Kinh Hoa Nghiêm – Phẩm Vào Pháp Giới – 14

Kinh Hoa Nghiêm

Đại Phương Quảng Phật

giảng giải

Phẩm Thứ 39

Hòa Thượng TUYÊN HÓA
Việt dịch: Tỳ Kheo Thích Minh Ðịnh

— o0o —

Phẩm Vào Pháp Giới
Phần 13

— o0o —

41. MA GIA PHU NHÂN
HỘI DUYÊN VÀO THẬT TƯỚNG
 

Ma Gia phu nhân thảy mười một người, thấu rõ “hội duyên vào thật tướng”, nghĩa là duyên hội trước các vị khác biệt, khiến cho quy về một thật pháp giới, sinh nơi Phật quả.

Dùng Thập địa nhân viên, mới nhập vào Đẳng Giác, đi hết các nơi, lý tột cùng, cho nên Thiện Tài đồng tử cầu kiến Ma Gia phu nhân, chẳng dễ gì gặp được. Do Chủ Thành Thần, Thân Chúng Thần, La Sát Quỷ Vương dẫn đường, mới gặp được mẹ của đức Phật. Đây là biểu thị ý nghĩa vị thắng tấn.

Ma Gia là tiếng Phạn, dịch theo lối xưa là thiên hậu. Dịch theo lối mới là huyễn thuật. Ngài sinh ra đức Phật Thích Ca Mâu Ni được bảy ngày, mạng chung sinh về cõi trời Đao Lợi (Trời Tam Thập Tam). Đức Phật vì báo ân mẹ, mà thăng lên cung trời Đao Lợi, vì mẹ nói Kinh Địa Tạng. Bộ Kinh điển nầy là Hiếu Kinh của Phật giáo, là Kinh mọi người nên tụng, trong Kinh có những cảnh giới không thể nghĩ bàn.

Lúc đó Bồ Tát đã đoạn bốn mươi mốt phần vô minh, vẫn còn một phần sinh tướng vô minh chưa đoạn, sắp chứng được quả vị Diệu Giác (Phật). Công đức và trí huệ của Ngài gần tương đồng với Diệu Giác, nên gọi là Đẳng Giác Bồ Tát.

 

Nhĩ thời, Thiện tài đồng tử nhất tâm dục nghệ Ma Da Phu nhân sở, tức thời hoạch đắc quán Phật cảnh giới trí, tác như thị niệm: thị thiện tri thức, viễn ly thế gian, trụ vô sở trụ, siêu quá lục xứ, ly nhất thiết trước, tri vô ngại đạo, cụ tịnh Pháp thân, dĩ như huyễn nghiệp nhi hiện hóa thân, dĩ như huyễn trí nhi quán thế gian, dĩ như huyễn nguyện nhi trì Phật thân, tùy ý sanh thân, vô sanh diệt thân, vô lai khứ thân, phi hư thật thân, bất biến hoại thân, vô khởi tận thân, sở hữu chư tướng giai nhất tướng thân, ly nhị biên thân, vô y xứ thân, vô cùng tận thân, ly chư phân biệt như ảnh hiện thân, tri như mộng thân, liễu như tượng thân, như tịnh nhật thân, phổ ư thập phương nhi hóa hiện thân, trụ ư tam thế vô biến dị thân, phi thân tâm thân, do như hư không, sở hạnh vô ngại, siêu chư thế nhãn, duy thị Phổ Hiền tịnh mục sở kiến.

Thiện-Tài nhất tâm muốn đến chỗ Ma-Gia Phu-Nhơn, Tức thời chứng được trí quán phật-cảnh-giới. Thiện-Tài tự nghĩ rằng: thiện-tri-thức nầy xa lìa thế-gian an-trụ nơi vô-sở-trụ, siêu quá sáu trần, lìa tất cả chấp trước, biết đạo vô-ngại, đủ pháp thân thanh-tịnh, dùng nghiệp như-huyễn mà hiện hóa-thân, dùng trí như-huyễn mà quán thế-gian, dùng nguyện như-huyễn mà gìn giữ thân Phật. Theo thân ý-thân, không thân sanh diệt, không thân lai khứ, chẳng phải thân hư thiệt, thân chẳng biến hoại, thân không khởi tận. Có bao nhiêu tướng đều là thân một tướng, thân rời hai bên, thân không chỗ tựa nương, thân vô cùng tận, thân như ảnh hiện rời phân biệt. Biết thân như mộng, như tượng trong gương. Thân như tịnh-nhựt, thân hoá-hiện khắp mười phương. Thân ở tam thế không đổi khác. Thân chẳng phải thân tâm, dường như hư-không chỗ đi vô-ngại, siêu thế-gian-nhãn, chỉ tịnh-nhãn của Phổ-Hiền mới thấy được.

Giảng: Lúc đó, Thiện Tài đồng tử từ giã cô gái Thích Ca Cù Ba rồi, một lòng nghĩ muốn đi đến chỗ Ma Gia phu nhân (thành Ca Tỳ La), tức thời đắc được trí huệ quán cảnh giới Phật. Phàm là hết thảy cảnh giới của Phật, Ngài đều thấu rõ biết được.

Thiện Tài đồng tử bèn nghĩ như vầy: Nếu gần gũi được vị Thiện tri thức nầy, thật là may mắn, Ngài đã xa lìa pháp thế gian. Trụ nơi không chỗ trụ, vượt qua sáu xứ (mắt tai mũi lưỡi thân ý). Lìa khỏi tất cả sự chấp trước, con mắt không chấp vào sắc trần. Tai chẳng chấp vào âm thanh. Mũi chẳng chấp vào hương trần. Lưỡi chẳng chấp vào vị trần. Thân chẳng chấp vào xúc trần. Ý niệm chẳng chấp vàp pháp trần. Lại biết đạo vô ngại, đầy đủ pháp thân thanh tịnh. Dùng nghiệp như huyễn mà thị hiện hoá thân. Dùng trí như huyễn mà quán sát thế gian. Dùng nguyện như huyễn mà giữ gìn thân Phật. Đây là nói Ma Gia phu nhân chứng được môn giải thoát đại nguyện trí huyễn.

Thiện Tài đồng tử thấy mười bảy thứ sắc thân của Ma Gia phu nhân:
1. Thân tuỳ ý sinh: Thứ thân nầy tuỳ ý niệm mà hiện ra.
2. Thân không sinh diệt: Thứ thân nầy chẳng sinh, cũng chẳng diệt.
3. Thân không đến đi: Thứ thân nầy cũng chẳng đến, cũng chẳng đi.
4. Thân chẳng hư thật: Thứ thân nầy chẳng phải hư, chẳng phải thật.
5. Thân chẳng biến hoại: Thứ thân nầy chẳng biến hoại sắc thân, chẳng biến hoại pháp tánh.
6. Thân không khởi tận: Thứ thân nầy chẳng có bắt đầu, chẳng có kết thúc.
7. Thân hết thảy tướng đều một tướng: Thứ thân nầy một tướng sắc thân, vô tướng làm tướng.
8. Thân lìa hai bên: Thứ thân nầy lìa khỏi có, không.
9. Thân không y xứ: Thứ thân nầy không chỗ ỷ lại, không chỗ chấp trước.
10. Thân vô cùng tận: Sắc thân vô tận, tận bờ mé sinh tử của tất cả chúng sinh.
11. Thân lìa các phân biệt như ảnh hiện: Sắc thân chẳng có phân biệt, tuỳ theo sự phân biệt của chúng sinh mà khởi. Giống như thân hình sắc, tuỳ thuận chúng sinh.
12. Thân biết như mộng: Sắc thân giống như mộng, tuỳ tâm hiện sinh.
13. Thân rõ như tượng: Giống như tấm gương, đối diện tượng sinh.
14. Thân như mặt trời: Giống như mặt trời trong sáng, chiếu khắp tất cả, chẳng có phân biệt.
15. Thân hoá hiện khắp trong mười phương: Sắc thân biến hoá tất cả, tuỳ thuận tâm niệm của tất cả chúng sinh mà hiện tiền.
16. Thân trụ nơi ba đời không biến đổi: Thân vĩnh trụ ba đời không biến hoá.
17. Thân chẳng thân tâm: Thân chẳng phải thân tâm.

Mười bảy thứ thân nầy, như hư không, chỗ đi vô ngại, con mắt vượt các thế gian, chỉ con mắt thanh tịnh của Phổ Hiền mới thấy được Ma Gia phu nhân hiện thân.

 

Như thị chi nhân, ngã kim vân hà nhi đắc thân cận thừa sự cúng dường, dữ kỳ đồng trụ, quán kỳ trạng mạo, thính kỳ âm thanh, tư kỳ ngữ ngôn, thọ kỳ giáo hối? tác thị niệm dĩ, hữu chủ thành Thần, danh viết: bảo nhãn, quyến thuộc vi nhiễu, ư hư không trung nhi hiện kỳ thân, chủng chủng diệu vật dĩ vi nghiêm sức, thủ trì vô lượng chúng sắc bảo hoa dĩ tán Thiện Tài, tác như thị ngôn:

Hạng người như vậy, tôi làm sao được thân cận để kính thờ cúng-dường, để được cùng ở hầu quán-sát dung mạo, nghe tiếng nói. Suy nghĩ lời dạy và nhận lãnh. Bấy giờ có Chủ-Thành-Thần tên là Bửu-Nhãn, quyến-thuộc vây quanh hiện thân trên không-trung, tay cầm những bửu-hoa nhiều màu rải trên mình Thiện-Tài mà bảo rằng:

Giảng: Thiện Tài đồng tử nghĩ như vậy rồi, bèn có Chủ Thành Thần tên là Bảo Nhãn, có rất đông quyến thuộc vây quanh Ngài tứ phía, Ngài hiện thân ở trong hư không, có đủ thứ báu vật tốt đẹp dùng làm nghiêm sức, tay cầm vô lượng hoa báu nhiều màu, rải lên trên thân Thiện Tài để cúng dường rồi nói:

Thiện tri thức như vậy, nay tôi làm sao mà được gần gũi, hầu hạ, cúng dường? Làm sao ta với thiện tri thức cùng ở với nhau được? Làm sao ta có thể quán tướng mạo của thiện tri thức? Làm sao có thể nghe âm thanh của thiện tri thức? Làm sao suy gẫm lời nói của thiện tri thức? Làm sao có thể thọ nhận lời dạy của thiện tri thức? Đây là ý nghĩa biểu thị khó gặp được thiện tri thức.

 

Thiện nam tử! ưng thủ hộ tâm thành, vị: bất tham nhất thiết sanh tử cảnh giới;

ưng trang nghiêm tâm thành, vị: chuyên ý thú cầu Như Lai thập lực;

ưng tịnh trì tâm thành, vị: tất cánh đoạn trừ xan tật siểm cuống;

ưng thanh lương tâm thành, vị: tư tánh nhất thiết chư pháp thật tánh;

ưng tăng trưởng tâm thành, vị: thành biện nhất thiết trợ đạo chi Pháp;

Nầy Thiện-nam-tử! Phải giữ-gìn tâm-thành, nghĩa là chẳng tham tất cả cảnh-giới.

Phải trang-nghiêm tâm-thành, nghĩa là chuyên ý xu cầu Phật thập-lực.

Phải tịnh-trị tâm thành, nghĩa là dứt hẳn bỏn-sẻn, ganh ghét, dua bợ, phỉnh dối.

Phải thanh-lương tâm-thành, nghĩa là tư-duy thiệt-tánh của tất cả pháp.

Phải tăng-trưởng tâm thành, nghĩa là làm xong tất cả pháp trợ đạo.

Chủ Thành Thần Bảo Nhãn nói với Thiện Tài đồng tử rằng:

Giảng: Thiện nam tử! Ngươi nên giữ gìn tâm thành, đừng có tham luyến tất cả cảnh giới sinh tử.

Ngươi nên trang nghiêm tâm thành, phải chuyên tâm hướng về cầu mười lực của Phật.

Ngươi nên tịnh trị tâm thành, phải triệt để đoạn trừ tham sẻn, đố kị, xiểm nịnh, gian dối, những hành vi không chánh đáng.

Ngươi nên mát mẻ tâm thành, phải suy gẫm đạo lý thật tánh của tất cả các pháp, đừng có tư tưởng phiền não không thanh tịnh.

Ngươi nên tăng trưởng tâm thành, phải thành biện tất cả pháp trợ đạo.

 

ưng nghiêm sức tâm thành, vị: tạo lập chư Thiền giải thoát cung điện;

ưng chiếu diệu tâm thành, vị: phổ nhập nhất thiết chư Phật đạo tràng thính thọ Bát-nhã Ba-la-mật Pháp;

ưng tăng ích tâm thành, vị: phổ nhiếp nhất thiết Phật phương tiện đạo;

ưng kiên cố tâm thành, vị: hằng cần tu tập Phổ Hiền hạnh nguyện;

Phải nghiêm-sức tâm-thành, nghĩa là tạo lập cung-điện thiền-định giải-thoát.

Phải chiếu-diệu tâm-thành, nghĩa là vào khắp tất cả Phật đạo-tràng nghe lãnh pháp bát-nhã-ba-la-mật.

Phải tăng-ích tâm-thành, nghĩa là nhiếp khắp tất cả Phật phương-tiện-đạo.

Phải kiên-cố tâm-thành, nghĩa là hằng siêng tu tập hạnh nguyện Phô-Hiền.

Giảng: Ngươi nên nghiêm sức tâm thành, phải tạo lập cung điện các thiền giải thoát.

Ngươi nên chiếu sáng tâm thành, phải vào khắp đạo tràng của tất cả chư Phật, lắng nghe nhiếp thọ pháp Bát Nhã Ba La Mật.

Ngươi nên tăng ích tâm thành, phải khắp nhiếp đạo phương tiện thiện xảo của tất cả chư Phật.

Ngươi nên kiên cố tâm thành, phải luôn thường siêng tu tập hạnh nguyện của Bồ Tát Phổ Hiền.

 

ưng phòng hộ tâm thành, vị: thường chuyên ngữ hãn ác hữu, ma quân;

ưng khuếch triệt tâm thành, vị: khai dẫn nhất thiết Phật trí quang minh;

ưng thiện bổ tâm thành, vị: thính thọ nhất thiết Phật sở thuyết pháp;

ưng phù trợ tâm thành, vị: thâm tín nhất thiết Phật công đức hải;

Phải phòng-hộ tâm-thành, nghĩa là thường chuyên ngăn ngừa ác-hữu và ma-quân.

Phải rỗng suốt tâm-thành, nghĩa là khai dẫn tất cả ánh sáng phật-trí.

Phải khéo bồi bổ tâm-thành, nghĩa là nghe lãnh tất cả phật-pháp.

Phải phò trợ tâm-thành, nghĩa là thâm-tín tất cả phật-công-đức-hải.

Giảng: Ngươi nên phòng hộ tâm thành, phải thường chuyên tâm ngăn ngừa bạn ác và ma quân xâm lược. Ngươi nên rỗng suốt tâm thành, do đó có câu “Tâm bao thái hư, lượng chu sa giới”. Phải mở dẫn trí huệ quang minh của tất cả chư Phật.

Ngươi nên khéo bồi bổ tâm thành, phải nghe thọ pháp của tất cả chư Phật nói. Mười hai môn nầy nói rõ hạnh mười độ, ý nghĩa hiển rõ đều là pháp môn thành Phật. Tâm thành là gì? Tâm nầy là chỗ ở của chánh giác pháp vương, chỗ tụ hội của vạn đức, thành Phật không ra khỏi tâm nầy, cho nên giữ gìn làm diệu hạnh. Dùng mười độ để tu đến Thập địa.

Ngươi nên phù trợ tâm thành, phải tin sâu biển công đức của tất cả chư Phật, đừng có hoài nghi.

 

ưng quảng đại tâm thành, vị: đại từ phổ cập nhất thiết thế gian;

ưng thiện phước tâm thành, vị: tập chúng thiện Pháp dĩ phước kỳ thượng;

ưng khoan quảng tâm thành, vị: đại bi ai mẫn nhất thiết chúng sanh;

ưng khai tâm thành môn, vị: tất xả sở hữu tùy ưng cấp thí;

Phải quảng đại tâm-thành, nghĩa là đại-từ đến khắp tất cả thế-gian.

Phải khéo che đậy tâm-thành, nghĩa là tích tập những thiện-pháp để đậy trên tâm.

Phải rộng-rãi tâm-thành, nghiẽa là đại-bi thương xót tất cả chúng-sanh.

Phải mở cửa tâm-thành, nghĩa là đem tất cả sở-hửu tùy nghi bố-thí giúp đỡ.

Giảng: Ngươi nên rộng lớn tâm thành, phải có tâm đại từ khắp cùng tất cả chúng sinh thế gian.

Ngươi nên khéo che tâm thành, phải tích tập các pháp lành dùng che phía trên tâm.

Ngươi nên rộng rãi tâm thành, phải có tâm đại bi thương xót tất cả chúng sinh.

Ngươi nên mở cửa tâm thành, phải bố thí pháp tài, phàm là có người đến cầu xin, nên làm hết khả năng, tuỳ chỗ đáng được bố thí cấp cho họ.

 

ưng mật hộ tâm thành, vị: phòng chư ác dục bất lệnh đắc nhập;

ưng nghiêm túc tâm thành, vị: trục chư ác Pháp bất lệnh kỳ trụ;

ưng quyết định tâm thành, vị: tập nhất thiết trí trợ đạo chi Pháp hằng vô thoái chuyển;

ưng an lập tâm thành, vị: chánh niệm tam thế nhất thiết Như Lai sở hữu cảnh giới;

Phải giữ kín tâm-thành, nghĩa là phòng những ác-dục chẳng cho vào.

Phải nghiêm-túc tâm-thành, nghĩa là đuổi những pháp ác chẳng cho ở chung.

Phải quyết định tâm-thành, nghĩa là tích tập tất cả pháp trợ-đạo hằng không thối chuyển.

Phải an lập tâm-thành, nghĩa là chánh-niệm cảnh-giới của tam-thế tất cả Như-Lai.

Giảng: Ngươi nên mật hộ tâm thành, phải nghiêm phòng tất cả dục niệm không như pháp, đừng để cho nó vào được trong tâm thành của nhà ngươi.

Ngươi nên nghiêm túc tâm thành, phải đuổi các pháp ác ra ngoài, đừng để nó ở trong tâm thành của nhà ngươi.

Ngươi nên quyết định tâm thành, phải tích tập nhất thiết trí pháp trợ đạo, luôn không thối chuyển tâm bồ đề.

Ngươi nên an lập tâm thành, phải chánh niệm hết thảy cảnh giới của tất cả chư Phật ba đời.

