Kinh Hoa Nghiêm – Phẩm Thế Chủ Diệu Nghiêm – 5

Kinh Hoa Nghiêm
Đại Phương Quảng Phật

giảng giải

Phẩm Thế Chủ Diệu Nghiêm – Phần 5

Hòa Thượng TUYÊN HÓA
Việt dịch: Tỳ Kheo Thích Minh Ðịnh

 

Nhĩ thời, cát tường chủ dược Thần, thừa Phật uy lực, biến quán nhất thiết chủ dược Thần chúng nhi thuyết tụng ngôn:
Bấy giờ, Chủ Dược Thần Cát Tường, nương oai lực của đức Phật, quán sát khắp tất cả chúng Chủ Dược Thần, mà nói ra bài kệ.

Lúc đó, vị Chủ Dược Thần Cát Tường, nương oai thần lực của Phật, quán khắp tất cả chúng Chủ Dược Thần, mà nói ra bài kệ, để khen ngợi công đức của Phật.

Như Lai trí tuệ bất tư nghị,                       Trí tuệ Như Lai không nghĩ bàn
Tất tri nhất thiết chúng sanh tâm,            Ðều biết tất cả tâm chúng sinh
Năng dĩ chủng chủng phương tiện lực,     Hay dùng đủ thứ sức phương tiện
Diệt bỉ quần mê vô lượng khổ.                  Diệt sạch quần mê vô lượng khổ.

Trí huệ Như Lai không nghĩ bàn.’’ Viên mãn trí huệ của Phật không thể nghĩ bàn. Chúng ta chúng sinh cũng có thứ không thể nghĩ bàn, đó là ngu si, chẳng phân biệt thị phi, chẳng rõ chánh tà, cũng chẳng rõ trắng đen, chẳng phân biệt thiện ác, màu đen nói là màu trắng, màu trắng nói là màu đen, thiện nói là ác, ác nói là thiện, đó là tư tưởng của người ngu si. Còn có một loại người ngu si nữa, không tốt mà họ cho là tốt, tốt mà họ cho là không tốt. Pháp xuất thế nên tu hành, mà họ nói là sai lầm chẳng đúng, pháp thế gian nên buông xả, mà họ cứ khăng khăng ôm giữ chấp trước, đó là chỗ không thể nghĩ bàn của chúng sinh.
Chúng sinh có trí huệ chăng ? Có. Có trí huệ của Phật chăng ? Cũng có, bất quá bị vô minh che lấp mà thôi, cho nên tạm thời chẳng hiện ra. Nếu tu hành thì lập tức sẽ hiện tiền. Giống như ánh sáng mặt trời bị mây che lấp, ánh sáng mặt trời tức là trí huệ của chúng sinh vốn có, vầng mây tức là ngu si. Ngu si là từ trong tham sân si sinh ra, cho nên phải tu giới định huệ, thì tiêu diệt tham sân si.

Chúng ta hết thảy chúng sinh, nếu muốn khôi phục trí huệ vốn có, thì nhất định phải tu giới, tu định, tu huệ. Giới tức là phòng ngừa làm các điều ác, làm các điều lành. Bạn không làm các điều ác tức là sinh định. Bạn hay làm các việc lành thì có công đức. Ðịnh phải có nội công ngoại quả. Bên ngoài phải tu lục độ. Tu lục độ có chút cơ sở thì có định. Cho nên phải dùng công đức bố thí, công đức trì giới, công đức nhẫn nhục, công đức tinh tấn, để trợ giúp thiền định. Thiền định sung túc thì sẽ sinh ra trí huệ. Nếu chẳng có bốn công đức này, thì rất dễ lạc vào đường tà, vì sáu độ này là pháp môn tu hành quan trọng nhất.

Người tu đạo nên nhớ đừng có tâm san tham, phải có tâm bố thí. Xả được, xả được, phải xả thì mới được. Không xả thì không thể được. Do đó, phải tu bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn. Những pháp môn này đều trợ giúp cho sinh ra định, sau đó do định mà sinh ra huệ. Công phu định lực sâu dày, thì sẽ sinh ra trí huệ. Ðịnh lực sâu dày cũng giống như đọc sách, đọc nhiều rồi thì sẽ có tu dưỡng, cho nên nói:

“Học vấn thâm sâu, thì ý khí bình.’’

Tu dưỡng tức là chẳng có tham sân si, chẳng có vô minh. Vô minh tuy chẳng dễ gì đoạn, nhưng có thể khiến cho nó ngày càng giảm bớt, giảm lại giảm đi thì chẳng còn nữa, công đáo tự nhiên thành. Dùng phương pháp gì để giảm bớt vô minh ? Tức là dùng pháp môn Bát Nhã trí huệ, có trí huệ Bát Nhã, thì sẽ phá trừ được đen tối vô minh, hiện ra quang minh. Cảnh giới không thể nghĩ bàn này, vốn không thể nói, vì không thể nghĩ bàn. Hiện tại tôi trên đầu lại thêm đầu, nói ra mấy câu. Các bạn đừng giống như tôi, cái đầu ở trên cái đầu, lại thêm cái đầu nữa, biến thành ba cái đầu. Hai cái đầu đã không ít, lại thêm ba cái đầu, trở thành ba đầu sáu tay. Các bạn xem ! Thánh tượng của Bồ Tát Quán Thế Âm chẳng những chỉ có ba đầu sáu tay, mà còn có mười một mặt, ngàn tay ngàn mắt, Bồ Tát Chuẩn Ðề cũng có nhiều tay như thế, nhưng đó là thật có ba cái đầu. Bạn mà gắn lên ba cái đầu là chết, chẳng tác dụng được gì cả.

Ðều biết tất cả tâm chúng sinh’’. Trí huệ của Phật biết được tâm của tất cả chúng sinh. Trong Kinh Kim Cang có nói :

“Tất cả chúng sinh,
Có bao nhiêu thứ tâm,
Như Lai đều biết đều thấy.’’

Có bao nhiêu chúng sinh, thì có bấy nhiêu thứ tâm. Làm sao Phật biết được tâm của chúng ta chúng sinh ? Kỳ lạ thật ! Vậy thì chúng ta làm gì, Phật cũng đều biết hết chăng ? Không sai. Chúng sinh làm gì, nghĩ gì, Phật đều biết rõ ràng. Phật chẳng những biết tâm của chúng sinh, mà còn thấy được việc làm của chúng sinh.

Mới vừa hỏi: “Làm sao Phật biết được tâm của chúng sinh”? Vấn đề này tạm thời chẳng nói, bây giờ cử ra hai ví dụ khoa học để nói rõ về vấn đề này. Song, ví dụ này vốn chẳng đúng, nhưng vì tôi chẳng có cách gì có thể dùng đúng để ví dụ, chỉ có thể nói cái không đúng. Ví dụ không đúng này là gì ? Tức là máy lôi đạt (radar), công năng của máy lôi đạt, bất cứ có bao nhiêu sóng điện, nó đều có thể thu được, trên gương phát hiện hình ảnh. Lại giống như máy vô tuyến điện, chỉ cần mở đúng tần số, thì tin tức các nước đều thu được.

Ðức Phật là nhà khoa học vĩ đại, chẳng những Ngài có máy lôi đạt (radar) hữu hình, mà còn có máy lôi đạt (radar) vô hình. Máy lôi đạt vô hình này, hiện ra một cách tự nhiên. Trong mỗi tự tánh của chúng sinh, đều có Phật tánh, Phật tánh tức là máy lôi đạt vô hình, song, chúng sinh không thể quan sát, cho nên chẳng biết. Ðức Phật nhìn thấy được máy lôi đạt vô hình, cho nên xưng là nhà khoa học vĩ đại.

Máy lôi đạt vô hình của Phật là gì ? Tức là con mắt trí huệ. Vì mắt trí huệ đầy đủ, nên quán sát được nhân duyên ngoài tám vạn đại kiếp, do đó siêu hơn là máy lôi đạt hữu hình. Phàm là người khai mở ngũ nhãn, tức là trạm máy lôi đạt, biết được nhân duyên ba đời. Có người nói: “Ví dụ này là sai lầm, hoàn toàn không đúng.’’ Lại có người nói: “Tức nhiên là biết không đúng, tại sao phải đưa ra làm ví dụ” ? Vì tìm chẳng ra ví dụ thứ hai, chỉ có thể dùng nó để làm thí dụ. Hy vọng bạn đưa ra một thí dụ đúng, để nói cho tôi biết. Về sau khi giảng kinh, thì tôi dùng ví dụ đúng đó của bạn để giảng. Hiện tại tôi chẳng biết ví dụ gì đúng để hình dung, chỉ nói cái ví dụ không đúng.

Hay dùng đủ thứ sức phương tiện.’’ Sau khi Phật biết tâm của chúng sinh rồi, thì mới dùng phương tiện để giáo hóa chúng sinh, khiến cho chúng sinh lìa khổ được vui, liễu sinh thoát tử, sớm thành Phật đạo. Phật biết trong tâm chúng sinh bị vô minh khóa chặt, mới dùng chìa khóa trí huệ để mở. Cửa trí huệ của chúng sinh mở rồi, thì cửa ngu si đóng lại. Chúng ta người tu hành, tức là tìm chìa khóa trí huệ. Khi nào tìm được thì khi đó sẽ khai mở, cho nên cần phải nỗ lực niệm Phật, dụng công ngồi thiền, tức là phương pháp tìm chìa khóa.

Diệt sạch quần mê vô lượng khổ’’. Quần mê tức là bạn, tôi, họ, tất cả chúng sinh. Phàm là người chưa chứng quả, chưa ra khỏi tam giới, đều là chúng sinh mê. Khổ là gì ? Khổ tức là chẳng hiểu biết chân lý. Nếu hiểu biết chân lý thì khổ chẳng còn nữa. Làm thế nào có thể minh bạch được chân lý ? Thì phải học tập Phật pháp. Học tập Phật pháp như thế nào ? Tức là phải phát tâm trường viễn, suốt thuở vị lai, phát nguyện học tập Phật pháp: “Con muốn đời đời kiếp kiếp xuất gia tu hành, làm Tỳ Kheo hoặc làm Tỳ Kheo Ni; con muốn đời đời kiếp kiếp làm cư sĩ nam hoặc cư sĩ nữ, con muốn đời đời kiếp kiếp huân tu ở trong Phật pháp, chẳng lìa khỏi Phật pháp. Sau khi con minh bạch Phật pháp, thì phải hoằng dương Phật pháp, khiến cho ai ai cũng đều hiểu được chân thật nghĩa của Phật pháp.’’ Phải phát nguyện như thế, thì mới có thể thành tựu. Tu hành chẳng phát nguyện thì giống như hoa nở mà chẳng kết trái, chẳng ích lợi gì.

Diệt vô lượng khổ, nói sao mà dễ quá. Ðức Phật tâm niệm luôn luôn muốn diệt khổ của chúng sinh. Song, khổ của chúng sinh này diệt rồi, thì khổ của chúng sinh kia lại xuất hiện. Khổ của chúng sinh đó diệt rồi, thì khổ của chúng sinh nọ lại hiện ra, giống như sóng, sóng trước diệt rồi, thì sóng sau sinh ra, sinh sinh không ngừng, sóng cũng giống như chúng sinh, vĩnh viễn chẳng gián đoạn. Song, vẫn phải tiêu diệt vô lượng khổ của chúng sinh. Tuy diệt chẳng hết, nhưng nhất định cũng phải diệt. Vì Phật biết khổ của chúng sinh chẳng dễ gì diệt, cho nên muốn làm công việc khó làm này, để giáo hóa chúng sinh.

Hiện tại có người phát tâm cứu thế giới, hạo kiếp (tai nạn lớn của nhân gian) này chẳng phải sức của một người làm được, phải cần sự kết hợp sức lực của mọi người lại, mới có thể vãn hồi hạo kiếp. Song, bạn thì chờ tôi, tôi thì chờ họ, cứ trông chờ với nhau, ai cũng chẳng phát tâm bồ đề, để cứu độ tất cả chúng sinh, thì thế giới này sớm sẽ đến ngày tàn. Cứu vãn thế giới, ai ai cũng đều có trách nhiệm, chẳng màng có ai làm việc này hay không, tôi trước hết phải tận hết trách nhiệm của mình, chẳng chờ người khác làm. Như thế, thì mới có hy vọng vãn hồi thế giới này, nếu không như thế, thì mọi người chẳng có cơ hội sinh tồn.

Đại hùng thiện xảo nan trắc lượng,          Ðại hùng khéo léo khó dò lường
Phàm hữu sở tác vô không quá,                Phàm có làm gì chẳng luống qua
Tất sử chúng sanh chư khổ diệt,               Ðều khiến chúng sinh diệt các khổ
Chiên đàn lâm Thần năng ngộ thử.          Chiên Ðàn Lâm Thần ngộ như thế.

Ðại hùng khéo léo khó dò lường”. Ðại hùng tức là Phật. Vì Phật là đại anh hùng, đại trượng phu, đại đạo sư. Ba tên gọi này chỉ có Phật mới đủ tư cách để thọ nhận. Chúng ta một số chúng sinh, tự cho là anh hùng, tự cho là trượng phu, tự cho là đạo sư, kỳ thật đều chẳng có đủ tư cách. Chỉ có Phật mới đảm đương được tên gọi này.

Thế nào mới gọi là đại anh hùng ? Anh hùng ở đây chẳng phải vung đao múa kiếm, dùng sức phục người, mà là tu hạnh người khác không thể tu, nhẫn điều mà người khác không thể nhẫn, chịu các sự khổ mà người khác không chịu được. Tóm lại, việc mà người khác làm không được mà Ngài đều làm được. Nếu người khác làm được, Ngài cũng làm được; người khác không làm được, Ngài cũng làm không được, thì đó chẳng phải là đại anh hùng.

Giống như đức Phật Thích Ca Mâu Ni, ba A tăng kỳ tu phước huệ, trăm kiếp trồng tướng tốt. Trong thời gian dài như thế chỉ có tinh tấn, chẳng giải đãi. Trong quá khứ, Phật tu đủ thứ khổ hạnh, tuy là khổ nhưng chẳng sinh tâm thối chuyển, cho nên cuối cùng Ngài đã thành Phật, đó là tu hạnh môn mà người khác không thể tu được.

Thế nào là nhẫn nhục được, mà người khác không thể nhẫn ? Giống như đức Phật trong quá khứ tu hành, thì bị vua Ca Lợi chặt đứt tứ chi thân thể, đó là sự nhẫn nhịn mà một số người không thể nhẫn thọ, song Ngài đều nhẫn thọ được, chẳng những nhẫn thọ được, mà còn phát nguyện : “Khi tôi thành Phật, sẽ độ ông trước nhất.’’ Tại sao Phật phát nguyện như thế ? Vì vua Ca Lợi là thiện tri thức của Ngài, trợ giúp Ngài tăng trưởng tâm bồ đề, thành thục đạo quả. Tâm từ bi của Ngài thật là vĩ đại ! Chẳng những chẳng sân hận vua Ca Lợi, ngược lại còn độ vua Ca Lợi trước.

Thế nào là chịu các thứ khổ mà người khác không chịu được ? Chúng ta chẳng biết sám hối, cho rằng một ngày ăn một bữa, ngủ ngồi, là có sự tu hành, cho rằng đó là thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn. Hãy xem đức Phật tu hành ở trong núi Tuyết, mỗi ngày chỉ ăn một hạt mè, mà chẳng cảm thấy khổ, vì pháp quên mình. Chúng ta có sữa bò uống, có gạo ăn, có bánh mì, có rau tươi, muốn ăn mặn thì thêm chút muối, muốn ăn ngon thì thêm chút gia vị, hằng ngày trong đầu óc đều nghĩ món ăn, hôm nay có đậu hũ ăn chăng ? Cứ vọng tưởng về ăn uống, thì làm sao mà tu hành.

Bây giờ đang đả Phật thất, thân đang đi nhiễu Phật, miệng đang niệm Phật, mà tâm thì đi xuống nhà bếp, rằng hôm nay buổi trưa như thế nào ? Có ai đến cúng dường chăng ? Ðó chẳng phải là đả Phật thất, mà là “thực thất”. Chúng ta phải nghĩ xem, đức Phật chịu đựng các thứ khổ, mà người khác không chịu được, đó mới là một vị đại anh hùng, đại trượng phu, đại đạo sư, được làm thầy của chúng ta. Chúng ta có vị thầy anh hùng như thế, thì nên vui mừng, thật là may mắn. Chúng ta nên làm đồ đệ của vị đại anh hùng, nên tranh đệ nhất với đức Phật. Ðức Phật xưa kia chịu khổ như thế, tại sao ta chịu không được ? Chúng ta nhất định phải làm đồ đệ của vị đại anh hùng, mới không hổ thẹn lương tâm.

