phương tiện không hạn lượng
Diệu quang minh Thiên trí năng nhập     Diệu Quang Minh Thiên vào môn này.

Pháp thân Như Lai thật rộng lớn.” Pháp thân của Phật vô tại vô bất tại, đặc biệt rộng lớn, không bờ không mé, cũng có thể nói là tận hư không khắp pháp giới.

Mười phương bờ mé không thể được.” Nếu đi đến bờ mé mười phương, tìm pháp thân của Phật, thì tìm cũng chẳng được. Tại sao ? Vì pháp thân của Phật vượt qua mười phương.

Tất cả phương tiện không hạn lượng.” Tất cả phương tiện pháp môn của Phật, cũng không bờ không bến, chẳng có giới hạn nhất định.

Diệu Quang Minh Thiên nhập môn này.” Vị Diệu Quang Minh Thiên Vương có trí huệ vào được môn giải thoát này.

Sanh lão bệnh tử ưu bi khổ,                      Sinh già bệnh chết ưu bi khổ
Bức bách thế gian vô tạm hiết,                  Thế gian bức bách không ngừng nghỉ
Đại sư ai mẩn thệ tất trừ,                          Ðại sư thương sót thệ tiêu trừ
Vô tận tuệ quang năng giác liễu.               Vô Tận Huệ Quang giác ngộ được.

Sinh già bệnh chết ưu bi khổ.” Phật vì muốn chấm dứt : sinh già bệnh chết bốn sự khổ lớn, mới xuất gia tu hành. Phật tầm đạo tu khổ hạnh sáu năm, nhưng không được phương pháp giải thoát, cuối cùng tĩnh tọa dưới cội bồ, đề hốt nhiên đại ngộ, biết được nguồn gốc vòng sinh tử, là từ vô minh khởi, tiêu diệt được vô minh thì tiêu diệt được bốn thứ khổ này.

Một số người trên thế giới này, không những không giác ngộ khổ về : sinh già bệnh chết, mà còn nhiễm khổ cho là vui, mà không biết giác ngộ. Khi sinh thì hồ đồ đến thế giới này, khi chết thì hồ đồ rời khỏi thế giới này. Khi đến thì không rõ vì sao mà đến? Khi đi thì cũng chẳng biết vì sao mà đi ? Tóm lại, sinh từ đâu đến ? Chết đi về đâu ? Vấn đề này chẳng ai muốn biết, cũng chẳng có ai muốn giác ngộ, cho nên hồ đồ mà đến, hồ đồ mà đi.

Ðức Phật trong vô lượng kiếp tu đủ thứ hạnh môn, đều vì chấm dứt sinh tử. Cho nên đời người từ nhỏ lớn dần, trưởng thành rồi già đi, già sinh ra đủ thứ bệnh, do bệnh mà chết, đó là bốn sự khổ lớn của đời người.

Thế gian bức bách không ngừng nghỉ.” Ưu sầu bi ai đều là khổ, những sự khổ này, bức bách tất cả chúng sinh thế gian, chẳng có thời gian dừng nghỉ.

Ðại sư thương sót thệ tiêu trừ.” Ðại sư tức là Phật, Phật thương sót tất cả chúng sinh, cho nên phát nguyện diệt trừ tất cả khổ của chúng sinh.

Vô Tận Huệ Quang giác ngộ được.” Cảnh giới này vị Vô Tận Huệ Quang Thiên Vương giác ngộ, hiểu biết được.

Phật như huyễn trí vô sở ngại,                  Trí Phật như huyễn không gì ngại
Ư tam thế Pháp tất minh đạt,                    Thấu rõ các pháp trong ba đời
Phổ nhập chúng sanh tâm hành trung,      Vào khắp trong tâm hạnh chúng sinh
Thử thiện hóa Thiên chi cảnh giới.           Thiện Hóa Thiên Vương chứng môn này.

Trí Phật như huyễn không gì ngại.” Trí huệ của Phật như huyễn, giống như chẳng chân thật, nhưng thật ra là chân thật. Trí huệ này chẳng gì chướng ngại được, thấy rõ thật tướng của tất cả các pháp, thấy rõ nghiệp tướng, đạo tướng, phiền não tướng của tất cả chúng sinh. Tóm lại, thấu triệt được tư tưởng của tất cả chúng sinh.

Thấu rõ các pháp trong ba đời.” Thứ trí huệ như huyễn này, liễu đạt được các pháp quá khứ, các pháp hiện tại, các pháp vị lai. Cho nên nói pháp của Phật nói trong ba đời, đều thấy rõ thâm sâu, thông đạt vô ngại.

Vào khắp trong tâm hạnh chúng sinh.” Trí huệ của Phật như huyễn tam muội, thứ trí huệ hư huyễn này, biết được trong tâm tất cả chúng sinh nghĩ tưởng gì ? Làm những gì ? Và còn nhập vào được trong tâm hạnh của tất cả chúng sinh, khiến cho họ phát bồ đề tâm, sớm thành Phật đạo.

Thiện Hóa Thiên Vương chứng môn này.” Cảnh giới này vị Thiện Hóa Ðoan Nghiêm Thiên Vương minh bạch được.

Tổng trì biên tế bất khả đắc,                     Bờ mé tổng trì không thể được
Biện tài đại hải diệc vô tận,                       Biện tài như biển cũng vô tận
Năng chuyển thanh tịnh diệu pháp luân, Chuyển được bánh xe pháp thanh tịnh
Thử thị đại quang chi giải thoát.               Giải thoát này của Ðại Quang Thiên.

Bờ mé tổng trì không thể được.” Tổng trì tức là : tổng thân khẩu ý ba nghiệp thanh tịnh, trì giới định huệ ba học viên minh. Tổng là tổng tất cả các pháp, trì là hành tất cả các pháp. Tổng tất cả pháp, trì vô lượng nghĩa. Ý nghĩa tổng trì có vô lượng vô biên sự giải thích, cho nên nói bờ mé không thể được.

Biện tài như biển cũng vô tận.” Bốn biện tài vô ngại của Phật, giống như biển cả, chẳng cùng tận.
Bốn vô ngại tức là bốn thứ trí biện thuyết pháp của Phật Bồ Tát, nơi ý nghiệp giải là trí, nơi khẩu nghiệp giải là biện. Bốn vô ngại biện tài là :

  1. Pháp vô ngại biện tài.
    2. Nghĩa vô ngại biện tài.
    3. Từ vô ngại biện tài.
    4. Lạc thuyết vô ngại biện tài.

Tóm lại tức là biện tài vô ngại, nói ngang nói dọc, nói thô nói tế, bất cứ nói thế nào cũng đều có lý.

Chuyển được bánh xe pháp thanh tịnh.” Thường chuyển bánh xe pháp thanh tịnh không thể nghĩ bàn, phá trừ tâm ô nhiễm của chúng sinh, mà đắc được tâm thanh tịnh. Tâm thanh tịnh, thân thanh tịnh thì pháp tự nhiên thanh tịnh.

Giải thoát này của Ðại Quang Thiên.” Cảnh giới này vị Tổng Trì Ðại Quang Minh Thiên Vương minh bạch được.

Nghiệp tánh quảng đại vô cùng tận,         Tánh nghiệp rộng lớn không cùng tận
Trí tuệ giác liễu thiện khai thị,                  Trí huệ giác ngộ khéo khai thị
Nhất thiết phương tiện bất tư nghị,            Tất cả phương tiện không nghĩ bàn
Như thị tuệ Thiên chi sở nhập.                     Huệ Thiên Vương ngộ vào môn này.

Tánh nghiệp rộng lớn không cùng tận.” Nghiệp của chúng sinh rộng lớn vô biên, không cùng tận. Vì nghiệp chẳng có hình tướng, nếu có hình tướng thì sớm đã đầy khắp hư không, không chỗ dung chứa.

Nghiệp là gì ? Phàm dấy khởi tâm niệm, bất cứ là thiện hoặc là ác đều là nghiệp. Khởi niệm thiện thì tạo ra nghiệp thiện. Khởi niệm ác thì tạo ra nghiệp ác. Mọi sự việc nếu chấp tướng là tạo nghiệp, không chấp tướng là giải thoát. Phàm phu chỉ hiểu được tạo nghiệp, Bồ Tát thì hiểu được giải thoát. Vì phàm phu khởi tâm vọng đi làm, cho nên là tạo nghiệp. Bồ Tát dùng một phiến tâm thanh tịnh đi làm, cho nên là giải thoát. Giải thoát là trừ sạch phiền não ba độc ở trong tâm, thì đắc được tự tại. Tạo nghiệp là thấy cảnh khởi tâm tham mà tạo thành ba nghiệp (thân, khẩu, ý) nhiễm ô và mê hoặc.

Trí huệ giác ngộ khéo khai thị.” Phật là người có trí huệ lớn, minh bạch tất cả đạo lý, cho nên khéo khai thị tất cả chúng sinh, khiến cho chúng sinh minh bạch sự vui thế gian là tạm thời, sự vui xuất thế gian là vĩnh viễn.

Tất cả phương tiện không nghĩ bàn.” Phật dùng tất cả phương tiện để giáo hóa chúng sinh, pháp phương tiện này không thể nghĩ bàn, bất cứ loài chúng sinh nào cũng đều minh bạch tiếp thọ, y pháp phụng hành.

Huệ Thiên Vương ngộ vào môn này.” Môn giải thoát pháp phương tiện này, vị Bất Khả Tư Nghì Huệ Thiên Vương đắc được.

Chuyển bất tư nghị diệu pháp luân,         Chuyển bánh xe pháp không nghĩ bàn
Hiển thị tu tập Bồ-đề đạo,                         Hiển bày tu tập đạo bồ đề
Vĩnh diệt nhất thiết chúng sanh khổ,        Vĩnh diệt tất cả khổ chúng sinh
Thử thị luân tề phương tiện địa.               Luân Tề Thiên Vương ngộ môn này.

Chuyển bánh xe pháp không nghĩ bàn.” Phật thường chuyển bánh xe pháp giáo hóa chúng sinh, chuyển động bánh xe pháp vi diệu không thể nghĩ bàn. Diệu là không thể tả, bánh xe pháp là chuyển động hằng thường, như bánh xe tiến về phía trước mà không thối lùi.

Hiển thị tu tập đạo bồ đề.” Phật chỉ thị chúng sinh rất rành mạch rõ ràng, tu hành như thế nào ? Dụng công như thế nào ? Ðắc được giác đạo như thế nào ? Nếu không dụng công tu hành, thì không thể đắc được giác đạo. Do đó : “Có làm thì có thu hoạch, làm nhiều thì thu hoạch nhiều “chẳng có chuyện không làm mà có thu hoạch. Người tu đạo dụng công một phần thì có một phần lợi ích, gần giác đạo một bước. Làm những việc khác thường, lãng phí công phu, mà không được kết quả. Chỉ có tu hành pháp môn này, làm một chút thì có hiệu quả một chút.

Vĩnh diệt tất cả khổ chúng sinh.” Phải thật tâm tu hành, thì mới đắc được đạo lý giác ngộ, mới vĩnh diệt được thống khổ của chúng sinh. Tại sao chúng sinh khổ ? Vì không giác ngộ, vì có vô minh cho nên tạo đủ thứ nghiệp, do đó thọ đủ thứ quả báo. Nếu phá trừ vô minh, thì sẽ giác ngộ, thì khổ của chúng sinh vĩnh viễn tiêu diệt.

Luân Tề Thiên Vương ngộ môn này.” Cảnh giới phương tiện pháp môn này vị Luân Tề Thiên Vương đắc được.

Như Lai chân thân bổn vô nhị,                 Thân thật Như Lai vốn không hai
Ưng vật tùy hình mãn thế gian,                 Vật ứng theo hình khắp thế gian
Chúng sanh các kiến tại kỳ tiền,               Chúng sinh đều thấy ở trước họ
Thử thị diệm Thiên chi cảnh giới.             Cảnh giới này của Quang Diệm Thiên.

Thân thật Như Lai vốn không hai.” Thân thật tức là pháp thân. Thân thật của Phật không những không hai mà một cũng chẳng có. Tại sao ? Vì thân thật của Phật vô tướng vô bất tướng, vô tại vô bất tại.

Vật ứng theo hình khắp thế gian.” Thân thật của Phật, ứng cơ của chúng sinh, theo căn tính của chúng sinh, để vì chúng sinh mà thuyết pháp. Do đó :”Quán cơ đầu giáo “(theo bệnh cho thuốc), tức cũng là vì chúng sinh thuyết pháp. Ðối với người căn tính tiểu thừa thì nói pháp tiểu thừa, người căn tính đại thừa, thì nói pháp đại thừa. Tức là theo bệnh bốc thuốc. Ðối với bệnh nhiệt thì dùng thuốc giải nhiệt để đối trị, bệnh hàn thì dùng thuốc nhiệt để đối trị, như thế thì mới hết bệnh. Cho nên thân của Phật sung mãn thế gian, đi cứu chúng sinh ra khỏi biển khổ.

Chúng sinh đều thấy ở trước họ.” Tất cả chúng sinh đều cảm thấy Phật đang ở trước mặt mình, đối diện thuyết pháp cho mình.

Cảnh giới này của Quang Diệm Thiên.” Cảnh giới môn giải thoát này, vị Quang Diệm Thiên Vương đắc được.

Nhược hữu chúng sanh nhất kiến Phật,   Nếu có chúng sinh thấy được Phật
Tất sử tịnh trừ chư nghiệp chướng,          Tất sẽ dứt sạch các nghiệp chướng
Ly chư ma nghiệp vĩnh vô dư,                   Lìa các ma nghiệp hẳn không còn
Quang chiếu Thiên Vương sở hạnh đạo.  Quang Chiếu Thiên Vương được môn này.