 

ưng oánh triệt tâm thành, vị: minh đạt nhất thiết Phật chánh Pháp luân tu-đa-la trung sở hữu Pháp môn chủng chủng duyên khởi;

ưng bộ phần tâm thành, vị: phổ hiểu thị nhất thiết chúng sanh giai lệnh đắc kiến Tát bà nhã đạo;

ưng trụ trì tâm thành, vị: phát nhất thiết tam thế Như Lai chư Đại nguyện hải;

ưng phú thật tâm thành, vị: tập nhất thiết chu biến pháp giới Đại phước đức tụ;

Phải sáng bóng tâm-thành, nghĩa là thông suốt tất cả những pháp-môn, những duyên-khởi trong khế-kinh của chư Phật đã tuyên thuyết.

Phải bộ phận tâm-thành, nghĩa là hiểu thị khắp tất cả chúng-sanh cho họ được thấy đạo nhất-thiết-trí.

Phải trụ-trì tâm-thành, nghĩa là phát những đại-nguyện-hải của tất cả tam-thế chư Như-Lai.

Phải phú-quý tâm-thành, nghĩa là chứa nhóm tất cả phước-đức lớn cùng khắp pháp-giới.

Giảng: Ngươi nên sáng bóng tâm thành, phải thấu rõ thông đạt hết thảy pháp môn đủ thứ duyên khởi trong chánh pháp luân Tu Đa La của tất cả chư Phật.

Ngươi nên bộ phận tâm thành, phải bảo khắp cho tất cả chúng sinh biết rõ, đều khiến cho họ được thấy đạo nhất thiết trí.  Mười một môn nầy, nói rõ mười thứ thắng hạnh của Thập địa. Một tín, hai từ, ba kiên cố, bốn bi, năm xả, sáu bảy đều tàm quý, nghĩa là không dung ác, tám không mệt mỏi, chín nói là làm, mười biết các kinh luận, mười một tức thành tựu thế trí. Nên có thể bảo khắp cho chúng sinh biết.

Ngươi nên trụ trì tâm thành, phải phát các biển đại nguyện của tất cả chư Phật ba đời.

Ngươi nên phú quý tâm thành, phải tích tập chứa nhóm đại phước đức khắp cùng tất cả pháp giới.

 

ưng lệnh tâm thành minh liễu, vị: phổ tri chúng sanh căn dục đẳng Pháp;

ưng lệnh tâm thành tự tại, vị: phổ nhiếp nhất thiết thập phương Pháp giới;

ưng lệnh tâm thành thanh tịnh, vị: chánh niệm nhất thiết chư Phật Như Lai;

ứng tri tâm thành tự tánh, vị: tri nhất thiết pháp giai vô hữu tánh;

ứng tri tâm thành như huyễn, vị: dĩ nhất thiết trí liễu chư pháp tánh.

Phải làm cho tâm-thành sáng rõ, nghĩa là biết khắp những pháp căn dục của chúng-sanh.

Phải làm cho tâm-thành tự-tại, nghĩa là nhiếp khắp tất cả thập phương pháp-giới.

Phải làm cho tâm-thành thanh-tịnh, nghĩa là chánh-niệm tất cả chư Phật Như-Lai.

Phải biết tự-tánh của tâm-thành, nghĩa là biết tất cả pháp đều không tự-tánh.

Phải biết tâm-thành như huyễn, nghĩa là dùng nhất-thiết-trí biết rõ những pháp-tánh.

Giảng: Ngươi nên khiến cho tâm thành thấu rõ, phải khắp biết pháp căn tánh và dục niệm của tất cả chúng sinh.

Ngươi nên khiến cho tâm thành tự tại, phải khắp nhiếp tất cả chúng sinh mười phương pháp giới. Ngươi nên khiến cho tâm thành thanh tịnh, phải chánh niệm tất cả chư Phật Như Lai. Ngươi nên biết tự tánh tâm thành, phải biết tất cả pháp đều không có tự tánh.

Ngươi nên biết tâm thành như huyễn, phải dùng nhất thiết trí huệ thấu rõ tự tánh các pháp.

Bảy môn nầy là rõ phước trí viên mãn. Hai môn đầu tiên là phước, năm môn sau là trí. Ba môn trước của trí là quyền, hai môn sau là thật.

Chúng ta nghe xong ba mươi ba pháp tâm thành nầy, có cảm tưởng gì không? Nghe Kinh phải y theo pháp tu hành, cung hành thực tiễn, mới đắc được lợi ích của pháp. Nếu nghe rồi, mà như gió thoảng qua tai, chẳng thực hành, thì chẳng có lợi ích gì hết. Do đó có câu: “Nói hay, nói giỏi, mà chẳng thực hành, thì chẳng phải là đạo”. Đây là nói về kinh nghiệm, có thể nói là lời vàng ngọc.

 

Phật tử! Bồ-Tát Ma-ha-tát nhược năng như thị tịnh tu tâm thành, tức năng tích tập nhất thiết thiện pháp.

Nầy Thiện-nam-tử! Ðại Bồ-Tát nếu có thể tịnh tu tâm-thành như vậy thời có thể tích tập tất cả thiện-pháp.

Giảng: Chủ Thành Thần Bảo Nhãn nói: Phật tử! Nếu đại Bồ Tát thanh tịnh tu hành tâm thành như vậy, thì sẽ tích tập được tất cả pháp lành.

 

Hà dĩ cố? quyên trừ nhất thiết chư chướng nan cố, sở vị: kiến Phật chướng, văn Pháp chướng, cúng dường Như Lai chướng, nhiếp chư chúng sanh chướng, tịnh Phật quốc độ chướng.

Tại sao vậy? Vì trừ bỏ tất cả những chướng nạn: những là chướng thấy Phật, chướng nghe pháp, chướng cúng-dường Như-Lai, chướng nhiếp chúng-sanh, chướng tịnh phật-độ.

Giảng: Tại sao vậy? Vì trừ bỏ được tất cả các chướng nạn. Đó là: Trừ bỏ chướng nạn thấy Phật, chướng nạn nghe pháp, chướng nạn cúng dường chư Phật, chướng nạn nhiếp thọ các chúng sinh, chướng nạn thanh tịnh cõi nước chư Phật.

 

Thiện nam tử! Bồ-Tát Ma-ha-tát dĩ ly như thị chư chướng nan cố, nhược phát hy cầu thiện tri thức tâm, bất dụng công lực tức tiện đắc kiến, nãi chí cứu cánh tất đương thành Phật.

Nầy Thiện-nam-tử! Ðại Bồ-Tát do lìa những chướng nạn như vậy, nếu phát tâm mong cầu thiện-tri-thức, chẳng cần dùng công-lực, bèn được thấy. Nhẫn đến rốt ráo tất sẽ thành Phật.

Giảng: Thiện nam tử! Đại Bồ Tát nhờ lìa tất cả các chướng nạn như vậy, nếu phát tâm cầu thiện tri thức, thì chẳng phí dụng công sức quá nhiều, liền sẽ thấy đượcthiện tri thức, cho đến rốt ráo chắc chắn sẽ thành Phật.

 

Nhĩ thời, hữu thân chúng Thần, danh: liên hoa Pháp đức cập hương khí quang minh, vô lượng chư Thần tiền hậu vi nhiễu, tùng đạo tràng xuất, trụ hư không trung, ư Thiện Tài tiền, dĩ diệu âm thanh, chủng chủng xưng thán Ma Da Phu nhân, tùng kỳ nhĩ đang phóng vô lượng sắc tướng quang minh võng, phổ chiếu vô biên chư Phật thế giới, lệnh Thiện Tài kiến thập phương quốc độ nhất thiết chư Phật. kỳ quang minh võng, hữu nhiễu thế gian, Kinh nhất tạp dĩ, nhiên hậu hoàn lai, nhập Thiện Tài đảnh, nãi chí biến nhập thân chư mao khổng.

Bấy giờ có Thân-Chúng-Thần tên là Liên-Hoa-Pháp-Ðức và Diệu-Hoa-Quang-Minh, vô-lượng chư thần vây quanh sau trước, ra khỏi đạo-tràng dừng ở không-trung trước mặt Thiện-Tài dùng diệu-âm-thanh ca ngợi. Ma-Gia phu-nhơn, từ bông tai phóng lưới quang-minh vô-lượng sắc tướng chiếu khắp vô-biên thế-giới mười phương, cho Thiện-Tài thấy tất cả chư Phật. Lưới quang-minh đó hữu nhiễu thế-gian giáp một vòng rồi xoay về chiếu đỉnh đầu Thiện-Tài và vào khắp lỗ lông trên thân Thiện-Tài.

Giảng: Lúc bấy giờ, có Thân Chúng Thần tên là Liên Hoa Pháp Đức và Diệu Hoa Quang Minh, có vô lượng các Thần vây quanh trước sau, ra khỏi đạo tràng, trụ ở trong hư không, ở trước mặt Thiện Tài đồng tử, dùng âm thanh vi diệu, tán thán khen ngợi Ma Gia phu nhân. Từ bông tai của Ma Gia phu nhân, phóng ra vô lượng lưới quang minh sắc tướng, chiếu khắp mười phương vô biên thế giới chư Phật, khiến cho Thiện Tài đồng tử thấy được tất cả chư Phật trong mười phương cõi nước. Lưới quang minh đó, nhiễu bên phải thế gian một vòng, rồi sau đó trở về nhập vào đỉnh đầu của Thiện Tài, cho đến vào khắp các lỗ chân lông trên thân của Thiện Tài đồng tử. Cảnh giới nầy, khiến cho Thiện Tài đồng tử đắc được mười thứ pháp ích của mắt.

 

Thiện Tài tức đắc Tịnh Quang minh nhãn, vĩnh ly nhất thiết ngu si ám cố; đắc ly ế nhãn, năng liễu nhất thiết chúng sanh tánh cố; đắc ly cấu nhãn, năng quán nhất thiết pháp tánh môn cố; đắc tịnh Tuệ-nhãn, năng quán nhất thiết Phật quốc tánh cố; đắc Tỳ Lô Giá Na nhãn, kiến Phật Pháp thân cố; đắc phổ quang minh nhãn, kiến Phật bình đẳng bất tư nghị thân cố; đắc vô ngại quang nhãn, quan sát nhất thiết sát hải thành hoại cố; đắc phổ chiếu nhãn, kiến thập phương Phật khởi đại phương tiện chuyển chánh Pháp luân cố; đắc phổ cảnh giới nhãn, kiến vô lượng Phật dĩ tự tại lực điều phục chúng sanh cố; đắc phổ kiến nhãn, đổ nhất thiết sát chư Phật xuất hưng cố.

Liền đó Thiện-Tài chứng được tịnh-quang-minh-nhãn, vì lìa hẳn tất cả tối ngu-si. Ðược ly-ế-nhãn, vì có thể rõ tánh của tất cả chúng-sanh. Ðược ly-cấu-nhãn, vì có thể quán tất cả môn pháp-tánh. Ðược tịnh-huệ-nhãn, vì có thể quán tánh tất cả phật-độ. Ðược tỳ-lô-giá-na-nhãn, vì thấy pháp-thân-phật. Ðược phổ-quang-minh-nhãn, vì thấy thân phật bình-đẳng bất-tư-nghì. Ðược vô-ngại-quang-nhãn, vì quán-sát tất cả sát-hải thành hoại. Ðược phổ-chiếu-nhãn, vì thấy thập phương Phật khởi đại phương-tiện chuyển chánh-pháp-luân. Ðược phổ-cảnh-giới nhãn, vì thấy vô-lượng Phật dùng sức tự-tại điều-phục chúng-sanh. Ðược phổ-kiến-nhãn, vì thấy tất cả cõi chư Phật xuất thế.

Giảng: Lúc đó, Thiện Tài đồng tử lập tức đắc được mười mắt:
1. Đắc được mắt quang minh thanh tịnh, nên vĩnh viễn lìa tất cả đen tối ngu si.
2. Lìa được màn mắt, nên thấu rõ được tự tánh của tất cả chúng sinh.
3. Lìa được mắt dơ bẩn, nên quán sát được tất cả môn pháp tánh.
4. Đắc được mắt huệ thanh tịnh, nên quán sát được tự tánh tất cả cõi nước chư Phật.
5. Đắc được mắt Tỳ Lô Giá Na, nên thấy được pháp thân của tất cả chư Phật.
6. Đắc được mắt phổ quang minh, nên thấy được pháp thân Phật bình đẳng không nghĩ bàn.
7. Đắc được mắt quang minh vô ngại, nên quán sát được quá trình thành trụ hoại không bốn trung kiếp tất cả biển cõi.
8. Đắc được mắt chiếu khắp, nên thấy được được mười phương chư Phật, dùng đại phương tiện, đại biện tài, đại trí huệ, đại thần thông, chuyển bánh xe chánh pháp.
9. Đắc được mắt khắp pháp giới, nên thấy được vô lượng chư Phật, dùng sức tự tại để điều phục tất cả chúng sinh.
10. Đắc được mắt thấy khắp, nên thấy được tất cả cõi có tất cả chư Phật xuất hiện ra đời.

Tại sao chúng ta chẳng thấy được Phật? Vì nghiệp chướng sâu nặng, bị nghiệp chướng che đậy, cho nên chẳng thấy được Phật, chẳng nghe pháp, chẳng gặp Tăng. Nghiệp chướng cản trở chướng ngại bạn không thể gần gũi được Tam Bảo, không thể phụng sự Tam Bảo, không thể cúng dường Tam Bảo. Vốn muốn ở trong đạo tràng tinh tấn tu hành, nhưng có sự chướng ngại, không thể thu phục được vọng niệm tâm viên ý mã. Lúc nào cũng cứ nghĩ hay là hoàn tục, trở lại đời sống thế tục, vừa hưởng thụ, vừa khoái lạc. Lại đi vào nhà lửa ba cõi, thọ các khổ thiêu đốt. Đây là lối nghĩ hồ đồ, chỉ bất quá khoái lạc nhứt thời, mà mất đi khoái lạc vĩnh cửu.

Chẳng phải chư Phật không cho bạn thấy được các Ngài, mà là do nghiệp chướng của bạn che đậy. Bạn muốn thấy Phật chăng? Thì phải tiêu trừ nghiệp chướng. Tiêu trừ như thế nào? Trước hết, phải phát tâm bồ đề, phải nghe Kinh, nghe pháp, phải tham thiền trì giới, phải cứu giúp chúng sinh khốn khổ, phải trợ giúp đạo tràng làm việc. Tóm lại, phải hi sinh vì Phật giáo, không cầu danh, không cầu lợi, không có bất cứ xí đồ gì, tức là phát tâm bồ đề.

 

Thời, hữu thủ hộ Bồ Tát pháp đường La-sát quỷ Vương, danh viết: thiện nhãn, dữ kỳ quyến thuộc vạn La-sát câu, ư hư không trung, dĩ chúng hương khí, tán Thiện Tài thượng, tác như thị ngôn:

Bấy giờ có La-Sát Quỷ-Vương thủ hộ pháp-đường của Bồ-Tát, tên là Thiện-Nhãn, cùng quyến thuộc một vạn La-Sát câu hội, ở không trung dùng những hoa đẹp rải trên mình Thiện-Tài mà nói rằng:

Giảng: Lúc đó, có vị La Sát Quỷ Vương thủ hộ Bồ Tát pháp đường, tên là Thiện Nhãn, cùng với quyến thuộc một vạn La Sát cùng tụ hội. Ở trong hư không, dùng các thứ hoa đẹp, rải lên trên đầu Thiện Tài đồng tử, biểu thị sự cúng dường, rồi nói như vầy:

 

Thiện nam tử! Bồ Tát thành tựu thập pháp, tức đắc thân cận chư thiện tri thức. Hà đẳng vi thập?

Nầy Thiện-nam-tử! Bồ-Tát thành tựu mười pháp thời được thân cận chư thiện-trí-thức.Ðây là mười pháp:

Giảng: Thiện nam tử! Bồ Tát thành tựu mười pháp nầy, thì sẽ được gần gũi các thiện tri thức. Những gì là mười pháp?

 

Sở vị: kỳ tâm thanh tịnh ly chư siểm cuống;

Đại bi bình đẳng phổ nhiếp chúng sanh, tri chư chúng sanh vô hữu chân thật;

Thú nhất thiết trí, tâm Bất-thoái-chuyển;

Dĩ tín giải lực phổ nhập nhất thiết chư Phật đạo tràng;

Đắc tịnh Tuệ-nhãn liễu chư pháp tánh;

Đó là: Tâm thanh-tịnh rời những dua bợ phỉnh dối.

Ðại-bi bình-đẳng nhiếp khắp chúng-sanh, biết các chúng-sanh không có thiệt.

Xu hướng nhất-thiết-trí tâm không thối chuyển.

Dùng sức tín-giải vào khắp tất cả phật đạo tràng.

Ðược tịnh-huệ-nhãn rõ các pháp tánh.

Giảng: Đó là:

1. Tâm rất thanh tịnh, lìa khỏi các hành vi xiểm nịnh và gian dối.

2. Dùng tâm đại bi bình đẳng, để nhiếp khắp tất cả chúng sinh.

3. Biết tất cả chúng sinh, không có chân thật, tất cả đều là hư vọng, cho dù giáo hoá chúng sinh, cũng chẳng phải chân thật. Bất quá, tuy ở trong hư vọng, nhưng nếu làm một cách chân thật, thì cũng là chân thật.

4. Hướng về nhất thiết trí, bất cứ lúc nào, cũng không thối chuyển bồ đề tâm.

5. Dùng sức tin hiểu, vào khắp đạo tràng tất cả chư Phật.

 

Đại từ bình đẳng phổ phước chúng sanh;

Dĩ trí quang minh khuếch chư vọng cảnh;

Dĩ cam lồ vũ địch sanh tử nhiệt;

Dĩ quảng đại nhãn triệt giám chư Pháp;

Tâm thường tùy thuận chư thiện tri thức.

Ðại-từ bình-đẳng che chở khắp chúng-sanh.

Dùng trí quang-minh chiếu rỗng những vọng cảnh.

Dùng mưa cam-lộ xối sanh tử nóng.

Dùng mắt quảng đại soi suốt các pháp.

Tâm thường tùy thuận chư thiện-tri-thức.

Giảng: 6. Đắc được mắt trí huệ thanh tịnh, thấu rõ tự tánh tất cả các pháp.

7. Dùng tâm đại từ bình đẳng, để che khắp tất cả chúng sinh.

8. Dùng trí huệ quang minh, chiếu thấu tất cả những cảnh giới vọng.

9. Dùng mưa pháp cam lồ, rưới tắt nóng sinh tử.

10. Dùng mắt huệ rộng lớn, soi suốt thật tướng tất cả các pháp.

Tâm thường tuỳ thuận sự giáo hoá của tất cả các thiện tri thức, tức cũng là phải nghe lời dạy của thiện tri thức, không thể trái nghịch ý của thiện tri thức.