Phương tiện thiện xảo của Phật nói pháp, là quán sát căn cơ giáo hóa chúng sinh, pháp môn này khó dò lường được. Pháp môn phương tiện của Phật dung, chẳng giống phương tiện pháp môn của chúng ta chúng sinh dùng. Pháp môn phương tiện của Phật dùng, thì có chúng sinh tiếp thọ giáo hóa; phương tiện pháp môn của chúng ta chúng sinh, chẳng có chúng sinh tiếp thọ giáo hóa. Tại sao ? Ðây là vấn đề “duyên”, vì Phật kết duyên với chúng sinh, cho nên chúng sinh muốn tiếp thọ sự giáo hóa của Phật; chúng ta chẳng kết duyên với chúng sinh, cho nên chúng sinh chẳng hoan hỷ nghe sự giáo hóa của chúng ta. Từ điểm này mà nhìn, thì chúng ta phải rộng kết chúng duyên, rộng mở cửa phương tiện, chứ chẳng phải cho chúng sinh thêm phiền não.

Phật trong ba A tăng kỳ tu phước tu huệ, trong trăm kiếp trồng ba mươi hai tướng tốt tám mươi vẻ đẹp. Công đức viên mãn lấy đạo đức để cảm hóa người, chẳng dùng sức bức bách đi chinh phục người, cho nên trong thâm tâm của chúng sinh sinh ra bội phục, đều tôn kính Ngài, tín ngưỡng Ngài. Nho Giáo cũng có nói rằng:

“Dùng sức mà phục người,
Thì tâm họ chẳng phục,
Sức chẳng thiện vậy.
Dùng đức phục người,
Thì tâm họ vui vẻ mà thành phục vậy.’’

Từ điểm này thấy rằng, chúng ta phải tu phước tu huệ, mới phục được người. Tu như thế nào ? Tức là cứ làm lợi ích cho mọi người, đó là tu phước; tu trì lợi cho chính mình, đây là tu huệ. Tức là dùng trí huệ Bát Nhã để trợ giúp chính mình, dùng từ bi hỷ xả để giúp đỡ người.

Vậy cứu cánh dùng pháp môn phương tiện nào, để đúng với căn cơ của chúng sinh ? Ðó thì Phật mới biết được, chúng ta chúng sinh chẳng có trí huệ, cho rằng là đúng, ngược lại biến thành không đúng; cho rằng là không đúng, ngược lại biến thành đúng. Cho nên, pháp môn thiện xảo phương tiện rất khó dò lường.

Phàm có làm gì chẳng luống qua.’’ Nhất cử nhất động của Phật, cho đến lời nói việc làm, đều là lợi ích chúng sinh, cho nên phàm là làm gì, đều chẳng luống qua vô dụng. Chúng ta chúng sinh làm gì cũng đều luống qua, uổng phí công phu, song chính mình chẳng biết được.

Ðều khiến chúng sinh diệt các khổ.’’ Hy vọng duy nhất của Phật là, muốn giáo hóa chúng sinh lìa khổ được vui. Mục đích duy nhất của Phật là, muốn cứu được chúng sinh liễu sinh thoát tử, như thế thì, tất cả khổ não của chúng sinh chẳng còn nữa.

Chiên Ðàn Lâm Thần ngộ như thế.’’ Các đạo lý như thế, các cảnh giới như thế, vị Chủ Dược Thần Chiên Ðàn Hương Lâm, minh bạch nên vào được môn giải thoát này.

Nhữ quán chư Phật Pháp như thị,            Ông quán các Phật pháp như thế

Vãng tất cần tu vô lượng kiếp,                  Thuở xưa siêng tu vô lượng kiếp

Nhi ư chư hữu vô sở trước,                        Mà trong các cõi chẳng chấp trước

Thử ly trần quang sở nhập môn.               Ly Trần Quang Thần vào môn này.

Ông quán các Phật pháp như thế.’’ Hiện tại kêu hết thảy chúng sinh hãy quán sát, quán sát Phật quá khứ, Phật hiện tại, Phật vị lai, pháp của tất cả chư Phật ba đời đều như thế. Như thế là như thế nào ? Nói tóm gọn tức là ba thân, bốn trí, năm nhãn, sáu thông. Thần thông biến hóa của Phật, tám vạn bốn ngàn pháp môn đều như thế. Như thế lại như thế nào ? Tức là: “Ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt,’’ do đó có câu : “Khẩu dục ngôn nhi từ tán, tâm dục duyên nhi lự vong.’’ Nghĩa là chẳng có gì đáng nói, cũng tức là như thế. Vậy các Phật pháp như thế, thì làm thế nào đắc được pháp như thế ? Lại làm thế nào đắc được pháp như như bất động, liễu liễu thường minh ? Một câu dưới đây nói rất rõ ràng.

Thuở xưa siêng tu vô lượng kiếp.’’ Làm thế nào đắc được pháp như thế ? Là trong vô lượng kiếp về trước, chư Phật siêng tu giới định huệ, tiêu diệt tham sân si mà đắc được. Từ vô lượng kiếp đến hiện tại, trải qua thời gian dài như thế, siêng tu các pháp, siêng tu pháp như thế, siêng tu đạo như thế, cho nên hiện tại mới thành tựu quả vị Phật như thế. Công phu quả vị Phật như thế, tức là từ hai chữ “siêng tu” mà đắc được.

Khi Phật tu đạo thì chẳng những ngày tinh tấn, mà đêm cũng tinh tấn. Phật vì cầu Phật pháp, vì thành Phật đạo mà bố thí hết thảy tất cả, cung hành thực tiễn, cước đạp thật địa, lão lão thật thật đi tu hành.

Mà trong các cõi chẳng chấp trước.’’ Các cõi tức là tam giới các cõi. Tam giới là dục giới, sắc giới, vô sắc giới. Trong dục giới có mười bốn cõi (bốn đường ác, bốn đại châu, sáu cõi trời). Ở sắc giới có bảy cõi (bốn cõi trời thiền, trời Vô Tưởng, trời Tịnh Không, trời Phạm Thiên). Tại vô sắc giới có bốn cõi (trời Không vô biên xứ, trời Thức vô biên xứ, trời Vô sở hữu xứ, trời Phi tưởng phi phi tưởng xứ) cộng lại là hai mươi lăm cõi. Chẳng chấp trước tức là chẳng chấp người, cũng chẳng chấp pháp, hai chấp đều không. Nếu như có chấp ngã và chấp pháp, thì không thể nào được giải thoát, cho nên chẳng chấp trước bất cứ gì.

“Ly Trần Quang Thần vào môn này.’’ Vị Chủ Dược Thần Ly Trần Quang Minh, ngộ vào được môn giải thoát này.

Phật bách thiên kiếp nan khả ngộ,            Phật trăm ngàn kiếp khó gặp được
Nhược hữu đắc kiến cập văn danh,          Nếu ai thấy được và nghe danh
Tất lệnh hoạch ích vô không quá,             Thảy đều lợi ích chẳng luống qua
Thử phổ xưng Thần chi sở liễu.                Môn này Phổ Xưng Thần thấu rõ.

Phật trăm ngàn kiếp khó gặp được.’’ Phật pháp khó nghe, thân người khó được, thiện tri thức khó gặp, do đó:

“Pháp nhiệm mầu thâm sâu vô thượng,
Trăm ngàn vạn kiếp khó gặp được,
Nay con thấy nghe được thọ trì,
Nguyện hiểu nghĩa chân thật của Như Lai.’’

Pháp này, trăm ngàn vạn kiếp khó gặp được, trăm ngàn vạn kiếp chẳng dễ gì gặp được Phật, có khi gặp được Phật cũng chẳng biết, vì căn lành không đầy đủ, nhân duyên chẳng thành thục, cho nên thấy mà chẳng thấy, nghe mà chẳng nghe, bỏ lỡ cơ hội, cho nên nói khó gặp được. Việc qua rồi mới biết, nhưng lúc đó thì chẳng biết, do đó:

“Người trong cuộc thì mê,
Người bàng quan thì rõ.’’

Nếu ai thấy được và nghe danh.’’ Nếu như gặp được Phật, hoặc nghe danh của Phật, thì chúng sinh đó đều đắc được vô lượng lợi ích.

Thảy đều lợi ích chẳng luống qua.’’ Phàm là chúng sinh thấy Phật nghe danh, thì sẽ không luống qua, nhất định sẽ đắc được lợi ích, khiến cho tất cả chúng sinh lìa khỏi phiền não, đắc được giải thoát.

Môn này Phổ Xưng Thần thấu rõ.’’ Vị Chủ Dược Thần Danh Xưng Phổ Văn, thấu rõ được môn giải thoát này.

Như Lai nhất nhất mao khổng trung,       Trong mỗi lỗ lông của Như Lai
Tất phóng quang minh diệt chúng hoạn, Ðều phóng quang minh diệt các nạn
Thế gian phiền não giai lệnh tận,              Phiền não thế gian đều khiến sạch
Thử hiện quang Thần sở nhập môn.         Môn này Hiện Quang Thần vào được.

Trong mỗi lỗ lông của Như lai.’’ Trong mỗi lỗ chân lông của Phật, đều phóng ra trí huệ quang minh để nói pháp.

Ðều phóng quang minh diệt các nạn.’’ Phật dơ tay, dở chân, hoặc phóng quang động địa, đều có nhân duyên, tức là muốn lợi ích chúng sinh, để diệt các hoạn nạn. Có hoạn nạn thì chẳng cát tường. Phật khiến cho tất cả chúng sinh đều đắc được cát tường, tiêu diệt sạch hết tất cả hoạn nạn. Phật phóng đại quang minh chiếu khắp thân chúng sinh. Bất cứ loài chúng sinh nào, cũng đều đắc được lợi ích, cứu ra khỏi ba cõi, liễu sinh thoát tử, vĩnh viễn thoát khỏi khổ nạn trong luân hồi.

Phiền não thế gian đều khiến sạch.’’ Tại thế gian rất nhiều phiền não, phiền não này chẳng dễ gì tiêu sạch được, song Phật hiện đại thần thông, tiêu trừ tất cả chướng phiền não của chúng sinh. Phiền não chướng tiêu trừ, thì trí huệ sẽ tăng trưởng.

Môn này thiện Quang Thần vào được.’’ Cảnh giới này, vị Chủ Dược Thần Mao Khổng Hiện Quang đắc được.

Nhất thiết chúng sanh si sở manh,            Tất cả chúng sinh ngu si mù
Hoặc nghiệp chúng khổ vô lượng biệt,      Hoặc nghiệp các khổ vô lượng biệt
Phật tất quyên trừ khai trí chiếu,             Phật đều trừ sạch khai trí huệ
Như thị phá ám năng quán kiến.               Như thế Phá Ám Thần thấy được.

Tất cả chúng sinh ngu si mù.’’ Chúng sinh thật đáng thương xót, tự mình cho rằng mình có trí huệ, kỳ thật là ngu si nhất, hồ đồ nhất. Ði vào hầm sinh tử mà tự mình chẳng hay biết. Tại sao lạc vào hầm sinh tử ? Vì quá ngu si, ngu si như là kẻ mù, người mù đi thì rất dễ rớt xuống sông, hoặc rớt xuống giếng, chẳng biết sự nguy hiểm chết bất cứ lúc nào. Chúng ta chúng sinh ngu si muốn chấm dứt sinh tử, mà tìm chẳng được lối ra, chẳng biết làm thế nào có thể liễu sinh thoát tử ? Thoát khỏi sáu nẻo luân hồi ?

Hoặc nghiệp các khổ vô lượng biệt’’. Mê hoặc tức là ngu si. Vì chúng sinh khởi hoặc, tạo nghiệp, thọ báo, ở trong vòng sinh tử, không vượt ra được, ở trong đó chuyển lại chuyển đi, chẳng biết làm gì, cho nên các sự khổ vô lượng vô biên khác nhau.

Phật đều trừ sạch khai trí huệ.’’ Phật thấy chúng sinh đáng thương như thế, cho nên diệt trừ các hoặc nghiệp khổ và ngu si mù tối của tất cả chúng sinh, như ánh sáng mặt trời chiếu khắp, khiến cho chúng sinh khai mở đại trí huệ.

Như thế Phá Ám Thần thấy được.’’ Cảnh giới này, vị Chủ Dược Thần Phá Ám Thanh Tịnh, quán sát và thấy được.

Như Lai nhất âm vô hạn lượng,                Tiếng nói Như Lai không hạn lượng
Năng khai nhất thiết pháp môn hải,         Khai mở tất cả biển pháp môn
Chúng sanh thính giả tất liễu tri,              Chúng sinh nghe được đều hiểu rõ
Thử thị Đại âm chi giải thoát.                   Môn giải thoát này của Ðại Âm.

Tiếng nói Như Lai không hạn lượng.’’ Phật dùng một âm thanh diễn nói pháp, chúng sinh tùy loài đều hiểu được, cho nên nói chẳng có hạn lượng.

Khai mở tất cả biển pháp môn’’. Một âm thanh này, đầy đủ tất cả âm thanh, tất cả pháp, tất cả nghĩa, cho nên nói khai mở tất cả biển pháp môn.

Chúng sinh nghe được đều hiểu rõ.’’ Hết thảy chúng sinh nghe được âm thanh của Phật, giống như thấy được mặt trời, cảm thấy mặt trời chiếu soi đến mình, Phật đang vì mình nói pháp, hoàn toàn minh bạch hiểu rõ.

Môn giải thoát này của Ðại Âm’’. Cảnh giới này, vị Chủ Dược Thần Phổ Phát Hống Thanh đắc được.

Nhữ quán Phật trí nan tư nghị,                 Ông quán Phật trí khó nghĩ bàn
Phổ hiện chư thú cứu quần sanh,              Hiện khắp các cõi cứu quần sinh
Năng lệnh kiến giả giai tùng hóa,              Khiến cho người thấy được cảm hóa
Thử tế nhật tràng thâm ngộ liễu.              Ðây sở ngộ của Tế Nhật Tràng.

Ông quán Phật trí khó nghĩ bàn.’’ Bạn hãy quán sát Phật từ vô lượng kiếp đến nay, đều tu đại trí đại huệ, tâm không thể nghĩ được, không thể nói được. Cảnh giới này, trí huệ của chúng ta chẳng đạt đến được, cho nên mới nói khó nghĩ bàn.

Hiện khắp các cõi cứu quần sinh’’. Các cõi tức là bốn đường ác, tức cũng là chúng sinh tội nghiệp sâu nặng. Tâm bi thiết thiết của Phật, thấy các cõi chúng sinh điên đảo, Phật bèn dùng đại oai thần lực, thị hiện đủ loại thân ở trong các cõi, để giáo hóa chúng sinh.
Trong đường A tu la, thì Phật thị hiện A tu la cang cường khó điều phục, dùng thân đồng loại để giáo hóa chúng, khiến cho chúng cải ác hướng thiện. Ðến địa ngục cũng lại như thế. Tóm lại, ở trong cõi nào thì Phật thị hiện thân đó, để giáo hóa chúng sinh đó, vì như thế thì dễ giáo hóa hơn.

Khiến cho người thấy được cảm hóa’’. Phật dùng sức thần thông để giáo hóa chúng sinh, cho nên tất cả chúng sinh đều được Phật cảm hoá, y theo pháp mà tu hành, không sinh ác niệm.

Ðây sở ngộ của Tế Nhật Tràng’’. Cảnh giới này, vị Chủ Dược Thần Tế Nhật Tràng giác ngộ thâm sâu.

Như Lai đại bi phương tiện hải,                Như Lai đại bi biển phương tiện
Vi lợi thế gian nhi xuất hiện,                     Vì lợi thế gian mà xuất hiện
Quảng khai chánh đạo thị chúng sanh,    Rộng mở chánh đạo dạy chúng sinh
Thử kiến phương Thần năng liễu đạt.      Kiến Thập Phương Thần thông đạt được.

Như Lai đại bi biển phương tiện’’. Phật dùng pháp môn đại bi phương tiện để cứu độ chúng sinh. Pháp môn phương tiện này, rộng lớn như biển cả, cho nên nói là biển phương tiện.