Nếu có chúng sinh thấy được Phật.” Giả sử chúng sinh nào, thấy được báo thân của Phật, thì nghiệp chướng sẽ tiêu diệt. Phật có ba thân :

  1. Pháp thân : Chẳng có hình tướng, là chân như thật tướng. Phật không trụ thế, cũng chẳng phải không trụ thế. Về thời gian thì dọc cùng tam tế, về không gian thì ngang khắp mười phương, đó cũng là tánh linh của Phật, hiệu là Tỳ Lô Giá Na, dịch là “biến nhất thiết xứ” (khắp cùng mọi nơi).
  2. Báo thân : Là thân tướng trang nghiêm quang minh thanh tịnh, là thân thường trụ bất diệt. Phật trải qua ba đại A tăng kỳ kiếp, tu vô lượng phước đức và trí huệ mới đắc được báo thân, hiệu là Lô Xá Na, dịch là “tịnh mãn”. Báo thân này thanh tịnh, như ánh sáng mặt trời, chiếu đầy khắp toàn thế gian.
  3. Ứng thân : Là tùy thuận căn cơ của chúng sinh mà hiện tướng, chuyên vì giáo hóa chúng sinh, hiệu là Thích Ca Mâu Ni. Thích Ca dịch là “năng nhân”, biểu thị đại bi. Mâu Ni dịch là “tịch mặc”, biểu thị đại trí. Lại là hóa thân, ứng theo sở cầu của chúng sinh, mà biến hóa trăm ngàn ức thân. Không những Phật có hóa thân mà Bồ Tát Quán Thế Âm cũng có vô lượng hóa thân. Bồ Tát dùng tâm để quán sát chúng sinh thế gian thọ khổ, bất cứ có bao nhiêu chúng sinh cầu cứu, thì Bồ Tát đều đồng thời cứu ra khỏi biển khổ. Vì Bồ Tát có thần thông lực hóa thân.

Tất khiến dứt sạch các nghiệp chướng.” Ai thấy được báo thân của Phật thì nghiệp chướng, báo chướng, phiền não chướng, tất cả chướng của người đó đều sẽ dứt sạch. Tất cả nghiệp chướng đều sẽ biến thành thanh tịnh.

Khỏi các ma nghiệp tất không còn.” Nghiệp chướng trừ sạch rồi, thì sẽ có ma đến nhiễu loạn dẫn dụ, khiến cho người tu hành mất đi định lực, mất đi đạo tâm. Làm thế nào vượt khỏi các ma ? Tức là siêng tinh tấn không giải đãi, bất cứ cảnh giới gì trước mắt, tâm không động, ý không loạn thì thiên ma, không có cách chi phá được, tự nhiên sẽ thối lui. Do đó, sẽ vượt khỏi tất cả ma nghiệp, vĩnh viễn không bị các ma nhiễu hại.

Quang Chiếu Thiên Vương được môn này.” Cảnh giới này vị Quang Chiếu Thiên Vương minh bạch được.

Nhất thiết chúng hội quảng như hải,        Tất cả chúng hội lớn như biển
Phật tại kỳ trung tối uy diệu,                     Phật ở trong đó oai sáng nhất
Phổ vũ Pháp vũ nhuận chúng sanh,          Khắp mưa pháp vũ nhuận chúng sinh
Thử giải thoát môn danh xưng nhập.       Danh Xưng Thiên Vương vào môn này.

Tất cả hội chúng lớn như biển.” Phật ở trong mỗi thế giới đều có pháp hội thuyết pháp. Trong mỗi pháp hội có vô lượng chư Phật, vô lượng Bồ Tát, vô lượng A La Hán, vô lượng chúng sinh. Trong chúng hội rất rộng lớn, giống như biển cả, rộng không thể lường, sâu không thể dò.

Phật ở trong đó oai sáng nhất.” Phật ở trong mỗi pháp hội, có oai đức nhất, có quang sáng nhất. Do đó, đại oai đức thần thông lực, quang minh của Phật chiếu khắp mười phương.

Khắp mưa pháp vũ nhuận chúng sinh.” Phật thuyết pháp khắp hết thảy, giống như trời mưa, cây lớn thì hút lượng nước nhiều, cây nhỏ thì hút lượng nước ít, thảy đều được lợi ích pháp vũ, tùy theo mỗi loại, tùy theo căn tính, mà thấm nhuần tất cả chúng sinh.

Danh Xưng Thiên Vương nhập môn này.” Cảnh giới môn giải thoát này vị Phổ Quán Ðại Danh Xưng Thiên Vương minh bạch được.

Phục thứ, Thích Ca Nhân-đà-la Thiên Vương, đắc ức niệm tam thế Phật xuất hưng nãi chí sát thành hoại giai minh kiến đại hoan hỉ giải thoát môn
Lại nữa, Thích Ca Nhân Ðà La Thiên Vương, được môn giải thoát, đại hoan hỷ ghi nhớ ba đời chư Phật xuất hiện ra đời, cho đến thấy rõ cõi thành hoại.

Tiếp theo Kinh văn ở trên. Vị Thích Ca Nhân Ðà La Thiên Vương, là từng trời thứ hai (trời Ðao Lợi) thuộc về dục giới. Thích Ca dịch là “năng”. Nhân Ðà La dịch là “thiên chủ”, nghĩa là làm chủ trên trời. Vị này đắc được một môn giải thoát là : trong khoảng một niệm có thể nghĩ biết, trong quá khứ chư Phật xuất hiện ra đời như thế nào ? Cho đến cõi Phật thành như thế nào ? Hoại như thế nào ? Vị này nhớ được cảnh giới này rất rõ ràng, và còn hiểu biết đạo lý này. Không những là đời quá khứ, mà đời hiện tại và đời vị lai cũng thấy rõ. Vì minh bạch được nhiều cảnh giới, cho nên sinh đại hoan hỷ, đại khoái lạc.
Nhân Ðà La còn gọi là Thích Ðề Hoàn Nhân. Trong vô lượng kiếp về trước, vị này là người nữ độc thân.

Một ngày nọ, vị này thấy một ngôi chùa cổ hư hoại, chẳng có ai phát tâm trùng tu lại. Vị này thấy như vậy thì trong tâm nghĩ: nếu không sửa lại thì tượng Phật bị mưa dột, gió thổi, nắng rọi, thật không đành làm ngơ. Do đó, vị này phát tâm trùng tu ngôi chùa cổ ngày, nhưng sức lực của một người có hạn, không thể hoàn thành tâm nguyện. Do đó, bèn đi tìm bạn bè và thân hữu, mọi người đều phát tâm trùng tu. Người có chí thì việc sẽ thành, tìm được ba mươi hai người phụ nữ. Ai có tiền thì cúng tiền, có sức thì dùng sức, cùng nhau nỗ lực, chẳng bao lâu thì sửa xong ngôi chùa cổ hư hoại, biến thành ngôi chùa trang nghiêm.
Nhờ công đức trùng tu sửa chùa, ba mươi ba người nữ này, sau khi chết sinh về trời Ðao Lợi mà làm Thiên chủ. Bốn hướng của cõi trời này mỗi hướng có tám vị trời, đông tây nam bắc cộng có ba mươi hai vị trời. Chính giữa có một vị trời là chỗ của Ðế Thích ở. Ba mươi ba vị trời này là ba mươi ba người phụ nữ làm thiên chủ, đó là nguồn gốc Thiên chủ.

Người không biết nhân duyên của Thiên chủ thì nói bậy bạ, nói Thiên chủ là độc hữu, là vạn năng. Thật ra chẳng phải là độc hữu, cũng chẳng phải là vạn năng. Vì vị này chỉ biết sự việc mấy vạn năm, mà không biết sự việc mấy vạn đại kiếp.
Vì không biết nhân duyên vô lượng kiếp, mới bịa ra khái niệm một vị chân thần, tạo ra một vị thần cứu kính, hoặc là thần viên mãn, hoặc thần vạn năng. Ðó là tùy ý tạo ra, muốn tạo bao nhiêu thì tạo bấy nhiêu, chẳng có ai để khống cáo. Chân thần cũng xong, thần vạn năng cũng xong, đều chẳng đúng, cho nên lấy sai lầm truyền sai lầm, truyền cho đến hiện tại. Bây giờ là thời đại khoa học, bất cứ việc gì đều phải trải qua sự khảo nghiệm. Tôn giáo cũng như thế, nếu không hợp với sự khảo nghiệm của khoa học thì sẽ bị đào thải, những người tín ngưỡng tôn giáo phải phân tích kỹ càng, đừng nên ai sao mình cũng vậy, chẳng có sự phán đoán mà dưỡng thành mê tín, như vậy thì sẽ biến thành cuồng tín.

Trời Ðao Lợi ở trên đỉnh núi Tu Di, thành tên là thành Thiện Kiến. Trong thành có lầu báu trọng các, thiên cung rất hoa lệ là chỗ ở của Thích Ðề Hoàn Nhân, tức cũng là Ngọc Hoàng Ðại Ðế của Ðạo Giáo, chỗ ở của thượng đế Gia Tô Giáo. Tuy nhiên tên chẳng giống nhau, thật ra tức là chủ của cõi trời Tam Thập Tam, cũng chỉ một người mà thôi.

Vị Thích Ðề Hoàn Nhân này còn có tên là trời Ðế Thích, là chúa cõi trời Tam Thập Tam, cõi trời này rất sung sướng, cho nên chư Thiên không thích tu thiền định, rất dễ đọa lạc trong sáu nẻo luân hồi, ngay cả Thích Ðề Hoàn Nhân cũng không ngoài lệ ấy. Chư Thiên khi gần chềt thì phát sinh năm hiện tượng suy. Vị Thích Ðề Hoàn Nhân này hưởng hết phước báo thì phải đi đầu thai, vị này biết mình sắp chết, bèn đi đến chỗ Ðức Phật cầu cứu, thỉnh giáo làm thế nào liễu sinh thoát tử ? Phật nói : ‘’Chiếu theo nhân quả mà nói thì ông phải đầu thai làm lừa, chẳng có cách chi cứu vãn.” Vị này nghe rồi sợ hãi vô cùng, bèn ba lần khẩn cầu Ðức Phật cứu. Phật bèn cho thọ tam quy và ngũ giới làm đệ tử Phật.

Chẳng bao lâu quả nhiên chuyển nhập vào thai lừa, con lừa cái này không duyên cớ gì bèn chạy vào trong nhà chủ tiệm làm bễ đồ bằng sứ, chủ nhân nổi giận, dùng gậy đánh con lừa cái, làm cho con lừa cái xẩy thai. Do đó Trời Ðế Thích bèn trở về lại thiên cung, kiền thành tín ngưỡng Phật pháp. Phàm là chỗ nào trong thế gian có cao Tăng giảng Kinh thuyết pháp, thì vị Trời Ðế Thích này, dù bận rộn trăm việc, cũng nhất định tranh thủ thời giờ đến nghe pháp, do đó mà dẫn đến sự hiểu lầm của vợ ông ta mà phát sinh một cuộc chiến giữa chư Thiên và A Tu La.

Con gái của vua A Tu La đẹp tuyệt trần, trời Ðế Thích tham sắc đẹp mà cưới làm vợ, do đó có thể chứng minh chư thiên sáu cõi trời dục giới, không những còn tham dục mà còn có dục tính nam nữ.
Phàm là chúng sinh ở thế gian tu mười điều lành giữ năm giới cấm, thì sẽ được tái sanh về cõi trời này. Nhưng ở đây chẳng phải là nơi cứu kính. Do đó :

“Sáu cõi trời dục giới có năm tướng suy,
Trời Tam Thiền có nạn gió lớn,
Dù sinh về cõi trời Phi Phi Tưởng,
Chẳng bằng về cõi Tây Phương Cực Lạc.”

Thế giới Cực Lạc mới là nơi cứu kính, cõi đó hoa sen hóa sinh, sung sướng vô ngần chẳng có phiền não.

Phổ xưng mãn âm Thiên Vương, đắc năng lệnh Phật sắc thân tối thanh tịnh quảng đại thế vô năng bỉ giải thoát môn
Phổ Xưng Mãn Âm Thiên Vương, được môn giải thoát, khiến cho sắc thân của Phật, thanh tịnh rộng lớn nhất, thế gian không gì so sánh được.

Vị Phổ Xưng Mãn Âm Thiên Vương được môn giải thoát biết sắc thân của Phật thanh tịnh nhất, rộng lớn nhất, bất cứ Thánh nhân thế gian không thể so sánh được.

Ở trước có nói về thân thật của Phật tức là pháp thân. Bây giờ nói về sắc thân của Phật tức là báo thân. Hóa thân của Phật tức là ứng thân. Cho nên Phật có pháp thân, báo thân, hóa thân ba thân. Sắc thân của Phật là thanh tịnh nhất, chẳng có nhiễm ô, chẳng giống như thân phàm phu của chúng ta, không sạch sẽ mà dơ bẩn. Sắc thân của Phật đầy đủ ba mươi hai tướng và tám mươi vẻ đẹp. Mỗi một tướng, mỗi một vẻ đều thanh tịnh rộng lớn. Báo thân của Phật cũng hiện trong vô lượng thế giới giáo hóa chúng sinh. Bộ Kinh Hoa Nghiêm Ðại Phương Quảng Phật này do Phật nói, Phật hiện thân Lô Xá Na ngàn trượng mà nói diệu pháp. Chuyển Luân Thánh Vương là người có phước đức tướng của thế gian, tuy nhiên cũng có ba mươi hai tướng tốt, nhưng không thể so sánh với Phật. Vị Thiên Vương này đắc được môn giải thoát này.

Từ mục bảo kế Thiên Vương, đắc từ vân phổ phước giải thoát môn
Từ Mục Bảo Kế Thiên Vương được môn giải thoát, mây từ bi che khắp.

Vị Từ Mục Bảo Kế Thiên Vương, vì mắt của vị này phóng ra mây quang minh từ bi, chiếu soi chúng sinh khiến cho họ sinh tín tâm. Bảo kế của vị này thường tuôn ra các châu báu mà bố thí cho chúng sinh, cho nên được tên này.

Vị này đắc được môn giải thoát, mây từ bi của Phật che chở bảo hộ tất cả chúng sinh. Mây từ bi của Phật khiến tất cả chúng sinh, đều có tâm từ bi mà không giết hại, có tâm bố thí mà không trộm cắp, có tâm nhẫn nhục mà không nóng giận, có tâm tinh tấn mà chẳng lười biếng, có tâm thiền định mà không tán loạn, có tâm trí huệ mà không ngu si. Mây từ này còn khiến cho tất cả chúng sinh từ bờ sinh tử bên này qua được giòng phiền não, đạt đến bờ Niết Bàn bên kia.