 

Thị vi thập.

Đó là mười

Chúng ta tu đạo, nhất định phải đi các nơi học hỏi với các vị thiện tri thức. Nếu không đi học hỏi, thì giống như tượng Phật chưa có khai quang, giống như người mù. Khi gần gũi thiện tri thức, nhất định phải tuỳ thuận thiện tri thức. Nếu không tuỳ thuận thiện tri thức, tức là thấy có cái ta, như vậy, thì dù thiện tri thức có lòng tốt giảng giải chân lý như thế nào, bạn cũng đều không nghe. Nếu cái ta và cái thấy của ta không bỏ được, thì làm sao có thể gần gũi thiện tri thức? Dù miễn cưỡng gần gũi, thì cũng giống như chẳng gần gũi. Dù hằng ngày đối diện với thiện tri thức, mà chẳng tuỳ thuận sự giáo hoá của thiện tri thức, thì giống như cách xa thiện tri thức mười vạn tám ngàn dặm. Nếu bạn hay tuỳ thuận sự giáo hoá của thiện tri thức, thì sẽ phá trừ được sự tham sẻn, đố kị, kiêu ngạo, xiểm nịnh, vô minh, phiền não, nói dối .v.v… đủ thứ hành vi không tốt của chính mình. Nếu như chân tâm thành ý nghe thọ sự giáo hoá của thiện tri thức, thì đó mới là thật sự là gần gũi thiện tri thức.

Mười pháp vừa nói ở trên, là mười pháp Bồ Tát thành tựu. Nếu thực hành mười pháp nầy, thì sẽ thường được gần gũi thiện tri thức. Nếu không thực hành mười pháp nầy, thì tuy đối diện với thiện tri thức, cũng giống như chẳng gặp được thiện tri thức, do đó có câu: “Đối diện bất thức Quán Thế Âm”, nghĩa là : “Gặp mà chẳng nhận ra Bồ Tát Quán Thế Âm.

 

Phục thứ, Phật tử! Bồ Tát thành tựu thập chủng tam muội môn, tức thường hiện kiến chư thiện tri thức. Hà đẳng vi thập?

Lại nầy Thiện-nam-tử! Bồ-Tát thành-tựu mười môn tam-muội thời thường hiện thấy chư thiện-tri-thức. Ðây là mười môn tam-muội:

Giảng: Lại nữa Phật tử! Bồ Tát thành tựu mười thứ pháp môn tam muội, thì sẽ thường thấy các thiện tri thức trong đời hiện tại. Những gì là mười môn tam muội?

 

Sở vị: pháp không thanh tịnh luân tam muội,

Quan sát thập phương hải tam muội,

Ư nhất thiết cảnh giới bất xả ly bất khuyết giảm tam muội,

Phổ kiến nhất thiết Phật xuất hưng tam muội,

Tập nhất thiết công đức tạng tam muội,

Đó là:  Thanh-tịnh luân pháp-không tam-muội.

Quán-sát thập phương hải tam muội.

Nơi tất cả cảnh-giới chẳng rời bỏ chẳng tổn giảm tam-muội.

Thấy khắp tất cả Phật xuất thế tam-muội.

Nhóm tất cả tạng công-đức tam-muội.

Giảng: Đó là:

. Tam muội pháp không thanh tịnh luân. Tất cả pháp đều không, chẳng có mọi sự chấp trước.

2. Tam muội quán sát biển mười phương. Ở trong định quán sát được cảnh giới biển mười phương thế giới.

3. Tam muội nơi tất cả cảnh giới không xả lìa không khuyết giảm. Đối với tất cả cảnh giới, phải có định lực chân chánh, cũng không xả lìa, cũng không khuyết giảm, không bị cảnh giới chuyển, do đó có câu:

“Người chuyển được cảnh giới

Cảnh giới chẳng chuyển được người”.

Khi đến được trình độ cảnh giới nầy, thì như như bất động, rõ ràng sáng suốt.

4. Tam muội thấy khắp tất cả Phật xuất hiện ra đời. Chứng được tam muội nầy, lúc nào cũng thấy khắp mười phương chư Phật xuất hiện ra đời, hoằng dương Phật pháp, giáo hoá chúng sinh.

5. Tam muội tích tập tất cả công đức tạng. Chứng được tam muội nầy, thì sẽ dạy bạn không làm các điều ác, làm các điều lành. Lúc nào cũng hồi quang phản chiếu, trở về cầu nơi chính mình. Không giống như máy chụp hình, chỉ biết chụp người ta, mà không thể chụp chính mình. Điểm nầy phải đặc biệt chú ý! Rất là quan trọng!

 

Tâm hằng bất xả thiện tri thức tam muội,

Thường kiến nhất thiết thiện tri thức sanh chư Phật công đức tam muội,

Thường bất ly nhất thiết thiện tri thức tam muội

Thường cúng dường nhất thiết thiện tri thức tam muội

Thường ư nhất thiết thiện tri thức sở vô quá thất tam muội.

Tâm hằng chẳng bỏ thiện-tri-thức tam-muội.

Thường thấy tất cả thiện-tri-thức sanh phật công-đức tam-muội.

Thường chẳng rời tất cả thiện-tri-thức tam-muội.

Thường cúng-dường tất cả thiện-tri-thức tam-muội.

Thường không lỗi lầm ở chỗ tất cả thiện-tri-thức tam-muội.

Giảng: 6. Tam muội tâm luôn không bỏ thiện tri thức.

Thiện Tài đồng tử mỗi lần gặp được một vị thiện tri thức, đều hoan hỉ nhảy nhót vui mừng. Khi từ biệt thì vẫn lưu luyến không xả, có lúc mắt không tạm rời, từ từ lui ra mà đi. Chúng ta nghe xong Kinh Hoa Nghiêm rồi, cũng nên tay múa chân nhảy, biểu thị sự cao hứng. Cho nên người tu đạo, đừng xả lìa thiện tri thức, vì thiện tri thức hay chỉ bày con đường chánh pháp, khiến cho chúng ta tinh tấn tiến về trước, thẳng đến Niết Bàn bờ bên kia, mà chẳng đi lầm đường lạc lối, chẳng lãng phí thời gian. Không có sự tu mù luyện đui, đi lầm vào đường tà.

7. Tam muội thường thấy tất cả thiện tri thức sinh công đức chư Phật. Thiện tri thức dạy bạn cải ác hướng thiện, tội diệt phước sanh, bạn sẽ sinh ra mầm bồ đề. Thường gặp thiện tri thức, sẽ sinh ra công đức của tất cả chư Phật.

8. Tam muội thường chẳng lìa tất cả thiện tri thức. Lúc nào cũng muốn gần gũi thiện tri thức, không xả lìa thiện tri thức. Thiện tri thức là đạo sư của chúng ta, nếu không minh bạch sự lý, thì thưa hỏi thiện tri thức, nhất định sẽ được câu trả lời viên mãn.

9. Tam muội thường cúng dường tất cả thiện tri thức. Người tu tập Phật pháp, nhất định phải thường cúng dường thiện tri thức, chẳng phải một vị thiện tri thức, mà là tất cả thiện tri thức.

10. Tam muội thường ở chỗ tất cả thiện tri thức không có lỗi lầm. Ở chỗ thiện tri thức, phải giữ quy cụ, không thể muốn làm gì thì làm. Nếu tạo ra những sự phiền não, thì sẽ có lỗi lầm. Chúng ta vì cầu pháp mà đến gần gũi thiện tri thức, nếu không giữ quy cụ, thì đến để làm gì?

 

Phật tử! Bồ Tát thành tựu thử thập tam muội môn, thường đắc thân cận chư thiện tri thức, hựu đắc thiện tri thức chuyển nhất thiết Phật Pháp luân tam muội; đắc thử tam muội dĩ, tất tri chư Phật thể tánh bình đẳng, xứ xứ trực ngộ chư thiện tri thức.

Nầy Thiện-nam-tử! Bồ-Tát thành tựu mười môn tam-muội nầy thời thường được thân cận chư thiện-tri-thức. Lại được môn tam-muội thiện-tri-thức chuyển tất cả phật-pháp-luân. Ðược môn tam-muội nầy rồi thời đều biết chư Phật thể tánh bình-đẳng, gặp thiện-tri-thức mọi nơi.

Giảng: Phật tử! Bồ Tát thành tựu mười môn tam muội nầy, thường được gần gũi các thiện tri thức. Lại được thiện tri thức chuyển tất cả Phật pháp luân tam muội. Tức là giảng Kinh thuyết pháp, khai đạo trí huệ cho bạn, dạy bạn nghiên cứu Kinh điển, học tập giới luật, lạy Phật như thế nào, lễ sám như thế nào, tụng Chú như thế nào, ngồi thiền như thế nào, chỉ ra chỗ sai của bạn. Bạn đắc được tam muội nầy rồi, đều biết thể tánh của chư Phật là bình đẳng, do đó có câu: “Pháp thì bình đẳng, chẳng có cao thấp”. Bạn đi đến các nơi đều gặp được các thiện tri thức. Vì bạn đã trồng xuống căn lành nầy, cho nên có nhân duyên nầy.

Hằng ngày chúng ta nghe Kinh Hoa Nghiêm ở đây, nếu không y chiếu đạo lý Kinh văn mà thực hành, thì cũng giống như không nghe. Dù nghe được một câu Kinh, hoặc một bài kệ, mà có thể y pháp tu hành, thì được pháp ích, cũng giống như hằng ngày nghe Kinh. Do đó, nghe mà chẳng hành, giống như không nghe, còn cách xa đạo một đoạn đường dài.

Bộ Kinh Hoa Nghiêm Đại Phương Quảng Phật nầy, là Kinh Pháp Giới, do đó có câu:
“Vô bất tùng thử pháp giới lưu
Vô bất hoàn quy thử pháp giới”.

Nghĩa là:
Tất cả đều từ pháp giới nầy mà ra
Hết thảy đều trở về pháp giới nầy.

Cũng có thể nói là Kinh Hư Không. Tại sao phải nói như vậy? Vì tận hư không khắp pháp giới, chẳng có một nơi nào chẳng phải là chỗ Kinh Hoa Nghiêm ở đó. Kinh Hoa Nghiêm ở tại chỗ nào, thì Phật ở tại chỗ đó, pháp ở tại chỗ đó, hiền Thánh Tăng ở tại chỗ đó. Cho nên, lúc ban đầu khi đức Phật Thích Ca thành đạo dưới cội bồ đề, trước hết nói Kinh Hoa Nghiêm, vì tất cả pháp thân Đại Sĩ mà nói, chẳng phải vì người nhị thừa nói. Người nhị thừa, “Có mắt chẳng thấy Lô Xá Na, có tai chẳng nghe giáo viên đốn”. Tại sao có hiện tượng nầy? Vì tâm lượng của người nhị thừa quá hẹp hòi, không thể tiếp thọ pháp môn rộng lớn vô thượng xả mình vì người nầy.

Bộ Kinh nầy còn gọi là Kinh Không Thể Nghĩ Bàn, vì cảnh giới diệu không thể tả, chẳng phải cảnh giới tâm của một số người nghĩ bàn được. Sau khi Phật vào Niết Bàn rồi, tôn giả Đại Ca Diếp, tôn giả A Nan, tôn giả Ưu Ba Ly, cả thảy năm trăm người, ở trong động Thất Diệp núi Linh Thứu kết tập Kinh điển tiểu thừa. Bồ Tát Văn Thù, Bồ Tát Di Lặc, và tôn giả A Nan, cùng với các đại Bồ Tát ở trong núi Thiết Vi kết tập Kinh điển đại thừa. Kinh nầy kết tập rồi, vì nhân duyên lưu thông chưa thành thục, nên để ở tại thư viện dưới Long cung, để cho Long Vương giữ gìn bộ Kinh nầy. Phật diệt độ bảy trăm năm sau, Bồ Tát Long Thọ (Tây Thiên tổ thứ mười bốn) đến Long cung đọc tụng bộ Kinh nầy, thời gian ba ngày thì thuộc lòng nhớ hết bộ Kinh nầy (có mười vạn bài kệ), trở về nhân gian, viết ra hết không sót một chữ nào, trở thành bộ Kinh Không Thể Nghĩ Bàn, từ đó lưu thông trên thế gian.

Hôm nay chúng ta gặp được bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy, nghe được bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy, nên cảm kích ân điển của Bồ Tát Long Thọ. Ngài còn tả Bất Khả Tư Nghì Kinh Luận, cũng có mười vạn bài kệ, đáng tiếc đã thất truyền, nếu còn lưu truyền thì chúng ta thọ nhận được lợi ích càng thâm sâu hơn.

Bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy, như vầng mây cát tường ở trong hư không, chiếu khắp ba ngàn đại thiên thế giới, mưa xuống pháp vũ cam lồ, thấm nhuần khắp ruộng tâm của tất cả chúng sinh, khiến cho căn lành tăng trưởng. Bộ Kinh nầy, giống như mặt trời, chiếu khắp thế gian, khiến cho tất cả chúng sinh được ấm áp, được ánh sáng. Bộ Kinh nầy như đại địa, sinh trưởng tất cả vạn vật, sum sê tươi tốt. Cho nên nói Kinh Hoa Nghiêm còn tồn tại, thì chánh pháp sẽ trụ thế lâu dài.

Chúng ta mỗi ngày nghiên cứu Kinh Hoa Nghiêm, tức là y trị tập khí mao bệnh của chúng ta. Nếu có tâm tham, nghe Kinh Hoa Nghiêm thì nên trừ khử tâm tham. Nếu có tâm sân, nghe Kinh Hoa Nghiêm, thì nên trừ khử tâm sân. Nếu có tâm si, nghe Kinh Hoa Nghiêm thì nên trừ khử tâm si. Ba độc tiêu diệt, thì tâm thanh tịnh, vọng tâm không hiện, chân tâm hiện tiền. Lúc đó, sẽ đắc được tự tại, chứng được giải thoát.

Bộ Kinh nầy, chẳng phải chỉ riêng vì Bồ Tát nói, mà cũng vì bạn, tôi và họ mà nói. Đừng cho rằng bộ Kinh nầy, chẳng có quan hệ gì với chúng ta, Bồ Tát là Thánh nhân, mới minh bạch cảnh giới nầy. Chúng ta phàm phu, bất quá chỉ nghe mà thôi, vốn chẳng làm tới được cảnh giới của bậc Thánh nhân. Nếu có lối nghĩ như thế, thì tự mình phế bỏ, tự mình đoạn tuyệt con đường của bậc Thánh nhân.

Kinh Hoa Nghiêm từ bắt đầu cho đến hiện tại, mỗi câu Kinh văn, đều là pháp bảo vô thượng. Nếu chúng ta cung hành thực tiễn, y chiếu nghĩa Kinh tu hành, thì nhất định sẽ thành Phật. Kinh Hoa Nghiêm là mẹ của chư Phật, Kinh Hoa Nghiêm là pháp thân của chư Phật. Đức Phật tán thán Kinh Kim Cang rằng:

“Phàm là Kinh điển ở chỗ nào, thì có Phật ở chỗ đó”.

Có thể nói: “Kinh Hoa Nghiêm ở chỗ nào, thì có Phật ở chỗ đó”.

Vì chúng ta nghiệp chướng quá nặng, nên thấy Phật mà chẳng nhận ra. Do đó có câu: “Trước mắt chẳng biết Bồ Tát Quán Thế Âm”. Các vị hãy nhìn xem! Ngàn tay ngàn mắt của Bồ Tát Quán Thế Âm, thường phóng đại quang minh vô ngại, chiếu khắp chúng sinh hữu duyên trong ba ngàn đại thiên thế giới. Chúng ta hằng ngày ở đây lạy Bồ Tát Quán Âm, niệm Bồ Tát Quán Âm, trong Vạn Phật Bảo Điện của Vạn Phật Thánh Thành, mà chẳng thấy Bồ Tát Quán Âm. Tại sao vậy? Vì tâm chẳng kiền thành, ý chẳng kiên cố, chỉ là làm cho có lệ, người ta lạy mình cũng lạy, người ta niệm mình cũng niệm, làm việc phô trương, mà chẳng thành tâm, chuyển theo cảnh giới của người khác, mà trong thân tâm mình chẳng tu hành một cách đàng hoàng.

Chúng ta lạy Bồ Tát Quán Thế Âm, niệm Bồ Tát Quán Thế Âm, phải tự mình phản tỉnh mình, phải chăng mình còn tính nóng giận rất lớn chăng? Phải chăng tật xấu của mình xưa kia chưa sửa được chăng? Nếu có tình hình như vậy, thì dù bạn lạy đến hết kiếp thuở vị lai, niệm đến hết kiếp thuở vị lai, cũng chẳng bao giờ thấy được Bồ Tát Quán Thế Âm. Nếu triệt để cải ác hướng thiện, chân chánh trừ khử tập khí mao bệnh của mình, sửa lỗi làm mới, tẩy sạch vọng tưởng, được như vậy, thì Bồ Tát Quán Thế Âm mới từ quang phổ chiếu, chắc chắn sẽ gia trì cho bạn, khiến cho bạn được mát mẻ, chẳng còn nóng bức. Phải biết rằng, trên thế gian nầy, chẳng có việc gì không mệt nhọc mà được kết quả. Do đó có câu:

“Trồng trọt một phần, thì thu hoạch một phần”.

Thiên hạ không ai làm bánh sẵn, để cho bạn ngồi đó hưởng. Không lạy Phật mà muốn gặp Phật, đó chỉ là vọng tưởng của người ngu si.

Tại sao có người tu hành nhiều năm, mà chẳng khai mở trí huệ? Tại sao có người tu hành chẳng bao lâu, trong sự bất tri bất giác thì khai mở trí huệ, đắc được biện tài vô ngại? Sự khác biệt ở đây là do sự tinh tấn tu hành, dụng công. Dũng mãnh tinh tấn sẽ đắc được trí huệ, giải đãi phóng dật sẽ đắc được sự ngu si. Đạo lý nầy rất là nông cạn, ai ai cũng đều biết, nhưng mọi người chẳng thực hành! Chúng ta thân làm Sa Môn, nhất định phải siêng tu giới định huệ, diệt trừ tham sân si. Mỗi lời nói, cử chỉ, hành động, đều phải như pháp. Thời thời hồi quang phản chiếu, đừng giống như tấm gương phản chiếu, cứ hướng ra ngoài chiếu. Nếu chiếu ngược lại thì mới có sự tiến bộ.