Vì lợi thế gian mà xuất hiện.’’ Phật vì lợi ích chúng sinh hữu tình thế gian, mà xuất hiện ra đời, rộng nói pháp phương tiện, khiến cho chúng sinh đi trên con đường bồ đề giác ngộ.

Rộng mở chánh đạo dạy chúng sinh.’’ Chánh đạo tức là chánh pháp, Phật rộng mở chánh pháp, để chỉ thị cho chúng sinh con đường thoát khỏi ba cõi, tức cũng là đi đến cõi Thường Tịch Quang Tịnh Ðộ.

Kiến Thập Phương Thần thông đạt được.’’ Cảnh giới này, vị Chủ Dược Thần Minh Kiến Thập Phương, thông đạt thấu rõ được.

Như Lai phổ phóng đại quang minh,        Như Lai khắp phóng đại quang minh
Nhất thiết thập phương vô bất chiếu,       Chiếu soi khắp tất cả mười phương
Lệnh tùy niệm Phật sanh công đức,          Khiến chúng niệm Phật sinh công đức
Thử phát uy quang giải thoát môn.           Giải thoát này của Phát Oai Quang.

Như Lai khắp phóng đại quang minh.’’ Phật trụ ở trong đại quang minh tạng, tận hư không khắp pháp giới, đều ở trong đại quang minh tạng của Phật, cho nên nói Như Lai khắp phóng ra đại quang minh.

Tôi vì các bạn giảng đạo lý mà một số người không tin, song quỷ sẽ tin, thần cũng sẽ tin. Tại sao ? Vì con người quá thông minh, cũng có thể nói là quá ngu si. Người quá thông minh thì lại thái quá, không tin; người quá ngu si lại bất cập cũng chẳng tin. Là đạo lý gì ? Tức là “thư viện”. Khắp nơi ở nhân gian của chúng ta đều có thư viện. Thư viện phải có người quản lý, để quản lý giữ gìn, không để cho thư viện sinh trùng làm tổn hại, mà phải làm cho sạch sẽ, đẹp đẽ. Song, có những người giữ gìn quá độ, thậm chí đem sách ở thư viện về nhà, để trên đầu giường để giữ gìn, như thế cũng sẽ có sự tổn thất.

Có người nói: “Pháp sư ! Thầy giảng những đạo lý đó chẳng cao siêu, ai cũng biết, rất là nông cạn.’’ Bạn đừng gấp vội. Bây giờ tôi nói đạo lý cao siêu. Giống như Ðại Tạng Kinh, nhất định phải giữ gìn chu toàn. Nước này không được thái bình, thì chuyển đến nước khác để bảo tồn. Nếu nước đó cũng không thái bình, thì chuyển đến nước thái bình để bảo tồn. Giữ đi giữ lại đến khi chết, thì bộ Ðại Tạng Kinh đó, chẳng biết do ai đến giữ gìn ? Lúc đó, có người nghĩ, đây là nói đạo lý gì ? Càng nói càng bình thường. Hiện tại, tôi đang nói cái thư viện chẳng bình thường. Nếu bạn khai mở pháp nhãn, thì sẽ nhìn thấy thư viện tận hư không khắp pháp giới, chẳng biết có bao nhiêu ? Song, những thư viện đó chẳng cần người giữ gìn, cũng chẳng tổn thất. Mỗi ngày đều có vô số các vị A La Hán và Bồ Tát ở tại đó, xem vô lượng pháp tạng. Mỗi vị Thánh nhân đều đang ở tại đó, đọc kinh mà đọc chẳng hết. Song, bộ kinh đó chẳng cần giữ gìn. Nếu người chẳng có Phật nhãn, pháp nhãn, huệ nhãn, thì chẳng biết được cảnh giới này. Cho nên, nếu nói ra cảnh giới này thì chẳng có ai tin. Tôi biết các bạn chẳng tin, nhưng không thể không nói, đến lúc nói thì nhất định phải nói.

Vậy những kinh điển này ở đâu ? Nói là tận hư không khắp pháp giới, song, trong hư không gì cũng chẳng có, làm sao có nhiều kinh điển như thế ? Bạn nói trong hư không gì cũng chẳng có, song, trong hư không gì cũng đều có, chỉ là người mù mắt nhìn chẳng thấy cảnh giới diệu hữu. Giống như, Như Lai khắp phóng đại quang minh, mà người chẳng có mắt, thì nhìn chẳng thấy quang minh.

Chiếu soi khắp tất cả mười phương.’’ Tất cả chúng sinh trong mười phương thế giới, đều được đại quang minh của Phật chiếu đến. Do đó “Phật quang phổ chiếu.’’ Quang minh của Phật siêu hơn ánh sáng mặt trời ngàn vạn lần. Ánh sáng mặt trời chỉ chiếu dương chẳng chiếu âm, quang minh của Phật thì chẳng những chiếu dương mà còn chiếu âm, cho nên nói chiếu khắp hết thảy.

Khiến chúng niệm Phật sinh công đức.’’ Phật hay khiến cho tất cả chúng sinh đều phát tâm niệm Phật, hay niệm Phật thì diệt trừ được tất cả bệnh tật, tất cả tội nghiệt và tất cả nghiệp chướng. Tội nghiệt diệt trừ, bệnh cũng chẳng còn, thì sẽ sinh ra công đức. Công đức sinh ra thì sẽ phát bồ đề tâm, tu vô thượng đạo, cứu kính thành Phật.

Chúng ta người tu đạo đừng háo cao vụ viễn, cao rồi lại muốn cao, xa rồi lại càng muốn xa. Sự việc trước mắt còn chẳng minh bạch, suốt ngày đến tối cứ muốn xem đá ở trên mặt trăng như thế nào ? Song, đá ở trái đất còn chưa biết rõ nguồn gốc của nó, thành phần của nó, cấu tạo của nó, lại hà tất phải biết đá trên mặt trăng ? Ðó tức là bỏ gần cầu xa, bỏ gốc tìm ngọn. Loại chúng sinh đó, Phật cũng chẳng có biện pháp. Làm thế nào ? Những chúng sinh đó, đã quên chính mình mà nương tựa người, tức cũng là bỏ đất của mình, mà trồng đất của người khác.

Giải thoát này của Phát Oai Quang.’’ Cảnh giới này, vị Chủ Dược Thần Phổ Phát Oai Quang đắc được. Ðại sư Thiên Thai Trí Giả, lúc đọc tụng Kinh Pháp Hoa, tụng đến Phẩm Bổn Sự của Bồ Tát Dược Vương : “Là chân tinh tấn, gọi là chân pháp cúng dường Như lai’’, khi ấy thân tâm khoát nhiên nhập định, thấy pháp hội Linh Sơn vẫn chưa tan. Trí Giả đại sư bèn đến chỗ của Ngài Huệ Tư đại sư thỉnh cầu ấn chứng. Ðại sư nói:

“Phi nhữ mạc thức, phi ngã mạc chứng.”
Nghĩa là:
Chẳng phải ông không ngộ,
Chẳng phải ta không chứng.

Bèn đem tông pháp yếu truyền thọ cho Ngài, về sau làm Tổ thứ ba của tông Thiên Thai.

Phục thứ, bố hoa như vân chủ lâm Thần, đắc quảng đại vô biên trí hải tạng giải thoát môn
Lại nữa, Chủ Lâm Thần Bố Hoa Như Vân, được môn giải thoát, trí hải tạng rộng lớn vô biên.

Vị Chủ Lâm Thần Bố Hoa Như vân, Ngài phân bố biển hoa sen như mây. Ngài là vị Thần thống lãnh quản lý cây rừng, ở trong Phật giáo đại thụ (cây lớn) gọi là cây quỷ thần, vì quỷ thần đều ở trong cây lớn. Cho nên khi gặp cây lớn, thì phải đặc biệt coi chừng. Vị Thần cây này đắc được môn giải thoát, trí huệ hải tạng rộng lớn vô biên. Trí hải tạng là gì ? Vì trí huệ lớn như biển, ở trong trí hải lại hàm tàng công đức, lại phóng quang minh, cho nên gọi là trí hải tạng.

Trạc cán thư quang chủ lâm Thần, đắc quảng đại tu trì phổ thanh tịnh giải thoát môn
Chủ Lâm Thần Diệu Cán Thư Quang, được môn giải thoát, tu trị khắp thanh tịnh rộng lớn.

Vị Chủ Lâm Thần Diệu Cán Thư Quang, Ngài có thể khiến cho hết thảy Thần cây, càng ngày càng lớn lên, và phóng ra quang minh thanh tịnh. Ngài tu pháp môn thanh tịnh rộng lớn, thanh tịnh tức là chẳng có tâm nhiễm ô. Tâm nhiễm ô là gì ? Tức là có tư tưởng nhiễm ô về ái tình, cho nên người tu đạo, trước hết là phải tu đoạn dục khử ái, công phu này mà tu viên mãn, thì tất cả đều thanh tịnh. Vị Chủ Lâm Thần Diệu Cán Thư Quang này, hay khiến cho khắp hết thảy chúng sinh, đắc được pháp môn thanh tịnh không nhiễm, Ngài đắc được môn giải thoát này.

Sanh nha phát diệu chủ lâm Thần, đắc tăng trưởng chủng chủng tịnh tín nha giải thoát môn
Chủ Lâm Thần Sinh Nhạ Phát Diệu, được môn giải thoát, tăng trưởng các thứ mầm niềm tin thanh tịnh.

Vị Chủ Lâm Thần Sinh Nhạ Phát Diệu, hay sinh ra mầm thanh tịnh, phát sáng trí huệ quang minh. Thứ quang minh này, hay tăng trưởng mầm bồ đề tín tâm thanh tịnh, khiến cho chúng sinh tương lai đắc được quả bồ đề. Ngài đắc được môn giải thoát này.

Cát tường tịnh diệp chủ lâm Thần, đắc nhất thiết thanh tịnh công đức trang nghiêm tụ giải thoát môn
Chủ Lâm Thần Cát Tường Tịnh Diệp, được môn giải thoát, tất cả công đức thanh tịnh trang nghiêm tụ.

Vị Chủ Lâm Thần Cát Tường Tịnh Diệp, cây rừng của Ngài quản lý, vừa thanh tịnh vừa trang nghiêm, nhất là khiến cho lá cây rất sạch sẽ, có thể nói là một hạt bụi cũng không nhiễm. Ngài đắc được môn giải thoát này, là do thanh tịnh, công đức, trang nghiêm, ba thứ tích tụ lại với nhau.

Thùy bố diệm tạng chủ lâm Thần, đắc Phổ môn thanh tịnh tuệ hằng châu lãm Pháp giới giải thoát môn
Chủ Lâm Thần Thuỳ Bố Diễm Tạng, được môn giải thoát, phổ môn thanh tịnh, môn giải thoát tu trị khắp thanh tịnh huệ, luôn du lãm khắp cùng pháp giới.

Vị Chủ Lâm Thần Thùy Bố Diễm Tạng, Ngài có diễm tạng thùy bố. Thứ ánh sáng lửa ngọn này chiếu khắp mười phương, khiến cho hết thảy cây rừng đều thanh tịnh, giống như đắc được trí huệ, Ngài hay du lãm khắp pháp giới. Ngài đắc được môn giải thoát này.

Diệu trang nghiêm quang chủ lâm Thần, đắc phổ tri nhất thiết chúng sanh hạnh hải nhi hưng bố pháp vân giải thoát môn
Chủ Lâm Thần Diệu Trang Nghiêm Quang, được môn giải thoát, biết khắp tất cả biển hạnh của chúng sinh, mà giăng bủa mây pháp.

Vị Chủ Lâm thần Diệu Trang Nghiêm Quang, có quang minh vi diệu trang nghiêm, biết được tất cả biển hạnh môn tu hành của hết thảy chúng sinh, lại giăng bủa tất cả pháp như mây, khiến cho chúng sinh đắc được thanh lương. Ngài đắc được môn giải thoát này.

Khả ý lôi thanh chủ lâm Thần, đắc nhẫn thọ nhất thiết bất khả ý thanh diễn thanh tịnh âm giải thoát môn
Chủ Lâm Thần Khả Ý Lôi Thanh, được môn giải thoát, nhẫn thọ tất cả tiếng nói bất như ý, diễn nói âm thanh thanh tịnh.

Vị Chủ Lâm Thần Khả Ý Lôi Thanh, khả ý nghĩa là toại tâm như ý. Âm thanh của Ngài tuy là như tiếng sấm, nhưng khiến cho tất cả chúng sinh nghe được, mà sinh tâm hoan hỷ, Ngài hay nhẫn thọ được tất cả âm thanh bất như ý. Âm thanh khả ý là âm thanh thuận, âm thanh bất như ý là âm thanh nghịch. Âm thanh thuận là âm thanh hoan hỷ, âm thanh nghịch là âm thanh phỉ báng. Chẳng màng là âm thanh khả ý hay bất khả ý, Ngài đều nhẫn thọ được, lại có thể diễn nói âm thanh vi diệu thanh tịnh, khiến cho chúng sinh biết được lợi ích của Phật pháp. Ngài đắc được môn giải thoát này.

Hương Quang phổ biến chủ lâm Thần, đắc thập phương phổ hiện tích sở tu trì quảng đại hạnh cảnh giới giải thoát môn
Chủ Lâm Thần Hương Quang Phổ Biến, được môn giải thoát, hiện khắp mười phương những cảnh giới hạnh môn, rộng lớn tu hành trong quá khứ.

Vị Chủ Lâm Thần Hương Quang Phổ Biến, có phảng phất mùi thơm, lại có trí huệ quang minh, chiếu soi đến khắp mười phương. Trong mười phương thị hiện khắp những hạnh môn tu hành trong quá khứ. Những cảnh giới hạnh môn này rộng lớn vô biên, không thể nghĩ bàn, bất khả thuyết, tất cả tập khí mao bệnh đều tu trị chẳng còn nữa, thanh tịnh minh bạch, Ngài đắc được môn giải thoát này.

Diệu quang hồi diệu chủ lâm Thần, đắc dĩ nhất thiết công đức Pháp nhiêu ích Thế-gian-giải thoát môn
Chủ Lâm Thần Diệu Quang Hướng Diệu, được môn giải thoát, dùng tất cả pháp công đức nhiêu ích tất cả thế gian.

Vị Chủ Lâm Thần Diệu Quang Hướng Diệu, có trí huệ quang chiếu soi tất cả cây rừng của đại địa, tức cũng là chiếu soi tất cả chúng sinh. Ngài dùng tất cả pháp công đức, để nhiêu ích hết thảy chúng sinh thế gian, khiến cho tất cả chúng sinh đều đắc được lợi ích. Ngài đắc được môn giải thoát này.

Hoa quả quang vị chủ lâm Thần, đắc năng lệnh nhất thiết kiến Phật xuất hưng thường kính niệm bất vong trang nghiêm công đức tạng giải thoát môn
Chủ Lâm Thần Hoa Quả Quang Vị, được môn giải thoát, hay khiến cho tất cả chúng sinh, đều thấy Phật xuất hiện ra đời, thường cung kính niệm chẳng quên trang nghiêm công đức tạng.

Vị Chủ Lâm Thần Hoa Quả Quang Vị, hay khai hoa Bát Nhã của chúng sinh, để chúng sinh kết quả bồ đề. Ngài hay phóng ra quang minh Bát Nhã, hiện ra vị đề hồ. Ngài đắc được cảnh giới của Phật, hay khiến cho tất cả chúng sinh, đều gặp Phật xuất hiện ra thế giới này. Ngài lại luôn cung kính nghĩ nhớ Phật, luôn luôn chẳng quên Phật. Vì có công đức cho nên đặc biệt trang nghiêm, công đức tích tụ nhiều thành tạng. Tạng tức là công đức bao hàm trang nghiêm, vi diệu, thù thắng. Ngài đắc được môn giải thoát này.

Chúng ta học Phật pháp, học được một chút mà thực hành một chút, thì mới có lợi ích. Nếu học mà chẳng thực hành, thì giống như chẳng học. Nghe kinh nghe pháp, thì nên cung hành thực tiễn, y giáo phụng hành. Ðừng sợ biết ít, chỉ sợ không tu hành; biết nhiều mà chẳng tu hành, thì cũng chẳng ích gì. Cho nên phải lão lão thật thật tu hành, như thế thì mới tiến bộ; tụ cát thành tháp, dần dần sẽ tu thành chánh quả.