Từ mục bảo kế Thiên Vương, đắc từ vân phổ phước giải thoát môn
Bảo Quang Tràng Danh Xưng Thiên Vương, được môn giải thoát, luôn luôn thấy Phật, hiện đủ thứ thân hình, tướng oai đức ở trước mặt vua.

Vị Bảo Quang Tràng Danh Xưng Thiên Vương thường thấy Phật, ở trước mặt vua thế gian, hiện ra đủ thứ hình tướng, thân có đại oai đức tướng, có uy đáng sợ, có đức đáng kính, khiến cho người thấy tự nhiên cung kính đảnh lễ chiêm ngưỡng. Ví như Vua Tần Bà Sa La quy y Phật làm đệ tử, con là vua A Xà Thế cũng quy y Phật. Vua Ba Tư Nặc quy y Phật làm đệ tử, con là Kỳ Ðà cũng quy y Phật. Lúc đó có rất nhiều vị vua quy y Phật. Vị Thiên Vương này đắc được cảnh giới môn giải thoát này.

Phát sanh thiện lạc kế Thiên Vương, đắc tri nhất thiết chúng sanh thành ấp cung điện tùng hà phước nghiệp sanh giải thoát môn
Phát Sinh Hoan Hỷ Kế Thiên Vương được môn giải thoát, biết thành ấp cung điện của tất cả chúng sinh, do phước nghiệp gì mà có.

Vị Phát Sinh Hoan Hỷ Kế Thiên Vương biết được thành ấp cung điện chỗ ở của tất cả chúng sinh do phước nghiệp gì mà sinh ra. Vì chúng sinh tu pháp môn giới định huệ, diệt trừ phiền não tham sân si. Cho nên có quả báo phước nghiệp thành ấp cung điện, nếu chỉ tạo tội nghiệp mà không tu công đức lành thì chẳng có phước báo như thế. Phước nghiệp là do làm việc thiện mà có, đó là môn giải thoát của vị này đác được.

Đoan chánh niệm Thiên Vương, đắc khai thị chư Phật thành thục chúng sanh sự giải thoát môn
Ðoan Chánh Niệm Thiên Vương, được môn giải thoát, chư Phật khai thị thành thục chúng sinh.

Vị Ðoan Chánh Niệm Thiên Vương được môn giải thoát, mười phương chư Phật khai thị thành thục chúng sinh. Người chưa gieo trồng căn lành thì trồng căn lành, đã trồng căn lành thì khiến cho tăng trưởng, đã tăng trưởng thì khiến cho thành thục, đã thành thục thì khiến cho được giải thoát, đó là việc chư Phật thành thục chúng sinh.

Cao thắng âm Thiên Vương, đắc tri nhất thiết thế gian thành hoại kiếp chuyển biến tướng giải thoát môn
Cao Thắng Âm Thiên Vương được môn giải thoát, biết tướng chuyển biến kiếp thành hoại của tất cả thế gian.

Vị Cao Thắng Âm Thiên Vương minh bạch được tất cả thế gian làm thế nào hình thành ? Làm thế nào trụ ? Thế nào hoại ? Thế nào không ? Thành, trụ, hoại, không cần bao nhiêu kiếp ? Và làm thế nào từ kiếp thành chuyển đến kiếp trụ ? Từ kiếp trụ chuyển đến kiếp hoại ? Từ kiếp hoại chuyển đến kiếp không ? Từ kiếp không lại chuyển đến kiếp thành ? Những tướng như vậy làm thế nào chuyển biến ? Chuyển biến thì phải trải qua thời gian dài bao lâu ? Vị này đều biết, đó là môn giải thoát của vị này đắc được.

Chúng sinh cang cường khó điều khó phục. Hiển giáo là :”văn độ chúng sinh.” Bồ Tát dùng bốn tâm vô lượng để giáo hóa, khiến cho chúng sinh có duyên đều chứng Phật đạo. Mật giáo là :”Võ độ chúng sinh.” Kim cang là tướng phẫn nộ, dùng thủ đoạn cưỡng bách để giáo hóa, khiến cho chúng sinh vô duyên đều được giải thoát. Phương pháp tuy nhiên chẳng giống, nhưng mục đích giống nhau, đều khiến cho chúng sinh minh tâm kiến tánh thành Phật.

Thành Tựu Niệm Thiên Vương, đắc ức niệm đương lai Bồ Tát điều phục chúng sanh hạnh giải thoát môn
Thành Tựu Niệm Thiên Vương, được môn giải thoát, nghĩ nhớ hạnh của Bồ Tát điều phục chúng sinh

Tịnh hoa quang Thiên Vương, đắc liễu tri nhất thiết chư Thiên khoái lạc nhân giải thoát môn
Tịnh Hoa Quang Thiên Vương, được môn giải thoát, biết rõ nguyên nhân vì sao tất cả chư Thiên khoái lạc.

Vị Tịnh Hoa Quang Thiên Vương hiểu biết tất cả chư thiên rất khoái lạc, chẳng ưu sầu. Tại sao họ được quả báo khoái lạc ? Vì quá khứ họ đã trồng xuống nhân khoái lạc, tức là tu giữ năm giới, làm mười điều lành, họ đều tu công đức bậc thượng. Nếu tu công đức bậc trung thì sinh về cõi người. Nếu tu công đức bậc hạ thì sinh về cõi A Tu La. Ðó là môn giải thoát của vị này đắc được.

Trí nhật nhãn Thiên Vương, đắc khai thị nhất thiết chư Thiên Tử thọ sanh thiện căn tỉ vô si hoặc giải thoát môn
Trí Nhật Nhãn Thiên Vương, được môn giải thoát, khai thị tất cả các Thiên tử thọ sinh căn lành, khiến cho họ không còn si hoặc.

Vị Trí Nhật Nhãn Thiên Vương được môn giải thoát, khai thị tất cả các Thiên tử thọ sinh căn lành, khiến cho họ đều trừ khử ngu si nghi hoặc.

Tự tại quang minh Thiên Vương, đắc khai ngộ nhất thiết chư Thiên Chúng lệnh vĩnh đoạn chủng chủng nghi giải thoát môn
Tự Tại Quang Minh Thiên Vương, được môn giải thoát, khai ngộ tất cả các Thiên chúng, khiến cho họ vĩnh viễn dứt sạch tâm nghi hoặc.

Vị Tự Tại Quang Minh Thiên Vương được môn giải thoát, khai ngộ tất cả các Thiên chúng, khiến cho họ ngộ nhập vào cảnh giới của Phật, khiến cho tất cả các Thiên chúng, vĩnh viễn đoạn trừ tâm nghi hoặc, mà sinh tâm chánh tín.

Nhĩ thời, Thích Ca Nhân-đà-la Thiên Vương, thừa Phật uy lực, phổ quán nhất thiết tam thập tam thiên chúng nhi thuyết tụng ngôn
Bấy giờ, Thích Ca Nhân Ðà La Thiên Vương, nương oai lực của đức Phật, quán khắp tất cả Thiên chúng, trời Tam Thập Tam mà nói kệ rằng.

Ðương lúc đó, vị Thiên chủ nương đại oai thần lực của đức Phật, quán sát khắp tất cả Thiên chúng trời Tam Thập Tam (trời Ðao Lợi) mà nói kệ để tán thán chư Phật.

Ngã niệm tam thế nhất thiết Phật,            Tôi nhớ chư Phật trong ba đời
Sở hữu cảnh giới tất bình đẳng,                Tất cả cảnh giới đều bình đẳng
Như kỳ quốc độ hoại dữ thành,                 Như các cõi nước hoại và thành
Dĩ Phật uy thần giai đắc kiến.                   Dùng Phật oai thần đều thấy được.

Tôi nhớ chư Phật trong ba đời.” Thích Ca Nhân Ðà La Thiên Vương nói : tôi suy nghĩ chư Phật quá khứ, chư Phật hiện tại, chư Phật vị lai, mười phương ba đời tất cả chư Phật, đều bình đẳng chẳng khác gì

Tất cả cảnh giới đều bình đẳng.” Cảnh giới của chư Phật trong ba đời, đều một luật bình đẳng, chẳng có cao thấp, chẳng có khác về lớn nhỏ, mà đều bình đẳng giống nhau.

Như các cõi nước hoại và thành.” Cõi nước chư Phật làm thế nào hoại ? Làm thế nào thành ? Cảnh giới này thật là không thể nghĩ bàn.

Dùng Phật oai thần đều thấy được.” Dùng đại oai thần lực của chư Phật, khiến cho tất cả chúng sinh, đều thấy được Phật, đều minh bạch được cảnh giới này.

Phật thân quảng đại biến thập phương,   Thân Phật rộng lớn khắp mười phương
Diệu sắc vô bỉ lợi quần sanh,                    Sắc đẹp chẳng sánh lợi quần sinh
Quang minh chiếu diệu mị bất cập,          Quang minh chiếu sáng khắp hết thảy
Thử đạo phổ xưng năng quán kiến.          Phổ Xưng Thiên Vương thấy môn này.

Thân Phật rộng lớn khắp mười phương.” Pháp thân của Phật rộng lớn vô biên, khắp trong tất cả mười phương, tận hư không khắp pháp giới, chỉ cần có không gian tồn tại, thì có pháp thân tồn tại.

Sắc đẹp chẳng sánh lợi quần sinh.” Sắc đẹp của Phật không thể sánh, lợi ích tất cả chúng sinh hữu tình và vô tình.

Quang minh chiếu sáng khắp hết thảy.” Quang minh thanh tịnh của Phật, chiếu sáng tất cả chúng sinh, chẳng có một chúng sinh nào, không tắm mình trong ánh từ quang. Quang minh này rất bình đẳng, không phân biệt thiện căn hoặc độn căn, đều chiếu sáng và gia bị hết thảy.

Phổ Xưng Thiên Vương thấy môn này.” Cảnh giới này vị Phổ Xưng Mãn Âm Thiên Vương quán sát thấy được.

Như Lai phương tiện đại từ hải,               Như Lai phương tiện biển đại từ
Vãng kiếp tu hành cực thanh tịnh,            Kiếp xưa tu hành rất thanh tịnh
Hóa đạo chúng sanh vô hữu biên,             Hóa đạo chúng sinh không bờ mé
Bảo kế Thiên Vương tư ngộ liễu.               Bảo Kế Thiên Vương ngộ môn này.

“Như Lai phương tiện biển đại từ.” Như Lai là một trong mười danh hiệu của Phật. Mỗi vị Phật đều có mười danh hiệu, tức là:

  1. Như Lai : Pháp thân của Phật từ đạo như thật mà đến.
    2. Ứng cúng : Ðức Phật đoạn trừ ba hoặc và nhị tử, vạn đức phước huệ đầy đủ, xứng đáng thọ lãnh chúng sinh trong chín pháp giới cúng dường.
    3. Chánh biến tri : Trí huệ của Phật chiếu tất cả các pháp, vừa chánh lại vừa khắp cùng.
    4. Minh hạnh túc : Phước và huệ của Phật đều đầy đủ. Ba minh là huệ, năm hạnh là phước.
    5. Thiện thệ thế gian giải : Phật tu chánh đạo nhập Niết Bàn, còn hiểu rõ tất cả hình trạng thế gian.
    6. Vô thượng sĩ : Chánh giác của Phật là vô thượng, chín giới chúng sinh không thể so sánh được.
    7. Ðiều ngự trượng phu : Phật là bậc đại trượng phu, điều thuận tu chánh đạo.
    8. Thiên nhân sư : Phật là đại đạo sư của trời người, giáo hóa hết thảy bỏ tà về chánh, cải ác hướng thiện.
    9. Phật : Là Thánh nhân đại giác ngộ.
    10. Thế Tôn : Phật là người tôn quý nhất trong thế gian.

Ðầy đủ mười hiệu mới xưng là Phật. Vì lòng đại từ bi, cho nên Phật xử dụng pháp phương tiện, để tiếp dẫn chúng sinh. Từ bi như biển lớn, cho nên gọi phương tiện biển đại từ.

Kiếp xưa tu hành rất thanh tịnh.” Vì trong kiếp quá khứ, Phật tu đủ thứ hạnh môn, cho nên thành tựu pháp thân rất thanh tịnh. Thanh tịnh là chứng minh sự tu hành, nếu không nhận chân tu hành, thì không thể đắc được thanh tịnh.

Hóa đạo chúng sinh không bờ mé.” Vì thanh tịnh là do tu hành chân thật mà được, cho nên dùng đủ thứ phương tiện pháp môn đại từ, để giáo hóa chúng sinh, khiến cho chúng sinh, dứt phiền não phá vô minh, thành tựu pháp thân, phương tiện pháp môn đại từ này chẳng có bờ mé.

Bảo Kế Thiên Vương ngộ môn này.” Cảnh giới môn giải thoát này, vị Từ Mục Bảo Kế Thiên Vương giác ngộ được.

Ngã niệm pháp vương công đức hải,         Tôi nhớ biển công đức của Phật
Thế trung tối thượng vô dữ đẳng,             Hơn hết trong đời chẳng ai bằng
Phát sanh quảng đại hoan hỉ tâm,            Phát sinh tâm hoan hỷ rộng lớn
Thử Bảo quang Thiên chi giải thoát.        Giải thoát này của Bảo Quang Thiên.

Tôi nhớ biển công đức của Phật.” Bảo Quang Tràng Danh Xưng Thiên Vương nói : “Tôi nhớ lại công đức của Phật, vô lượng vô biên như biển cả.” Cho nên nói biển công đức của Phật.

Hơn hết trong đời chẳng ai bằng.” Công đức này cao thượng nhất trong thế gian, chẳng có ai so sánh với công đức của Phật.

Phát sinh tâm hoan hỷ rộng lớn.” Tôi nhớ tới cảnh giới này, trong tâm bèn phát sinh tâm hoan hỷ rộng lớn.