Chúng ta nghe Kinh Hoa Nghiêm, đọc Kinh Hoa Nghiêm, lạy Kinh Hoa Nghiêm, nếu không y chiếu đạo lý nói trong Kinh Hoa Nghiêm đi thực hành, thì Kinh là Kinh, bạn là bạn, tôi là tôi, họ là họ, đều chẳng có liên quan gì với nhau, chẳng hợp mà làm một. Phải nghĩ đem Kinh điển với mình hợp mà làm một, phải làm theo nghĩa nói ở trong Kinh thì mới được. Bằng không, cứ tưởng mơ thì không thể nào hết khát được, bánh vẽ không thể nào no được.

Chỉ nghe Kinh Hoa Nghiêm mà không thực hành diệu pháp của Kinh Hoa Nghiêm, như vậy tâm từ bi không nhiều, tâm hỉ xả không đủ, chỉ có vô minh phiền não chứa nhóm đi theo bạn, không rời nửa bước, ảnh hưởng đến vọng tưởng lăn xăn của bạn, thì tâm không có định lực. Đây là không minh bạch đạo lý của Kinh, cũng chẳng hiểu được yếu quyết nghe Kinh. Nghe Kinh rồi, bất cứ là một câu Kinh văn, hoặc là một bài kệ, đều phải suy gẫm rằng: Ta nên làm như thế nào? Ta có chạy theo tập khí mao bệnh chăng? Hay là y theo nghĩa Kinh tu hành? Luôn luôn hỏi mình như thế, thì nhất định sẽ đắc được lợi ích lớn.

Tại sao chúng ta chẳng đắc được lợi ích lớn? Vì xem Kinh là Kinh, ta với Kinh chẳng có quan hệ gì. Nếu ta với Kinh điển trở thành một khối, hợp mà làm một, thì sẽ đắc được lợi ích của pháp. Kỳ thật, mục đích lúc ban đầu đức Phật nói Kinh Hoa Nghiêm, là vì vị lại chúng sinh, chúng ta và đại chúng hiện tại trong pháp hội Hoa Nghiêm mà nói. Đây chính thân khẩu đức Phật đối với chúng ta nói Kinh điển, chúng ta nghe đến Kinh văn của bộ Kinh nầy, thì giống như chính tai nghe được pháp âm của Phật. Ngài từ bi vì chúng ta mà nói đạo lý Kinh nầy, dạy chúng ta y chiếu theo Kinh điển tu hành.

Bất cứ pháp gì, cũng đều không vượt ra ngoài phạm vi tự tánh của mỗi con người chúng ta. Tự tánh của chúng ta, tận hư không khắp pháp giới, đầy khắp tất cả mọi nơi. Cho nên phải phóng tâm lượng ra cho thật lớn, phải có cảnh giới tâm rộng lớn có thể bao thái hư, lượng rộng lớn khắp cùng sa giới, thì bạn với Kinh Hoa Nghiêm hợp mà làm một. Do đó có câu: “Hai mà chẳng hai”. Ai ai cũng đều muốn dùng cảnh giới vô lượng vô biên của Kinh Hoa Nghiêm, làm cảnh giới của chính mình. Dùng trí huệ vô lượng vô biên của Kinh Hoa Nghiêm, làm trí huệ của chính mình. Bạn xem! Đây thật là rộng lớn biết bao! Do đó có câu: “Rất rộng lớn, rất tinh vi, phóng ra thì di lục hợp, cuộn lại thì thối tàng nơi mật. Cảnh giới nầy, thật là không thể nghĩ bàn!

 

Thuyết thị ngữ thời, Thiện tài đồng tử ngưỡng thị không trung nhi đáp chi ngôn: Thiện tai thiện tai! nhữ vi ai mẩn nhiếp thọ ngã cố, phương tiện giáo ngã kiến thiện tri thức.

Thiện-Tài ngước nhìn không-trung mà thưa rằng: Lành thay, lành thay! Ngài vì thương xót nhiếp thọ tôi mà phương-tiện dạy cho tôi pháp thấy thiện-tri-thức.

Giảng: Khi La Sát Quỷ Vương Thiện Nhãn nói lời nầy, thì Thiện Tài đồng tử ngửa mặt lên không, tìm nơi phát ra âm thanh. Phát hiện lời nói của La Sát Quỷ Vương, bèn mà đáp rằng: Lành thay! Lành thay! Ngài vì thương xót tôi, nhiếp thọ tôi, mà dùng pháp phương tiện dạy tôi gặp thiện tri thức.

 

Nguyện vi ngã thuyết: vân hà vãng nghệ thiện tri thức sở? ư hà phương xứ thành ấp tụ lạc cầu thiện tri thức?

Xin ngài vì tôi mà chỉ bảo: thế nào đến chỗ thiện-tri-thức? Tìm thiện-tri-thức ở chỗ nào?

Giảng: Xin Ngài hãy vì tôi mà nói. Tôi làm thế nào đi đến được chỗ của bậc thiện tri thức? Cầu thiện tri thức ở phương xứ thành ấp nào? Làm thế nào tôi được gặp thiện tri thức? Xin Ngài hãy chỉ bày rõ con đường, để cho tôi được gặp thiện tri thức, thấu rõ tâm nguyện của tôi.

 

La-sát đáp ngôn: Thiện nam tử! nhữ ưng phổ lễ thập phương, cầu thiện tri thức; chánh niệm tư tánh nhất thiết cảnh giới, cầu thiện tri thức; dũng mãnh tự tại biến du thập phương, cầu thiện tri thức; quán thân quán tâm như mộng như ảnh, cầu thiện tri thức.

La-Sát-Vương nói: Nầy Thiện-nam-tử! Ngươi nên đảnh lễ khắp mười phương để cầu thiện-tri-thức. Nên chánh-niệm tư-duy tất cả cảnh-giới để cầu thiện-thi-thức. Nên dũng-mãnh tự-tại du hành khắp mười phương để cầu thiện-tri-thức. Nên quán thân, quán tâm như mộng như ảnh để cẩu thiện-tri-thức.

Giảng: La Sát Quỷ Vương Thiện Nhãn đáp rằng: Thiện nam tử! Ngươi nên lễ khắp mười phương, để cầu thiện tri thức. Ngươi phải chuyên tâm nhất chí chánh niệm suy gẫm tất cả cảnh giới, để cầu thiện tri thức. Ngươi phải dũng mãnh tự tại du khắp mười phương, để cầu thiện tri thức. Ngươi phải quán thân quán tâm, giống như mộng, như hình bóng, để cầu thiện tri thức. Tóm lại, ngươi đừng có sợ khổ, đừng có sợ mệt nhọc, một lòng một dạ, đi cầu thiện tri thức. Tâm thành sẽ có sự cảm ứng, do đó có câu: “Cảm ứng đạo giao”, thì tự nhiên sẽ gặp được thiện tri thức.

Chúng ta nghe Kinh, nghe pháp, nhất định phải thực hành, đừng có nghe xong thì thôi, hoặc nói vài câu khẩu đầu thiền, tự cảm thấy đã đủ, như vậy thì chẳng có lợi ích gì. Do đó có câu:

“Nói hay, nói giỏi, mà chẳng thực hành, thì chẳng phải đạo”.

Nhất định phải y pháp tu hành, thì mới tương ưng với đạo. Nên nhớ! Nên nhớ! Ở đâu cũng đều phải lợi ích người khác, đừng nghĩ chỉ biết lợi ích cho mình, đừng vì lợi mà làm cho mình mờ mắt, thấy lợi thì quên nghĩa, làm ra việc điên đảo không hợp lý. Người xuất gia, nếu giữ giới không cất giữ tiền bạc, thì không có những phiền phức nầy.

 

Nhĩ thời, Thiện Tài thọ hành kỳ giáo, tức thời đổ kiến Đại bảo liên hoa tùng địa dũng xuất, Kim cương vi hành, diệu bảo vi tạng, ma-ni vi diệp, quang minh bảo vương dĩ vi kỳ đài, chúng bảo sắc hương dĩ vi kỳ tu, vô số bảo võng di phước kỳ thượng. ư kỳ đài thượng, hữu nhất lâu quán, danh: phổ nạp thập phương pháp giới tạng, kì diệu nghiêm sức, Kim cương vi địa, thiên trụ hàng liệt, nhất thiết giai dĩ ma-ni bảo thành, diêm phù đàn kim dĩ vi kỳ bích, chúng bảo anh lạc tứ diện thùy hạ, giai bệ, lan thuẫn châu táp trang nghiêm.

Thiện-Tài y lời làm theo, tức thời thấy đại-bửu-liên-hoa từ đất vọt lên: cộng bằng kim-cang, diệu-bửu làm tạng, mi-ni làm cánh, quang-minh bửu-vương làm đài, hương báu nhiều màu làm tua, vô-số lưới báu giăng che phía trên. Trên đài sen báu ấy có lâu các đẹp lạ tên là Phổ-Nạp-Thập-Phương-Pháp-Giới-Tạng trang-nghiêm. Nền bằng kim-cang, ngàn cột ngay hàng đều bằng ma-ni-bửu. Vách bằng vàng Diêm-Phù-Ðàn. Bốn mặt thòng những chuỗi ngọc. Thềm bực lan-can trang-nghiêm giáp vòng.

Giảng: Lúc đó, Thiện Tài đồng tử tiếp thọ lời dạy của La Sát Quỷ Vương Thiện Nhãn, thực hành giáo pháp của Ngài, lập tức thấy được hoa sen lớn từ dưới đất vọt lên. Hoa sen đó rất thanh tịnh, trang nghiêm vạn phần, cộng bằng kim cang, báu đẹp làm tạng, ma ni làm lá, quang minh bảo vương dùng làm đài, hương báu nhiều màu dùng làm nhuỵ, vô số vô lượng lưới báu che phủ phía trên hoa sen báu lớn đó.

Trên đài hoa có một lầu quán, tên là Phổ nạp thập phương pháp giới tạng, dùng báu đẹp kỳ lạ, để trang nghiêm tô sức, kim cang làm đất, có ngàn cột thẳng hàng, tất cả đều làm bằng ma ni báu, vách bằng vàng Diêm Phù Đàn, các chuỗi báu thòng rũ tứ phía, thềm bực lan can trang nghiêm khắp chung quanh.

 

Kỳ lâu quán trung, hữu như ý bảo liên hoa chi tọa, chủng chủng chúng bảo dĩ vi nghiêm sức, diệu bảo lan thuẫn, bảo y gian liệt, bảo trướng, bảo võng dĩ phước kỳ thượng, chúng bảo tăng phiên châu táp thùy hạ, vi phong từ động, quang lưu hưởng phát; bảo hoa tràng trung vũ chúng hương khí, bảo linh đạc trung xuất mỹ âm thanh, bảo hộ dũ gian thùy chư anh lạc, ma-ni thân trung lưu xuất hương thủy, bảo tượng khẩu trung xuất liên hoa võng, bảo sư tử khẩu thổ diệu hương vân, phạm hình bảo luân xuất tùy nhạc âm, Kim cương bảo linh xuất chư Bồ-tát đại nguyện chi âm, Bảo nguyệt tràng trung xuất Phật hóa hình, tịnh tạng bảo vương hiện tam thế Phật thọ sanh thứ đệ, nhật tạng ma-ni phóng Đại quang minh biến chiếu thập phương nhất thiết Phật sát, ma-ni bảo vương phóng nhất thiết Phật viên mãn quang minh, Tỳ Lô Giá Na ma-ni bảo vương hưng cúng dường vân cúng dường nhất thiết chư Phật Như Lai, như ý châu Vương niệm niệm thị hiện Phổ Hiền thần biến sung mãn Pháp giới, Tu-Di bảo vương xuất Thiên cung điện, Thiên chư thải nữ chủng chủng Diệu-Âm Ca tán Như Lai bất khả tư nghị vi diệu công đức.

Trong lâu các có tòa như-ý bửu-liên-hoa nghiêm-sức với những châu báu, bửu-lan bửu-y xen lẫn, bửu-trướng bửu-võng che phía trên. Những phan lụa báu thòng rủ bốn phía. Gió nhẹ thổi lay phóng ánh sáng phát âm vang. Trong tràng bửu-hoa tuôn những hoa đẹp. Trong lục-lạc báu phát âm-thanh tốt. Trong cửa báu thòng những chuỗi ngọc. Trong thân ma-ni chảy nước thơm. Trong miệng tượng-bửu xuất hiện lưới liên-hoa. Trong miệng bửu sư-tử thổi mây diệu-hương. Bửu-luân phạm-hình phát tiếng vui dạ-linh, kim-cang-bửu phát tiếng bồ-tát đại-nguyện. Trong tràng bửu-nguyệt xuất hiện hình phật-hóa. Tịnh-tạng bửu-vương hiện tam-thế Phật thứ đệ thọ sanh. Nhựt-tạng ma-ni phóng đại quang-minh chiếu khắp tất cả quốc-độ mười phương. Ma-Ni bửu-vương phóng quang-minh viên-mãn của tất cả chư Phật. Tỳ-Lô-Giá-Na ma-ni bửu-vương nổi mây đồ cúng để dâng hiến tất cả chư Phật Như-Lai. Như-ý châu-vương niệm niệm thị hiện phổ-hiền thần-biến sung-mãn pháp-giới. Tu-di bửu-vương xuất hiện thiên-cung-điện, trong đây chư thiên-nữ dùng diệu âm ca tụng công-đức vi-diệu bất-tư-nghì của đức Như-Lai.

Giảng: Trong lầu quán Phổ nạp thập phương pháp giới tạng đó, có toà hoa sen báu như ý, có đủ thứ các báu dùng làm nghiêm sức. Có lan can báu đẹp, có y báu xen lẫn với nhau trong lầu quán. Có trướng báu và lưới báu, dùng phủ phía trên toà báu. Lại có các phan lụa báu, giăng khắp chung quanh, gió nhẹ thổi động phan báu, toả ra ánh sáng báu khắp tứ phía, vang ra âm thanh vi diệu. Trong tràng hoa báu, mưa xuống các hoa đẹp. Trong lục lạc báu, vang ra âm thanh rất hay. Giữa những cửa báu, thòng xuống các chuỗi ngọc. Trong thân ma ni, chảy ra nước thơm. Trong miệng voi báu, thổi ra lưới hoa sen. Trong miệng sư tử, thổi ra mây diệu hương. Bánh xe báu hình phạm, vang ra tuỳ âm nhạc. Linh kim cang báu, vang ra tiếng đại nguyện của các Bồ Tát. Trong nguyệt tràng báu, hiện ra hình hoá Phật. Tịnh tạng bảo vương, hiện ra ba đời chư Phật thọ sanh thứ tự. Nhựt tạng ma ni, phóng đại quang minh, chiếu khắp mười phương tất cả cõi Phật. Ma ni bảo vương, phóng ra quang minh viên mãn của tất cả chư Phật. Tỳ Lô Giá Na ma ni bảo vương, nổi mây cúng dường, để cúng dường tất cả chư Phật Như Lai. Châu vương như ý, niệm niệm thị hiện thần biến Bồ Tát Phổ Hiền, đầy khắp pháp giới. Tu Di bảo vương, hiện ra cung điện trời, có các thể nữ trên trời, dùng đủ thứ diệu âm, để ca xướng khen ngợi công đức Như Lai vi diệu không thể nghĩ bàn.

 

Nhĩ thời, Thiện Tài kiến như thị tọa, phục hưũ vô lượng chúng tọa vi nhiễu, Ma Da Phu nhân tại bỉ tọa thượng, ư nhất thiết chúng sanh tiền, hiện tịnh sắc thân.

Xung quanh bửu-tòa nầy lại có vô-lượng bửu-tòa. Ma-Gia Phu-Nhơn hiện tịnh-sắc-thân ngồi trên đại bửu-tòa ấy: những là sắc-thân siêu tam-giới, vì đã thoát tất cả loài hữu-lậu.

Giảng: Lúc đó, Thiện Tài đồng tử thấy toà hoa sen báu trang nghiêm như ý như vậy, chung quanh toà báu, có vô lượng chúng ngồi vây quanh. Thấy Ma Gia phu nhân đang ngồi trên toà báu đó, nhập tam muội sắc thân, thị hiện bốn mươi thứ sắc thân thanh tịnh, ở trước tất cả chúng sinh.

 

Sở vị: siêu tam giới sắc thân, dĩ xuất nhất thiết chư hữu thú cố;

Tùy tâm lạc sắc thân, ư nhất thiết thế gian vô sở trước cố;

Phổ chu biến sắc thân, đẳng ư nhất thiết chúng sanh số cố;

Vô đẳng bỉ sắc thân, lệnh nhất thiết chúng sanh diệt đảo kiến cố;

Vô lượng chủng sắc thân, tùy chúng sanh tâm chủng chủng hiện cố;

Sắc-thân tùy tâm sở-thích, vì với tất cả thế-gian không chấp trước.

Sắc-thân cùng khắp, vì bằng số tất cả chúng-sanh.

Sắc-thân không gì sánh bằng, vì làm cho tất cả chúng-sanh diệt trừ kiến chấp điên đảo.

Sắc-thân vô-lượng thứ, vì tùy tâm của chúng-sanh mà thị-hiện.

Giảng: Đó là:

1. Hiện sắc thân vượt qua ba cõi. Ma Gia phu nhân tuy thân ở trong ba cõi, nhưng đã vượt khỏi tam giới hai mươi lăm cõi, không thọ sinh tử trong tam giới. Do đó có câu:

“Thân tại trần, tâm xuất trần,

Trong giếng trồng hoa chẳng nhiễm trần”.

2. Hiện sắc thân tuỳ tâm ưa thích, vì nơi tất cả thế gian không chấp trước.

3. Hiện sắc thân khắp cùng, vì sắc thân đồng với số tất cả chúng sinh.

4. Hiện sắc thân không gì bằng, vì khiến cho tất cả chúng sinh diệt trừ cái thấy điên đảo, hiện ra trí huệ chân chánh.

5. Hiện sắc thân vô lượng thứ, vì tuỳ đủ thứ tâm của chúng sinh, mà thị hiện đủ thứ sắc thân.

 

Vô biên tướng sắc thân, phổ hiện chủng chủng chư hình tướng cố;

Phổ đối hiện sắc thân, dĩ đại tự tại nhi thị hiện cố;

Hóa nhất thiết sắc thân, tùy kỳ sở ưng nhi hiện tiền cố;

Hằng thị hiện sắc thân, tận chúng sanh giới nhi vô tận cố;

Vô khứ sắc thân, ư nhất thiết thú vô sở diệt cố;

Sắc-thân vô-biên tướng, vì hiện khắp những hình tướng.

Sắc-thân đối hiện khắp nơi, vì dùng đại tự-tại để thị-hiện.

Sắc-thân giáo hóa tất cả, vì tùy nghi mà thị-hiện.

Sắc-thân hằng thi-hiện, vì tận chúng-sanh-giới mà vẫn vô-tận.