Tại chùa Kim Sơn hàng ngày giảng kinh thuyết pháp, các bạn hằng ngày nghe kinh nghe pháp, không ngại gió mưa, chưa từng gián đoạn. Cho nên, Phật pháp ở chùa Kim Sơn giống như mạch máu trên thân người, không thể đoạn tuyệt. Hy vọng các bạn mọi người sau khi nghe rồi, thì nên y chiếu đạo lý Phật pháp để tu hành. Dụng công như thế, thì mới không lãng phí thời gian quý báu. Các bạn đều là thanh niên trẻ, mà đến học Phật pháp thật là hiếm có. Nếu chẳng nhận chân tu hành thì chẳng có chút giá trị gì.

Bất cứ là Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Sa di, Sa di ni, cư sĩ nam, cư sĩ nữ, đều nên sinh tâm đại tinh tấn, sinh tâm đại dũng mãnh, để học tập Phật pháp, mới không cô phụ tâm ý phát nguyện lúc ban đầu. Các bạn hãy xem thế giới hiện tại, chẳng có nơi nào được an lạc, ai ai cũng ôm ấp sợ chiến tranh thế giới thứ ba. Ai ai cũng đều ôm lòng sợ hãi, nghĩ muốn đi tránh tai nạn này. Người người nên hồi quang phản chiếu, sửa đổi tâm địa của mình. Như thế thì sẽ có cơ hội cứu vãn.

Vậy thế giới có loạn chăng ? Thế giới chẳng loạn. Người có loạn chăng ? Người cũng chẳng loạn. Bất quá là tâm của con người loạn, nên làm cho thế giới chẳng an ninh. Chúng ta là người học Phật pháp, phải khơi dậy trách nhiệm tâm chân chánh, phải trị bệnh tâm là tham sân si. Nếu ai ai cũng chẳng bệnh ba độc này, thì gia đình sẽ hạnh phúc, xã hội an ninh, nước nhà giàu mạnh, thế giới hòa bình. Như thế thì sẽ trở thành thế giới đại đồng.

Hiện tại Phật giáo ở Á châu ngày càng suy đồi. Phật giáo ở Mỹ Châu thì ngày càng hưng thịnh, muốn Phật giáo hưng thịnh, thì nhất định phải nhận chân tu hành. Cho nên chúng ta những người xuất gia và tại gia của chùa Kim Sơn, đừng nên giải đãi, làm biếng, mọi người cùng nhau tu hành, có việc thì mọi người làm, có pháp thì mọi người học, đừng đố kỵ chướng ngại. Nếu không như thế, thì sống ở đây chẳng có đại ý nghĩa gì. Chúng ta ngày ăn một bữa, ngủ ngồi, nếu không nhận chân tu hành, thì chẳng có giá trị. Các vị thiện tri thức ! Thời gian quý báu, không thể tùy tiện để cho trôi qua, phải luôn luôn tự cảnh tỉnh mình, tự hỏi mình đang ở đây làm gì ?

Nhĩ thời, bố hoa như vân chủ lâm Thần, thừa Phật uy lực, phổ quán nhất thiết chủ lâm Thần chúng nhi thuyết tụng ngôn:
Bấy giờ, Chủ Lâm Thần Bố Hoa Như Vân, nương oai lực của đức Phật, quán sát khắp tất cả chúng Chủ Lâm Thần, mà nói ra bài kệ.

Lúc đó, vị Chủ Lâm Thần Bố Hoa Như Vân, nương đại oai thần lực của đức Phật, quán sát khắp tất cả chúng Chủ Lâm Thần, lại dùng kệ để giảng giải đạo lý ở trên chưa nói hết.

Phật tích tu tập Bồ-đề hạnh                      Xưa Phật tu tập hạnh bồ đề
Phước đức trí tuệ tất thành mãn,              Phước đức trí huệ đều viên mãn
Nhất thiết chư lực giai cụ túc,                   Tất cả các lực đều đầy đủ
Phóng đại quang minh xuất thế gian.       Phóng đại quang minh hiện ra đời.

Xưa Phật tu tập hạnh bồ đề.’’ Thuở xưa Phật tu hành, tích tập hạnh bồ đề, là từ gần đến xa, từ cạn vào sâu. Thuở xưa Phật và chúng ta đều là phàm phu, bất quá Phật siêng năng tinh tấn tu đủ thứ hạnh. Khi Phật chưa tu hành thì chẳng có hạnh bồ đề. Nhưng về sau dần dần tích tu hạnh bồ đề, do đó “Từ không mà có.’’ Về sau lại tu đủ thứ hạnh bồ đề, do đó “Từ một mà nhiều.’’ Có một hạnh bồ đề thì tụ tập nhiều hạnh bồ đề. Vì khi Phật tu hành, thì chẳng bỏ việc thiện nhỏ mà không làm, tức là việc thiện dù nhỏ như sợi tóc, cũng phải đi làm công đức, cho nên tập ít thành nhiều. Các khổ hạnh mà Phật tu, chẳng phải là một số người chịu đựng được. Một số người không tu được, mà Ngài tu được, do đó mà hạnh bồ đề tụ tập thành nhiều.

“Phước đức trí huệ đều viên mãn.’’ Phật tu phước đức đầy đủ, trí huệ cũng đầy đủ, đây gọi là phước huệ đều đầy đủ. Phước đức viên mãn, trí huệ cũng viên mãn, đây gọi là phước huệ song viên.

Tất cả các lực đều đầy đủ.’’ Phật tu mười lực đều đầy đủ viên mãn, chỉ có Phật mới tu đầy đủ mười lực. Mười lực này ở trước đã giảng qua rồi.

Phóng đại quang minh hiện ra đời.” Sau khi Phật tu thành Phật rồi, thì liền phóng đại quang minh mà xuất hiện ra thế gian, để giáo hóa chúng sinh, nói với chúng sinh rằng :  “Biển khổ mênh mông, quay đầu là bờ.’’

Bi môn vô lượng đẳng chúng sanh,           Cửa bi vô lượng đồng chúng sanh
Như Lai vãng tích phổ tịnh trì,                 Thuở xưa Như Lai khắp tịnh trị
Thị cố ư thế năng vi ích,                            Cho nên hay lợi ích cho đời
Thử trạc cán Thần chi sở liễu.                  Ðây sở ngộ của Diệu Cán Thần.

Cửa bi vô lượng đồng chúng sinh.’’ Bi hay cứu khổ tất cả chúng sinh, cửa bi có nhiều vô lượng vô biên, tức là có bao nhiêu chúng sinh, thì có bấy nhiêu cửa từ bi.

Thuở xưa Như Lai khắp tịnh trị.’’ Như Lai tức là “thừa như thật đạo, lai thành chánh giác”. Thuở xưa Phật tu đủ thứ hạnh môn, cho nên khiến khắp tất cả hạnh môn thanh tịnh mà trị lý.

Cho nên hay lợi ích cho đời.’’ Vì nguyên nhân đó, cho nên Phật ở trên thế gian, đều có lợi ích cho tất cả chúng sinh. Lợi ích gì ? Khiến cho chúng sinh lìa khổ được vui.

Nhược hữu chúng sanh nhất kiến Phật,   Nếu có chúng sinh gặp được Phật
Tất sử nhập ư thâm tín hải,                       Ðều khiến họ vào biển tin sâu
Phổ thị nhất thiết Như Lai đạo,                Mở bày tất cả đạo Như Lai
Thử diệu nha Thần chi giải thoát.            Giải thoát này của Diệu Nhạ Thần.

Nếu có chúng sinh gặp được Phật.’’ Tất cả chúng sinh chẳng dễ gì gặp được Phật, nghe được Phật pháp càng khó hơn. Bất cứ đến nơi nào, có tháp hoặc có chùa, thấy tượng Phật, thì đều là người có căn lành lớn. Người chẳng có căn lành, thì chẳng có cơ hội gặp Phật, nghe pháp, thấy Tăng. Phật Pháp Tăng Tam Bảo chẳng dễ gì gặp được. Nếu như có chúng sinh gặp được Phật, hoặc tượng Phật, thì đó là nhờ căn lành đời trước gieo trồng.

Ðều khiến họ vào biển tin sâu.’’ Nhất định khiến cho chúng sinh đó minh bạch Phật pháp, tin sâu Phật pháp, niềm tin lớn như biển, vĩnh viễn chẳng thối chuyển, chẳng khô cạn.

Mở bày tất cả đạo Như Lai.’’ Phật từ bi chỉ thị cho tất cả chúng sinh, khiến cho họ minh bạch đạo của Phật tu hành, thành tựu quả vị Phật.

Giải thoát này của Diệu Nhạ Thần.’’ Môn giải thoát này, vị Sinh Nhạ Phát Diệu Chủ Lâm Thần đắc được.

Nhất mao sở tập chư công đức,                 Một lỗ lông tụ các công đức
Kiếp hải tuyên dương bất khả tận,           Biển kiếp tuyên dương không hết được
Chư Phật phương tiện nan tư nghị,          Chư Phật phương tiện khó nghĩ bàn
Tịnh diệp năng minh thử thâm nghĩa.      Tịnh Diệp thấu rõ nghĩa lý này.

Một lỗ lông tụ các công đức.’’ Trong một lỗ lông của Phật, hiện được mười phương cõi nước. Cảnh giới này chẳng phải phàm phu minh bạch được, trong một lỗ lông của Phật có thể tụ tập tất cả công đức.

“Biển kiếp tuyên dương không hết được.’’ Kiếp không thể nói nhiều như biển cả, tuyên dương công đức trong một lỗ lông của Phật cũng không thể nào hết được. Tại sao nói không hết được ? Vì vô lượng vô biên.

Chư Phật phương tiện khó nghĩ bàn.’’ Cho nên cảnh giới pháp môn phương tiện của Phật không thể nghĩ bàn.

Tịnh Diệp thấu rõ nghĩa lý này.’’ Vị Chủ Lâm Thần Cát Tường Tịnh Diệp, thấu rõ được đạo lý thâm sâu này.

Ngã niệm Như Lai ư vãng tích,                 Tôi nhớ Như Lai thuở quá khứ
Cúng dường sát trần vô lượng Phật,         Cúng dường bụi cõi vô lượng Phật
Nhất nhất Phật sở trí tiệm minh,              Mỗi chỗ đức Phật trí sáng dần
Thử diệm tạng Thần chi sở liễu.               Ðây sở ngộ của Diễm Tạng Thần.

Tôi nhớ Như Lai thuở quá khứ.’’ Vị Chủ Lâm Thần Thùy Bố Diễm Tạng nói: “Tôi nhớ Như Lai ở trong vô lượng kiếp về trước.’’

Cúng dường sát trần vô lượng Phật.’’ Từng dùng đủ thứ đồ bố thí, để cúng dường chư Phật, nhiều như số hạt bụi của cõi nước.

Mỗi chỗ đức Phật trí sáng dần.’’ Ở mỗi chỗ Ðức Phật cúng dường rồi, phước cũng trang nghiêm, trí cũng trang nghiêm; phước huệ đều đủ, trí huệ quang minh ngày càng tăng dần.

Ðây sở ngộ của Diễm Tạng Thần.’’ Cảnh giới này, vị Chủ Lâm Thần Thùy Bố Diễm Tạng thấu rõ được.

Nhất thiết chúng sanh chư hạnh hải,        Tất cả chúng sinh các biển hạnh
Thế Tôn nhất niệm tất liễu tri,                  Thế Tôn một niệm đều biết rõ
Như thị quảng đại vô ngại trí,                   Trí vô ngại rộng lớn như thế
Diệu trang nghiêm Thần năng ngộ nhập. Diệu Trang Nghiêm Thần ngộ vào được.

Tất cả chúng sinh các biển hạnh.’’ Tất cả chúng sinh tức là: Thai, noãn, thấp, hóa, đều bao quát ở trong đó. Các biển hạnh tức là tất cả hành vi của mỗi chúng sinh, nghiệp tạo của mỗi chúng sinh, tư tưởng của mỗi chúng sinh, do đó : “Khởi hoặc, tạo nghiệp, thọ báo,’’ tức cũng do tạo vô lượng vô biên nghiệp, cho nên thọ vô lượng vô biên quả báo.

Thế Tôn một niệm đều biết rõ.’’ Phật ở trong một niệm, hoàn toàn biết tâm của chúng sinh, do đó:

“Tất cả chúng sinh, bao nhiêu thứ tâm,
Như Lai đều biết đều thấy.’’

Cho nên, Phật chẳng có gì mà không biết, chẳng có gì mà không thấy

Trí vô ngại rộng lớn như thế.’’ Trí huệ vô chướng ngại rộng lớn vô biên như thế.

Diệu Trang Nghiêm Thần ngộ vào được.’’ Môn giải thoát này, vị Chủ Lâm Thần Diệu Trang Nghiêm Quang, minh bạch mà ngộ nhập.

Hằng diễn Như Lai tịch Diệu-Âm,            Hằng diễn Như Lai tịch diệu âm
Phổ sanh vô đẳng đại hoan hỉ,                  Khắp sinh hoan hỷ không sánh được
Tùy kỳ giải dục giai lệnh ngộ,                    Tùy sở thích hiểu đều khiến ngộ
Thử thị lôi âm sở hạnh Pháp.                    Ðây pháp tu hành của Lôi Âm.

Hằng diễn Như Lai tịch diệu âm.’’ Hằng thường bất biến, diễn nói tịch diệu âm của Như lai. Âm thanh của Như lai tịch tĩnh vi diệu.

Khắp sinh hoan hỷ không sánh được.’’ Hay khiến cho tất cả chúng sinh, đều sinh ra một thứ đại hoan hỷ không thể sánh được.

Tùy sở thích hiểu đều khiến ngộ.’’ Chúng sinh nghe được tịch diệu âm của Như lai, tùy thuận âm thanh hoan hỷ, đều hiểu đạo lý thâm sâu này mà khai ngộ, do đó :

“Phật dùng một âm diễn nói pháp,
Chúng sinh tùy loài đều hiểu được.’’

Ðây pháp tu hành của Lôi Âm.’’ Phương pháp này vị Chủ Lâm Thần Khả Ý Lôi Âm tu hành.

Như Lai thị hiện đại thần thông,               Như Lai thị hiện đại thần thông
Thập phương quốc độ giai chu biến,         Mười phương cõi nước khắp hết thảy
Phật tích tu hành tất lệnh kiến,                 Xưa Phật tu hành đều khiến thấy
Thử phổ hương quang sở nhập môn.        Phổ Hương Quang Thần vào môn này.

Như Lai thị hiện đại thần thông.’’ Như Lai tức là Phật, Phật tức là Thế Tôn, Thế Tôn tức là Như Lai. Ba tên mà một thể, danh xưng tuy nhiều, kỳ thật tức là Phật. Phật là nửa chữ Phạn, đầy đủ là Phật đà gia, dịch nghĩa là “giác giả”, tức là người giác ngộ. Phật là người có trí huệ nhất của thế gian và xuất thế gian. Song, mình có trí huệ cũng dạy chúng sinh có trí huệ, mình đã thành Phật cũng dạy chúng sinh thành Phật. Cho nên nói, Phật giáo là nhân giáo, là chúng sinh giáo. Vì Phật pháp rộng lớn vô biên, chẳng màng bạn tin Phật cũng tốt, đều ở trong Phật giáo, chẳng vượt ra ngoài phạm vi Phật giáo. Cho nên tất cả chúng sinh đều có cơ hội thành Phật, bất quá thời gian sớm muộn mà thôi.

Phật giáo là bình đẳng nhất, vô tư nhất, ai mà chiếu theo Phật pháp tu hành, thì người đó sẽ được trí huệ. Ai không tu hành, thì chẳng đắc được trí huệ chân chánh. Ðược trí huệ chân chánh, thì được giải thoát chân chánh, được giải thoát chân chánh, thì lìa khổ được vui.
Chúng ta chúng sinh tại sao vẫn là chúng sinh ? Vì điên điên đảo đảo, lấy phải làm trái, lấy trái làm phải, khi chẳng phân biệt được phải trái rõ ràng, thì rất dễ làm việc điên đảo. Chúng ta học Phật pháp, tức là học không điên đảo, không điên đảo tức là được thanh tịnh, được thanh tịnh tức là an vui.

Phật chẳng động đạo tràng thị hiện đại thần thông; thần thông tức là trong không biến có, trong có biến không, biến hóa vô cùng, ẩn hiển khó dò.

Mười phương cõi nước khắp hết thảy.’’ Phật ở trong mười phương cõi nước, khắp hết thảy đều hiện pháp thân.