Giải thoát này của Bảo Quang Thiên.” Bảo Quang Tràng Danh Xưng Thiên Vương đắc được môn giải thoát này.

Phật tri chúng sanh thiện nghiệp hải,       Phật biết nghiệp lành của chúng sinh
Chủng chủng thắng nhân sanh Đại phước,       Ðủ thứ thắng nhân sinh phước lớn
Giai lệnh hiển hiện vô hữu dư,                  Ðều khiến hiển hiện chẳng còn xót
Thử hỉ kế Thiên chi sở kiến.                      Hỷ Kế Thiên Vương thấy môn này.

Phật biết nghiệp lành của chúng sinh.” Phật biết được tất cả nghiệp lành của chúng sinh, không những biết một đời mà còn biết được nghiệp lành vô lượng đời.

Ðủ thứ thắng nhân sinh phước lớn.” Tu đủ thứ nhân thù thắng, mới hoạch được phước báo rộng lớn. Do đó :

“Ðời trước không tu, đời này khổ,
Ðời này không tu, đời sau càng khổ.”

Người có phước báo, do đời trước đã trồng xuống nhân công đức, cho nên đời này có tiền tài, có quyền thế giàu sang. Nếu càng bố thí làm lành, thì đời sau nhất định tốt hơn so với đời này. Nếu đời này keo kiệt không bố thí, thì đời sau nhất định không được như đời này, thậm chí hưởng hết phước, thì không chắc được tái sinh làm người, hoặc có thể tái sinh làm súc sinh để trả nợ nghiệp.

Ðều khiến hiển hiện chẳng còn xót.” Vị này đều khiến cho đủ thứ nhân lành đều hiển hiện, mà tơ hào chẳng bỏ xót. Trồng nhân lành nhỏ thì được phước báo nhỏ, trồng nhân lành lớn thì được phước báo lớn, tơ hào không sai.

Hỷ Kế Thiên Vương thấy môn này.” Cảnh giới này vị Hỷ Lạc Kế Thiên Vương thấy được.

Chư Phật xuất hiện ư thập phương,         Chư Phật xuất hiện trong mười phương
Phổ biến nhất thiết thế gian trung,           Khắp cùng trong tất cả thế gian
Quán chúng sanh tâm thị điều phục,        Quán tâm chúng sinh hiện điều phục
Chánh niệm Thiên Vương ngộ tư đạo.      Chánh Niệm Thiên Vương ngộ môn này.

Chư Phật xuất hiện trong mười phương.” Mười phương ba đời tất cả chư Phật, xuất hiện trong mười phương ba đời tất cả thế gian.

Khắp cùng trong tất cả thế gian.” Khắp cùng trong thế gian, tức cũng khắp cùng trong hư không pháp giới.

Quán tâm chúng sinh hiện điều phục.” Mười phương ba đời tất cả chư Phật, quán sát tất cả tâm chúng sinh, hiển thị ra pháp môn điều phục. Chúng sinh nhiều tham, thì khiến cho họ tu quán bất tịnh, chúng sinh nhiều sân, thì khiến cho họ tu quán từ bi. Chúng sinh ngu si, thì khiến cho họ tu quán nhân duyên. Cho nên phải quán sát căn tính chúng sinh, mà dùng pháp phương tiện, để giáo hóa, để điều phục. Phật điều phục tất cả chúng sinh chẳng chấp trước nơi tướng. Trong Kinh Kim Cang có nói :

“Phật diệt độ tất cả chúng sinh,
Thật chẳng có chúng sinh được diệt độ.”

Ðó là không thủ nơi tướng, độ chúng sinh mà chẳng có tướng chúng sinh, tức là chẳng chấp trước chúng sinh.
Chúng ta làm việc gì, thì chấp trước vào việc đó, bố thí cho người một ly nước, hoặc cho người một bát cơm, thì cho rằng mình làm việc tốt, lợi ích cho chúng sinh, đó là chấp trước tướng. Cho nên phải có tư tưởng tam luân thể không :

  1. Không thấy có người bố thí, như vậy thì có thể trừ ngã chấp, tức là không có ngã (cái ta).
  2. Không thấy có vật thí, như vậy thì có thể trừ san tham, tức là pháp không.
  3. Không thấy có người nhận, không phân biệt người thân, kẻ oán, đều bình đẳng bố thí, tức là người không.
    Ðược ba điều này đều không, thì mới là bố thí chân thật. Bằng không, nếu vì danh vì lợi, thì biến thành bố thí có xí đồ, là bố thí giả, chẳng phải thật bố thí.

Chánh Niệm Thiên Vương ngộ môn này.” Vị Ðoan Chánh Niệm Thiên Vương minh bạch được đạo lý môn giải thoát này.

Như Lai trí thân quảng đại nhãn,             Trí thân Như Lai mắt rộng lớn
Thế giới vi trần vô bất kiến,                      Hạt bụi thế giới thảy đều thấy
Như thị phổ biến ư thập phương,              Như vậy cùng khắp trong mười phương
Thử vân âm Thiên chi giải thoát.              Vân Âm Thiên Vương chứng môn này.

Trí thân Như Lai mắt rộng lớn.” Trí huệ thân của Phật phóng đại quang minh, chiếu khắp mười phương thế giới. Quang minh này rộng lớn không bờ mé, chẳng có chỗ nào không chiếu đến, chẳng có chỗ nào mà không có.

Hạt bụi thế giới thảy đều thấy.” Tất cả hạt bụi ở trong mười phương thế giới, và tất cả chúng sinh vạn sự vạn vật, Phật đều biết đều thấy, cho nên nói hết thảy đều thấy.

Như vậy cùng khắp trong mười phương.” Trí thân của Phật có mắt rộng lớn, cho nên chiếu sáng khắp mười phương. Hạt bụi trong tất cả thế giới không đâu mà chẳng thấy, đó là cảnh giới của Phật.

Vân Âm Thiên Vương chứng môn này.” Cảnh giới môn giải thoát này, vị Cao Thắng Vân Âm Thiên Vương minh bạch được.

Nhất thiết Phật tử Bồ-đề hạnh                  Tất cả Phật tử hạnh bồ đề
Như Lai tất hiện mao khổng trung,          Ðều hiện trong lỗ lông Như Lai
Như kỳ vô lượng giai cụ túc,                      Như thế vô lượng đều đầy đủ
Thử niệm Thiên Vương sở minh kiến.      Giải thoát này của Niệm Thiên Vương.

Tất cả Phật tử hạnh bồ đề.” Tất cả Bồ Tát hậu bổ làm Phật vị, ở nội viện cung trời Ðâu Suất, hạnh môn của các Ngài tu là giác đạo. Ðợi nhân duyên thành thục thì nương voi trắng sáu ngà (đại biểu cho lục độ Ba la mật) hàng sinh xuống nhân gian làm giáo chủ.

Ðều hiện trong lỗ lông Như Lai.” Các Ngài từ ban đầu phát tâm bồ đề, hành Bồ Tát đạo, tất cả hạnh môn cho đến bổ Phật vị, đều hiện ra ở trong lỗ chân lông của Phật.

Như thế vô lượng đều đầy đủ.” Giống như những hạnh môn, nhiều vô lượng vô biên như thế, đều đầy đủ cảnh giới này.

Giải thoát này của Niệm Thiên Vương.” Cảnh giới này vị Thành Tựu Niệm Thiên Vương minh bạch, thấy được.

Thế gian sở hữu an lạc sự,                         Tất cả an lạc của thế gian
Nhất thiết giai do Phật xuất sanh,            Hết thảy đều từ Phật sinh ra
Như Lai công đức thắng vô đẳng,             Công đức Như Lai chẳng ai bằng
Thử giải thoát xứ hoa Vương nhập.          Tịnh Quang Thiên Vương vào môn này.

Tất cả an lạc của thế gian.” Tất cả sự an lạc và bình an ở nhân gian và trên cõi trời đều nhờ Phật gia bị, ban bố cho.

Hết thảy đều từ Phật sinh ra.” Vì Phật pháp có công năng vun bồi tưới bón, khiến cho chúng sinh chẳng có căn lành, thì trồng căn lành, đã trồng căn lành thì khiến cho tăng trưởng. Người căn lành tăng trưởng, thì khiến cho thành thục, người căn lành thành thục, thì khiến cho giải thoát, sau đó khiến cho tất cả chúng sinh, đều thành tựu Phật đạo, cho nên nói tất cả đều từ Phật sinh ra.

Công đức Như Lai chẳng ai bằng.” Công đức của Phật thù thắng nhất, chẳng ai có thể sánh được. Vì Phật trong ba đại A tăng kỳ kiếp tu phước tu huệ, trong trăm đại kiếp tu đủ thứ công đức tướng tốt, cho nên Phật là phước huệ lưỡng túc tôn, có ba mươi hai tướng trang nghiêm, tám mươi vẻ đẹp, thành bậc chánh giác, ba giác viên mãn.

Ðầu của Phật có hào quang, trên đỉnh có nhục kế, tóc quắn xanh biếc, mặt như trăng rằm, hào quang trắng phóng quang minh, lông mi cong như trăng non, mắt sáng như gương, mũi chẳng hiện lỗ, môi đỏ như đan (chất màu đỏ tươi), răng trắng như tuyết, bốn mươi cái răng, lưỡi dài quá mũi, tai thon gần đụng vai, toàn thân màu hoàng kim, da trơn mịn, thể thơm như bông lan, ngực có chữ vạn, rún sâu tròn tốt, tay dài quá gối, tay chân có màng mỏng, ngón tay nhỏ dài, móng tay như ngói, mu bàn chân cao dày, đi như thiên nga, tướng mã âm tàng, đầu gối tròn cứng, âm thanh sâu xa .v.v. Ba mươi hai tướng này đều hiếm có trong đời, chúng ta may đâu chỉ có một trong ba mươi hai tướng, tức là quý tướng. Tại sao chúng ta chẳng có những tướng này ? Vì kiếp trước chẳng tu phước chẳng tu huệ, cho nên chẳng có tướng tốt như thế. Nếu muốn tướng mạo đoan chánh trang nghiêm thì phải mau trì giới bố thí, tu phước tu huệ, mới có được tướng tốt.

Tịnh Quang Thiên Vương vào môn này.” Môn giải thoát này vị Tịnh Hoa Quang Thiên Vương minh bạch được.
Ðức Phật là cha đại từ bi của chúng ta, cho nên sớm dự bị sự khoái lạc ở cõi trời và cõi người. Chúng ta giống như lúc còn thơ ấu, cha mẹ mua đến rất nhiều đồ chơi, trẻ con thấy đồ chơi nhảy nhót vui mừng, bèn sinh tâm khoái lạc. Sự khoái lạc này do cha mẹ ban cho. Chư thiên, loài người đều là con, cháu của Phật, cho nên Phật mới cho chúng sinh an lạc. Suy nghĩ như thế mới sinh tín tâm đối với Phật.

Nhược niệm Như Lai thiểu công đức,       Nếu nghĩ chút công đức Như Lai
Nãi chí nhất niệm tâm chuyên ngưỡng,    Cho đến kính ngưỡng một tâm niệm
Chư ác đạo phố tất vĩnh trừ,                     Các đường ác sợ đều vĩnh trừ
Trí nhãn ư thử năng thâm ngộ.                 Trí Nhãn Thiên Vương ngộ môn này.

Nếu nghĩ chút công đức Như lai.” Nếu như bạn nghĩ nhớ công đức của Phật dù nhỏ nhất, thậm chí chút công đức nhỏ như hạt bụi, thì sẽ được chỗ diệu dụng không thể nghĩ bàn.

Cho đến kính ngưỡng một tâm niệm.” Hoặc là trong khoảng một niệm, sinh tâm chuyên nhất kính ngưỡng đối với Phật, tức là chẳng có tâm tạp loạn để kính ngưỡng Phật. Tuy nhiên là công đức nhỏ nhất nhưng có công năng lớn vô cùng.

Các đường ác sợ đều vĩnh trừ.” Chỉ trong một niệm, sinh tâm cung kính ngưỡng mộ, thì vĩnh viễn thoát khỏi tâm sợ sệt trong ba đường ác : địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh.

Trí Nhãn Thiên Vương ngộ môn này.” Vị Trí Nhựt Nhãn Thiên Vương, giác ngộ thâm sâu và minh bạch cảnh giới môn giải thoát này.

Tịch diệt pháp trung đại thần thông,        Ðại thần thông trong pháp tịch tĩnh
Phổ ưng quần tâm mị bất châu,                Ứng khắp quần tâm đều gia bị
Sở hữu nghi hoặc giai lệnh đoạn,              Tất cả nghi hoặc đều đoạn trừ
Thử Quang minh vương chi sở đắc.          Quang Minh Thiên Vương được môn này.

Ðại thần thông trong pháp tịch tĩnh.” Pháp tịch tĩnh tức là : không nói cũng không truyền, nên quán sát như thế, các pháp từ duyên đến, thường đến tướng tịch tĩnh. Tướng của các pháp là tịch tĩnh, tuy nhiên là tịch tĩnh, nhưng Phật hiển hiện đại thần thong, giáo hóa chúng sinh, khai thị chúng sinh, khiến cho chúng sinh đoạn trừ nghi hoặc. Cho nên Phật ở trong tịch tĩnh đạo tràng hiện ra đủ thứ thần thông.

Ứng khắp quần tâm đều gia bị.” Khi Phật thuyết Kinh Hoa Nghiêm, thì ở trong định phóng quang, gia bị cho các đại Bồ Tát thuyết pháp chủ. Các Ngài nương đại oai đức thần thông lực của Phật, mà diễn nói diệu pháp, cảm ứng đạo giao với tâm chúng sinh hổ tương tiếp xúc, hổ tương khế hợp, chẳng có một chúng sinh nào, mà không đắc được thần lực gia bị của Phật.

Tất cả nghi hoặc đều đoạn trừ.” Vì dùng sức cảm ứng đạo giao để gia bị, cho nên tất cả nghi hoặc của chúng sinh đều đoạn tuyệt, mà sinh ra tín tâm, tin Phật pháp giải quyết được vấn đề, mà thế gian chẳng giải quyết được.