Sắc-thân vô-khứ, vì nơi tất cả loài vẫn không diệt.

Giảng: 6. Hiện sắc thân vô biên tướng, vì khắp hiện đủ thứ tất cả hình tướng.

7. Hiện sắc thân khắp đối hiện, vì dùng đại tự tại mà thị hiện sắc thân.

8. Hiện sắc thân hoá tất cả, vì tuỳ theo chúng sinh đáng được giáo hoá, mà hiện ra ở trước họ.

9. Thường thường thị hiện sắc thân, dù cõi chúng sinh cùng tận, nhưng sắc thân nầy vẫn không cùng tận.

10. Hiện sắc thân không đi, vì trong tất cả loài không có diệt.

Ma Gia phu nhân nhập vào cảnh giới tam muội sắc thân, có thể hiện đủ thứ tam muội, tức có tức không, tức không tức có, không, có chẳng hai. Lìa khỏi tất cả lời nói, lìa khỏi tất cả nghĩ bàn, cho nên không thể dùng tâm nghĩ, không thể dùng lời bàn luận.

 

Vô lai sắc thân, ư chư thế gian vô sở xuất cố;

Bất sanh sắc thân, vô sanh khởi cố;

Bất diệt sắc thân, ly ngữ ngôn cố;

Phi thật sắc thân, đắc như thật cố;

Phi hư sắc thân, tùy thế hiện cố;

Sắc-thân vô-lai, vì nơi tất cả thế-gian vẫn không sanh.

Sắc-thân bất-sanh, vì không sanh khởi.

Sắc-thân bất-diệt vì rời ngữ ngôn.

Sắc-thân chẳng phải thiệt, vì được như thiệt.

Sắc-thân chẳng phải hư, vì tùy thế-gian mà hiện.

Giảng: 11. Hiện sắc thân không đến, vì nơi các thế gian, không chỗ sinh.

12. Hiện sắc thân không sinh, vì không sinh khởi, cho nên không có bắt đầu, cũng không có kết thúc.

13. Hiện sắc thân không diệt, vì không sinh, nên không diệt. Lìa khỏi tất cả lời nói thế gian. Do đó có câu: “Miệng muốn nói mà lời đã tan mất, tâm muốn duyên mà suy nghĩ không còn nữa”.

14. Hiện sắc thân chẳng thật, nói nó thật có chăng? Lại chẳng phải thật có, giống tựa như thật có.

15. Hiện sắc thân chẳng hư, nói nó là hư giả chăng? Cũng chẳng phải hư giả, vì nó tuỳ thế gian mà hiện.

 

Vô động sắc thân, sanh diệt vĩnh ly cố;

Bất hoại sắc thân, pháp tánh bất hoại cố;

Vô tướng sắc thân, ngôn ngữ đạo đoạn cố;

Nhất tướng sắc thân, vô tướng vi tướng cố;

Như tượng sắc thân, tùy tâm ưng hiện cố;

Sắc-thân vô-động, vì lìa hẳn sanh diệt.

Sắc-thân bất hoại, vì pháp-tánh bất hoại.

Sắc-thân vô-tướng, vì dứt đường ngôn ngữ.

Sắc-thân một tướng, vì lấy vô-tướng làm tướng.

Sắc-thân như tượng, vì tùy tâm ứng-hiện.

Giảng: 16. Hiện sắc thân không động, nó là không sinh không diệt, vĩnh viễn lìa sinh tử, cho nên như như bất động, rõ ràng sáng suốt.

17. Hiện sắc thân bất hoại, tức nhiên bất động, thì cũng bất hoại. Pháp tánh vốn có, cũng là bất hoại.

18. Hiện sắc thân vô tướng, vì lời nói đã dứt, tâm hành xứ diệt.

19. Hiện sắc một tướng, vì vô tướng làm tướng, cho nên không có gì mà không có tướng.

20. Hiện sắc thân như tượng, vì tuỳ tâm chúng sinh, ứng chúng sinh cơ, mà thị hiện thân nầy.

 

Như huyễn sắc thân, huyễn trí sở sanh cố;

Như diễm sắc thân, đãn tưởng sở trì cố;

Như ảnh sắc thân, tùy nguyện hiện sanh cố;

Như mộng sắc thân, tùy tâm nhi hiện cố;

Pháp giới sắc thân, tánh tịnh như không cố;

Sắc-thân như huyễn, vì huyễn-trí sanh ra.

Sắc-thân như diệm, vì chỉ do tưởng mà còn.

Sắc-thân như ảnh, vì tùy nguyện hiện sanh.

Sắc-thân như mộng, vì tùy tâm mà hiện.

Sắc-thân pháp-giới, vì tánh tịnh như hư-không.

Giảng: 21. Hiện sắc thân như huyễn, vì đây là do trí huệ huyễn hoá sinh ra.

22. Hiện sắc thân như diệm, vì giống như dương diệm, chỉ tưởng sở trì.

23. Hiện sắc thân như bóng, vì tuỳ theo nguyện xưa đã phát ra mà hiện sinh.

24. Hiện sắc thân như mộng, vì tuỳ thuận tâm niệm của chúng sinh mà thị hiện.

25. Hiện sắc thân pháp giới, vì tánh thanh tịnh rộng lớn như hư không.

 

Đại bi sắc thân, thường hộ chúng sanh cố;

Vô ngại sắc thân, niệm niệm chu biến pháp giới cố;

Vô biên sắc thân, phổ tịnh nhất thiết chúng sanh cố;

Vô lượng sắc thân, siêu xuất nhất thiết ngữ ngôn cố;

Vô trụ sắc thân, nguyện độ nhất thiết thế gian cố;

Sắc thân đại-bi, vì thường cứu hộ chúng-sanh.

Sắc-thân vô-ngại, vì niệm niệm cùng khắp pháp-giới.

Sắc-thân vô-biên, vì tịnh khắp tất cả chúng-sanh.

Sắc-thân vô-lượng, vì siêu xuất tất cả ngữ ngôn.

Sắc-thân vô-trụ, vì nguyện độ tất cả thế-gian.

Giảng: 26. Hiện sắc thân đại bi, vì thường hộ trì hết thảy chúng sinh.

27. Hiện sắc thân vô ngại, vì niệm niệm khắp cùng pháp giới.

28. Hiện sắc thân vô biên, vì khắp thanh tịnh tâm niệm của tất cả chúng sinh.

29. Hiện sắc thân vô lượng, vì vượt khỏi số mục tất cả lời nói có thể nói ra.

30. Hiện sắc thân không trụ, vì đại thệ nguyện thuở xưa phát ra, tu pháp Ba La Mật, tức là vì độ tất cả chúng sinh thế gian, lìa khổ được vui.

 

Vô xứ sắc thân, hằng hóa chúng sanh bất đoạn cố;

Vô sanh sắc thân, huyễn nguyện sở thành cố;

Vô thắng sắc thân, siêu chư thế gian cố;

Như thật sắc thân, định tâm sở hiện cố;

Bất sanh sắc thân, tùy chúng sanh nghiệp nhi xuất hiện cố;

Sắc-thân vô-xứ, vì hằng hóa độ chúng-sanh không thôi dứt.

Sắc-thân vô-sanh, vì huyễn-nguyện làm thành.

Sắc-thân vô-thắng, vì siêu các thế-gian.

Sắc-thân như-thật, vì định-tâm hiện ra.

Sắc-thân chẳng sanh, vì tùy nghiệp của chúng-sanh mà xuất-hiện.

Giảng: 31. Hiện sắc thân không xứ, vì sắc thân hiện ra, chẳng có xứ sở nhất định, vì thường giáo hoá chúng sinh không dứt.

32. Hiện sắc thân không sinh, vì do nguyện lực huyễn hoá mà thành tựu.

33. Hiện sắc thân không thắng, vì thân nầy vượt khỏi tất cả thân chúng sinh thế gian.

34. Hiện sắc thân như thật, vì do tu định tâm hiện thân.

35. Hiện sắc thân chẳng sinh, vì tuỳ theo nghiệp lực của chúng sinh mà hiện thân.

 

Như ý châu sắc thân, phổ mãn nhất thiết chúng sanh nguyện cố;

Vô phân biệt sắc thân, đãn tùy chúng sanh phân biệt khởi cố;

Ly phân biệt sắc thân, nhất thiết chúng sanh bất năng trai cố;

Vô tận sắc thân, tận chư chúng sanh sanh tử tế cố;

Thanh tịnh sắc thân, đồng ư Như Lai vô phân biệt cố.

Sắc-thân châu như-ý, vì khắp thỏa mãn tất cả nguyện cầu của chúng-sanh.

Sắc-thân vô-phân-biệt, vì chỉ tùy theo chúng-sanh phân-biệt mà khởi.

Sắc-thân rời phân-biệt, vì tất cả chúng-sanh chẳng biết được.

Sắc-thân vô-tận, vì tận sanh-tử-tế của các chúng-sanh.

Sắc-thân thanh-tịnh, vì đồng vô-phân-biệt với Như-Lai.

Giảng: 36. Hiện sắc thân như ý châu, vì khắp mãn nguyện sở cầu của tất cả chúng sinh.

37. Hiện sắc thân không phân biệt, vì chỉ tuỳ tâm phân biệt của chúng sinh mà sinh khởi thân.

38. Hiện sắc thân lìa phân biệt, vì lìa khỏi tất cả lời nói và tất cả tư tưởng, tất cả chúng sinh không biết được sự hiện thân như thế nào.

39. Hiện sắc thân vô tận, vì tận bờ mé sinh tử của các chúng sinh.

40. Hiện sắc thân thanh tịnh, vì chẳng những thân thanh tịnh, mà tâm cũng thanh tịnh, chẳng có chút ý niệm nhiễm ô nào, đồng với Phật, không có gì phân biệt.

Ma Gia phu nhân hiện ra nhiều sắc thân như vậy, tại sao? Vì dạy chúng ta đừng chấp trước nhục thân nầy. Nếu chứng được Thánh quả, thì có vô lượng vô biên thân. Nhục thân nầy giống như ngục tù, nhốt chúng ta ở trong lồng, không được tự tại, không được giải thoát. Muốn thoát khỏi cái lồng nầy, thì phải biết kế xuất lồng, bằng không, vĩnh viễn bị nhốt ở trong lồng.

Lão Tử đã từng nói: “Sở dĩ ta có đại hoạn, vì ta có thân”. Chữ hoạn ở đây, có thể nói là chữ bệnh. Ta có đại bệnh, vì có thân nầy. Nếu không có thân nầy, thì cũng chẳng có đại bệnh. Lại nói: “Nếu ta không có thân, thì sao ta lại có bệnh”? Lão tử biết thân thể là vật không tốt, có nó rồi, thì khổ não không thể chịu nổi. Chẳng có nó, thì không có khổ não.

Một số người xem thân thể như là bảo bối, thương tiếc bảo hộ, lại sợ nó đói, lại sợ nó khát, lại sợ nó nóng, lại sợ nó lạnh, lúc nào cũng lo cho nó, lúc nào cũng phục vụ cho nó, lúc nào cũng làm nô lệ cho nó. Vì có thân nầy, mà nhìn chẳng thấu, buông chẳng đặng. Đem hết tâm cơ, nghĩ hết biện pháp, duy trì nó, bảo hộ nó an toàn. Nhưng đến lúc, nó chẳng màn đến bạn, nó bỏ đi chẳng có chút cảm tình nào với bạn cả, xem bạn làm thế nào!

 

Như thị thân giả, phi sắc, sở hữu sắc tướng như ảnh tượng cố;

Phi thọ, thế gian khổ thọ cứu cánh diệt cố;

Phi tưởng, đãn tùy chúng sanh tưởng sở hiện cố;

Phi hành, y như huyễn nghiệp nhi thành tựu cố;

Ly thức, Bồ Tát nguyện trí không Vô tánh cố, nhất thiết chúng sanh ngữ ngôn đoạn cố, dĩ đắc thành tựu tịch diệt thân cố.

Thân như vậy chẳng phải sắc, vì bao nhiêu sắc-tướng như ảnh tượng cả.

Chẳng phải thọ, vì đã diệt hẳn khổ-thọ của thế-gian.

Chẳng phải tưởng, vì chỉ tùy theo chúng-sanh tưởng mà hiện.

Chẳng phải hành, vì nương theo nghiệp như-huyễn mà thành-tựu.

Chẳng phải thức, vì là nguyện-trí không vô-tánh của Bồ-Tát, vì ngữ ngôn của tất cả chúng-sanh đều dứt, vì đã thành-tựu thân tịch-diệt.

Giảng: Bốn mươi thứ sắc thân như vậy, cũng chẳng phải do sắc uẩn trong năm uẩn thành tựu. Vì tuy có sắc tướng tồn tại, nhưng giống như hình bóng, hư vọng chẳng thật.

Cũng chẳng phải do thọ uẩn trong năm uẩn thành tựu, vì ba thứ khổ, tám thứ khổ, vô lượng thứ khổ của thế gian, rốt ráo đã diệt.

Cũng chẳng phải do tưởng uẩn trong năm uẩn thành tựu, vì chỉ tuỳ chúng sinh tưởng mà hiện.

Cũng chẳng phải do hành uẩn trong năm uẩn thành tựu, vì nương nghiệp như huyễn mà thành tựu.

Cũng chẳng phải do thức uẩn trong năm uẩn thành tựu, vì Bồ Tát phát thệ nguyện, đắc được trí huệ, thấu rõ lý không, vốn là vô tánh, vì lời nói của tất cả chúng sinh đã dứt, vì đã thành tựu được thân tịch diệt.

 

Nhĩ thời, Thiện tài đồng tử hựu kiến Ma Da Phu nhân, tùy chư chúng sanh tâm chi sở lạc, hiện siêu quá nhất thiết thế gian sắc thân.

Bấy giờ Thiện-Tài lại thấy Ma-Gia Phu-Nhơn tùy theo tâm sở-thích của các chúng-sanh mà hiện sắc-thân siêu quá tất cả thế-gian.

Giảng: Lúc đó, Thiện Tài đồng tử lại thấy được Ma Gia phu nhân, tuỳ thuận tâm ưa thích của tất cả chúng sinh, mà thị hiện sắc thân hơn hẳn tất cả thế gian.

 

Sở vị: hoặc hiện siêu quá tha hóa tự tại thiên nữ thân nãi chí siêu quá tứ đại thiên vương Thiên nữ thân, hoặc hiện siêu quá long nữ thân nãi chí siêu quá nhân nữ thân, hiện như thị đẳng vô lượng sắc thân, nhiêu ích chúng sanh.

Những là: hoặc hiện thân siêu quá thiên-nữ nơi trời Tha-Hóa Tự-Tại, nhẫn đến siêu quá thiên-nữ nơi trời Tứ-Thiên-Vương. Hoặc hiện thân siêu quá Long-Nữ, nhẫn đến siêu quá nhơn-nữ. Hiện vô-lượng sắc-thân như vậy để lợi ích chúng-sanh,

Giảng: Đó là: Hoặc hiện thân hơn hẳn Thiên nữ cõi trời Tha Hoá Tự Tại, cho đến thân hơn hẳn Thiên nữ cõi trời Tứ Đại Thiên Vương. Hoặc hiện thân hơn hẳn Long nữ, cho đến thân hơn hẳn người nữ thế gian. Hiện vô lượng sắc thân như vậy, để lợi ích chúng sinh

 

Tập nhất thiết trí trợ đạo chi Pháp, hành ư bình đẳng đàn ba-la-mật, đại bi phổ phước nhất thiết thế gian. xuất sanh Như Lai vô lượng công đức, tu tập tăng trưởng nhất thiết trí tâm, quan sát tư tánh chư Pháp thật tánh; hoạch thâm nhẫn hải, cụ chúng định môn, trụ ư bình đẳng tam muội cảnh giới, đắc Như Lai định viên mãn quang minh, tiêu kiệt chúng sanh phiền não cự hải; tâm thường chánh định, vị thường động loạn, hằng chuyển thanh tịnh bất thoái Pháp luân, thiện năng liễu tri nhất thiết Phật Pháp, hằng dĩ trí tuệ quán Pháp thật tướng; kiến chư Như Lai tâm Vô yếm túc, tri tam thế Phật xuất hưng thứ đệ, kiến Phật tam muội thường hiện tại tiền, liễu đạt Như Lai xuất hiện ư thế vô lượng vô số chư thanh tịnh đạo, hành ư chư Phật hư không cảnh giới; phổ nhiếp chúng sanh, các tùy kỳ tâm, giáo hóa thành tựu; nhập Phật vô lượng thanh tịnh Pháp thân, thành tựu đại nguyện, tịnh chư Phật sát, cứu cánh điều phục nhất thiết chúng sanh, tâm hằng biến nhập chư Phật cảnh giới;

Nhóm họp pháp trợ-đạo nhất-thiết-trí, hành bình-đẳng đàn ba-la-mật, đại-bi che khắp tất cả thế-gian, xuất sanh vô-lượng công-đức của Như-Lai, tu tập tăng trưởng tâm nhất-thiết-trí, quán sát tư duy thật-tánh của các pháp, được thâm-nhẫn, đủ định-môn, an trụ cảnh-giới tam-muội bình-đẳng, được Như-Lai định, viên-mãn quang-minh, tiêu cạn biển lớn phiền-não của chúng-sanh, tâm thường chánh-định chưa từng động loạn, hằng chuyển pháp-luân thanh-tịnh bất-thối. Khéo biết rõ tất cả phật-pháp, hằng dùng trí-huệ quán pháp thật-tướng, thấy chư Như-Lai không lòng nhàm, biết tam-thế Phật thứ đệ xuất thế tam-muội, thấy Phật thường hiện-tiền, thấu rõ Như-Lai xuất hiện nơi đời, vô-lượng vô-số những đạo thanh-tịnh, đi nơi cảnh-giới hư-không của Phật. Nhiếp khắp chúng-sanh đều theo tâm họ để giáo-hóa thành-tựu, nhập Phật vô-lượng thanh-tịnh pháp thân, thành-tựu đại nguyện nghiêm-tịnh phật-độ, rốt ráo điều phục tất cả chúng-sanh, tâm hằng vào khắp cảnh-giới của chư Phật,

Giảng: Tích tập nhất thiết trí pháp trợ đạo. Tu hành bình đẳng pháp môn bố thí Ba La Mật. Dùng tâm đại bi trùm khắp tất cả chúng sinh thế gian. Sinh ra vô lượng công đức của chư Phật. Tu tập tăng trưởng tâm nhất thiết trí. Quán sát suy gẫm nghiên cứu thật tánh của các pháp. Đắc được biển nhẫn thâm sâu. Đầy đủ các môn thiền định. Trụ nơi cảnh giới tam muội bình đẳng. Đắc được định viên mãn quang minh của Như Lai. Khô cạn biển cả phiền não của tất cả chúng sinh. Tâm thường chánh định chưa từng động loạn, bất cứ lúc nào, cũng chẳng bị cảnh giới làm giao động, hoặc tán loạn. Luôn luôn chuyển bánh xe pháp thanh tịnh bất thối. Khéo biết rõ pháp của tất cả chư Phật nói. Luôn luôn dùng mắt trí huệ để quán sát thật tướng của các pháp.