Xưa Phật tu hành đều khiến thấy.’’ Những hạnh môn thuở xưa Phật tu hành, đều khiến cho tất cả chúng sinh hoàn toàn thấy được.

Phổ Hương Quang Thần vào môn này.’’ Môn giải thoát này, vị Hương Quang Phổ Biến Chủ Lâm Thần vào được.

Chúng sanh xiểm bí bất tu đức,                Chúng sinh xiểm nịnh chẳng tu đức
Mê hoặc trầm lưu sanh tử trung,              Mê hoặc trầm luân trong sinh tử
Vi bỉ xiển minh chúng trí đạo,                   Vì họ xiển minh các trí đạo
Thử diệu quang Thần chi sở kiến.            Ðây sở thấy của Diệu Quang Thần.

Chúng sinh xiểm nịnh chẳng tu đức.’’ Xiểm nịnh chẳng nói lời chân thật, tâm của chúng sinh chẳng ngay thẳng, thích nói lời giả dối, cho nên chẳng tu đức. Dạy họ tâm ngay thẳng tu chánh đạo, nhưng chẳng dễ gì học được. Nếu dạy họ tâm quanh co tu tà đạo, thì họ sẽ biết rành. Tại sao ? Vì tâm quanh co ai cũng có, cho nên nói chúng sinh xiểm nịnh chẳng tu đức.

Mê hoặc trầm luân trong sinh tử.’’ Mê tức là chẳng hiểu rõ sự lý. Mê nghi về lý là kiến hoặc, mê nghi về sự là tư hoặc. Vì chẳng minh bạch lại nghi hoặc, cho nên trầm luân ở trong biển khổ sinh tử.

Vì họ xiển minh các trí đạo.’’ Phật vì những chúng sinh mê hoặc đó, mà xiển minh nói rõ tất cả đạo lý có trí huệ, khiến cho họ ngộ hiểu, đắc đạo bồ đề.

Ðây sở thấy của Diệu Quang Thần.’’ Cảnh giới này, vị Chủ Lâm Thần Diệu Quang Hướng Diệu thấy được.

Phật vi nghiệp chướng chư chúng sanh,   Phật vì chúng sinh nghiệp chướng nặng
Kinh ư ức kiếp thời nãi hiện,                     Trải qua ức kiếp mới xuất hiện
Kỳ dư niệm niệm thường lệnh kiến,          Khiến cho họ thường gặp được Phật
Thử vị quang Thần sở quan sát.               Ðây vị Quang Thần quán sát được.

Phật vì chúng sinh nghiệp chướng nặng.’’ Phật niệm niệm chẳng quên chúng sinh nghiệp chướng sâu nặng, ở trong niệm niệm đều muốn cứu họ ra khỏi biển khổ, song, nghiệp chướng của chúng sinh vừa sâu vừa nặng, cho nên không thể cảm ứng đạo giao.

Trải qua ức kiếp mới xuất hiện.’’ Vì chúng sinh nghiệp chướng quá nặng, cho nên phải trải qua thời gian lâu dài, thậm chí ức kiếp, Phật mới xuất hiện ra đời.

Khiến cho họ thường gặp được Phật.’’ Tất cả chúng sinh ở trong niệm niệm muốn gặp được Phật, thì Phật cũng ở trong niệm niệm khiến cho chúng sinh thường thấy được Phật.

Ðây vị Quang Thần quán sát được.’’ Ðạo lý này, vị Chủ Lâm Thần Hoa Quả Quang Vị, quán sát được cảnh giới này.

Phục thứ, bảo phong khai hoa chủ sơn Thần, đắc nhập đại tịch định quang minh giải thoát môn
Lại nữa, Chủ Sơn Thần Bảo Phong Khai Hoa, được môn giải thoát, nhập vào đại tịch định quang minh.

Vị Chủ Sơn Thần Bảo Phong Khai Hoa, Ngài ở trên ngọn núi báu có thể khai nở hoa sen lớn, chẳng những tươi thắm mà còn trang nghiêm. Ngài là Thần quản lý núi, nếu chẳng có Thần quản lý thì núi sẽ dời đi. Hiện tại có Thần quản lý, cho nên chẳng dám di động. Chủ Sơn Thần đa số là loài thú chúa ở trong núi, như cọp, xưng là Thần núi. Vị Chủ Sơn Thần này, đắc được đại tịch định quang minh. Ðại tịch định tức là tịch nhiên bất động. Ngài ở trong định phóng quang để trông giữ núi, Ngài đắc được môn giải thoát này.

Hoa lâm diệu kế chủ sơn Thần, đắc tu tập từ thiện căn thành thục bất khả tư nghị số chúng sanh giải thoát môn
Chủ Sơn Thần Hoa Lâm Diệu Kế, được môn giải thoát, tu tập từ thiện căn, thành thục số chúng sinh không thể nghĩ bàn.

Vị Chủ Lâm Thần Hoa Lâm Diệu Kế, những núi của Ngài quản lý đều khai phô hoa mỹ lệ. Trên đầu của Ngài có búi tóc vi diệu trang nghiêm, Ngài tu hành học tập từ thiện căn, khiến cho căn lành thành thục, có thể cứu bất khả tư nghì số chúng sinh thoát khỏi biển khổ, Ngài đắc được môn giải thoát này.

Cao tràng phổ chiếu chủ sơn Thần, đắc quan sát nhất thiết chúng sanh tâm sở lạc nghiêm tịnh chư căn giải thoát môn
Chủ Sơn Thần Cao Tràng Phổ Chiếu, được môn giải thoát, quán sát tất cả tâm sở thích của chúng sinh, để nghiêm tịnh các căn.

Vị Chủ Sơn Thần Cao Tràng Phổ Chiếu, cao tràng của Ngài phóng ra quang minh, chiếu soi khắp tất cả thân của chúng sinh. Ngài quán sát tất cả tâm của chúng sinh, hoan hỷ thích gì thì đều khiến cho họ đầy đủ. Sau đó, lại trang nghiêm mắt tai mũi lưỡi thân ý sáu căn cho thanh tịnh. Sáu căn nghiêm tịnh là do giữ giới luật, mắt chẳng tùy tiện nhìn sắc đẹp, tai chẳng tùy tiện nghe tiếng, mũi chẳng tùy tiện ngửi mùi, lưỡi chẳng tùy tiện nếm vị, thân chẳng tùy tiện xúc giác, ý chẳng tùy tiện biết pháp, Ngài đắc được môn giải thoát này.

Ly trần bảo kế chủ sơn Thần, đắc vô biên kiếp hải cần tinh tấn vô yếm đãi giải thoát môn
Chủ Sơn Thần Ly Trần Bảo Kế, được môn giải thoát, trong vô biên biển kiếp siêng tinh tấn chẳng nhàm mỏi.

Vị Chủ Sơn Thần Ly Trần Bảo Kế, Ngài đã lìa khỏi thế giới hồng trần, đắc được cảnh giới thanh lương. Ngài có búi tóc bảy báu trang nghiêm, một bụi trần cũng không nhiễm, thanh tịnh quang minh. Ngài thấy được khi Phật ở trong vô biên biển kiếp, luôn luôn đều tu hành tinh tấn, chẳng khi nào nhàm chán, từng phút từng giây đều tinh tấn dũng mãnh, Ngài đắc được môn giải thoát này.

Quang chiếu thập phương chủ sơn Thần, đắc dĩ vô biên công đức quang phổ giác ngộ giải thoát môn
Chủ Sơn Thần Quang Chiếu Thập Phương, được môn giải thoát, dùng vô biên công đức quang minh khắp giác ngộ.

Vị Chủ Sơn Thần Quang Chiếu Thập Phương, trí huệ quang minh của Ngài chiếu khắp mười phương thế giới. Ngài dùng vô lượng vô biên công đức quang minh, chiếu soi khắp hết thảy chúng sinh, khiến cho tất cả chúng sinh thấy được quang minh này, thì đều có thể giác ngộ. Giác ngộ thế giới Ta Bà khổ nhiều vui ít, thế giới Cực Lạc chỉ có vui mà chẳng có khổ, Ngài đắc được môn giải thoát này.

Đại lực quang minh chủ sơn Thần, đắc năng tự thành thục Phục lệnh chúng sanh xả ly ngu mê hạnh giải thoát môn
Chủ Sơn Thần Ðại Lực Quang Minh, được môn giải thoát, hay tự thành thục, lại khiến cho chúng sinh bỏ lìa hạnh ngu mê.

Vị Chủ Sơn Thần Ðại Lực Quang Minh, có sức lực dời núi, phóng ra quang minh rất mãnh liệt, khiến cho yêu ma quỷ quái ở trong núi và lị mị vọng lượng đều chẳng dám tác quái. Ngài tự thành thục quả giác vô thượng viên mãn, và cũng khiến cho tất cả chúng sinh, xả bỏ lìa khỏi hành vi ngu si mê hoặc, mà khai mở đại trí huệ, thấu rõ thị phi, Ngài đắc được môn giải thoát này.

Uy quang phổ thắng chủ sơn Thần, đắc bạt nhất thiết khổ sử vô hữu dư giải thoát môn
Chủ Sơn Thần Oai Quang Phổ Thắng, được môn giải thoát, cứu tất cả mọi sự khổ, khiến cho chẳng còn dư thừa.

Vị Chủ Sơn Thần Oai Quang Phổ Thắng, đại oai quang của Ngài phổ khắp thù thắng. Ngài đắc được cảnh giới, thấu rõ Phật cứu tất cả khổ của chúng sinh, khiến cho tất cả chúng sinh đắc được an lạc. Ngài hay khiến cho chúng sinh chẳng còn khổ nữa, hoàn toàn tiêu diệt sạch. Ngài đắc được môn giải thoát này.

Vi mật quang luân chủ sơn Thần, đắc diễn giáo pháp quang minh hiển thị nhất thiết Như Lai công đức giải thoát môn,
Chủ Sơn Thần Vi Mật Quang Luân, được môn giải thoát, diễn nói giáo pháp quang minh, hiển thị tất cả công đức của Như Lai.

Vị Chủ Sơn Thần Vi Mật Quang Luân, có quang luân vi diệu nghiêm mật. Quang luân đó phóng ra vô lượng trí huệ quang, chiếu soi hữu tình và vô tình ở trong núi đều nghe được Phật pháp. Ngài diễn nói tất cả giáo pháp, diễn nói tam tạng mười hai bộ tất cả kinh điển. Ngài dùng quang để nói pháp, dùng quang để hiển thị tất cả công đức của Như lai tu hành trong quá khứ, Ngài đắc được môn giải thoát này.

Chúng ta phàm phu chẳng đắc được thần thông, cho nên không hiểu được cảnh giới này. Nếu đắc được ngũ nhãn lục thông, thì sẽ nhìn thấy trong quang minh cũng có Phật, cũng có Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác, cũng có tất cả chúng sinh. Có Thánh nhân ở trong đó, đang diễn nói giáo pháp, cũng có chúng sinh đang ở đó nghe pháp, đây là cảnh giới không thể nghĩ bàn. Phàm là cao tăng thời xưa đều có thần thông diệu dụng. Vào đời nhà Tấn, có vị cao tăng hiệu là Phật Ðồ Trừng Tam Tạng, vì cảm hóa kẻ giết người là Thạch Lặc và Thạch Hổ mà hiện đủ thứ thần thông, khiến cho hai người đó kiền thành tín ngưỡng Phật giáo, sửa đổi tánh ác tàn nhẫn. Hiện đại, lão hòa thượng Hư Vân cũng có thần thông diệu dụng, mọi người muốn biết thì hãy đọc quyển tự truyện của Ngài Hư Vân thì sẽ biết.

Phổ nhãn hiện kiến chủ sơn Thần, đắc lệnh nhất thiết chúng sanh nãi chí ư mộng trung tăng trưởng thiện căn giải thoát môn
Chủ Sơn Thần Phổ Nhãn Hiện Kiến, được môn giải thoát, khiến cho tất cả chúng sinh, cho đến ở trong mộng cũng tăng trưởng căn lành.

Vị Chủ Sơn Thần Phổ Nhãn Hiện Kiến, mắt của Ngài có thể quán sát khắp cảnh giới hiện ra gần hoặc xa. Ngài đắc được cảnh giới của Phật, khiến cho tất cả chúng sinh, chẳng những lúc tỉnh làm việc thiện, tăng trưởng căn lành, tu phước tu huệ, bố thí thuyết pháp, lợi ích chúng sinh, mà dù ở trong mộng cũng khiến cho chúng sinh đắc được pháp ích. Ngài vì chúng sinh mà nói pháp khổ, không vô thường vô ngã .v.v., khi chúng sinh tỉnh dậy liền chứng đạo quả, Ngài đắc được môn giải thoát này.

Có khi Phật Bồ Tát ở trong mộng của chúng sinh, hiện ra Dạ xoa, hoặc La sát đáng sợ để uy hiếp người. Người bị uy hiếp thì sẽ sợ hãi tâm nghĩ : “Hãy mau sớm tu hành, đây là quỷ vô thường đến nhiễu loạn, mình chẳng cách chi ứng phó với nó.’’ Do đó, mà sinh tâm tu đạo. Ðừng cho rằng nằm mộng sợ hãi là điềm không cát tường, kỳ thật là cát tường nhất. Vì dạy bạn phát bồ đề tâm, hiểu rõ đời người là hư vọng, như thế mới khiến cho bạn tăng trưởng căn lành, phát tâm bồ đề, cầu đạo vô thượng đắc quả bồ đề. Ðó là pháp môn phương tiện của Phật, Bồ Tát.

Kim cương kiên cố nhãn chủ sơn Thần, đắc xuất hiện vô biên đại nghĩa hải giải thoát môn.
Chủ Sơn Thần Kim Cang Kiên Cố Nhãn, được môn giải thoát, xuất hiện vô biên biển đại nghĩa lý.

Vị Chủ Sơn Thần Kim Cang Kiên Cố Nhãn, mắt của Ngài sáng như kim cang, rất là kiên cố, bất cứ vật gì cũng phá chẳng được. Mắt kim cang kiên cố này, biết rõ tất cả ma vương, Dạ xoa, La sát, quỷ quái. Vì có sự tác dụng như thế, cho nên Ngài quản lý núi đều rất an ninh. Ngài xuất hiện vô lượng vô biên nghĩa lý đại pháp, sâu rộng như biển cả, Ngài đắc được môn giải thoát này.

Nhĩ thời, khai hoa tạp địa chủ sơn Thần, thừa Phật uy lực, phổ quán nhất thiết chủ sơn Thần chúng nhi thuyết tụng ngôn:
Bấy giờ, Chủ Sơn Thần Bảo Phong Khai Hoa, nương oai lực của đức Phật, quán sát khắp tất cả chúng Chủ Sơn Thần, mà nói bài kệ rằng.

Lúc đó, vị Chủ Sơn Thần Bảo Phong Khai Hoa, nương đại oai thần lực của Phật Thích Ca Mâu Ni, quán sát khắp tất cả chúng Chủ Sơn Thần ở trong hội Hoa Nghiêm. Tại sao chẳng nói là sức lực của mình, sức thần thông của mình ? Vì Phật Thích Ca là thuyết pháp chủ của pháp hội Hoa Nghiêm, vì tôn trọng mà nói như thế. Mười vị Chủ Sơn Thần này, là đại biểu cho vô lượng vô biên chúng Chủ Sơn Thần, làm thượng thủ của họ. Nếu ai ai cũng đều nói ra, thì e rằng suốt thuở vị lai cũng nói chẳng hết. Bài kệ này là vị Chủ Sơn Thần Bảo Phong Khai Hoa nói, còn các Chủ Sơn Thần kia, mỗi người nói ra một bài kệ, để khen ngợi cảnh giới của Phật.

Vãng tu thắng hành vô hữu biên,              Xưa tu thắng hạnh không bờ mé
Kim hoạch thần thông diệc vô lượng,       Nên được thần thông cũng vô lượng
Pháp môn quảng tịch như trần số,            Pháp môn rộng mở như số bụi
Tất sử chúng sanh thâm ngộ hỉ.                Ðều khiến chúng sinh thâm ngộ hỷ.

Xưa tu thắng hạnh không bờ mé.’’ Thuở xưa Phật tu đủ thứ hạnh môn thù thắng. Song, thắng hạnh này chẳng có bờ mé, chẳng có số lượng.

Nên được thần thông cũng vô lượng.’’ Vì thuở xưa Phật tu thắng hạnh vô biên, cho nên đắc được thần thông cũng vô lượng, chẳng cách chi biết được.