Cảm ứng đạo giao tức là : việc sở cầu của chúng sinh, mong Phật, Bồ Tát đáp ứng, toại tâm như ý, việc tâm mong muốn đều thành tựu. Cảm là cảm động, chúng sinh kiền thành câu nguyện, hoặc tụng Kinh, niệm danh hiệu Phật, làm cảm động Phật, Bồ Tát. Ứng là phản ứng, Phật, Bồ Tát bị cảm động rồi, thì phản ứng nguyện cầu của chúng sinh, đáp ứng những sở cầu của chúng sinh. Ðạo giao cũng như bật nút điện, chỉ cần ấn vào thì đèn phát ra ánh sáng. Chúng ta học Phật pháp tức là, học phương pháp ấn nút điện, hai luồng điện âm dương tiếp với nhau, thì có ánh sáng, tức là khôi phục đại quang minh tạng vốn có.

Quang Minh Thiên Vương được môn này.” Cảnh giới môn giải thoát này vị Tự Tại Quang Minh Thiên Vương đắc được.

Phục thứ, Nhật Thiên tử, đắc Tịnh Quang phổ chiếu thập phương chúng sanh tận vị lai kiếp thường vi lợi ích giải thoát môn
Lại nữa, Nhựt Thiên Tử được môn giải thoát, thường phóng quang minh thanh tịnh, chiếu khắp lợi ích chúng sinh, trong mười phương tận kiếp vị lai.

Vị Nhựt Thiên Tử đắc được quang minh thanh tịnh, chiếu khắp tất cả chúng sinh trong mười phương, cho đến suốt kiếp vị lai, luôn luôn lợi ích chúng sinh. Giống như ánh sáng mặt trời, chiếu khắp tất cả, được sự ấm áp mà sinh trưởng. Ðó là môn giải thoát vị nầy đắc được.

Chúng ta đều đắc được lợi ích của Phật Bồ Tát. Phật Bồ Tát lợi ích chúng sinh, biến thành ngũ cốc để trị liệu bệnh đói của chúng sinh, biến thành tơ lụa để che ấm cho chúng sinh, bố thí tất cả vật thất cho chúng sinh, khiến cho chúng sinh đắc được an lạc.

Quang diệm nhãn Thiên Tử, đắc dĩ nhất thiết tùy loại thân khai ngộ chúng sanh lệnh nhập trí tuệ hải giải thoát môn
Quang Diệm Thiên Tử, được môn giải thoát, dùng tất cả tùy loại thân, khai ngộ chúng sinh, khiến cho họ nhập vào biển trí huệ.

Vị Quang Diệm Nhãn Thiên Tử có quang minh sáng chói giống như lửa ngọn, khiến cho mắt của người bị chói không thể mở. Vị nầy đắc được môn giải thoát, tùy theo tất cả mọi loại chúng sinh, mà hiển hiện các thứ thân hình. Muốn độ người thì hiện thân người, muốn độ chó thì hiện thân chó. Muốn độ chúng sinh nào thì hiện thân đó, khiến cho họ bỏ mê về giác, từ ngu si mà đắc được trí huệ, đều nhập vào biển trí huệ, vĩnh viễn chẳng còn ngu si nữa.

Tu-Di quang hoan hỉ tràng Thiên Tử, đắc vi nhất thiết chúng sanh chủ lệnh cần tu vô biên tịnh công đức giải thoát môn
Tu Di Quang Hoan Hỉ Tràng Thiên Tử, được môn giải thoát, làm chủ tất cả chúng sinh, khiến cho họ siêng tu, vô biên công đức thanh tịnh.

Vị Tu Di Quang Hoan Hỉ Tràng Thiên Tử được môn giải thoát, làm chủ tất cả chúng sinh, khiến cho ho tinh tấn tu hành, tu vô biên công đức thanh tịnh. Công đức nầy lợi ích chúng sinh, chứ chẳng phải lợi ích cho mình, cho nên gọi là làm công đức thanh tịnh.

Tịnh bảo Nguyệt Thiên tử, đắc tu nhất thiết khổ hạnh thâm tâm hoan hỉ giải thoát môn
Tịnh Bảo Nguyệt Thiên Tử, được môn giải thoát, thâm tâm hoan hỉ tu tất cả khổ hạnh.

Vị Tịnh Bảo Nguyệt Thiên Tử hiểu nghĩa lý tu tất cả khổ hạnh. Từ trong thâm tâm hoan hỉ sự khổ hạnh, muốn tu pháp nầy, đó là môn giải thoát của vị nầy đắc đựơc.

Ðức Phật có mười vị đệ tử lớn, mỗi vị đều đắc được đệ nhất. Tôn Giả Ma Ha Ca Diếp được đầu đà (khổ hạnh) đệ nhất, làm những việc người không thể làm, hành những việc người không thể hành, ăn cơm mà những người khác không thể ăn, mặc y mà những người khác không thể mặc. Tôn Giả tu mười hai điều khổ hạnh :

  1. Ở chỗ vắng lặng.
    2. Hoặc ở ngoài nghĩa địa.
    3. Hoặc ở ngoài đồng.
    4. Ngủ dưới gốc cây.
    5. Ngồi không nằm.
    6. Thường đi khất thực.
    7. Ăn có thứ lớp.
    8. Ngày ăn một bữa.
    9. Ăn có tiết lượng.
    10. Quá ngọ không uống nước.
    11. Mặc y phấn tảo.
    12. Chỉ có ba y.

Ðó là những điều khổ hạnh.

Dũng mãnh Bất-thoái-chuyển Thiên Tử, đắc vô ngại quang phổ chiếu lệnh nhất thiết chúng sanh ích kỳ tinh sảng giải thoát môn
Dũng Mãnh Bất Thối Chuyển Thiên Tử, được môn giải thoát, quang minh vô ngại chiếu khắp, khiến cho tất cả chúng sinh đắc được lợi ích, tăng thêm tinh tấn khoái lạc.

Vị Dũng Mãnh Bất Thối Chuyển Thiên Tử, dũng mãnh tinh tấn dụng công tu hành, bất cứ gặp khó khăn gì, cũng tuyệt đối không thối chuyển, do đó đắc được quang minh vô ngại. Quang minh nầy chiếu khắp tất cả chúng sinh, khiến cho họ đều đắc được lợi ích, tăng thêm tinh tấn khoái lạc, đó là môn giải thoát vị nầy đắc được.

Diệu hoa anh quang minh Thiên Tử, đắc Tịnh Quang phổ chiếu chúng sanh thân lệnh sanh hoan hỉ tín giải hải giải thoát môn
Diệu Hoa Anh Quang Minh Thiên Tử, được môn giải thoát, quang minh thanh tịnh chiếu khắp thân chúng sinh, khiến cho họ sinh hoan hỉ tin hiểu.

Vị Diệu Hoa Anh Quang Minh Thiên Tử, đắc được quang minh thanh tịnh, chiếu khắp thân chúng sinh. Khiến cho tất cả chúng sinh, sinh tâm đại hoan hỉ, tâm tin hiểu, do tin mà hiểu. Trí huệ nầy giống như biển cả, đó là môn giải thoát vị nầy đắc được.

Tối thắng tràng quang minh Thiên Tử, đắc quang minh phổ chiếu nhất thiết thế gian lệnh thành biện chủng chủng diệu công đức giải thoát môn
Tối Thắng Tràng Quang Minh Thiên Tử, được môn giải thoát, quang minh chiếu khắp tất cả thế gian, khiến cho thành tựu đủ thứ công đức vi diệu.

Vị Tối Thắng Tràng Quang Minh Thiên Tử, dùng quang minh thù thắng nhất, chiếu khắp tất cả thế gian. Vị nầy dùng quang minh để thuyết pháp, dùng quang minh để giáo hoá chúng sinh, khiến cho tất cả chúng sinh thế gian, đều thành tựu đủ thứ diệu công đức không thể nghĩ bàn. Ðó là môn giải thoát của vị nầy đắc được.

Bảo kế phổ quang minh Thiên Tử, đắc đại bi hải hiện vô biên cảnh giới chủng chủng sắc tướng bảo giải thoát môn
Bảo Kế Phổ Quang Minh Thiên Tử, được môn giải thoát, biển đại bi hiện vô biên cảnh giới, đủ loại sắc tướng báu.

Vị Bảo Kế Phổ Quang Minh Thiên Tử, đắc được biển đại bi, ban cho chúng sinh tất cả khoái lạc, và tất cả nguyện vọng, đều toại tâm như ý. Chúng sinh muốn vàng thì cho vàng, muốn bạc thì cho bạc, muốn lưu ly thì cho lưu ly. Muốn cầu châu báu gì, thì cho châu báu đó. Cho nên ở trong biển đại bi, hiện ra vô biên đủ thứ sắc tướng báu, phàm là châu báu có hình có tướng, đều hiện ra để làm thoả mãn sở cầu của chúng sinh, đó là môn giải thoát của vị nầy đắc được.

Quang minh nhãn Thiên Tử, đắc tịnh trì nhất thiết chúng sanh nhãn lệnh kiến pháp giới tạng giải thoát môn
Quanh Minh Nhãn Thiên Tử, được môn giải thoát, tịnh trị tất cả mắt của chúng sinh, khiến cho họ thấy pháp giới tạng.

Vị Quang Minh Nhãn Thiên Tử có mắt sáng vô cùng, quán sát những nơi rất xa mà thấy rất rõ ràng. Vị nầy tịnh trị tất cả bệnh mắt của chúng sinh, khiến cho tất cả chúng sinh thấy được cảnh giới pháp giới tạng.

Trì đức Thiên Tử, đắc phát sanh thanh tịnh tướng tục tâm lệnh bất thất hoại giải thoát môn
Trì Ðức Thiên Tử được môn giải thoát, phát sinh tâm thanh tịnh tương tục, khiến cho không hư hoại.

Vị Trì Ðức Thiên Tử tu pháp môn trì phước đức tướng hảo, cho nên đắc được cảnh giới tất cả tâm thanh tịnh tương tục, khiến cho tâm thanh tịnh tương tục không ngừng, vĩnh viễn không mất không hoại. Vị nầy đắc được môn giải thoát nầy.

Phổ vận hành quang minh Thiên Tử, đắc phổ vận nhật cung điện chiếu thập phương nhất thiết chúng sanh lệnh thành tựu sở tác nghiệp giải thoát môn.
Phổ Vận Hành Quang Minh Thiên Tử, được môn giải thoát, vận khắp nhựt cung điện, chiếu tất cả chúng sinh trong mười phương, khiến cho thành tựu nghiệp đã làm ra.

Vị Phổ Vận Hành Quang Minh Thiên Tử, đắc được môn giải thoát, vận chuyển cung điện ánh sáng mặt trời, chiếu sáng tất cả chúng sinh trong mười phương, khiến cho họ thành tựu thiện nghiệp tu làm được.

Nhĩ thời, Nhật Thiên tử, thừa Phật uy lực, biến quán nhất thiết Nhật Thiên tử chúng nhi thuyết tụng ngôn
Bấy giờ, Nhựt Thiên Tử, nương oai lực của Ðức Phật, quán khắp tất cả chúng Nhựt Thiên Tử mà nói ra bài kệ.

Lúc đó, vị Nhựt Thiên Tử nương đại oai đức thần lực của Ðức Phật, quán sát khắp tất cả chúng Nhựt Thiên Tử, mà nói kệ tán thán công đức của Phật.

Như Lai quảng đại trí tuệ quang,             Trí huệ quang Như Lai rộng lớn
Phổ chiếu thập phương chư quốc độ,        Chiếu khắp mười phương các cõi nước
Nhất thiết chúng sanh hàm kiến Phật,      Tất cả chúng sinh đều thấy Phật
Chủng chủng điều phục đa phương tiện.  Ðủ thứ điều phục nhiều phương tiện.

Trí huệ quang Như Lai rộng lớn“. Trí huệ quang của Phật rộng lớn vô biên. Trí huệ Quang nầy do tu thiền định mà đắc được. Tu đến lúc chẳng còn vọng tưởng, thì trí huệ quang sẽ hiện tiền, tức cũng khai ngộ. Phật tu phước tu huệ trong nhiều đời nhiều kiếp, cho nên có đại trí huệ quang.

Chiếu khắp mười phương các cõi nước“. Trí huệ quang nầy rộng lớn chiếu khắp các cõi nước chư Phật trong mười phương.

Tất cả chúng sinh đều thấy Phật“. Chúng sinh trong mười phương cõi nước đều thấy Phật.

Ðủ thứ điều phục nhiều phương tiện“. Phật dùng đủ thứ phương tiện pháp môn, để điều phục tất cả chúng sinh, khiến cho chúng sinh, thấy được Phật rồi, đều sửa lỗi làm mới, bỏ ác hướng thiện, hồi quang phản chiếu, đắc được giác ngộ.

Như Lai sắc tướng vô hữu biên,                Sắc tướng Như Lai không bờ mé
Tùy kỳ sở lạc tất hiện thân,                      Tùy chúng sinh thích đều hiện thân
Phổ vì thế gian khai trí hải,                       Khắp vì thế gian mở biển trí
Diệm nhãn như thị quán ư Phật.               Diệm Nhãn quán nơi Phật như vậy.

Sắc Thân Như Lai không bờ mé“. Pháp thân của Phật chẳng có bờ mé, sắc thân của Phật cũng chẳng có bờ mé, đều tận hư không khắp pháp giới. Song, pháp thân không hình không tướng, còn sắc thân thì có hình có tướng.

Tùy chúng sinh thích đều hiện thân“. Tùy theo sở vui thích của chúng sinh, Phật đều hiện thân để vì họ thuyết pháp, nói pháp Bốn Thánh Ðế, pháp mười hai nhân duyên, pháp lục độ .v.v.

Khắp vì thế gian mở biển trí“. Mục đích Phật thuyết pháp, là khắp vì tất cả chúng sinh thế gian, khai mở biển trí huệ. Có trí huệ rồi mới biết rõ thiện ác thị phi, không làm việc điên đảo.

Diệm Nhãn Quán nơi Phật Như vậy“. Quang Diễm Nhãn Thiên Tử quán tưởng nơi Phật như thế.