Thấy được tất cả chư Phật, tâm không khi nào nhàm đủ. Biết chư Phật ba đời thứ tự xuất hiện ra đời. Thường thấy tam muội của Phật thường hiện tiền. Thấu rõ thông đạt Như Lai xuất hiện ra đời, vô lượng vô số các đạo thanh tịnh. Đi nơi cảnh giới hư không của chư Phật, nhiếp khắp tất cả chúng sinh, đều tuỳ theo tâm họ, để giáo hoá thành tựu. Chứng nhập vô lượng pháp thân thanh tịnh của chư Phật, thành tựu đại nguyện đã phát ra, thanh tịnh cõi nước chư Phật. Rốt ráo điều phục tất cả chúng sinh cang cường, tâm luôn vào khắp cảnh giới của chư Phật.

 

Xuất sanh Bồ Tát tự tại thần lực, dĩ đắc Pháp thân thanh tịnh vô nhiễm, nhi hằng thị hiện vô lượng sắc thân; tồi nhất thiết ma lực, thành Đại thiện căn lực, xuất sanh chánh pháp lực, cụ túc chư Phật lực, đắc chư Bồ-tát tự tại chi lực, tốc tật tăng trưởng nhất thiết trí lực; đắc Phật trí quang, phổ chiếu nhất thiết, tất tri vô lượng chúng sanh tâm hải, căn, tánh, dục, giải chủng chủng sái biệt; kỳ thân phổ biến thập phương sát hải, tất tri chư sát thành hoại chi tướng, dĩ quảng đại nhãn kiến thập phương hải, dĩ chu biến trí tri tam thế hải, thân phổ thừa sự nhất thiết Phật hải, tâm hằng nạp thọ nhất thiết pháp hải; tu tập nhất thiết Như Lai công đức, xuất sanh nhất thiết Bồ Tát trí tuệ, thường lạc quan sát nhất thiết Bồ Tát tùng sơ phát tâm nãi chí thành tựu sở hạnh chi đạo, thường cần thủ hộ nhất thiết chúng sanh, thường lạc xưng dương chư Phật công đức, nguyện vi nhất thiết Bồ Tát chi mẫu.

Xuất sanh bồ tát tự-tại thần-lực, đã được pháp thân thanh-tịnh vô-nhiễm mà  hằng thị-hiện vô-lượng sắc thân, xô dẹp tất cả ma-lực thành sức đại thiện-căn, xuất sanh sức chánh-pháp, đầy đủ phật-lực, được sức tự-tại của chư Bồ-Tát, mau tăng trưởng sức nhất-thiết-trí, được phật-trí-quang chiếu khắp tất cả, biết hết tâm tánh giải dục sai biệt của vô-lượng chúng-sanh, thân cùng khắp mười phương cõi, biết rõ tướng thành hoại của các cõi, dùng quảng-đại-nhãn thấy thập-phương-hải, dùng châu-biến-trí biết tam-thế-haỉ, thân khắp thừa-sự tất cả phật-hải, tâm hằng nạp thọ tất cả pháp-hải, tu tập tất cả công-đức của Như-Lai, xuất sanh tất cả trí-huệ của Bồ-Tát, thường thích quán-sát tất cả Bồ-Tát từ sơ-phát-tâm nhẫn đến thành tựu đạo bồ-tát, thường siêng thủ hộ tất cả chúng-sanh, thường thích tán dương công-đức của chư Phật, nguyện làm mẹ của tất cả Bồ-Tát.

Giảng: Sinh ra thần lực tự tại của Bồ Tát. Đã đắc được pháp thân thanh tịnh không nhiễm, mà luôn luôn thị hiện vô lượng sắc thân. Hàng phục được tất cả ma lực, thành tựu được sức lực căn lành lớn. Sinh ra sức lực chánh pháp, đầy đủ lực của chư Phật. Đắc được lực nhậm vận tự tại của các Bồ Tát, mau chóng tăng trưởng lực nhất thiết trí.

Đắc được trí huệ quang minh của Phật chiếu khắp tất cả thế giới, đều biết biển tâm của vô lượng chúng sinh, căn tánh, ham muốn, hiểu biết, có đủ thứ cảnh giới khác nhau. Thân đó khắp cùng mười phương biển cõi, đều biết tướng thành trụ hoại không của các cõi. Dùng mắt pháp rộng lớn, thấy được biển mười phương thế giới. Dùng trí huệ khắp cùng, biết được biển pháp ba đời. Thân phụng sự khắp tất cả biển chư Phật, nhiều như biển cả. Tâm tức là biển pháp, luôn nạp thọ tất cả biển các pháp. Nếu tâm chẳng phải là biển pháp, thì làm sao mà nạp thọ được tất cả biển pháp! Tu tập tất cả công đức của chư Phật đã tu. Nếu chẳng tu công đức của chư Phật, thì làm sao mà thành Phật! Sinh ra trí huệ đầy đủ của tất cả Bồ Tát. Đầy đủ trí huệ của Bồ Tát, cũng chẳng thái quá, cũng chẳng bất cập, đúng là lý thể chân chánh. Bất cứ làm việc gì, đều phải tuân theo quy cụ, thứ tự như pháp, đây tức là trí huệ của Bồ Tát. Thường thích quán sát, quán sát gì? Phải hướng bên ngoài quán sát cảnh giới của tất cả Bồ Tát, phải hướng vào bên trong quán sát chính mình, đã phát bồ đề tâm chưa? Bồ Tát từ lúc ban đầu phát tâm, cho đến thành tựu đạo tu hành, đều lợi ích người khác, chẳng phải lợi ích chính mình. Tư tưởng của Bồ Tát là:

“Bố thí không cầu đền đáp,
Chẳng tìm lỗi lầm của người khác”.

Cho nên phải quán sát đạo của tất cả Bồ Tát tu hành. Thường siêng giữ gìn tất cả chúng sinh. Thường thích khen ngợi công đức của chư Phật. Nguyện làm mẹ của tất cả hậu thân Bồ Tát (thân cuối cùng sắp thành Phật).
Nhĩ thời, Thiện tài đồng tử kiến Ma Da Phu nhân hiện như thị đẳng Diêm-phù-đề vi trần số chư phương tiện môn. Ký kiến thị dĩ, như Ma Da Phu nhân sở hiện thân số, Thiện Tài diệc hiện tác nhĩ hứa thân, ư nhất thiết xứ Ma Da chi tiền cung kính lễ bái, tức thời chứng đắc vô lượng vô số chư tam muội môn, phân biệt quan sát, tu hành chứng nhập.

Thiện-Tài thấy Ma-Gia Phu-Nhơn hiện diêm-phù-đề vi-trần-số môn phương-tiện như vậy. Ðúng như số thân của Ma-Gia Phu-Nhơn đã hiện, Thiện-Tài cũng tự hiện bao nhiêu thân ở trước tất cả Ma-Gia Phu-Nhơn mà cung kính lễ bái. Tức thời Thiện-Tài chứng được vô-lượng vô-số môn tam-muội, phân biệt quan-sát tu hành chứng nhập.

Lúc đó, Thiện Tài đồng tử thấy Ma Gia phu nhân hiện các môn phương tiện nhiều như số hạt bụi Diêm Phù Đề như vậy. Thấy được những cảnh giới như vậy rồi, như số sắc thân của Ma Gia phu nhân thị hiện, Thiện Tài đồng tử cũng chứng được tam muội đó, cũng hiện ra chừng ấy thân, ở trước tất cả chỗ của Ma Gia phu nhân trong mười phương, cung kính lễ bái. Lập tức lúc đó chứng được vô lượng vô số các môn tam muội, phân biệt quán sát, tu hành chứng nhập tam muội đó.

 

Tùng tam muội khởi, hữu nhiễu Ma Da tinh kỳ quyến thuộc, hợp chưởng nhi lập, bạch ngôn: đại thánh! Văn-thù-sư-lợi Bồ Tát giáo ngã phát A-nậu-đa-la-tam miểu tam Bồ-đề tâm, cầu thiện tri thức, thân cận cúng dường.

Sau khi xuất định, Thiện-Tài hữu nhiễu Phu-Nhơn và quyến-thuộc của Phu-Nhơn, đứng chắp tay cung kính thưa rằng: Bạch Ðại-thánh! Văn-Thù-Sư-Lợi Bồ-Tát dạy tôi phát tâm vô-thượng bồ-đề, cầu thiện-tri-thức để thân cận cúng-dường.

Giảng: Thiện Tài đồng tử từ tam muội dậy, đi nhiễu bên phải Ma Gia phu nhân, và quyến thuộc của Ngài, rồi chắp tay đứng ở trước toà của Ma Gia phu nhân. Thiện Tài đồng tử bạch với Ma Gia phu nhân rằng: “Đức Thánh! Con nhờ Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi dạy con phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, cầu thiện tri thức, gần gũi cúng dường. Con đều đi đến hầu hạ cúng dường từng vị, từng vị thiện tri thức, không có vị thiện tri thức nào mà con không cúng dường.

 

Ngã ư nhất nhất thiện tri thức sở, giai vãng thừa sự, vô không quá giả; tiệm lai chí thử, nguyện vi ngã thuyết: Bồ Tát vân hà học Bồ Tát hạnh nhi đắc thành tựu?

Ở chỗ mỗi vị thiện-tri-thức tôi đều đến kính thờ không bỏ luống, lần lượt đến đây. Xin Dại-Thánh vì tôi mà dạy bảo Bồ-Tát thế nào học bồ-tát hạnh mà được thành-tựu?

Giảng: Con ở chỗ mỗi vị thiện tri thức lắng nghe thiện tri thức nói pháp, đắc được lợi ích của pháp rất lớn. Con dần dần mới đi đến thành Ca Tỳ La, xứ sở của Ngài ở. Xin đức Thánh hãy từ bi, xin vì con mà nói: Bồ Tát làm thế nào học Bồ Tát hạnh, mà được thành tựu A nậu đa la tam miệu tam bồ đề”?

 

Đáp ngôn: Phật tử! ngã dĩ thành tựu Bồ Tát Đại nguyện trí huyễn giải thoát môn, thị cố thường vi chư Bồ-tát mẫu.

Ma-Gia Phu-Nhơn nói: Nầy Thiện-nam-tử! Ta đã thành-tựu môn giải-thoát bồ-tát-đại-nguyện-trí-huyễn, do đây ta thường làm mẹ của Bồ-Tát.

Giảng: Ma Gia phu nhân đáp rằng: Phật tử! Ta đã thành tựu môn giải thoát Bồ Tát đại nguyện trí huyễn. Ta có trí huệ, nhận thức được tất cả đều là như huyễn, như hoá, không chấp trước vào môn giải thoát nầy. Nhờ nhân duyên đó, cho nên thường làm mẹ của các Bồ Tát sắp thành Phật.

Giải thích sơ lược về môn giải thoát đại nguyện trí huyễn, có hai nghĩa: Một là nguyện lớn. Hai là trí lớn. Nguyện lớn, là nguyện làm mẹ của tất cả chư Phật. Trí lớn phân làm hai. Một là quyền trí. Hai là thật trí. Quyền trí, là khởi nguyện lớn, thành việc huyễn. Thật trí, tức là Bát Nhã, sinh ra chân thân của Phật. Huyễn có hai nghĩa: Một là nguyện trí thể hư, đương tướng đều huyễn. Hai nghĩa là trí làm sinh ra Phật. Môn giải thoát, là không, vô tướng, vô nguyện, ba thứ thiền định. Năm thứ thiền định nầy, là cửa Niết Bàn, do đó mà được tên nầy.

 

Phật tử! như ngã ư thử Diêm-phù-đề trung Ca-tỳ la thành Tịnh Phạn Vương gia, hữu hiếp nhi sanh Tất đạt Thái-Tử, hiện bất tư nghị tự tại thần biến; như thị, nãi chí tận thử thế giới hải, sở hữu nhất thiết Tỳ Lô Giá Na Như Lai, giai nhập ngã thân, thị hiện đản sanh tự tại thần biến.

Nầy Thiện-nam-tử! Như ta ở tại cung vua Tịnh-Phạn nơi thành Ca-Tỳ-La nầy, từ hông bên hữu sanh Thái-Tử Tất-Ðạt hiện bất-tư-nghì thần-biến tự-tại. Như vậy nhẫn đến tận thế-giới hải nầy, tất cả Tỳ-Lô-Giá-Na Như-Lai đều vào thân ta mà thị-hiện đản-sanh tự-tại thần-biến.

Giảng: Phật tử! Ta ở trong nhà vua Tịnh Phạn, thành Ca Tỳ La cõi Diêm Phù Đề nầy, từ hông bên phải mà sinh thái tử Tất Đạt Đa, hiện ra thần biến tự tại không thể nghĩ bàn. Cảnh giới như vậy, cho đến hết biển thế giới nầy, hết thảy tất cả Phật Tỳ Lô Giá Na, đều vào trong thân của ta, thị hiện đản sinh đủ thứ tự tại thần thông biến hoá.

 

Hựu, Thiện nam tử! ngã ư Tịnh Phạn Vương cung, Bồ Tát tướng dục hạ sanh chi thời, kiến Bồ Tát thân nhất nhất mao khổng hàm phóng quang minh, danh: nhất thiết Như Lai thọ sanh công đức luân, nhất nhất mao khổng giai hiện bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát vi trần số Bồ Tát thọ sanh trang nghiêm.

Lại nầy Thiện-nam-tử! Lúc ta ở cung vua Tịnh-Phạn, lúc Bồ-Tát sắp hạ sanh, ta thấy thân của Bồ-Tát mỗi mỗi lỗ lông đều phóng quang-minh tên là Nhất-Thiết-Như-Lai-Thọ-Sanh-Công-Ðức-Luân. Mỗi lỗ lông đều hiện bất-khả-thuyết bất-khả-thuyết phật sát vi-trần-số Bồ-Tát thọ sanh trang-nghiêm.

Giảng: Ma Gia phu nhân lại gọi một tiếng thiện nam tử! Khi ta ở trong cung vua Tịnh Phạn, lúc Bồ Tát (Phật Thích Ca Mâu Ni) sắp hạ sinh, thì ta thấy mỗi mỗi lỗ chân lông trên thân Bồ Tát, đều phóng quang minh, tên là Nhất thiết Như Lai thọ sinh công đức luân. Trong mỗi mỗi lỗ chân lông, đều hiện cảnh giới Bồ Tát thọ sinh trang nghiêm, nhiều như số hạt bụi bất khả thuyết bất khả thuyết cõi Phật.

 

Bỉ chư quang minh, giai tất phổ chiếu nhất thiết thế giới; chiếu thế giới dĩ, lai nhập ngã đảnh nãi chí nhất thiết chư mao khổng trung.

Những quang-minh đó thảy đều chiếu khắp tất cả thế-giới, rồi nhập vào đảnh của ta và khắp các chân lông.

Giảng: Tất cả quang minh đó, thảy đều chiếu khắp tất cả mười phương thế giới. Chiếu sáng mười phương thế giới rồi, tất cả quang minh đó, lại nhập vào đảnh đầu của ta, cho đến vào trong tất cả các lỗ chân lông trên thân ta.

 

Hựu, bỉ quang trung phổ Hiện-Nhất-Thiết Bồ Tát danh hiệu, thọ sanh thần biến, cung điện quyến thuộc, ngũ dục tự ngu; hựu kiến xuất gia, vãng nghệ đạo tràng, thành đẳng chánh giác, tọa sư tử tọa, Bồ Tát vi nhiễu, chư Vương cúng dường, vi chư Đại chúng chuyển chánh pháp luân;

Lại trong quang-minh ấy hiện khắp tất cả danh-hiệu của Bồ-Tát, cùng thọ-sanh, thần-biến, cung-điện, quyến-thuộc, ngũ dục tự vui của Bồ-Tát. Trong quang-minh lại thấy Bồ-Tát xuất-gia, đến đạo-tràng thành Ðẳng-Chánh-Giác, ngồi tòa sư-tử, Bồ-Tát vây quanh, các vua chúa cúng-dường, vì đại-chúng mà chuyển pháp-luân.

Giảng: Lại ở trong quang minh đó, khắp hiện danh hiệu của tất cả Bồ Tát, thọ sinh, thần biến, cung điện và quyến thuộc, dùng tài sắc danh ăn và ngủ năm dục tự làm cho mình vui. Hoặc là dùng sắc thanh hương vị xúc năm trần làm cho mình vui.

Ta lại thấy được cảnh giới Bồ Tát tám tướng thành đạo. Xuất gia rồi, đi đến bồ đề đạo tràng, nửa đêm thấy sao mai mọc mà thành Đẳng Chánh Giác, ngồi toà báu sư tử. Có vô số Bồ Tát vây quanh, có tất cả các ông vua cúng dường, đức Phật vì các đại chúng chuyển bánh xe chánh pháp, tức cũng là diễn nói pháp lớn Kinh Hoa Nghiêm Đại Phương Quảng Phật, diệu nghĩa nhất chân pháp giới.

 

Hựu kiến Như Lai vãng tích tu hành Bồ Tát đạo thời, ư chư Phật sở cung kính cúng dường, phát Bồ-đề tâm, tịnh Phật quốc độ, niệm niệm thị hiện vô lượng hóa thân, sung biến thập phương nhất thiết thế giới, nãi chí tối hậu nhập Bát Niết Bàn. Như thị đẳng sự, mị bất giai kiến.

Lại thấy đức Như-Lai thuở xưa lúc tu hành bồ-tát-đạo, cung kính cúng-dường chư Phật, phát tâm bồ-đề, nghiêm-tịnh phật-độ, niêm niệm thị-hiện vô-lượng hóa-thân khắp thập phương thế-giới, nhẫn đến rốt sau nhập niết-bàn. Tất cả những sự như vậy đều thấy rõ cả.

Giảng: Ta lại thấy thuở xưa, khi đức Phật Thích Ca Mâu Ni tu hành Bồ Tát đạo, thời ở chỗ tất cả chư Phật, cung kính cúng dường chư Phật, phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, thanh tịnh trang nghiêm tất cả cõi nước chư Phật. Niệm niệm thị hiện vô lượng hoá thân, đầy khắp mười phương tất cả thế giới, cho đến cuối cùng vào Bát Niết Bàn. Tất cả những cảnh giới như vậy, ta đều nhìn thấy rõ ràng.