Pháp môn rộng mở như số bụi.’’ Pháp môn khai mở rộng lớn, nhiều như số hạt bụi. Tại sao phải có nhiều pháp môn như thế ? Vì chúng sinh nhiều như hạt bụi, cho nên dùng số pháp môn nhiều như hạt bụi, để giáo hóa số chúng sinh nhiều như hạt bụi.

Ðều khiến chúng sinh thâm ngộ hỷ.’’ Tuy có pháp môn nhiều như số hạt bụi, nhưng khiến cho tất cả chúng sinh, hoàn toàn minh bạch được chân thật nghĩa của Phật pháp, đều liễu ngộ thâm sâu mà sinh hoan hỷ.

Chúng tướng nghiêm thân biến thế gian, Các tướng nghiêm thân khắp thế gian
Mao khổng quang minh tất thanh tịnh,    Quang minh lỗ lông đều thanh tịnh
Đại từ phương tiện thị nhất thiết,             Ðại từ phương tiện bày tất cả
Hoa lâm diệu kế ngộ thử môn.                  Hoa Lâm Diệu Kế ngộ môn này.

Các tướng nghiêm thân khắp thế gian.’’ Các tướng tức là ba mươi hai tướng tốt tám mươi vẻ đẹp. Nghiêm thân tức là trang nghiêm thân Phật, khắp thế gian tức là đầy khắp tất cả thế gian. Thân Phật là tướng tốt quang minh chẳng gì sánh bằng, vô tại vô bất tại, cho nên khắp cùng thế gian.

Quang minh lỗ lông đều thanh tịnh.’’ Mỗi lỗ lông của Phật, đều phóng ra vô lượng quang minh. Ở trong vô lượng quang minh, lại phóng ra vô lượng quang minh, đủ thứ vô tận, quang minh chiếu với nhau, chiếu soi tất cả thế gian đều thanh tịnh.

Ðại từ phương tiện bày tất cả.’’ Phật dùng tâm đại từ bi, để ban cho chúng sinh mọi niềm vui, cứu mọi sự khổ của chúng sinh. Phật dùng đủ thứ phương tiện pháp môn, khiến cho chúng sinh sinh ra niềm tin, tâm nguyện và tâm hạnh. Lại dùng đủ thứ phương tiện pháp môn, để khai thị chúng sinh, khiến cho họ giác ngộ pháp thế gian là: Vô thường, khổ, không, vô ngã, bất tịnh, pháp xuất thế là: Thường, lạc, ngã, tịnh, bất không.

Hoa Lâm Diệu Kế ngộ môn này.’’ Vị Chủ Sơn Thần Hoa Lâm Diệu Kế, ngộ được môn giải thoát này.

Phật thân phổ hiện vô hữu biên,               Thân Phật hiện khắp không bờ mé
Thập phương thế giới giai sung mãn,       Mười phương thế giới đều sung mãn
Chư căn nghiêm tịnh kiến giả hỉ,              Các căn nghiêm tịnh thấy được vui
Thử pháp cao tràng năng ngộ nhập.         Pháp này Cao Tràng Ngộ vào được.

Thân Phật hiện khắp không bờ mé.’’ Pháp thân của Phật tận hư không khắp pháp giới; chẳng có chỗ hạt bụi nào, mà chẳng phải là pháp thân của Phật ở tại đó, cho nên nói thân Phật hiện khắp chẳng bờ mé.

Mười phương thế giới đều sung mãn.’’ Pháp thân của Phật chẳng phải chỉ xuất hiện trong một thế giới, mà là hết thảy thế giới trong mười phương, đều sung mãn pháp thân của Phật.

Các căn nghiêm tịnh thấy được vui.’’ Ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp của Phật, đều trang nghiêm thanh tịnh. Phàm là chúng sinh nào thấy được Phật, thì đều sinh tâm hoan hỷ.

Pháp này Cao Tràng ngộ vào được.’’ Cảnh giới môn giải thoát này, vị Chủ Sơn Thần Cao Tràng Phổ Chiếu, ngộ hiểu thấu rõ mà vào được.

Lịch kiếp cần tu vô giải quyện,                 Nhiều kiếp siêng tu chẳng giải đãi
Bất nhiễm thế Pháp như hư không,          Chẳng nhiễm thế pháp như hư không
Chủng chủng phương tiện hóa quần sanh,        Ðủ thứ phương tiện hóa quần sinh
Ngộ thử pháp môn danh bảo kế.               Ngộ pháp môn này tên Bảo Kế.

Nhiều kiếp siêng tu chẳng giải đãi’’. Nhiều kiếp tức là vô lượng đại kiếp, tức cũng là từ vô thủy kiếp đến nay. Siêng tu tức là chẳng giải đãi, thời khắc siêng năng tu hành. Phật trải qua vô lượng đại kiếp, siêng tu hành chẳng giải đãi, tinh tấn lại tinh tấn.

Chúng ta đả Phật thất, từ bốn giờ sáng bắt đầu đến mười giờ khuya mới nghỉ, suốt ngày chẳng có thời gian nghỉ ngơi, đều dụng công niệm Phật, đó là siêng tu. Siêng tu giới định huệ, sẽ diệt tham sân si, đây là pháp môn cơ bản của Phật giáo. Chúng ta đả thiền thất, dù một giây thời gian cũng không để luống qua. Có thể trong một giây thời gian đó bạn sẽ khai ngộ, cho nên càng phải tinh tấn. Sáng sớm từ hai giờ rưỡi đã bắt đầu, đến mười hai giờ đêm mới đi ngủ, mỗi ngày chỉ ngủ hơn hai tiếng, đó tức là siêng tu. Tại sao phải khổ như thế ? Vì khổ hành mới là chìa khóa khai ngộ, có thể khai mở cửa trí huệ.

Sự siêng tu của chúng ta có thời gian, đả Phật thất là một tuần lễ, còn đả thiền thất là hai tuần lễ (về sau tăng lên ba tuần lễ), nhưng Phật chẳng có thời gian định kỳ, mà là ngày ngày tinh tấn, tháng tháng tinh tấn, năm năm tinh tấn, tức cũng là thời khắc siêng tinh tần, chẳng có chút giải đãi.

Chẳng nhiễm thế pháp như hư không”. Pháp thế gian là : Tài, sắc, danh, thực, thùy, năm dục; hư không thì thanh tịnh chẳng ô nhiễm. Phật chỉ biết siêng tu pháp xuất thế, cho nên chẳng nhiễm pháp thế gian, giống như hư không.

Chúng ta người thế gian hay thích ăn đồ ngon, mặc đồ đẹp, ở nhà tốt. Vì có pháp nhiễm ô như thế, cho nên tu pháp xuất thế chẳng thành công. Nếu xem nặng bên pháp thế gian, thì bên kia pháp xuất thế sẽ nhẹ đi; còn nếu xem pháp xuất thế nặng, thì pháp thế gian sẽ nhẹ đi. Ðạo lý này rất nông cạn, chỉ cần buông bỏ được năm dục, thì mọi vấn đề giải quyết được.

Ðủ thứ phương tiện hóa quần sinh”. Vì Phật siêng tu vô thượng đạo, chẳng nhiễm pháp thế gian, nên thành tựu Phật đạo. Sau khi thành Phật, Ngài dùng đủ thứ phương tiện pháp môn, để giáo hóa quần sinh. Tại sao phải dùng đủ thứ phương tiện pháp môn ? Vì chúng sinh quá nhiều loài, có tứ sinh cửu hữu, mười hai loại khác nhau, cho nên dùng đủ thứ phương tiện pháp môn để giáo hóa chúng sinh.

Ngộ pháp môn này tên Bảo Kế”. Vị Chủ Sơn Thần liễu ngộ được môn giải thoát này, tên là Chủ Sơn Thần Ly Trần Bảo Kế, Ngài minh bạch được cảnh giới này.

Chúng sanh manh ám nhập hiểm đạo,      Chúng sinh mù tối vào đường hiểm
Phật ai mẩn bỉ thư quang chiếu,               Phật thương xót họ phóng quang minh
Phổ sử thế gian tùng thụy giác,                 Khiến khắp thế gian ngủ tỉnh dậy
Uy quang ngộ thử tâm sanh hỉ.                 Oai Quang ngộ được sinh hoan hỷ.

Chúng sinh mù tối vào đường hiểm”. Chúng sinh tức là động vật có máu, có khí, bạn, tôi, họ, đều bao quát trong đó. Mù tối tức là người chẳng có mắt, nhìn chẳng thấy ánh sáng. Ðường hiểm là con đường nguy hiểm eo hẹp chẳng bằng phẳng. Chúng sinh quá ngu si, tuy nhiên muốn đi con đường bằng phẳng, nhưng vì chẳng có mắt, cho nên đi trên con đường đen tối. Con đường nguy hiểm đó, chẳng những có hầm hố, lại có đá, hoặc có sài lang hổ báo, hoặc có yêu ma quỷ quái, cũng có Dạ xoa, La sát đang ở trên đường hiểm đợi bạn.

Tất cả chúng sinh trong thế gian, vốn muốn tìm cầu thiện pháp tu hành, đắc được giải thoát. Song, vì quá ngu si, nên pháp hay cũng chẳng biết, cho nên dễ lầm vào đường tà, lạc vào bàng môn tả đạo, mà mình vẫn không hay biết, cho rằng pháp của mình tu là chánh pháp, đạo của mình hành là chánh đạo. Kết quả, sau khi chết rồi rớt vào địa ngục, mà cũng chẳng biết là đường hiểm. Do đó, người tu đạo phải có mắt chọn pháp, mới có thể hướng đi trên con đường chánh, thẳng đến Niết Bàn.

Phật thương xót họ phóng quang minh”. Phật thương xót chúng sinh mù tối, cho nên phóng ra quang minh chiếu soi loại chúng sinh này, khiến cho họ khai mở mắt trí huệ. Ðừng lấy phải làm trái, lấy trái làm phải; càng đừng lấy đen làm trắng, lấy trắng làm đen, lìa khỏi mộng tưởng điên đảo, đắc được cứu kính Niết Bàn.

Khiến khắp thế gian ngủ tỉnh dậy”. Phật phóng quang minh chiếu soi chúng sinh, để khiến cho chúng sinh trong thế gian, từ trong mộng mà giác ngộ, minh bạch thế gian là khổ, là vô thường.

Oai Quang ngộ được sinh hoan hỷ”. Cảnh giới này, vị Chủ Sơn Thần Quang Chiếu Thập Phương, thấu rõ ngộ được, nên sinh tâm đại hoan hỷ.

Tích tại chư hữu quảng tu hành,               Xưa trong các cõi rộng tu hành
Cúng dường sát trần vô số Phật,               Cúng dường bụi cõi vô số Phật
Lệnh chúng sanh kiến phát đại nguyện,   Khiến chúng sinh thấy phát nguyện lớn
Thử địa đại lực năng minh nhập.              Môn này Ðịa Ðại Lực ngộ được.

Xưa trong các cõi rộng tu hành”. Xưa kia, khi Phật chưa thành Phật, cũng giống như chúng ta. Phật ở trong tam giới hai mươi lăm cõi, phát tâm nguyện rộng lớn, tu hạnh môn rộng lớn, cho nên thành Phật.

Cúng dường bụi cõi vô số Phật”. Thuở xưa Phật tu hành như thế nào ? Là cúng dường nhiều vị Phật như số hạt bụi. Tại sao phải cúng dường Phật ? Vì Phật là người có đạo đức nhất, của thế gian và xuất thế gian, là người có tu hành nhất, là người có trí huệ nhất. Phật là đại Thánh nhân Lưỡng Túc Tôn viên mãn giác, phước cũng đủ, huệ cũng đủ, chứng được quả vị viên mãn đại giác, cho nên phải cúng dường Phật.

Có người nói: “Tôi muốn cúng dường chúng sinh, không biết được chăng”? Ðược ! Cho con chó ăn, hoặc cho con mèo ăn, đều là cúng dường, nhưng chẳng có công đức, trong Kinh Bốn Mươi Hai Chương nói rất rõ ràng : Cúng dường cho một trăm người ác, chẳng bằng cúng dường cho một người thiện; cúng dường cho một ngàn người thiện, chẳng bằng cúng dường cho một người giữ năm giới; cúng dường cho một vạn người giữ năm giới, không bằng cúng cho một vị Tỳ Kheo hoặc Tỳ Kheo Ni; Cúng dường cho một trăm vạn vị Tỳ Kheo hoặc Tỳ Kheo Ni, chẳng bằng cúng dường cho một vị Thánh nhân sơ quả; cúng dường cho một ngàn vạn Thánh nhân sơ quả, chẳng bằng cúng cho một vị Thánh nhân nhị quả; cúng dường cho một vạn vạn vị Thánh nhân nhị quả, chẳng bằng cúng cho một vị Thánh nhân tam quả; cúng dường cho một trăm vạn vạn vị Thánh nhân tam quả, chẳng bằng cúng dường cho một vị Thánh nhân tứ quả A La Hán; cúng dường vô lượng vị tứ quả A La Hán, chẳng bằng cúng dường cho một vị vô tu vô chứng (tức là Phật, chẳng cần tu, cũng chẳng cần chứng). Vì Phật mọi việc đã làm xong, chẳng còn thọ thân sau nữa, ba giác tròn, vạn đức đầy, cho nên phải cúng dường Phật.

Cho nên, khi Ðức Phật tu hành ở tại nhân địa, thì cúng dường Phật, chẳng phải chỉ cúng dường một vị Phật, mà là cúng dường vô lượng vị Phật, nhiều như hạt bụi trong cõi nước. Vì cúng dường Phật nhiều như thế, cho nên tăng trưởng vô lượng căn lành, và tướng tốt trang nghiêm.

Khiến chúng sinh thấy phát nguyện lớn”. Khiến cho chúng sinh thấy được Phật, đều phát nguyện lớn. Nguyện tức là chiếc thuyền qua sông, chẳng phát nguyện thì không thể qua sông sinh tử, đến bờ bên kia. Do đó, quy cụ của chùa Kim Sơn chúng ta là : Phàm là xuất gia Sa Di hoặc Sa di ni, nhất định phải phát nguyện lớn, sau đó mới thành tựu quả vị lớn, chẳng phát nguyện thì chẳng thành quả. Bồ Tát Phổ Hiền phát mười đại hạnh nguyện, Bồ Tát Quán Thế Âm phát mười hai đại nguyện, Bồ Tát Ðịa Tạng phát mười tám đại nguyện. Ít nhất cũng phải phát bốn hoằng thệ nguyện :

1). Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ.
2). Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn.
3). Pháp môn vô lượng thệ nguyện học.
4). Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.

Người xuất gia ở chùa Kim Sơn chúng ta, ít nhất phải chứng tứ quả A La Hán, mới không cô phụ tâm thành của thiện tín mười phương đến cúng dường, do đó đều phải phát đại nguyện, thành đại Bồ Tát.

Môn này Ðịa Ðại Lực ngộ được.’’ Pháp môn này, cảnh giới này, môn giải thoát này, vị Chủ Sơn Thần Ðại Lực Quang Minh minh bạch ngộ vào được.

Kiến chư chúng sanh lưu chuyển khổ,               Thấy các chúng sinh trôi nổi khổ
Nhất thiết nghiệp chướng hằng triền phước,    Tất cả nghiệp chướng luôn trói che
Dĩ trí tuệ quang tất diệt trừ,                              Dùng trí huệ quang diệt trừ sạch
Thử phổ thắng Thần chi giải thoát.                   Giải thoát này của Phổ Thắng Thần.

Thấy các chúng sinh trôi nổi khổ”. Phật thấy tất cả chúng sinh, trôi qua trôi lại ở trong sáu nẻo luân hồi chẳng dứt

Tất cả nghiệp chướng luôn trói che”. Tại sao chúng sinh trôi nổi trong sinh tử ? Vì có tất cả nghiệp chướng. Nghiệp chướng này từ đâu đến ? Là từ mê hoặc đến. Có mê hoặc thì chẳng thể tu đạo, chẳng tu đạo thì luôn luôn bị nghiệp hoặc trói buộc che đậy.

Dùng trí huệ quang diệt trừ sạch”. Phật dùng trí huệ quang minh, để phá trừ vô minh của chúng sinh, diệt trừ ngu si ám chướng của chúng sinh, hết thảy tất cả chướng ngại đều tiêu diệt trừ sạch.