Phật thân vô đẳng vô hữu bỉ,                    Thân Phật chẳng sánh không ai bằng
Quang minh chiếu diệu biến thập phương,       Quang minh chiếu sáng khắp mười phương
Siêu quá nhất thiết tối vô thượng,               Vượt hơn tất cả trên hết thảy
Như thị pháp môn hoan hỉ đắc.                   Hoan Hỉ Thiên Tử được môn nầy.

Thân Phật chẳng sánh không ai bằng“. Thân của Phật không ai bằng, cũng chẳng thể so sánh, nghĩa là chẳng có ai bằng Phật.

Quang minh chiếu sáng khắp mười phương“. Quang minh của Phật chiếu sáng khắp mười phương, giống như ánh sáng mặt trời, nhưng hơn hẳn ánh sáng mặt trời. Vì ánh sáng mặt trời chỉ chiếu mặt dương mà không thể chiếu mặt âm. Quang minh của Phật chiếu khắp, chẳng có chỗ nào mà không chiếu, bất cứ là mặt âm hay mặt dương đều chiếu khắp.

Vượt hơn tất cả trên hết thảy“. Quang minh của Phật, vượt hơn tất cả ánh sáng mặt trời, mặt trăng , sao. Không thể nào so sánh được quang minh của Phật. Cho nên nói vượt hơn tất cả trên hết thảy.

Hoan Hỉ Thiên Tử được môn nầy“. Cảnh giới môn giải thoát nầy vị Tu Di Quang Hoan Hỉ Tràng Thiên tử đắc được.

Vì lợi thế gian tu khổ hạnh,                       Vì lợi thế gian tu khổ hạnh
Vãng lai chư hữu vô lượng kiếp,               Qua lại các cõi vô lượng kiếp
Quang minh Biến tịnh như hư không,      Quang minh tịnh khắp như hư không
Bảo nguyệt năng tri thử phương tiện.       Bảo Nguyệt biết được phương tiện nầy.

Vì lợi thế gian tu khổ hạnh“. Tịnh Bảo Nguyệt Thiên Tử, vì lợi ích tất cả chúng sinh thế gian, mới tu khổ hạnh. Nguyện dùng khổ hạnh của mình, để giải trừ khổ của chúng sinh, đó là tinh thần của Phật Bồ Tát cứu đời cứu người.

Qua lại các cõi vô lượng kiếp“. Chuyển đi chuyển lại ở trong tam giới hai mươi lăm cõi, trong thời gian vô lượng kiếp tu khổ hạnh. Hai mươi lăm cõi là : Dục giới có mười bốn cõi, sắc giới có bảy cõi, vô sắc giới có bốn cõi, tổng cộng hai mươi lăm cõi.

Mười bốn cõi dục giới tức là :
Bốn đường ác ( A tu la, súc sinh, ngạ quỷ, địa ngục).
Bốn đại châu (Nam Thiệm Bộ Châu, Ðông thắng Thần Châu, Tây Ngưu Hóa Châu, Bắc Câu Lưu Châu).
Sáu cõi trời dục giới (Trời Tứ Thiên Vương, Trời Ðao Lợi, Trời Dạ Xoa, Trời Ðâu Suất, Trời Hóa Lạc, Trời Tha Hóa Tự Tại).

Sắc giới có bảy cõi tức là :
Trời Sơ Thiền,
Trời Nhị Thiền,
Trời Tam Thiền,
Trời Tứ Thiền,
Trời Ðại Phạm,
Trời Tịnh Không,
Trời Vô Tưởng.

Vô sắc giới có bốn cõi tức là :
Trời Không Vô Biên Xứ,
Trời Thức Vô Biên Xứ,
Trời Vô Sở Hữu Xứ,
Trời Phi Tưởng Phi Phi Tưởng.

Phá phiền não hai mươi lăm cõi gọi là tịnh, phá nghiệp hai mươi lăm cõi gọi là ngã, phá chấp hai mươi lăm cõi gọi là lạc. Chẳng còn sinh tử hai mươi lăm cõi gọi là thường. Thường lạc ngã tịnh là bốn đức Niết Bàn. Phật nói pháp thế gian là : vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh, đó là pháp phương tiện. Phật nói pháp xuất thế là : thường, lạc, ngã, tịnh đó là pháp chân thật. Vô thường là chúng sinh, thường là pháp thân. Khổ là ngoại đạo, lạc là Niết Bàn. Vô ngã là sinh tử, ngã là Như Lai. Bất tịnh là hữu vi, tịnh là vô vi.

Ví dụ : Trăng sáng là thường lạc ngã tịnh. Mây đen là vô thường khổ vô ngã bất tịnh. Pháp thế gian là mây đen che mặt trăng, không thấy ánh sáng. Pháp xuất thế giống như gió mát, thổi mây bay đi hết, thì lại thấy mặt trăng chiếu sáng. Phàm phu có bốn việc điên đảo : Lấy sinh diệt vô thường, chấp trước làm thường. Lấy hoặc nghiệp khổ chấp trước làm vui. Lấy duyên giả ngã chấp trước làm ngã. Lấy phiền não nhiễm ô, chấp trước làm tịnh, cho nên là chúng sinh. Chúng ta là người tu đạo, phải trừ khử vô minh , nếu trừ sạch vô minh thì chân tâm sáng tỏ, trí huệ hiện tiền, thấy rõ chân lý thì chẳng còn điên điên đảo nữa.

Quang minh tịnh khắp như hư không“. Quang minh của Phật, thanh tịnh khắp như hư không, tơ hào chẳng nhiễm.

Bảo Nguyệt biết được phương tiện nầy“. Tịnh Bảo Nguyệt Thiên Tử biết được phương tiện pháp môn nầy.

Phật diễn Diệu-Âm vô chướng ngại,         Phật diễn diệu âm không chướng ngại
Phổ biến thập phương chư quốc độ,         Khắp cùng mười phương các cõi nước
Dĩ pháp tư vị ích quần sanh,                     Dùng pháp từ vị ích quần sinh
Dũng mãnh năng tri thử phương tiện.      Dũng Mãnh thấu triệt phương tiện nầy.

Phật diễn diệu âm không chướng ngại“. Âm thanh vi diệu của Phật, chẳng có gì chướng ngại được, bất cứ nơi nào xa, cũng đều nghe được âm thanh của Phật. Không những nghe được mà còn rất rõ ràng, giống như Phật đang ở trước mặt.

“Biến khắp mười phương các cõi nước“. Phật giảng Kinh thuyết pháp, ở trong một cõi nước, mà các cõi nước trong mười phương cùng đều nghe được.

Dùng pháp từ vị ích quần sinh“. Phật dùng từ vị của pháp, để lợi ích chúng sinh, do đó “Thiền duyệt vi thực, pháp hỷ sung mãn”, để tăng trưởng huệ mạng của chúng sinh.

Dũng mãnh thấu triệt phương tiện này“. Vị Dũng Mãnh Bất Thối Chuyển Thiên Tử minh bạch môn thiện xảo phương tiện nầy.

Phóng quang minh võng bất tư nghị,        Phóng lưới quang minh không nghĩ bàn
Phổ tịnh nhất thiết chư hàm thức,            Tịnh khắp tất cả các hàm thức
Tất sử phát sanh thâm tín giải,                 Khiến cho phát sinh tin hiểu sâu
Thử hoa anh Thiên sở nhập môn.             Hoa Anh Thiên Vương chứng môn nầy.

Phóng lưới quang minh không nghĩ bàn“. Phật phóng ra một loại lưới quang minh, không thể nghĩ bàn, độ thoát tất cả chúng sinh ra khỏi biển sinh tử.

Tịnh khắp tất cả các hàm thức“. Hàm thức là chúng sinh gồm có tám thức, lưới quang minh của Phật khiến tất cả chúng sinh đắc được thanh tịnh.

Khiến cho phát sinh tin hiểu sâu“. Hoàn toàn khiến cho chúng sinh, đều phát sinh tin hiểu sâu rộng, thậm chí con vật nhất cũng hiểu được.

Hoa Anh Thiên Vương chứng môn nầy“. Vi Diệu Hoa Anh Quang Minh Thiên Tử, thâm nhập được môn giải thoát nầy.

Thế gian sở hữu chư quang minh,             Tất cả quang minh trong thế gian
Bất cập Phật nhất mao khổng quang,       Chẳng bằng quang minh lỗ lông Phật
Phật quang như thị bất tư nghị,                Quang minh của Phật không nghĩ bàn
Thử thắng tràng quang chi giải thoát.      Thắng Tràng Quang Thiên ngộ môn nầy.

Tất cả quang minh trong thế gian“. Tất cả ánh sáng mặt trời, mặt trăng, sao cho đến đèn điện trong thế gian không thể so sánh với quang minh của Phật.

Chẳng bằng quang minh lỗ lông Phật“. Những ánh sáng trong thế gian, chẳng bằng quang minh một lỗ chân lông của Phật. Quang minh lỗ chân lông của Phật chiếu sáng khắp ba ngàn đại thiên thế giới.

Quang minh của Phật không nghĩ bàn“. Quang minh của Phật vĩ đại như thế, tán thán không hết, nói không cùng được, là cảnh giới không thể nghĩ bàn.

Thắng Tràng Quang Thiên ngộ môn nầy“. Cảnh giới môn giải thoát nầy vị Tối Thắng Tràng Quang Minh Thiên Tử đắc được.

Nhất thiết chư Phật Pháp như thị,            Tất cả Phật pháp đều như thế
Tất tọa Bồ-đề thụ Vương hạ,                     Ðều ngồi dưới gốc cội bồ đề
Lệnh phi đạo giả trụ ư đạo,                       Khiến kẻ làm ác sửa làm lành
Bảo kế quang minh như thị kiến.              Bảo Kế Quang Minh thấy môn nầy.

Tất cả Phật pháp đều như thế“. Tất cả pháp của chư Phật trong mười phương ba đời đều như thế.

Ðều ngồi dưới gốc cội bồ đề“. Khi chư Phật thành đạo, đều ngồi dưới cội bồ đề khai ngộ thành Phật.

Khiến kẻ làm ác cải làm lành“. Khiến cho chúng sinh địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh xa rời đường ác mà sinh về đường lành, cải ác hướng thiện, cài tà quy chánh.

Bảo Kế Quang Minh thấy môn nầy“. Vị Bảo Kế Phổ Quang Minh Thiên Tử đắc được cảnh giới nầy.

Chúng sanh manh ám ngu si khổ,             Chúng sinh mù tối ngu si khổ
Phật dục lệnh kỳ sanh Tịnh nhãn,            Phật muốn cho họ sinh mắt tịnh
Thị cố vi nhiên trí tuệ đăng,                      Khiến cho khai mở đèn trí huệ
Thiện mục ư thử thâm quan sát.               Thiện Mục quán được pháp môn nầy.

Chúng sinh mù tối ngu si khổ“. Mù là vô minh, tối là phiền não, ngu si là chấp trước. Ba thứ nầy khổ đặc biệt, nhưng những khổ nầy chẳng ai giác ngộ, giống như cá ở trong nước chẳng thấy nước, người ở trong khổ chẳng biết khổ, nhiễm khổ cho rằng vui.

Phật muốn cho họ sinh tịnh nhãn“. Phật muốn cho tất cả chúng sinh đều sinh mắt trí huệ thanh tịnh. Có đại trí huệ rồi, thì sẽ phá được phiền não vô minh và chấp trước, tức là được giải thoát.

Khiến cho khai mở đèn trí huệ“. Vì Phật muốn phá khổ mù tối ngu si của chúng sinh, cho nên vì chúng sinh khai mở đèn trí huệ, dạy tất cả chúng sinh phá vô minh, bỏ tà về chánh.

Thiện Mục quán được pháp môn nầy“. Vị Thiện Mục Thiên Tử quán sát và đắc được môn giải thoát nầy.

Giải thoát phương tiện tự tại tôn,             Ðấng Tự Tại phương tiện giải thoát
Nhược hữu tằng kiến nhất cúng dường,   Nếu ai thấy được mà cúng dường
Tất sử tu hành chí ư quả,                          Khiến họ tu hành chứng đạo quả
Thử thị đức Thiên phương tiện lực.          Trì Ðức Thiên Tử thấu môn nầy.

Ðấng tự tại phương tiện giải thoát“. Giải thoát nghĩa là : chẳng còn mọi sự chấp trước. Không còn chấp trước mới thật sự tự tại. Không trói không buộc, không quái không ngại, không sầu không lo, không vui không giận, không bị gì ràng buộc, không bị vật chất lung lay, thì “vượt ra khỏi tam giới, không ở trong ngũ hành”, như vậy mới hoàn toàn giải thoát. Nếu muốn được giải thoát thì tu đủ thứ phương tiện pháp môn, từ phương tiện pháp môn mà đạt đến tự tại, từ tự tại mới đạt được giải thoát.

Chân chánh giải thoát thì chẳng có tướng giải thoát, chẳng có tính giải thoát, không thể nói giải thoát. Người hay nói thì chẳng phải là thật giải thoát, hơn nữa chẳng phải nói có tư tưởng thì nói tôi giải thoát rồi. Nhưng làm thế nào biết có giải thoát ? vậy vẫn chưa được giải thoát.

Tại sao phải nói có giải thoát ? Giải thoát vốn là giải thoát. Tại sao phải nói tôi phải giải thoát ? Tôi phải đắc được giải thoát ? Vậy bạn đã vứt giải thoát rồi chăng ? hay là đã mất rồi chăng ? cho nên một số người không giữ quy cụ, cho rằng mình đắc được giải thoát (tự do), cho rằng muốn họ giữ quy cụ thì chẳng đắc được giải thoát. Thứ tư tưởng nầy khiến cho họ làm tự liễu hán, họ không biết đến người, người không biết đến họ. Do đó, “quan niệm”, chẳng màng đến việc gì hết. Thật ra đại Bồ Tát thì hành Bồ Tát đạo, chuyên lo mọi việc. Di Ðà Phật tiếp dẫn chúng sinh về thế giới Cực Lạc, hoa sen hóa sinh, chẳng có thời giờ nghỉ ngơi, sao nói không thích lo việc thiên hạ ?