 

Hựu, Thiện nam tử! bỉ diệu quang minh nhập ngã thân thời, ngã thân hình lượng tuy bất du bổn, nhiên kỳ thật dĩ siêu chư thế gian. Sở dĩ giả hà? ngã thân Nhĩ thời lượng đồng hư không, tất năng dung thọ thập phương Bồ Tát thọ sanh trang nghiêm chư cung điện cố.

Nầy Thiện-nam-tử! Lúc diệu-quang-minh ấy vào thân của ta, hình lượng của thân ta dầu chẳng hơn trước, nhưng thật ra thời đã siêu thế-gian. Tại sao vậy? Vì lúc đó thân của ta lượng đồng hư-không, đều có thể dung thọ những cung-điện trang-nghiêm của thập phương Bồ-Tát thọ sanh.

Giảng: Lại nữa thiện nam tử! Khi quang minh vi diệu đó vào thân ta, thì hình lượng thân ta, tuy vẫn như cũ, nhưng kỳ thật, đã vượt hơn tất cả thế gian, thậm chí còn lớn hơn tất cả thế gian. Tại sao? Vì lúc đó thân ta, lượng đồng hư không, đều hoàn toàn dung thọ được tất cả cung điện trang nghiêm Bồ Tát mười phương thọ sinh.

 

Nhĩ thời, Bồ Tát tùng Đâu suất thiên tướng hàng thần thời, hữu thập Phật sát vi trần số chư Bồ-tát, giai dữ Bồ Tát đồng nguyện, đồng hành, đồng thiện căn, đồng trang nghiêm, đồng giải thoát, đồng trí tuệ, chư địa, chư lực, Pháp thân, sắc thân, nãi chí Phổ Hiền thần thông hạnh nguyện, tất giai đồng đẳng, như thị Bồ Tát tiền hậu vi nhiễu; hựu hữu bát vạn chư long Vương đẳng, nhất thiết thế chủ, thừa kỳ cung điện, câu lai cúng dường.

Lúc Bồ-Tát từ cung trời Ðâu-Suất sắp giáng thần, có mười phật-sát vi-trần-số Bồ-Tát đồng nguyện, đồng hạnh, đồng thiện-căn, đồng trang nghiêm, đồng giải-thoát, đồng trí-huệ, trí-lực, pháp-thân, sắc-thân, nhẫn đến phổ-hiền thần-thông hạnh nguyện thảy đều đồng với Bồ-Tát. Vi-trần-số Bố-Tát nầy cùng vây quanh. Lại có tám vạn Long-Vương và tất cả Thế-Chủ thừa cung-điện của mình đều đến cúng-dường.

Giảng: Lúc đó, khi Bồ Tát từ cung trời Đâu Suất sắp hàng sinh, thì có các Bồ Tát nhiều như số hạt bụi mười cõi Phật, đều đồng nguyện, đồng hạnh, đồng căn lành, đồng trang nghiêm, đồng giải thoát, đồng trí huệ, các lực, các địa, pháp thân, sắc thân với Bồ Tát (Phật Thích Ca Mâu Ni), cho đến thần thông và hạnh nguyện của Bồ Tát Phổ Hiền, thảy đều đồng nhau. Bồ Tát như vậy, vây quanh trước sau đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Lại có tám vạn các Long Vương, cùng với tất cả chủ thế gian, ngồi cung điện của mình, đều đến cúng dường Phật.

 

Bồ Tát Nhĩ thời, dĩ thần thông lực, dữ chư Bồ-tát phổ Hiện-Nhất-Thiết Đâu suất thiên cung; nhất nhất cung trung, tất hiện thập phương nhất thiết thế giới Diêm-phù-đề nội thọ sanh ảnh tượng, phương tiện giáo hóa vô lượng chúng sanh, lệnh chư Bồ-tát ly chư giải đãi vô sở chấp trước.

Bấy giờ Bồ-Tát dùng sức thần-thông cùng chư Bồ-Tát quyến-thuộc hiện khắp tất cả Ðâu-Suất Thiên-Cung. Mỗi mỗi Thiên-Cung đều hiện hình tượng thọ sanh trong tất cả Diêm-Phù-Ðề ở thập phương thế-giới, phương-tiện giáo hóa vô-lượng chúng-sanh, khiến chư Bồ-Tát rời giải-đãi, không chấp trước.

Giảng: Lúc đó, Bồ Tát dùng sức thần thông, với các Bồ Tát, khắp hiện tất cả cung trời Đâu Suất. Trong mỗi mỗi cung điện, đều hiện hình tượng thọ sinh trong tất cả thế giới Diêm Phù Đề ở mười phương, dùng pháp môn phương tiện để giáo hoá vô lượng chúng sinh, khiến cho các Bồ Tát lìa các giải đãi, không còn sự chấp trước.

 

Hựu dĩ thần lực, phóng đại quang minh, phổ chiếu thế gian, phá chư hắc ám, diệt chư khổ não; lệnh chư chúng sanh, giai thức tú thế sở hữu nghiệp hạnh, vĩnh xuất ác đạo.

Lại dùng thần-lực phóng đại quang-minh chiếu khắp thế-gian phá những tối tăm diệt những khổ não, làm cho các chúng-sanh đều biết những hành nghiệp đã có từ đời trước, hầu thoát hẳn ác-đạo.

Giảng: Lại dùng thần lực phóng đại quang minh, chiếu khắp tất cả thế gian, phá trừ tất cả đen tối, tiêu diệt tất cả khổ não, khiến cho tất cả chúng sinh đều biết được hết thảy hạnh nghiệp đời trước, vĩnh viễn thoát khỏi ba đường ác.

 

Hựu vi cứu hộ nhất thiết chúng sanh, phổ hiện kỳ tiền, tác chư thần biến. Hiện như thị đẳng chư kì đặc sự, dữ quyến thuộc câu, lai nhập ngã thân.

Lại vì cứu hộ tất cả chúng-sanh mà hiện ra trước họ, để hiện những thần-biến. Bồ-Tát đã hiện những sự kỳ-đặc như vậy rồi cùng quyến-thuộc đến nhập vào thân của ta.

Giảng: Bồ Tát lại vì cứu hộ tất cả chúng sinh, cho nên khắp hiện ra ở trước họ, thị hiện đủ thứ thần thông biến hoá, hiện ra các việc kỳ lạ đặc biệt như vậy. Tất cả Bồ Tát cùng với quyến thuộc tụ hội, đến vào thân ta.

 

Bỉ chư Bồ-tát ư ngã phước trung, du hành tự tại, hoặc dĩ tam thiên đại thiên thế giới nhi vi nhất bộ, hoặc dĩ bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát vi trần số thế giới nhi vi nhất bộ.

Chư Bồ-Tát ấy ở trong bụng ta du hành tự-tại: hoặc dùng Ðại-Thiên thế giới làm một bước, nhẫn đến hoặc dùng bất-khả-thuyết bất-khả-thuyết phật-sát vi-trần-số thế giới làm một bước.

Giảng: Các Bồ Tát đó ở trong bụng ta, du hành tự tại, chẳng bị bất cứ sự hạn chế nào. Tại sao? Vì trong bụng ta, lượng lớn như hư không. Hoặc dùng ba ngàn đại thiên thế giới làm một bước. Hoặc dùng các thế giới nhiều như số hạt bụi bất khả thuyết bất khả thuyết cõi Phật làm một bước.

 

Hựu, niệm niệm trung, thập phương bất khả thuyết bất khả thuyết nhất thiết thế giới chư Như Lai sở, Bồ Tát chúng hội, cập Tứ Thiên vương thiên, tam thập tam thiên, nãi chí sắc giới chư phạm thiên vương, dục kiến Bồ Tát xứ thai thần biến, cung kính cúng dường, thính thọ chánh pháp, giai nhập ngã thân. Tuy ngã phước trung tất năng dung thọ như thị chúng hội, nhi thân bất quảng đại diệc bất bách trách; kỳ chư Bồ-tát các kiến tự xứ chúng hội đạo tràng, thanh tịnh nghiêm sức.

Lại trong mỗi niệm, chúng hội Bồ-Tát ở chỗ chư Phật Như-Lai nơi bất-khả-thuyết bất-khả-thuyết tất cả thế-giới mười phương, cùng dục-giới sắc-giới chư Thiện-Vương chư Phạm-Vương vì muốn thấy thần-biến của Bồ-Tát ở trong thai mẹ để cung kính cúng-dường nghe lãnh chánh pháp nên đều đến vào thân của ta. Dầu trong bụng của ta đều có thể dung thọ tất cả chúng-hội như vậy, mà thân ta vẫn không lớn thêm, cũng chẳng chật hẹp. Chư Bồ-Tát và chúng-hội đều tự thấy mình ở đạo-tràng thanh-tịnh nghiêm-sức.

Giảng: Lại ở trong niệm niệm, các Bồ Tát chúng hội trong mười phương bất khả thuyết bất khả thuyết tất cả thế giới, đạo tràng của chư Phật và trời Tứ Thiên Vương, trời Tam Thập Tam, cho đến các cõi trời Phạm Thiên cõi sắc giới, muốn thấy thần biến của Bồ Tát ở trong thai mẹ, để cung kính cúng dường, nghe thọ chánh pháp, đều vào trong thân ta. Tuy trong bụng ta, đều dung thọ được nhiều chúng hội như vậy, mà thân ta cũng chẳng rộng lớn, cũng chẳng nhỏ hẹp. Các Bồ Tát đó đều thấy nơi chúng hội đạo tràng của mình thanh tịnh nghiêm sức.

 

Thiện nam tử! như thử tứ thiên hạ Diêm-phù-đề trung, Bồ Tát thọ sanh, ngã vi kỳ mẫu; tam thiên đại thiên thế giới bách ức tứ thiên hạ Diêm-phù-đề trung, tất diệc như thị.  Nhiên ngã thử thân bản lai vô nhị, phi nhất xứ trụ, phi đa xứ trụ.

Nầy Thiện-nam-tử! Như trong Diêm-Phù-Ðề nầy Bồ-Tát thọ sanh, ta làm mẹ, trong tất cả trăm ức Diêm-Phù-Ðề khắp Ðại-Thiên thế-giới cũng như vậy. Nhưng thân của ta đây bổn lai không hai, chẳng phải ở một xứ, chẳng phải ở nhiều xứ.

Giảng: Thiện nam tử! Như Bồ Tát thọ sinh trong bốn thiên hạ cõi Diêm Phù Đề nầy, ta làm mẹ của Ngài. Trong ba ngàn đại thiên thế giới, trăm ức bốn thiên hạ cõi Diêm Phù Đề, cũng lại như thế. Mà thân ta đây, vốn không hai, chẳng phải ở một nơi, chẳng phải ở nhiều nơi.

 

Hà dĩ cố? dĩ tu Bồ Tát Đại nguyện trí huyễn trang nghiêm giải thoát môn cố.

Tại sao vậy? Vì ta tu môn giải-thoát bồ-tát đại-nguyện trí-huyễn trang-nghiêm.

Giảng: Tại sao vậy? Vì nhờ tu môn giải thoát Bồ Tát đại nguyện trí huyễn trang nghiêm.

 

Thiện nam tử! như kim Thế Tôn, ngã vi kỳ mẫu; vãng tích sở hữu vô lượng chư Phật, tất diệc như thị nhi vi kỳ mẫu. Thiện nam tử! ngã tích tằng tác liên hoa trì Thần, thời hữu Bồ Tát ư liên hoa tạng hốt nhiên hóa sanh, ngã tức phủng trì chiêm thị dưỡng dục, nhất thiết thế gian giai cộng hiệu ngã vi: Bồ Tát mẫu.

Nầy Thiện-nam-tử! Như đức Thế-Tôn hiện nay, ta làm mẹ của Ngài, bao nhiêu chư Phật thuở xưa ta cũng làm mẹ như vậy.

Giảng: Nầy Thiện-nam-tử! Thuở xưa, ta từng làm Thần ao sen. Bấy giờ có Bồ-Tát bỗng nhiên hóa sanh nơi liên-hoa-tạng, ta liền bồng ẵm săn sóc nuôi nấng. Thế-gian gọi ta là mẹ của Bồ-Tát.

Thiện nam tử! Như nay đức Thế Tôn xuất hiện ra đời, ta làm mẹ của Ngài, bao nhiêu chư Phật thuở xưa ta cũng làm mẹ như vậy.

Thiện nam tử! Thuở xưa, hết thảy vô lượng chư Phật xuất hiện ra đời, cũng như vậy, ta cũng từng làm mẹ của các Ngài. Tại sao vậy? Vì ta đã phát đại nguyện nầy.

Thiện nam tử! Xưa kia ta đã từng làm Thần giữ gìn ao sen, lúc đó có vị Bồ Tát, bỗng nhiên hoá sinh trên tạng hoa sen. Ta lập tức ẵm bồng Bồ Tát, săn sóc nuôi dưỡng. Cho nên tất cả mọi người thế gian đều gọi ta là mẹ của Bồ Tát.

 

Hựu, ngã tích vi Bồ-đề trường Thần, thời hữu Bồ Tát ư ngã hoài trung hốt nhiên hóa sanh, thế diệc hiệu ngã vi: Bồ Tát mẫu.

Lại thuở xưa, ta từng làm Thần bồ-đề-tràng. Bấy giờ có Bồ-Tát bỗng nhiên hóa-sanh trong lòng của ta. Người đời ấy cũng gọi ta là mẹ của Bồ-Tát.

Giảng: Lại nữa, thuở xưa khi ta làm Thần giữ gìn bồ đề đạo tràng, thời lúc đó có Bồ Tát, bỗng nhiên hoá sinh trong lòng của ta, cho nên tất cả mọi người thế gian cũng gọi ta là mẹ của Bồ Tát.

 

Thiện nam tử! hữu vô lượng tối hậu thân Bồ Tát, ư thử thế giới chủng chủng phương tiện thị hiện thọ sanh, ngã giai vi mẫu. Thiện nam tử! như thử thế giới hiền kiếp chi trung, quá khứ thế thời, Câu Lưu Tôn Phật, Câu Na Hàm Mâu Ni Phật, Ca-diếp Phật cập kim Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni Phật hiện thọ sanh thời, ngã vi kỳ mẫu.

Nầy Thiện-nam-tử! Có vô-lượng tối-hậu-thân Bồ-Tát phương-tiện thị-hiện thọ sanh nơi thế-giới nầy, ta đều làm mẹ của các Ngài. Nầy Thiện-nam-từ! Như ở thế-giới Ta-Bà nầy, trong kiếp Hiền, quá khứ đức Câu-Lưu-Tôn Phật, đức Câu-Na-Hàm-Mâu-Ni-Phật, đức Ca-Diếp Phật và đức Thích-Ca-Mâu-Ni Phật, hiện nay thị hiện thọ sanh, ta đều làm mẹ

Giảng: Thiện nam tử! Có vô lượng thân Bồ Tát cuối cùng (Bồ Tát sắp thành phật), ở trong thế giới nầy, dùng đủ thứ phương tiện để thị hiện thọ sinh, ta cũng đều làm mẹ của các Ngài.

Thiện nam tử! Như ở trong kiếp Hiền thế giới nầy, có một ngàn vị Phật xuất hiện ra đời. Đời quá khứ, có ba vị Phật xuất hiện ra đời, một là đức Phật Câu Lưu Tôn, hai là đức Phật Câu Na Hàm Mâu Ni, ba là đức Phật Ca Diếp. Hiện tại là đức Phật Thích Ca Mâu Ni, khi hiện thọ sinh, thì ta đều làm mẹ của các Ngài.

 

Vị lai thế trung, Di Lặc Bồ-tát tùng Đâu suất thiên tướng hàng thần thời, phóng đại quang minh phổ chiếu Pháp giới, thị Hiện-Nhất-Thiết chư Bồ-tát chúng thọ sanh thần biến, nãi ư nhân gian sanh Đại tộc gia, điều phục chúng sanh; ngã ư bỉ thời, diệc vi kỳ mẫu.

Đời vị-lai, Dị-Lặc Bồ-Tát từ Thiên-Cung Ðâu-Suất lúc sắp giáng thần phóng đại quang-minh chiếu khắp pháp-giới thị-hiện thấn-biến thọ sanh cùng chúng Bồ-Tát, ta cũng sẽ lảm mẹ.

Giảng: Trong đời vị lai Bồ Tát Di Lặc, Ngài từ nội viện cung trời Đâu Suất, khi sắp hàng thần, phóng đại quang minh, chiếu khắp tận hư không biến pháp giới, thị hiện thọ sinh thần biến tất cả các chúng Bồ Tát, bèn sinh vào nhân gian dòng dõi quý tộc đại phú đại quý, điều phục tất cả chúng sinh, lúc đó ta cũng sẽ làm mẹ của Đương Lai Hạ Sinh Di Lặc Tôn Phật.