Giải thoát này của Phổ Thắng Thần.’’ Môn giải thoát này, vị Chủ Sơn Thần Oai Quang Phổ Thắng thấu rõ được.

Nhất nhất mao khổng xuất Diệu-Âm,       Trong mỗi lỗ lông vang diệu âm
Tùy chúng sanh tâm tán chư Phật,           Tùy tâm chúng sinh khen chư Phật
Tất biến thập phương vô lượng kiếp,        Thảy khắp mười phương vô lượng kiếp
Thử thị quang luân sở nhập môn.              Quang Luân Thần vào được môn này.

Trong mỗi lỗ lông vang diệu âm”. Trong mỗi lỗ chân lông của Phật, đều vang ra âm thanh vi diệu không thể nghĩ bàn, diệu âm đó diễn nói diệu pháp không thể nghĩ bàn cho chúng sinh nghe.

Tùy tâm chúng sinh khen chư Phật”. Hay tùy thuận tâm chúng sinh, để khen ngợi tất cả các Ðức Phật.

Thảy khắp mười phương vô lượng kiếp”. Chẳng những Phật ở trong một thế giới vang ra diệu âm, giáo hóa chúng sinh, mà là khắp hết thảy mười phương thế giới, vì chúng sinh mà nói pháp, cũng chẳng phải trong thời gian ngắn diễn nói diệu âm, mà là thời gian dài trong vô lượng kiếp giáo hóa chúng sinh.

Quang Luân Thần vào được môn này.’’ Vị Chủ Sơn Thần Vi Mật Quang Luân, thấu rõ cảnh giới này, mà vào được môn giải thoát này.

Phật biến thập phương phổ hiện tiền,             Khắp mười phương Phật đều hiện tiền
Chủng chủng phương tiện thuyết diệu pháp, Ðủ thứ phương tiện nói diệu pháp
Quảng ích chúng sanh chư hạnh hải,              Rộng ích chúng sinh các biển hạnh
Thử hiện kiến Thần chi sở ngộ.                       Sở ngộ này của Hiện Kiến Thần.

Khắp mười phương Phật đều hiện tiền”. Pháp thân của Phật tận hư không khắp pháp giới, cho nên đầy khắp mười phương, thị hiện khắp ở trước chúng sinh.

Ðủ thứ phương tiện nói diệu pháp”. Phật dùng đủ thứ pháp môn phương tiện khéo léo, để diễn nói diệu pháp, giáo hóa chúng sinh. Cho đến chúng sinh ở trong mộng, Phật cũng vào trong mộng, để vì chúng sinh nói diệu pháp, hà huống là lúc chúng sinh tỉnh, Phật càng dùng đủ thứ phương tiện pháp môn, để giáo hóa chúng sinh ngu si.

Rộng ích chúng sinh các biển hạnh”. Phật vì muốn rộng lợi ích chúng sinh, cho nên tu đủ thứ hạnh môn, hạnh môn tu không bờ bến như là biển cả, cho nên nói các biển hạnh.

Sở ngộ này của Hiện Kiến Thần.’’ Môn giải thoát này, vị Chủ Sơn Thần Phổ Nhãn Hiện Kiến ngộ hiểu được.

Pháp môn như hải vô biên lượng,             Pháp môn như biển vô biên lượng
Nhất âm vi thuyết tất lệnh giải,                 Một âm nói ra khiến hiểu rõ
Nhất thiết kiếp trung diễn bất cùng,         Trong tất cả kiếp nói chẳng hết
Nhập thử phương tiện Kim cương mục.   Kim Cang Mục vào phương tiện này.

Pháp môn như biển vô biên lượng”. Pháp môn của Phật như biển cả, vô lượng vô biên, cũng chẳng có bờ mé, cũng chẳng có hạn lượng.

Một âm nói ra khiến hiểu rõ”. Phật dùng một âm diễn nói pháp, chúng sinh tùy loài đều hiểu rõ. Người trời nghe thì ngôn ngữ trên trời, con người nghe thì ngôn ngữ của nhân gian, súc sinh nghe thì ngôn ngữ của súc sinh, chúng sinh trong sáu nẻo nghe đều hiểu rõ.

Trong tất cả kiếp nói chẳng hết”. Phật nói pháp chẳng nhàm mỏi, chẳng mệt nhọc, luôn luôn vì chúng sinh nói pháp, luôn luôn giáo hóa chúng sinh. Diệu pháp này trải qua tất cả đại kiếp cũng nói chẳng hết.

Kim Cang Mục vào phương tiện này.’’ Vị Chủ Sơn Thần Kim Cang Kiên Cố Nhãn, minh bạch cảnh giới này, mà vào được môn giải thoát phương tiện này.

Phục thứ, phổ đức tịnh hoa chủ địa thần, đắc dĩ từ bi tâm niệm niệm phổ quán nhất thiết chúng sanh giải thoát môn
Lại nữa, Chủ Ðịa Thần Phổ Ðức Tịnh Hoa, được môn giải thoát, dùng tâm từ bi, niệm niệm quán sát khắp tất cả chúng sinh.

Nghĩa lý trên chưa nói hết lại tiếp tục nói. Vị Chủ Ðịa Thần Phổ Ðức Tịnh Hoa, hay khiến khắp trong tâm của tất cả chúng sinh, sinh ra công đức, nở hoa thanh tịnh trang nghiêm. Ngài là Thần chủ quản đất đai. Nếu chẳng có Thần đến quản lý đất đai, thì bụi đất sẽ bay tán đi hết, địa cầu chẳng còn tồn tại. Ngài đắc được cảnh giới, ở trong Phật pháp biết được, Phật dùng tâm từ bi ở trong niệm niệm, quán sát khắp chúng sinh, cứu khổ chúng sinh, ban vui cho chúng sinh, Ngài đắc được môn giải thoát này.

Kiên phước trang nghiêm chủ địa thần, đắc phổ Hiện-Nhất-Thiết chúng sanh phước đức lực giải thoát môn,
Chủ Ðịa Thần Kiên Phước Trang Nghiêm, được môn giải thoát, hiện khắp tất cả chúng sinh phước đức lực.

Vị Chủ Ðịa Thần Kiên Phước Trang Nghiêm, hay khiến cho tất cả chúng sinh phát tâm bồ đề, mà vào biển công đức, đắc được phước trang nghiêm kiên cố. Ngài khắp khiến cho chúng sinh tăng trưởng sức phước đức, tức là tu phước tu huệ tu đức, tu đến khi viên mãn thì sẽ giải thoát, Ngài đắc được môn giải thoát này.

Hương khí nghiêm thọ chủ địa  Thần, đắc phổ nhập chư Pháp xuất sanh nhất thiết Phật sát trang nghiêm giải thoát môn
Chủ Ðịa Thần Diệu Hoa Nghiêm Thụ, được môn giải thoát, khắp vào các pháp, sinh ra tất cả cõi Phật trang nghiêm.

Chủ Ðịa Thần Diệu Hoa Nghiêm Thụ, những cây của Ngài lớn lên rất trang nghiêm, hoa nở cũng rất vi diệu thanh tịnh. Ngài có thể vào khắp tất cả các pháp, mà sinh ra tất cả các cõi Phật trong mười phương, rất trang nghiêm vi diệu, Ngài đắc được môn giải thoát này.

Phổ tán chúng bảo chủ địa thần, đắc tu tập chủng chủng chư tam muội lệnh chúng sanh trừ chướng cấu giải thoát môn
Chủ Ðịa Thần Phổ Tán Chúng Bảo, được môn giải thoát, tu tập đủ thứ các tam muội, khiến cho chúng sinh tiêu trừ chướng cấu.

Vị Phổ Tán Chúng Bảo Chủ Ðịa Thần này, biết chúng sinh thích bảo bối, cho nên rải khắp vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu, mã não, bảy báu, để bố thí cho chúng sinh. Ngài minh bạch được, Phật thuở xưa ở tại nhân địa, tu đủ thứ các tam muội, hay ở trong định khiến cho tất cả chúng sinh, tiêu trừ chướng cấu chẳng còn tâm nhiễm ô, Ngài đắc được môn giải thoát này.

Tịnh mục quán thời chủ địa thần, đắc lệnh nhất thiết chúng sanh thường du hí khoái lạc giải thoát môn
Chủ Ðịa Thần Tịnh Mục Quán Thời, được môn giải thoát, khiến cho tất cả chúng sinh thường du hí khoái lạc.

Vị Chủ Ðịa Thần Tịnh Mục Quán Thời, mắt của Ngài thanh tịnh quán sát được nhân duyên ba đời. Ngài hay quán căn cơ của chúng sinh, biết chúng sinh thích du hí, thích khoái lạc, Ngài dùng tam muội này để giáo hóa chúng sinh, khiến cho chúng sinh thường du hí thường khoái lạc. Ngài đắc được môn giải thoát này.

Kim sắc diệu nhãn chủ địa Thần, đắc thị Hiện-Nhất-Thiết thanh tịnh thân điều Phục chúng sanh giải thoát môn
Chủ Ðịa Thần Kim Sắc Diệu Nhãn, được môn giải thoát, thị hiện tất cả thân thanh tịnh, để điều phục chúng sinh.

Vị Chủ Ðịa Thần Kim Sắc Diệu Nhãn, thân của Ngài phóng ra sắc vàng, mắt vi diệu của Ngài quán sát được căn tính của chúng sinh trong mười phương. Ngài hiện khắp tất cả diệu pháp thân thanh tịnh, để điều phục tất cả chúng sinh khó điều phục, khiến cho chúng sinh cang cường biến thành nhu hòa, khiến cho chúng sinh sân hận sinh tâm hoan hỷ, Ngài đắc được môn giải thoát này.

Hương mao phát quang chủ địa thần, đắc liễu tri nhất thiết Phật công đức hải đại uy lực giải thoát môn
Chủ Ðịa Thần Hương Mao Phát Quang, được môn giải thoát, biết rõ biển công đức của tất cả chư Phật có đại oai lực.

Chủ Ðịa Thần Hương Mao Phát Quang, lỗ lông của Ngài đều phóng ra hương thơm, vì Ngài giữ giới luật tinh nghiêm. Nếu chúng ta giữ giới thanh tịnh, thì thân thể sẽ tỏa ra mùi thơm. Người giữ giới chẳng thanh tịnh, thì thân thể tỏa ra mùi hôi hám. Vị Chủ Ðịa Thần này chẳng những tỏa ra mùi thơm, mà còn phóng quang minh. Quang minh hương thơm này, chiếu khắp chúng sinh, khiến cho chúng sinh hoan hỷ học tập Phật pháp. Ngài biết rõ biển công đức của chư Phật tu, có sức đại oai đức. Sức đại oai đức này, nếu chúng ta tu hành thì sẽ có đủ. Ngài đắc được môn giải thoát này.

Tịch Âm duyệt ý chủ địa thần, đắc phổ nhiếp trì nhất thiết chúng sanh ngôn âm hải giải thoát môn
Chủ Ðịa Thần Tịch Âm Duyệt Ý, được môn giải thoát, khắp nhiếp trì biển lời nói âm thanh của tất cả chúng sinh.

Vị Chủ Ðịa Thần Tịch Âm Duyệt Ý, tuy âm thanh của Ngài chẳng nghe được, song, khiến cho người sinh tâm hoan hỷ. Ngài khắp nhiếp trì biển lời nói âm thanh của tất cả chúng sinh, thu hết lời nói âm thanh của chúng sinh lại. Ðây là dùng âm tịch tĩnh mà thu âm thanh động của chúng sinh. Ngài đắc được môn giải thoát này.

Hương khí toàn kế chủ địa thần, đắc sung mãn Phật sát ly cấu tánh giải thoát môn
Chủ Ðịa Thần Diệu Hoa Toàn Kế, được môn giải thoát, sung mãn cõi Phật lìa tính cấu bẩn.

Vị Chủ Ðịa Thần Diệu Hoa Toàn Kế, có hương hoa vi diệu không thể nghĩ bàn. Hương hoa này hướng về bên phải du chuyển, kết thành bảo kế. Ngài đắc được cảnh giới của Phật, cảm thấy Phật là hương quang phổ chiếu. Mỗi lỗ chân lông đều phóng ra mây hương hoa, đầy khắp mười phương thế giới, cho nên sung mãn cõi Phật, khiến cho tất cả chúng sinh thấy được thứ mây này, thì đều xa lìa tất cả tâm ô nhiễm, mà đắc được bổn thể thanh tịnh. Ngài đắc được môn giải thoát này.

Kim cương phổ trì chủ địa thần, đắc nhất thiết Phật Pháp luân sở nhiếp trì phổ xuất hiện giải thoát môn.
Chủ Ðịa Thần Kim Cang Phổ Trì, được môn giải thoát, pháp luân của tất cả chư Phật nhiếp trì khắp xuất hiện.

Vị Chủ Ðịa Thần Kim Cang Phổ Trì, đất đai của Ngài quản lý cứng chắc như kim cang, chẳng cách chi phá hoại được. Ngài đắc được pháp luân sở nhiếp trì, của tất cả chư Phật mười phương ba đời. Tuy nhiên, chúng ta đang ở thời mạt pháp, nhưng hiện tại giảng Phật pháp, tức cũng như pháp của chư Phật quá khứ đã giảng. Những pháp này hổ tương nhiếp trì, pháp này thông với pháp kia, pháp kia cũng thông với pháp này, viên dung với nhau, hổ tương vô ngại. Vì Phật Phật đạo đồng, cho nên bánh xe pháp của Phật cũng tuần hoàn không ngừng, hết rồi lại bắt đầu. Khi Phật chuyển bánh xe pháp, thì nhiếp trì tất cả chúng sinh, khiến cho họ y pháp tu hành, khắp xuất hiện thành Phật đạo, Ngài đắc được môn giải thoát này.

Nhĩ thời, phổ đức tịnh hoa chủ địa thần, thừa Phật uy lực, phổ quán nhất thiết chủ địa thần chúng nhi thuyết tụng ngôn:
Bấy giờ, Chủ Ðịa Thần Phổ Ðức Tịnh Hoa, nương oai lực của Phật, quán sát tất cả chúng Chủ Ðịa Thần, mà nói bài kệ rằng.

Lúc đó, vị Chủ Ðịa Thần Phổ Ðức Tịnh Hoa, nương đại oai thần lực của Phật, quán sát khắp tất cả chúng Chủ Ðịa Thần, mà nói ra bài kệ bốn câu, tán thán cảnh giới của Phật.

Như Lai vãng tích niệm niệm trung,         Thuở xưa Như Lai trong niệm niệm
Đại từ bi môn bất khả thuyết,                   Môn đại từ bi không thể nói
Như thị tu hành vô hữu dĩ,                        Tu hành như thế không ngừng nghỉ
Cố đắc kiên lao bất hoại thân.                  Nên được thân kiên cố bất hoại.

Thuở xưa Như Lai trong niệm niệm”. Trong quá khứ ở tại nhân địa, Phật tu đủ thứ hạnh môn, ở trong niệm niệm chẳng quên chúng sinh. Phật thường tu từ bi hỷ xả bốn tâm vô lượng, thường tu pháp từ bi tam muội, để cứu độ chúng sinh ra khỏi biển khổ mà được giải thoát.

Môn đại từ bi không thể nói”. Môn đại từ bi tức là dùng tâm đại từ và tâm đại bi, để đối đãi bình đẳng với chúng sinh. Tức cũng là vô duyên đại từ, đồng thể đại bi. Môn đại từ bi tức cũng chẳng có biểu hiện tâm sân hận. Giống như Bồ Tát Thường Bất Khinh, khi Ngài tu Bồ Tát đạo, gặp chúng sinh thì lễ lạy, miệng nói: “Tôi không dám khinh các vị, các vị đều sẽ thành Phật.’’ Song, có người mắng chửi Ngài quá ngu si, có người đánh Ngài quá điên khùng. Nhưng bất cứ họ đối đãi bất kính với Ngài như thế nào, Ngài vẫn dùng tâm từ bi để tha thứ họ, tuyệt đối chẳng sinh tâm sân hận. Và giống như Tiên ông nhẫn nhục tu đạo ở trong núi, bị vua Ca Lợi chặt đứt chi thể, mà Ngài cũng chẳng sinh tâm sân hận, đó đều là biểu hiện tu môn đại từ bi.

Tu hành như thế không ngừng nghỉ”. Giống như tu từ tâm tam muội, tức là đối với tất cả chúng sinh, sinh ra tâm đại từ bi, hạnh môn như thế, dù tu vô lượng vô biên đại kiếp, cũng chẳng khi nào tu xong, cho nên nói không ngừng nghỉ. Tóm lại, dù tu thành Phật, vẫn phải tu từ bi hỷ xả bốn tâm vô lượng không ngừng.