Tổ thứ tư Ðạo Tín đại sư khoảng mười bốn tuổi thì đến núi Sùng Công lạy Tổ thứ ba là Tăng Xán.
– Ðạo Tín đại sư nói :”Mong Hòa Thượng từ bi, chỉ dạy pháp môn giải thóat”.
– Tổ Tăng Xán nói : “Ai trói buộc ngươi” ?
– Ngài Ðạo Tín nói : “Chẳng ai trói buộc”.
– Tổ Tăng Xán nói : “Cầu giải thoát để làm gì” ?

Ngài Ðạo Tín nghe rồi bèn khai ngộ, ở lại hầu Tổ Tăng Xán bảy năm, sau được tâm ấn Cà sa làm Tổ thứ tư.

Nếu ai thấy được mà cúng dường“. Ðấng tự tại phương tiện giải thoát tức là Phật. Nếu có ai thấy được Phật mà phát tâm cúng dường Phật.

Khiến họ tu hành chứng đạo quả“. Hoàn toàn khiến cho chúng sinh cúng dường, tu đủ thứ pháp môn, chứng được quả vị.

Trì Ðức Thiên Tử thấu môn nầy“. Vị Trì Ðức Thiên Tử minh bạch được phương tiện pháp môn nầy.

Nhất Pháp môn trung vô lượng môn,       Trong một pháp môn vô lượng môn
Vô lượng thiên kiếp như thị thuyết,          Vô lượng ngàn kiếp nói như vậy
Sở diễn Pháp môn quảng đại nghĩa,         Sở diễn pháp môn nghĩa rộng lớn
Phổ vận quang Thiên chi sở liễu.              Phổ Vận Quang Thiên ngộ môn nầy.

Trong một pháp môn vô lượng môn“. Pháp của Phật nói là một làm lượng, vô lượng làm một. Một gốc tán làm vạn thù, vạn thù quy về một gốc. Cho nên mới nói : trong một pháp môn, diễn nói vô lượng pháp môn, vô lượng pháp môn, trở về một pháp môn. Ðó là cảnh giới trùng trùng vô tận, vô tận trùng trùng.

Vô lượng ngàn kiếp nói như vậy“. Trong vô lượng trăm ngàn vạn kiếp, Phật đều nói pháp như thế. Nhưng thứ pháp nầy thủy chung cũng nói không hết.

Sở diễn pháp môn nghĩa rộng lớn“. Pháp môn của Phật diễn nói là vô lượng vô biên, cho nên nghĩa lý rộng lớn, vô cùng tận.

Phổ Vận Quang Thiên ngộ môn nầy“. Phổ Vận Quang Minh Thiên Tử thấy rõ cảnh giới nầy.

Phục thứ, Nguyệt Thiên tử, đắc Tịnh Quang phổ chiếu Pháp giới nhiếp hóa chúng sanh giải thoát môn
Lại nữa, Nguyệt Thiên Tử, được môn giải thoát, quang minh thanh tịnh, chiếu khắp pháp giới nhiếp hóa chúng sinh.

Vị Nguyệt Thiên Tử dùng quang minh thanh tịnh của Phật, chiếu khắp pháp giới, để nhiếp hóa tất cả chúng sinh, khiến cho họ sớm thành Phật đạo, đó là môn giải thoát vị nầy đắc được.

Hoa Vương kế quang minh Thiên Tử, đắc quan sát nhất thiết chúng sanh giới lệnh phổ nhập vô biên Pháp giải thoát môn
Hoa Vương Kế Quang Minh Thiên Tử, được môn giải thoát, quán sát tất cả chúng sinh giới, khiến cho họ vào khắp vô biên pháp.

Vị Hoa Vương Kế Quang Minh Thiên Tử, quán sát vô lượng vô biên tất cả chúng sinh giới, khiến cho tất cả chúng sinh, nhập vào khắp vô biên pháp môn, vô biên trí môn, vị nầy đắc được cảnh giới nầy, nhập vào môn giải thoát nầy.

Chúng diệu Tịnh Quang Thiên Tử, đắc liễu tri nhất thiết chúng sanh tâm hải chủng chủng phàn duyên chuyển giải thoát môn
Chúng Diệu Tịnh Quang Thiên Tử, được môn giải thoát, biết rõ tất cả đủ thứ sự phan duyên, biến chuyển trong biển tâm của chúng sinh.

Vị Chúng Diệu Tịnh Quang Thiên Tử, biết rõ tất cả đủ thứ sóng phan duyên trong biển tâm chúng sinh. Vị nầy hiểu được sóng phan duyên làm thế nào sinh ra ? Chúng sinh làm thế nào bị sóng phan duyên lay chuyển? Vị nầy đắc được môn giải thoát nầy.

Trên thế giới nầy có đủ thứ người, có đủ thứ tâm phan duyên. Ðủ thứ tâm phan duyên bị sóng lay chuyển, giống như sóng trong biển không khác. Gió lớn thì sóng cũng lớn, gió nhỏ thì sóng cũng nhỏ. Nếu chẳng có tâm phan duyên thì chẳng có sóng, tâm bình như gương thì không bị cảnh giới lay chuyển, ngược lại chuyển được cảnh giới.

An lạc thế gian tâm Thiên Tử, đắc dữ nhất thiết chúng sanh bất khả tư nghị lạc lệnh dõng dược đại hoan hỉ giải thoát môn
An Lạc Thế Gian Tâm Thiên Tử, được môn giải thoát, sự khoái lạc không thể nghĩ bàn, của tất cả chúng sinh, khiến cho họ nhảy nhót vui mừng.

Vị An Lạc Thế Gian Tâm Thiên Tử, đắc được cảnh giới, tâm ai không khoái lạc, ban cho tất cả chúng sinh khoái lạc không thể nghĩ bàn, chúng sinh đắc được khoái lạc rồi thì nhảy nhót, sinh tâm vui mừng, không gì sánh được, đó là môn giải thoát vị nầy đắc được.

Thụ Vương nhãn quang minh Thiên Tử, đắc như điền gia tác nghiệp chủng nha hành đẳng tùy thời thủ hộ lệnh thành tựu giải thoát môn
Thụ Vương Nhãn Quang Minh Thiên Tử, được môn giải thoát, tùy thời khiến cho thành tựu, như làm nghề ruộng, gieo trồng hạt giống.

Vị Thụ Vương Nhãn Quang Minh Thiên Tử mắt sáng đại trí huệ, chiếu phá sự đen tối vô minh. Cảnh giới tam muội nầy, giống như nông phu làm nghề ruộng, trước hết gieo giống, sau đó mới nảy mầm đâm chồi nảy lộc, còn phải tùy thời giữ gìn, chăm sóc, cạo cỏ, tưới nước bón phân .v.v., mới mong thu hoạch kết quả.

Phật ở trong ruộng Phật, gieo trồng xuống hạt giống bồ đề, sau đó nảy mầm lớn lên từng chút từng chút, thành cây bồ đề, kết quả bồ đề, từng bước từng bước mà thành tựu, nhưng cần phải bảo vệ giữ gìn nó, phải từ từ, thiếu nước thì tưới nước, ít phân thì thêm phân. Dùng nước đức tính để tưới mầm non trí tuệ, dùng lục độ vạn hạnh, làm phân bón để vun bồi cây bồ đề, khiến cho nó khai hoa kết quả, phải luôn luôn giữ gìn, khiến cho nó thành thục, đắc được giải thoát. Vị Thiên Tử nầy đắc được môn giải thoát nầy.

Xuất hiện Tịnh Quang Thiên Tử, đắc từ bi cứu hộ nhất thiết chúng sanh lệnh hiện kiến thọ khổ thọ lạc sự giải thoát môn
Xuất Hiện Tịnh Quang Thiên Tử, được môn giải thoát, từ bi cứu hộ tất cả chúng sinh, khiến cho hiện thấy sự thọ khổ thọ vui.

Vị Xuất Hiện Tịnh Quang Thiên Tử đắc được tam muội, từ bi cứu hộ tất cả chúng sinh. Từ là ban vui cho chúng sinh, bi là cứ khổ chúng sinh. Từ là vô duyên đại từ, bi là đồng thể đại bi. Vị Thiên Tử nầy dùng tâm từ bi để cứu độ chúng sinh, để cứu hộ tất cả chúng sinh, khiến cho tất cả chúng sinh, thấy sự thọ khổ thọ vui. Vị nầy đắc được môn giải thoát nầy.

Phổ du bất động quang Thiên Tử, đắc năng trì thanh tịnh nguyệt phổ hiện thập phương giải thoát môn
Phổ Du Bất Ðộng Quang Thiên Tử, được môn giải thoát, giữ mặt trăng thanh tịnh, hiện khắp trong mười phương.

Vị Phổ Du Bất Ðộng Quang Thiên Tử du hành khắp mười phương. Tuy nhiên du hành nhưng chẳng động chỗ ngồi, hoặc là ở nơi tịch tĩnh trong đạo tràng, đó là cảnh giới thiền định, chẳng phải người phàm phu hiểu biết được. Ở trong thiền định có thể du hành khắp mười phương, đến khắp pháp giới, như như bất động, liễu liễu thường minh.

Cảnh giới nầy như mặt trăng thanh tịnh, hiện khắp trong mười phương. Bạn thấy mặt trăng ở trên đầu bạn, người kia cũng thấy mặt trăng ở trên đầu của họ, chúng sinh trong mười phương đều cảm thấy mặt trăng đều ở trên đầu của mình. Vị Thiên Tử nầy đắc được cảnh giới nầy.

Tinh Tú-Vương tự tại Thiên Tử, đắc khai thị nhất thiết pháp như huyễn như hư không vô tướng vô tự tánh giải thoát môn
Tinh Tú Vương Tự Tại Thiên Tử, được môn giải thoát, khai thị tất cả các pháp, như huyễn như hư không, không tướng không tự tánh.

Vị nầy là Tinh Tú Vương Tự Tại Thiên Tử. Tinh tú là vua của các vì sao. Nhà thiên văn học phân chia sao ra làm nhị thập bát tú. Phương đông : thương long thất tú, tức là : Giác kháng thị phòng tâm vĩ kì, bảy vì sao làm đại biểu. Phương nam : thù tỉnh thất tú, tức là : Tỉnh, Quỷ, Liểu, Tinh, Trương, Duật, Chẩn bảy vì sao làm đại biểu. Phương tây : bạch hổ thất tinh, tức là Khuê, Sổ, Vị, Mão, Tất, Tuy, Tham, bảy vì sao làm đại biểu. Phương bắc : huyền võ thất tú, tức là Ðẩu, Ngưu, Nữ, Hư, Nguy, Thất, Bích, bảy vì sao làm đại biểu.

Vị Thiên Tử nầy tự tại vô cùng, khai thị tất cả diệu pháp. Diệu pháp là gì ? Là như huyễn như hư không, không tướng không tự tính, giống như huyễn hóa, lại giống như hư không, chẳng có hình tướng, lại chẳng có tự tính. Cứu kính là gì ? Tức là pháp thân của Phật, vị nầy đắc được môn giải thoát nầy.

Tịnh giác Nguyệt Thiên tử, đắc phổ vi nhất thiết chúng sanh khởi Đại nghiệp dụng giải thoát môn
Tịnh Giác Nguyệt Thiên Tử, được môn giải thoát, khắp vì tất cả chúng sinh khởi đại nghiệp dụng.

Vị Tịnh Giác Nguyệt Thiên Tử, khiến cho tất cả chúng sinh, phát tâm đại bồ đề, kết quả bồ đề, tu nghiệp đại bồ đề, sinh dụng đại bồ đề. Quả bồ đề viên mãn thành tựu rồi, thì dứt được nghiệp sinh tử. Nghiệp bồ đề giác đạo thành tựu rồi, thì đó là khởi dụng đại nghiệp. Vị nầy đắc được môn giải thoát nầy.

Đại uy đức quang minh Thiên Tử, đắc phổ đoạn nhất thiết nghi hoặc giải thoát môn.
Ðại Oai Ðức Quang Minh Thiên Tử, được môn giải thoát, đoạn sạch tất cả nghi hoặc.

Vị Ðại Oai Ðức Quang Minh Thiên Tử rất có oai đức, chúng sinh thấy được vị nầy, đều sinh tâm cung kính và sợ sệt. Vị nầy đoạn trừ tất cả nghi hoặc của chúng sinh. Bất cứ nghi hoặc phiền não gì, vị nầy đều giải trừ. Ðó là môn giải thoát của vị nầy đắc được.

Nhĩ thời, Nguyệt Thiên tử, thừa Phật thần lực, phổ quán nhất thiết Nguyệt Cung điện trung chư Thiên Chúng hội nhi thuyết tụng viết
Bấy giờ, Nguyệt Thiên Tử nương oai lực của Ðức Phật, quán khắp tất cả các Thiên chúng, trong Nguyệt cung điện mà nói kệ rằng.

Lúc đó, vị Nguyệt Thiên Tử, nương đại oai đức thần thông lực của đùc Phật, quán sát khắp tất cả các Thiên chúng hội trong Nguyệt cung điện, mà nói kệ tán thán công đức của Phật.

Phật phóng quang minh biến thế gian,     Phật phóng quang minh khắp thế gian
Chiếu diệu thập phương chư quốc độ,      Chiếu sáng mười phương các cõi nước
Diễn bất tư nghị quảng đại Pháp,             Nói pháp rộng lớn không nghĩ bàn
Vĩnh phá chúng sanh si hoặc ám.              Phá sạch ngu si hoặc chúng sinh.

Phật phóng quang minh khắp thế gian“. Phật phóng vô lượng vô biên quang minh, chiếu sáng khắp thế gian.

Chiếu sáng các cõi nước mười phương“. Quang minh của Phật không những chiếu khắp thế gian mà còn chiếu khắp các cõi Phật trong mười phương.

Nói pháp rộng lớn không nghĩ bàn“. Phật diễn nói diệu pháp rộng lớn không thể dùng tâm để suy nghĩ, không thể dùng lời để bàn luận. Diệu pháp là gì ? Tức là hai chúng tại gia nam và nữ tu : “đừng làm các điều ác, hãy làm các điều thiện”, hai chúng xuất gia Tăng ni tu “siêng tu giới định huệ, diệt trừ tham sân si”.

Phá sạch ngu si hoặc chúng sinh“. Vô minh đen tối, phiền não ngu si hoặc của chúng sinh phá sạch vĩnh viễn. Vị Nguyệt Thiên Tử đắc được môn giải thoát nầy.

Cảnh giới vô biên vô hữu tận,                   Cảnh giới vô biên không ngằn mé
Ư vô lượng kiếp thường khai đạo,            Trong vô lượng kiếp thường khai đạo
Chủng chủng tự tại hóa quần sanh,          Ðủ thứ tự tại hóa quần sinh
Hoa kế như thị quán ư Phật.                     Hoa Kế quán thấy Phật như vậy.

Cảnh giới vô biên không ngằn mé“. Cảnh giới của Phật chẳng có bờ mé, cũng chẳng có cùng tột, tận hư không khắp pháp giới.

Trong vô lượng kiếp thường khai đạo“. Trong vô lượng kiếp về trước, Phật thường vì chúng sinh mà thuyết pháp, khai đạo chúng sinh, giáo hóa chúng sinh.

Ðủ thứ tự tại hóa quần sinh“. Phật dùng đủ thứ tự tại thần thông diệu dụng, để giáo hóa quần sinh, lợi ích quần sinh.

Hoa Kế quán thấy Phật như vậy“. Vị Hoa Vương Kế Quang Minh Thiên Tử, quán sát được cảnh giới nầy của Phật.

Chúng sanh tâm hải niệm niệm thù,         Biển tâm chúng sinh niệm niệm thù
Phật trí khoan quảng tất liễu tri,              Trí Phật rộng lớn đều biết rõ
Phổ vì thuyết Pháp lệnh hoan hỉ,              Khắp vì thuyết pháp khiến vui mừng
Thử diệu quang minh chi giải thoát.         Giải thoát nầy của Diệu Quang Minh.

Biển tâm chúng sinh niệm niệm thù“. Biển tâm của chúng sinh, niệm niệm khác nhau. Niệm trước diệt niệm sau sinh, niệm sau diệt niệm trước sinh, niệm niệm liên tục, như sóng biển lớn.

Trí Phật rộng lớn đều biết rõ“. Trí huệ của Phật rộng lớn và vi tế vô cùng. Tất cả mọi tâm niệm của chúng sinh Phật đều biết đều thấy.

Khắp vì thuyết pháp khiến vui mừng“. Phật khắp vì tất cả chúng sinh mà thuyết pháp, khiến cho chúng sinh đắc được đại hoan hỉ mà y giáo phụng hành, y theo pháp tu học.

Giải thoát nầy của Diệu Quang Minh“. Môn giải thoát nầy vị Chúng Diệu Tịnh Quang Thiên Tử đắc được.

Chúng sanh vô hữu Thánh an lạc,            Chúng sinh chẳng có Thánh an lạc
Trầm mê ác đạo thọ chư khổ,                   Trầm mê đường ác thọ các khổ
Như Lai thị bỉ pháp tánh môn,                 Như Lai khai thị môn pháp tánh
An lạc tư tánh như thị kiến.                      An Lạc tư duy thấy như thế.

Chúng sinh chẳng có Thánh an lạc“. Tất cả sự an lạc của chúng sinh, đều là an lạc thế gian, tuy nhiên cảm thấy là an lạc, thật ra là chẳng thật an lạc. Thật an lạc là gì ? Tức là an lạc của Thánh nhân, không thọ các khổ, chỉ thọ an lạc, không lo không sầu, không quái không ngại.

Trầm mê đường ác thọ các khổ“. Chúng sinh trầm mê trong sáu nẻo luân hồi, thọ đủ thứ sự thống khổ. Trong sáu nẻo có ba đường lành và ba đường ác. Ba đường lành là cõi trời, cõi người, cõi a tu la. Tu mười điều lành giữ năm giới, thì sinh về đường lành. Ba đường ác là : Súc sinh, ngạ quỷ đạo, địa ngục, làm mười điều ác không giữ giới thì sinh vào ba đường ác. Chúng sinh sinh vào ba đường lành thì khổ nhiều vui ít. Chúng sinh sinh vào ba đường ác thì không có vui, chỉ thọ các sự thống khổ.

Như Lai khai thị môn pháp tính“. Phật khai thị cho chúng sinh, các pháp không rời tự tính, khiến cho chúng sinh, đều đắc được an lạc của bậc Thánh nhân.

An Lạc tư duy thấy như vậy“. Vị An Lạc Thế Gian Tâm Thiên Tử, tư duy thấy được cảnh giới nầy.

Như Lai hy hữu đại từ bi,                          Như Lai hi hữu đại từ bi
Vì lợi chúng sanh nhập chư hữu,              Vì lợi chúng sinh vào các cõi
Thuyết Pháp khuyến thiện lệnh thành tựu, Thuyết pháp khuyến thiện khiến thành tựu
Thử mục quang Thiên sở liễu tri.              Mục Quang Thiên thấu rõ môn nầy.

Như Lai hi hữu đại từ bi“. Lòng từ bi cùa Phật vĩ đại nhất, hi hữu nhất trên thế gian. Bất cứ lòng từ bi nào, cũng không thể sánh với lòng từ bi của Phật.

Vị lợi chúng sinh vào các cõi“. Tâm từ bi của Phật rộng lớn vô biên. Vì lợi ích chúng sinh, vì giáo hóa chúng, mà tâm cam tình nguyện, vào trong tam giới hai mươi lăm cõi, giải trừ sự thống khổ của chúng sinh, cứu hộ sự thống khổ của chúng sinh, đó là nguyện lực của Phật.

Thuyết pháp khuyến thiện khiến thành tựu“. Phật vì muốn cho chúng sinh, lìa khổ được vui, mà diễn nói đủ thứ pháp môn và khuyên chúng sinh làm đủ thứ việc thiện, khiến cho chúng sinh đều thành tựu, đắc được quả giác ngộ bồ đề.

Mục Quang Thiên thấu rõ môn này“. Cảnh giới môn giải thoát nầy, vị Thụ Vương Nhãn Quang Minh Thiên Tử minh bạch được.

Thế Tôn khai xiển pháp quang minh,       Thế Tôn khai xiển pháp quang minh
Phân biệt thế gian chư nghiệp tánh,         Phân biệt các nghiệp tánh thế gian
Thiện ác sở hạnh vô thất hoại,                  Thiện ác đã làm chẳng mất tiêu
Tịnh Quang kiến thử sanh hoan hỉ.          Tịnh Quang thấy rõ sinh hoan hỉ.

Thế Tôn khai xiển pháp quang minh“. Thế Tôn tức là Phật. Phật khai dương xiển minh chân lý Phật pháp, khiến cho thế giới phóng đại quang minh, những chúng sinh được quang minh của Phật chiếu đến đều đắc được lợi ích vô lượng.

Phân biệt các nghiệp tính thế gian“. Phật thuyết pháp vì phân biệt thiện nghiệp và ác nghiệp thế gian và nghiệp không thiện không ác. Nếu gieo trồng nghiệp thiện thì tương lai sẽ được quả báu thiện. Nếu gieo trồng nghiệp ác thì tương lai sẽ được quả báu ác.

Thiện ác đã làm chẳng mất tiêu“. Trồng nhân thiện thì được quả thiện, trồng nhân ác thì được quả ác, đó là luật nhân quả bất biến, tuyệt đối không có vấn đề tạo nghiệp thiện mà không có quả thiện, tạo nghiệp ác mà không có quả ác. Thiện ác đều không mất tiêu, tơ hào không sai.

Tịnh Quang thấy rõ sinh hoan hỉ“. Vị Xuất Hiện Tịnh Quang Thiên Tử thấy được cảnh giới nầy rất sung sướng vui mừng.

Phật vi nhất thiết phước sở y,                   Phật là chỗ nương tất cả phước
Thí như Đại địa trì cung thất,                   Ví như đại địa giữ nhà cửa
Xảo thị ly ưu an ổn đạo,                            Khéo dạy lìa khổ được an ổn
Bất động năng tri thử phương tiện.           Bất Ðộng biết được phương tiện nầy.

Phật là chỗ nương tất cả phước“. Ðức Phật đầy đủ phước huệ, tất cả đều viên mãn. Phật là ruộng phước tốt của chúng sinh, là chỗ phước báu nương tựa của chúng sinh.

Ví như đại địa giữ nhà cửa“. Giống như đại địa giữ gìn tất cả kiến trúc phòng xá nhà cửa được cất lên. Ðại địa ví như phước, phước của Phật là chỗ nương tựa của chúng sinh, lại giống như lâu đài cung điện, nương tựa đất để cất lên.

Khéo dạy lìa khổ được an ổn“. Phật dùng quyền xảo phương tiện để thuyết pháp, khai thị tất cả chúng sinh thoát ra khỏi con đường khổ, mà đắc được sự an ổn.

Bất Ðộng biết được phương tiện này“. Vị Phổ Du Bất Ðộng Quang Thiên Tử, biết Phật dùng phương tiện pháp môn để giáo hóa chúng sinh.

Trí hỏa Đại Minh châu Pháp giới,            Lửa trí sáng rực chiếu pháp giới
Hiện hình vô số đẳng chúng sanh,            Hiện hình vô số đồng chúng sinh
Phổ vì nhất thiết khai chân thật,               Khắp vì tất cả bày chân thật
Tinh Tú-Vương Thiên ngộ tư đạo.            Tinh Tú Vương Thiên ngộ môn nầy.

Lửa trí sáng rực chiếu pháp giới“. Lửa trí huệ của Phật phóng đại quang minh, chiếu khắp pháp giới.

Hiện hình vô số đồng chúng sinh“. Phật lại hiện trăm ngàn vạn ức thân chúng sinh, tùy loại chúng sinh mà hóa thân, để giáo hóa chúng sinh.

Khắp vì tất cả bày chân thật“. Khắp vì tất cả chúng sinh thế gian mở bày pháp môn chân thật.

Tinh Tú Vương Thiên ngộ môn nầy“. Vị Tinh Tú Vương Tự Tại Thiên Tử hiểu được pháp môn cảnh giới nầy.

Phật như hư không vô tự tánh,                 Phật như hư không không tự tánh
Vì lợi chúng sanh hiện thế gian,                Vì lợi chúng sinh hiện ra đời
Tướng hảo trang nghiêm như ảnh tượng,         Tướng tốt trang nghiêm như bóng hình
Tịnh giác Thiên Vương như thị kiến.        Tịnh Giác Thiên Vương thấy như vậy.

Phật như hư không không tự tánh“. Phật thì lấy hư không làm thể, lấy pháp giới làm thể, lấy chúng sinh làm thể. Bạn muốn biết Phật chăng ? Vậy thì trước hết phải biết hư không. Nếu biết hư không thì biết được Phật. Bạn muốn biết Phật chăng ? Vậy thì trước hết phải biết pháp giới, nếu biết pháp giới thì biết được Phật. Bạn muốn biết Phật chăng ? Vậy thì trước hết phải biết tất cả chúng sinh, nếu biết được tất cả chúng sinh thì cũng biết được Phật. Vì Phật chẳng có tự tánh, chẳng có tự thể, chẳng có tự tướng, lấy hư không làm tự tánh, lấy pháp giới làm tự thể, lấy chúng sinh làm tự tướng, cho nên nói Phật như hư không không tự tánh.

Vì lợi chúng sinh hiện ra đời“. Vì sao Phật xuất hiện ra đời ? Vì Phật có tâm đại bi, muốn lợi ích chúng sinh, khiến cho chúng sinh đắc được lợi lạc, cho nên mới xuất hiện ra đời.
Phật ở cõi Thường Tịch Quang tịnh độ, như như bất động, liễu liễu thường minh, không màng chúng sinh được độ hay không, nhưng tâm đại bi của Phật quá nặng, muốn lợi ích chúng sinh, cứu chúng sinh ra khỏi biển khổ, cho nên đảo giá từ thuyền, xuất hiện ra đời để độ chúng sinh đáng được độ.

Tướng tốt trang nghiêm như hình bóng“. Tuy nhiên Phật có ba mươi hai tướng, tám mươi vẻ đẹp, đủ thứ trang nghiêm, nhưng giống như bóng, như hình, chẳng có bổn thể chân thật.

Tịnh Giác Thiên Vương thấy như vậy“. Vị Tịnh Giác Nguyệt Thiên Tử biết được cảnh giới nầy.

Phật thân mao khổng phổ diễn âm,          Lỗ lông thân Phật đều diễn âm
Pháp vân phước thế tất vô dư,                  Mây pháp che khắp không còn sót
Thính văn mạc bất sanh hoan hỉ,              Nghe được thảy đều sinh vui mừng
Như thị giải thoát quang Thiên ngộ.         Oai Ðức Quang Thiên ngộ như vậy.

Lỗ lông thân Phật đều diễn âm“. Tất cả mỗi lỗ chân lông thân thể của Phật, đều diễn nói diệu âm, vì chúng sinh thuyết pháp, khiến cho chúng sinh thoát khỏi tam giới, đạt đến bờ bên kia.

Mây pháp che khắp không còn sót“. Phật thuyết pháp giống như mây, tất cả chúng sinh đều che chở ở dưới mây pháp, đều đắc được pháp ích và an lạc.

Nghe được thảy đều sinh vui mừng“. Nghe được âm thanh của Phật, thấy được tướng mạo của Phật, thì chẳng có một chúng sinh nào không sinh tâm vui mừng.

Oai Ðức Quang Thiên ngộ như vậy“. Cảnh giới môn giải thoát nầy, vị Oai Ðức Quang Minh Thiên Tử ngộ hiểu được.
Bây giờ đã giải thích xong phần kệ tán thán và các môn giải thoát của bảy chúng dục giới, sắc giới dưới đây tiếp tục giảng về kệ tán thán và các môn giải thoát của Bát Bộ Tứ Vương.