Nên được thân kiên cố bất hoại.’’ Vì Phật chẳng bao giờ giết hại sinh mạng của chúng sinh, cho nên thân của Phật kiên cố như kim cang, chẳng bao giờ tổn hại. Thân thể của chúng ta, tại sao chẳng kiên cố mà nhiều bệnh ? Là vì chẳng tu giới sát sinh cho viên mãn. Phải minh bạch nhân quả, vì sao bị người ta giết ? Là vì trong quá khứ đã từng giết người. Tại sao bị người ta đánh chưởi ? Là vì trong quá khứ đã từng đánh chưởi người. Khi nhân duyên đến thì phải chịu quả báo, do đó :

“Trồng dưa được dưa,
Trồng đậu được đậu.’’

Nếu chúng ta tu từ tâm tam muội, chẳng sát sinh, chẳng sân hận, thì tương lai thân thể cũng sẽ kiên cố bất hoại, chẳng bệnh tật mà mạnh khoẻ.

Tam thế chúng sanh cập Bồ Tát,               Ba đời chúng sinh và Bồ Tát
Sở hữu nhất thiết chúng phước tụ,            Hết thảy tất cả các phước tụ
Tất hiện Như Lai mao khổng trung,         Ðều thấy trong lỗ lông Như Lai
Phước nghiêm kiến dĩ sanh hoan hỉ.         Phước Nghiêm thấy rồi sinh hoan hỷ.

Ba đời chúng sinh và Bồ Tát”. Ba đời tức là đời quá khứ, hiện tại và vị lai. Hết thảy chúng sinh và Bồ Tát ba đời, Phật đều nhìn thấy rất rõ ràng, vì Phật quán sát được nhân duyên vô lượng đại kiếp.

Hết thảy tất cả các phước tụ’’. Chúng sinh và Bồ Tát ba đời, hết thảy tất cả phước tụ Phật đều biết.

Ðều thấy trong lỗ lông Như Lai”. Ðều hiện ra ở trong lỗ chân lông của Phật.

Phước Nghiêm thấy rồi sinh hoan hỷ.’’ Vị Chủ Ðịa Thần Kiên Phước Trang Nghiêm, thấy được cảnh giới này, trong tâm bèn sinh ra đại hoan hỷ.

Có người sinh tâm hoài nghi đối với bốn câu kệ này, hoài nghi Phật chỉ có thể nhìn thấy chúng sinh và Bồ Tát quá khứ, cùng với chúng sinh và Bồ Tát hiện tại, chứ không thể nhìn thấy chúng sinh và Bồ Tát vị lai. Vì vị lai thì chưa đến, làm sao có thể hiện ra ? Bạn nên biết cảnh giới của Phật không thể nghĩ bàn, Phật có thể dời quá khứ đến hiện tại, dời hiện tại về vị lai, lại dời vị lai về quá khứ, đây là đạo lý ba mà một, một mà ba. Do đó, làm cho công đức của chúng sinh và Bồ Tát vị lai, đều hiển hiện ra trong một lỗ chân lông.

Ví như máy truyền hình, chiếu sự việc, phim ảnh ba đời hợp lại với nhau. Ðem việc quá khứ dời về hiện tại diễn ra, việc vị lai cũng dời về hiện tại diễn ra, khiến cho ba đời thành một thể. Máy truyền hình còn có công năng như thế, huống chi là lỗ lông của Phật, càng có cảnh giới không thể nghĩ bàn. Mỗi lỗ chân lông của Phật, đều giống như một máy truyền hình.

Lại có người nói : “Tôi vẫn không tin đạo lý này.’’ Vậy tôi đưa ra một ví dụ nữa. Giống như nằm mộng, trong mộng thấy việc vị lai, sự việc mười mấy năm sau, mà hiện tại ở trong mộng hiện ra. Lại có thể mộng thấy việc quá khứ, sự việc mười mấy năm về trước, mà hiện tại ở trong mộng hiện ra. Ðó tức là dời quá khứ đến hiện tại, dời vị lai đến hiện tại. Cảnh giới này ai ai cũng đều nằm mộng thấy, chẳng có gì là huyền diệu, bạn đã tin thì phải !

Tôi còn nhớ bốn mươi năm về trước, gặp một giấc mộng không thể nghĩ bàn, mộng thấy tôi ngồi ở trên pháp tòa, giảng kinh thuyết pháp cho rất nhiều người ngoại quốc nghe, giảng KinhHoa Nghiêm Ðại Phương Quảng Phật. Lúc đó, cũng chẳng cảm thấy ly kỳ, vẫn cho rằng chỉ là một giấc mộng mà thôi. Hiện tại, cảnh giới đó quả nhiên hiện thật. Chẳng những mộng thấy cảnh giới đó, mà còn mộng thấy rất nhiều cảnh giới. Bây giờ nghĩ lại, nguyên lai là như thế.

Người ở trong mộng, còn có thể biết được quá khứ hiện tại vị lai, hà huống là Phật. Phật có thể trong một lỗ lông khắp cùng pháp giới, làm cho hết thảy phước đức của chúng sinh và Bồ Tát, trong quá khứ hiện tại vị lai ba đời, đều hiện ra trong một lỗ chân lông. Phàm là người khai mở ngũ nhãn, đều có thể nhìn thấy tất cả sự việc ba đời, thậm chí mình ở trên đất bò như thế nào, hoặc là mình ngồi ở nơi nào đó chết đi, đều nhìn thấy rất rõ ràng, chẳng có chút gì kỳ lạ.

Quảng đại tịch tĩnh tam-ma-địa,               Tam ma địa tịch tĩnh rộng lớn
Bất sanh bất diệt vô lai khứ,                     Không sinh không diệt không đến đi
Nghiêm tịnh quốc độ thị chúng sanh,       Nghiêm tịnh cõi nước bày chúng sinh
Thử thọ hoa Thần chi giải thoát.        Giải thoát này của Thụ Hoa Thần.

Tam ma địa tịch tĩnh rộng lớn”. Tam ma địa nghĩa là định. Tịch tĩnh tức là chẳng có âm thanh, nghĩa là vắng lặng. Rộng lớn là từ hình dung, nghĩa là vừa rộng vừa lớn. Thứ định này vắng lặng rộng lớn, không thể nghĩ bàn.

Không sinh không diệt không đến đi”. Tam ma địa tức là không sinh, không diệt, không đến, không đi, đây là nói định của Phật là cảnh giới như thế.

Nghiêm tịnh cõi nước bày chúng sinh”. Trang nghiêm tất cả cõi nước chư Phật, thanh tịnh tất cả cõi nước của chư Phật, để mở bày cho chúng sinh pháp môn liễu sinh thoát tử.

Giải thoát này của Thụ Hoa Thần.’’ Môn giải thoát này, vị Chủ Ðịa Thần Diệu Hoa Nghiêm Thụ đắc được.

Phật ư vãng tích tu chư hạnh,                   Thuở quá khứ Phật tu các hạnh
Vi lệnh chúng sanh tiêu trọng chướng,     Muốn khiến chúng sinh tiêu chướng nặng
Phổ tán chúng bảo chủ địa thần,               Chủ Ðịa Thần Phổ Tán Chúng Bảo
Kiến thử giải thoát sanh hoan hỉ.              Thấy Giải thoát này sinh hoan hỷ.

Thuở quá khứ Phật tu các hạnh”. Phật là vì chúng sinh mà tu hành, vì Phật thấy nghiệp chướng của chúng sinh quá nặng, cho nên thuở xưa Phật tu đủ thứ hạnh môn, để cứu độ chúng sinh, khiến cho chúng sinh tiêu trừ nghiệp chướng mà được giải thoát.

Muốn khiến chúng sinh tiêu chướng nặng”. Chúng sinh chẳng biết cách để tiêu trừ nghiệp chướng nặng, nhưng Phật từ bi giúp chúng sinh tiêu trừ nghiệp chướng, đắc được thanh tịnh.

Chủ Ðịa Thần Phổ Tán Chúng Bảo”. Vị Chủ Ðịa Thần Phổ Tán Chúng Bảo, nhìn thấy được cảnh giới này của Phật.

Thấy Giải thoát này sinh hoan hỷ.’’ Vị Chủ Ðịa Thần này, thấy được môn giải thoát này, tâm đại hoan hỷ.

Như Lai cảnh giới vô biên tế,                    Cảnh giới Như Lai chẳng bờ mé
Niệm niệm phổ hiện ư thế gian,                 Niệm niệm hiện khắp trong thế gian
Tịnh mục quán thời chủ địa thần,             Chủ Ðịa Thần Tịnh Mục Quán Thời
Kiến Phật sở hạnh tâm khánh duyệt.       Thấy Phật tu hành tâm vui mừng.

Cảnh giới Như Lai chẳng bờ mé”. Cảnh giới của Như Lai tu chẳng có bờ mé.

Niệm niệm hiện khắp trong thế gian”. Phật ở trong niệm niệm nghĩ nhớ chúng sinh, cho nên hiện khắp trong mười phương thế giới.

Chủ Ðịa Thần Tịnh Mục Quán Thời”. Vị Chủ Ðịa Thần Tịnh Mục Quán Thời, đắc được cảnh giới của Phật.

Thấy Phật tu hành tâm vui mừng.’’ Ngài thấy được hạnh môn của Phật tu hành trong quá khứ, và pháp môn hiện tại giáo hóa chúng sinh, nên trong tâm rất hoan hỷ vui mừng.

Diệu-Âm vô hạn bất tư nghị,                     Diệu âm vô hạn không nghĩ bàn
Phổ vì chúng sanh diệt phiền não,            Khắp vì chúng sinh diệt phiền não
Kim sắc nhãn Thần năng liễu ngộ,           Kim Sắc Nhãn Thần tỏ ngộ được
Kiến Phật vô biên thắng công đức.           Thấy Phật vô biên thắng công đức.

Diệu âm vô hạn không nghĩ bàn”. Phật diễn nói âm thanh vi diệu chẳng có hạn lượng, không thể nghĩ bàn.

Khắp vì chúng sinh diệt phiền não”. Diệu âm của Phật nói, là vì tiêu diệt phiền não chướng của chúng sinh.

Kim Sắc Nhãn Thần tỏ ngộ được”. Vị Chủ Ðịa Thần Kim Sắc Diệu Nhãn, tỏ ngộ được đạo lý này.

Thấy Phật vô biên thắng công đức.’’ Ngài thấy được vô lượng vô biên công đức thù thắng của Phật.

Nhất thiết sắc hình giai hóa hiện,             Hết thảy hình sắc đều hóa hiện
Thập phương Pháp giới tất sung mãn,     Mười phương pháp giới đều sung mãn
Hương mao phát quang thường kiến Phật,       Hương Mao Phát Quang thường thấy Phật
Như thị phổ hóa chư chúng sanh.             Như thế hóa khắp các chúng sinh.

Hết thảy hình sắc đều hóa hiện”. Hết thảy tất cả chúng sinh có hình có sắc, Phật đều tùy theo loài mà hóa hiện để giáo hóa họ.

Mười phương pháp giới đều sung mãn”. Chẳng những Phật hóa hiện trong một thế giới, mà còn hóa hiện trong mười phương pháp giới, do đó mà hoàn toàn sung mãn khắp pháp giới.

Hương Mao Phát Quang thường thấy Phật”. Phàm là ngũ cốc và hoa quả lớn lên ở trên đất, đều có hương thơm. Vị Chủ Ðịa Thần Hương Mao Phát Quang này, luôn luôn thấy được cảnh giới này của Phật.

Như thế hóa khắp các chúng sinh.’’ Phật đại từ đại bi giáo hóa khắp tất cả chúng sinh, chẳng những giáo hóa chúng sinh hữu tình, mà còn giáo hóa chúng sinh vô tình.

Diệu-Âm phổ biến ư thập phương,            Diệu âm khắp cùng trong mười phương
Vô lượng kiếp trung vì chúng thuyết,       Trong vô lượng kiếp vì chúng nói
Duyệt ý địa Thần tâm liễu đạt,                  Duyệt Ý Ðịa Thần tâm thấu đạt
Tùng Phật đắc văn thâm kính hỉ.              Nghe được lời Phật rất kính vui.

Diệu âm khắp cùng trong mười phương”. Âm thanh vi diệu của Phật nói, vang khắp cùng trong mười phương.

Trong vô lượng kiếp vì chúng nói”. Diệu âm của Phật vang khắp mười phương, thời gian nói pháp dọc cùng tam tế, trong vô lượng kiếp đều vì chúng sinh nói diệu pháp.

Duyệt Ý Ðịa Thần tâm thấu đạt”. Vị Chủ Ðịa Thần Tịch Âm Duyệt Ý, trong tâm của Ngài thấu đạt được cảnh giới này.

Nghe được lời Phật rất kính vui.’’ Ở chỗ Ðức Phật nghe được diệu pháp này, nên Ngài cung kính hoan hỷ rất thâm sâu.

Phật mao khổng xuất hương diệm vân,    Lỗ lông Phật sinh mây hương diễm
Tùy chúng sanh tâm biến thế gian,           Tùy tâm chúng sinh khắp thế gian
Nhất thiết kiến giả giai thành thục,          Hết thảy thấy được đều thành thục
Thử thị hoa toàn sở quán xử.                    Môn này Hoa Toàn quán sát được.

Lỗ lông Phật sinh mây hương diễm”. Trong mỗi lỗ lông của Phật, đều sinh ra mây hương diễm.

Tùy tâm chúng sinh khắp thế gian”. Tùy thuận tâm của chúng sinh, mà đi khắp thế gian.

Hết thảy thấy được đều thành thục”. Khiến cho tất cả chúng sinh, thấy được cảnh giới của Phật, thì căn lành đều thành thục.

Môn này Hoa Toàn quán sát được.’’ Vị Chủ Ðịa Thần Diệu Hoa Toàn Kế, quán sát minh bạch được đạo lý này.

Kiên cố nan hoại như Kim cương,            Cứng chắc khó hoại như kim cang
Bất khả khuynh động du Tu-Di,               Không thể khuynh động như Tu Di
Phật thân như thị xứ thế gian,                   Thân Phật như thế nơi thế gian
Phổ trì đắc kiến sanh hoan hỉ.                  Phổ Trì thấy được sinh hoan hỷ.

Cứng chắc khó hoại như kim cang”. Thân Phật cứng chắc không thể hoại như chất kim cang. Thân Phật tại sao cứng chắc như thế ? Vì Phật tu hạnh môn đại từ đại bi, tu từ tâm tam muội, cho nên mới được thân cứng chắc bất hoại. Phật còn phát tâm hộ pháp, cho nên thành tựu thân kim cang bất hoại. Vì hộ trì chánh pháp, giữ gìn giới luật, tu oai nghi, tay cầm đao kiếm cung tên, để bảo hộ cho Tỳ Kheo giữ giới thanh tịnh.

Thuở xưa, có vị Tỳ Kheo Giác Ðức giữ giới thanh tịnh, Ngài đi đứng nằm ngồi, bốn đại oai nghi đều rất trang nghiêm. Song, có những vị Tỳ Kheo chẳng giữ giới luật phản đối Ngài, khinh khi Ngài. Ông vua đương thời tên là Hữu Ðức hộ pháp cho Ngài. Ông vua đó và những vị Tỳ Kheo không giữ giới luật đánh với nhau, bất hạnh bị đánh trọng thương. Tỳ Kheo Giác Ðức rất khen ngợi ông vua, ông vua nghe pháp rồi thì qua đời. Vị vua đó vì hộ pháp có công đức, cho nên sau khi chết đi, được sinh về thế giới Ðông Phương cõi của Ðức Phật A Súc Bệ, làm đại đệ tử thứ hai của Phật A Súc Bệ. Do đó, đủ biết công đức hộ pháp lớn hơn người bị hộ.

Không thể khuynh động như Tu Di”. Thân kim cang của Phật giống như núi Tu Di, không thể nào lay động được.

Thân Phật như thế nơi thế gian”. Thân Phật giống như núi Tu Di ở nơi thế gian, rất an ổn vững chắc.

Phổ Trì thấy được sinh hoan hỷ.’’ Vị Chủ Ðịa Thần Kim Cang Phổ Trì, thấy được cảnh giới này của Phật, nên sinh tâm đại hoan hỷ.