 

Như thị thứ đệ, hữu Sư-tử Phật, Pháp-Tràng Phật, thiện nhãn Phật, tịnh hoa Phật, Hoa đức Phật, đề xá Phật, phất sa Phật, thiện ý Phật, Kim Cương Phật, ly cấu Phật, nguyệt quang Phật, trì cự Phật, danh xưng Phật, Kim cương thuẫn Phật, thanh tịnh nghĩa Phật, cám thân Phật, đáo bỉ ngạn Phật, bảo diệm sơn Phật, trì cự Phật, liên hoa đức Phật, danh xưng Phật, vô lượng công đức Phật, tối thắng đăng Phật, trang nghiêm thân Phật, thiện uy nghi Phật, từ đức Phật, vô trụ Phật, Đại uy quang Phật, vô biên âm Phật, thắng oán địch Phật, ly nghi hoặc Phật, thanh tịnh Phật, đại quang Phật, tịnh tâm Phật, vân đức Phật, trang nghiêm đảnh kế Phật, thọ Vương Phật, bảo đang Phật, hải tuệ Phật, diệu bảo Phật, hoa quan Phật, mãn nguyện Phật, đại tự tại Phật, diệu đức Vương Phật, tối tôn thắng Phật, chiên đàn vân Phật, cám nhãn Phật, thắng tuệ Phật, quan sát tuệ Phật, sí thịnh Vương Phật, kiên cố tuệ Phật, tự tại danh Phật, Sư tử Vương Phật, tự tại Phật, tối thắng đảnh Phật,

Kế đó theo thứ tự, có Sư-Tử Phật, Pháp-Tràng Phật, Thiện-Nhãn Phật, Tịnh-Hoa Phật, Hoa-Ðức Phật, Ðề-Xá Phật, Phất-Sa Phật, Thiện-Ý Phật, Kim-Cang Phật, Ly-Cấu Phật, Nguyệt-Quang Phật, Trì-Cự Phật, Danh-Xưng Phật, Kim-Cang-Thuẩn Phật, Thanh-Tịnh-Nghĩa Phật, Cám-Thân Phật, Ðáo-Bỉ-Ngạn Phật, Bửu-Diệm-Sơn Phật, Trì-Minh Phật, Liên-Hoa-Ðức Phật, Danh-Xưng Phật, Vô-Lượng-Công-Ðức Phật, Tối-Thắng-Ðăng Phật, Trang-Nghiêm-Thân Phật, Thiện-Oai-Nghi Phật, Từ-Ðức Phật, Vô-Trụ Phật, Ðại-Oai-Quang Phật, Vô-Biên-Âm Phật,  Thắng-Oán-Ðịch Phật, Ly-Nghi-Hoặc Phật, Thanh-Tịnh Phật, Ðại-Quang Phật, Tịnh-Tâm Phật, Vân-Ðức Phật, Trang-nghiêm-Ðảnh-Kế Phật, Thọ-Vương Phật, Bửu-Ðăng Phật, Hải-Huệ Phật, Diệu-Bửu Phật, Hoa-Quan Phật, Mãn-Nguyện Phật, Ðại-Tự-Tại Phật, Diệu-Ðức-Vương Phật, Tối-Tôn-Thắng Phật, Chiên-Ðàn-Vân Phật, Cám-Nhãn Phật, Thắng-Huệ Phật, Quán-Sát-Huệ Phật, Xí-Thạnh-Vương Phật, Kiên-Cố-Huệ Phật, Tự-Tại-Danh Phật, Sư-Tử-Vương Phật, Tự-Tại Phật, Tối-Thắng-Ðảnh Phật

 

Kim Cương trí sơn Phật, diệu đức tạng Phật, bảo võng nghiêm thân Phật, thiện tuệ Phật, Tự tại Thiên Phật, Đại Thiên Vương Phật, vô y đức Phật, thiện thí Phật, diệm tuệ Phật, Thủy Thiên Phật, đắc thượng vị Phật, xuất sanh vô thượng công đức Phật, Tiên nhân thị vệ Phật, tùy thế ngữ ngôn Phật, công đức tự tại tràng Phật, quang tràng Phật, quán thân Phật, diệu thân Phật, hương diệm Phật, Kim cương bảo nghiêm Phật, hỉ nhãn Phật, ly dục Phật, cao đại thân Phật, tài Thiên Phật, vô thượng Thiên Phật, thuận tịch diệt Phật, trí giác Phật, diệt tham Phật, Đại diệm Vương Phật, tịch chư hữu Phật, tỳ xá khư Thiên Phật, Kim Cương sơn Phật, trí diệm đức Phật, an ổn Phật, sư tử xuất hiện Phật, viên mãn thanh tịnh Phật, thanh tịnh hiền Phật, đệ nhất nghĩa Phật, bách quang minh Phật, tối tăng thượng Phật, thâm tự tại Phật, Đại địa Vương Phật, Trang nghiêm Vương Phật, giải thoát Phật, Diệu-Âm Phật, thù thắng Phật, tự tại Phật, vô thượng y vương Phật, công đức nguyệt Phật, vô ngại quang Phật, công đức tụ Phật, nguyệt hiện Phật, nhật thiên Phật, xuất chư hữu Phật, dũng mãnh danh xưng Phật, quang minh môn Phật, Ta La Vương Phật,

Kim-Cang-Trí-Sơn Phật, Diệu-Ðức-Tạng Phật, Bửu-Võng-Nghiêm-Thân Phật, Thiện-Huệ Phật, Tự-Tại-Thiên Phật, Ðại-Thiên-Vương Phật, Vô-Y-Ðức Phật, Thiện-Thí Phật, Diệm-Huệ Phật, Thủy-Thiên Phật, Ðắc-Thượng-Vị Phật, Xuất-Sanh-Vô-Thượng-Công-Ðức Phật, Tiên-Nhân-Thị-Vệ Phật, Tùy-Thế-Ngữ-Ngôn Phật, Công-Ðức-Tự-Tại-Tràng Phật, Quang-Tràng Phật, Quán-Thân Phật, Diệu-Thân Phật, Hương-Diệm Phật, Kim-Cang-Bửu-Nghiêm Phật, Hỉ-Nhãn Phật, Ly-Dục Phật, Cao-Ðại-Thân Phật, Tài-Thiên Phật, Vô-Thượng-Thiên Phật, Thuận-Tịch-Diệt Phật, Trí-Giác Phật, Diệt-Tham Phật, Ðại-Diệm-Vương Phật, Tịch-Chư-Hữu Phật, Tỳ-Xá-Khư-Thiên Phật, Kim-Cang-Sơn Phật, Trí-Diệm-Ðức Phật, An-Ổn Phật, Sư-Tử-Xuất-Hiện Phật, Viên-Mãn-Thanh-Tịnh Phật, Thanh-Tịnh-Hiền Phật, Ðệ-Nhất-Nghĩa Phật, Bá-Quang-Minh Phật, Tối-Tăng-Thượng Phật, Thâm-Tự-Tại Phật, Ðại-Ðịa-Vương Phật, Trang-Nghiêm-Vương Phật, Giải-Thoát Phật, Diệu-Âm Phật, Thù-Thắng Phật, Tự-Tại Phật, Vô-Thương-Y-Vương Phật, Công-Ðức-Nguyệt Phật, Vô-Ngại-Quang Phật, Công-Ðức-Tụ Phật, Nguyệt-Hiện Phật, Nhựt-Thiên Phật, Xuất-Chư-Hữu Phật, Dũng-Mãnh-Danh-Xưng Phật, Quang-Minh-Môn Phật, Ta-La-Vương Phật

 

Tối thắng Phật, dược Vương Phật, bảo Thắng Phật, Kim Cương tuệ Phật, Vô năng thắng Phật, vô năng ánh tế Phật, chúng hội Vương Phật, Đại danh xưng Phật, mẫn trì Phật, Vô Lượng Quang Phật, đại nguyện quang Phật, pháp tự tại bất hư Phật, bất thoái địa Phật, tịnh thiên Phật, thiện Thiên Phật, kiên cố khổ hạnh Phật, nhất thiết thiện hữu Phật, giải thoát âm Phật, du hí Vương Phật, diệt tà khúc Phật, đảm bặc Tịnh Quang Phật, cụ chúng đức Phật, tối thắng nguyệt Phật, chấp minh cự Phật, thù diệu thân Phật, bất khả thuyết Phật, tối thanh tịnh Phật, hữu an chúng sanh Phật, Vô Lượng Quang Phật, vô úy âm Phật, thủy thiên đức Phật, bất động tuệ quang Phật, hoa Thắng Phật, nguyệt diệm Phật, bất thoái tuệ Phật, ly ái Phật, Vô Trước tuệ Phật, tập công đức uẩn Phật, diệt ác thú Phật, phổ tán hoa Phật, sư tử hống Phật, đệ nhất nghĩa Phật, vô ngại kiến Phật, phá tha quân Phật, bất trước tướng Phật, ly phân biệt hải Phật, đoan nghiêm hải Phật, Tu-di sơn Phật, Vô Trước trí Phật,

Tối-Thắng Phật, Dược-Vương Phật, Bửu-Thắng Phật, Kim-Cang-Huệ Phật, Vô-Năng-Thắng Phật, Vô-Năng-Ánh-Tế Phật, Chúng-Hội-Vương Phật, Ðại-Danh-Xưng Phật, Mẫn-Trì Phật, Vô-Lương-Quang Phật, Ðại-Nguyện-Quang Phật, Pháp-Tự-Tại-Bất-Hư Phật, Bất-Thối-Ðịa Phật, Tịnh-Thiên Phật, Thiện-Sư Phật, Kiên-Cố-Khổ-Hạnh Phật, Nhất-Thiết-Thiện-Hữu Phật, Giải-Thoát-Âm Phật, Du-Hí-Vương Phật, Diệt-Tà-Khúc Phật, Chiêm-Bặc-Tịnh-Quang Phật, Cụ-Chúng-Ðức Phật, Tối-Thắng-Nguyệt Phật, Chấp-Minh-Cự Phật, Thù Diệu-Thân Phật, Bất-Khả-Thuyết Phật, Tối-Thanh-Tịnh Phật, Hữu-An-Chúng-Sanh Phật, Vô-Lượng-Quang Phật, Vô-Úy-Âm Phật, Thủy-Thiên-Ðức Phật, Bất-Ðộng-Huệ-Quang Phật, Hoa-Thắng Phật, Nguyệt-Diêm Phật, Bất-Thối-Huệ Phật, Ly-Ái Phật, Vô-Trước-Huệ Phật, Tập-Công-Ðức-Uẩn Phật, Diệt-Ác-Thú Phật, Phổ-Tán-Hoa Phật, Sư-Tử-Hống Phật, Ðệ-Nhất-Nghĩa Phật, Vô-Ngại-Kiến Phật, Phá-Tha-Quân Phật, Bất-Trước-Tướng Phật, Ly-Phân-Biệt-Hải Phật, Ðoan-Nghiêm-Hải Phật, Tu-Di-Sơn Phật, Vô-Trước-Trí Phật

 

Vô biên tọa Phật, thanh tịnh trụ Phật, tùy sư hạnh Phật, tối thượng thí Phật, thường nguyệt Phật, nhiêu ích Vương Phật, bất động tụ Phật, phổ nhiếp thọ Phật, nhiêu ích tuệ Phật, trì thọ Phật, vô diệt Phật, cụ túc danh xưng Phật, đại uy lực Phật, chủng chủng sắc tướng Phật, vô tướng tuệ Phật, bất động Thiên Phật, diệu đức nan tư Phật, mãn nguyệt Phật, giải thoát nguyệt Phật, vô thượng Vương Phật, hy hữu thân Phật, phạm cúng dường Phật, bất thuấn Phật, thuận tiên cổ Phật, tối thượng nghiệp Phật, thuận Pháp trí Phật, Vô thắng Thiên Phật, bất tư nghị công đức quang Phật, Tuỳ Pháp hành Phật, vô lượng hiền Phật, phổ tùy thuận tự tại Phật, tối tôn Thiên Phật, như thị nãi chí Lâu-chí Như Lai, tại hiền kiếp trung, ư thử tam thiên đại thiên thế giới, đương thành Phật giả, tất vi kỳ mẫu.

Vô-Biên-Toà Phật, Thanh-Tịnh-Trụ Phật, Tùy-Sư-Hành Phật, Tối-Thượng-Thí Phật, Thường-Nguyệt Phật, Nhiêu-Ích-Vương Phật, Bất-Ðộng-Tụ Phật, Phổ-Nhiếp-Thọ Phật, Nhiêu-Ích-Huệ Phật, Trì-Thọ Phật, Vô-Diệt Phật, Cụ-Túc-Danh-Xưng Phật, Ðại-Oai-Lực Phật, Chủng-Chủng-Sắc-Tướng Phật, Vô-Tướng-Huệ Phật, Bất-Ðộng-Thiên Phật, Diệu-Ðức-Nan-Tư Phật, Mãn-Nguyệt Phật, Giải-Thoát-Nguyệt Phật, Vô-Thượng-Vương Phật, Hi-Hữu-Thân Phật, Phạm-Cúng-Dường Phật, Bất-Thuấn Phật, Thuận-Tiên-Cổ Phật, Tối-Thượng-Nghiệp Phật, Thuận-Pháp-Trí Phật, Vô-Thắng-Thiên Phật, Bất-Tư-Nghì-Công-Ðức-Quang Phật, Tùy-Pháp-Hành Phật, Vô-Lượng-Hiền Phật, Phổ-Tùy-Thuận-Tự-Tại Phật, Tối-Tôn-Thiên Phật, nhẫn đến đức Lâu-Chí Như-Lai, tất cả là một ngàn đức Phật đã và sẽ thành Phật trong Hiền-Kiếp nơi Ta-Bà thế-giới nầy, ta đều làm mẹ của các Ngài.

Các đức Phật thứ tự xuất hiện ra đời như vậy, có đức Phật Sư Tử, cho đến đức Phật Lâu Chí. Đưa ra gồm có một trăm chín mươi bốn vị Phật làm đại biểu. Danh hiệu của các vị Phật xin hãy xem Kinh văn, khỏi nói ở đây. Ma Gia phu nhân nói, những vị Phật đó, ở trong kiếp Hiền, sẽ thành Phật trong ba ngàn đại thiên thế giới nầy, ta đều làm mẹ của các Ngài.

 

Như ư thử tam thiên đại thiên thế giới, như thị ư thử thế giới hải thập phương vô lượng chư thế giới nhất thiết kiếp trung, chư hữu tu hành Phổ Hiền hạnh nguyện, vi hóa nhất thiết chư chúng sanh giả, ngã tự kiến thân tất vi kỳ mẫu.

Cũng như ở cõi Ðại-Thiên nầy, vô-lượng thế-giới ở mười phương, trong tất cả kiếp, những bực tu hành hạnh nguyện Phổ-Hiền để hóa độ chúng-sanh, ta đều tự thấy thân mình làm mẹ của các Ngài.

Như trong ba ngàn đại thiên thế giới nầy, trong biển thế giới mười phương vô lượng các thế giới, tất cả kiếp như vậy, như có tu hành hạnh nguyện Bồ Tát Phổ Hiền, vì giáo hoá tất cả các chúng sinh, ta tự thấy thân mình, đều làm mẹ của các Ngài.

 

Nhĩ thời, Thiện tài đồng tử bạch Ma Da Phu nhân ngôn: đại thánh đắc thử giải thoát, Kinh kim kỷ thời?

Lúc đó, Thiện-Tài bạch rằng: Ðại-Thánh được môn giải-thoát nầy đến nay là bao nhiêu thời-gian?

Giảng: Lúc đó, Thiện Tài đồng tử bạch Ma Gia phu nhân rằng: Đức Thánh! Ngài đắc được môn giải thoát Bồ Tát đại nguyện trí huyễn nầy, đến nay đã được bao lâu?

 

Đáp ngôn: Thiện nam tử! nãi vãng cổ thế, qua bất khả tư nghị phi tối hậu thân Bồ Tát thần thông đạo nhãn sở tri kiếp số, Nhĩ thời hữu kiếp danh: Tịnh Quang, thế giới danh: Tu-Di đức, tuy hữu chư sơn ngũ thú tạp cư, nhiên kỳ quốc độ chúng bảo sở thành, thanh tịnh trang nghiêm vô chư uế ác.

Ma-Gia Phu-Nhơn nói: Nầy Thiện-nam-tử! Thuở xưa, quá bất-tư-nghì kiếp số, chẳng phải đạo-nhãn của bực tối-hậu-thân Bồ-Tát biết được, có kiếp tên là Tịnh-Quang, thế-giới tên là Tu-Di-Ðức, dầu là năm loài ở lộn lạo, nhưng cõi đó bằng những chất báu thanh-tịnh trang-nghiêm không có sự nhơ uế xấu xí.

Giảng: Ma Gia phu nhân đáp rằng: Thiện nam tử! Vào thuở xa xưa, trải qua số kiếp không thể nghĩ bàn, chẳng phải thần thông đạo nhãn của Bồ Tát thân cuối cùng biết được số kiếp đó. Lúc bấy giờ, có kiếp tên là Tịnh Quang. Thế giới tên là Tu Di Đức, tuy có các núi cao, là nơi năm loài cùng ở với nhau. Nhưng cõi nước đó, làm bằng các châu báu, rất thanh tịnh trang nghiêm, không có sự dơ bẩn xấu ác.

 

Hữu thiên ức tứ thiên hạ, hữu nhất tứ thiên hạ, danh: Sư-tử-tràng, ư trung hữu bát thập ức vương thành. Hữu nhất vương thành, danh: tự tại tràng; hữu Chuyển luân Vương, danh: đại uy đức.

Cõi đó có ngàn ức Tứ-Thiên-Hạ. Trong đó có một Tứ-Thiên-Hạ tên là Sư-Tử-Tràng. Nơi đây có tám mươi ức Vương-Thành. Có một Vương-Thành tên là Tự-Tại-Tràng, ngự trị bởi Chuyển-Luân-Vương tên là Ðại-Oai-Ðức.

Giảng: Có ngàn ức bốn thiên hạ, có một bốn thiên hạ tên là Sư Tử Tràng. Trong đó có tám mươi ức thành vua, có một thành vua tên là Tự Tại Tràng, có vị Chuyển Luân Thánh Vương, tên là Đại Oai Đức.

 

Bỉ vương thành Bắc, hữu nhất đạo tràng, danh: mãn nguyệt quang minh; kỳ đạo tràng thần, danh viết: từ đức.

Phía bắc Vương-Thành Tự-Tại-Tràng, có một đạo-tràng tên là Mãn-Nguyệt-Quang-Minh. Thần đạo-tràng nầy tên là Từ-Ðức.

Giảng: Hướng bắc thành vua Tự Tại Tràng đó, có một đạo tràng, tên là Mãn Nguyệt Quang Minh, có vị Thần Đạo Tràng, tên là Từ Đức.

 

Thời, hữu Bồ Tát, danh: ly cấu tràng, tọa ư đạo tràng, tướng thành chánh giác. Hữu nhất ác ma, danh: kim sắc quang, dữ kỳ quyến thuộc vô lượng chúng câu, chí Bồ Tát sở.

Bấy giờ có Bồ-Tát tên là Ly-Cấu-Tràng ngồi nơi đạo-tràng nầy thành Ðẳng-Chánh-Giác. Có một ác-ma tên là Kim-Sắc-Quang cùng quyến thuộc vô-lượng chúng câu hội đến chỗ Bồ-Tát.

Giảng: Bấy giờ, có vị Bồ Tát hiệu là Ly Cấu Tràng, ngồi nơi đạo tràng sắp thành Chánh Giác, thì có một ác quỷ, tên là Kim Sắc Quang, cùng với quyến thuộc vô lượng chúng tụ hội, đi đến chỗ đạo tràng Bồ Tát Ly Cấu Tràng, để nhiễm loạn tâm Ngài, chẳng muốn Ngài thành Đẳng Chánh Giác.

 

Bỉ đại uy đức Chuyển luân Thánh Vương dĩ đắc Bồ Tát thần thông tự tại, hóa tác binh chúng, kỳ số bội đa, vi nhiễu đạo tràng; chư ma hoàng phố, tất tự bôn tán; cố bỉ Bồ Tát đắc thành A-nậu-đa-la tam-miệu-tam Bồ-đề.

Chuyển-Luân-Vương Ðại-Oai-Ðức đã được bồ-tát thần-thông tự-tại, biến hóa binh chúng đông hơn quân ma bao vây đạo-tràng. Quân ma sợ hãi tự tan rã. Do đó Bồ-Tát Ly-Cấu-Tràng thành Vô-Thượng Chánh-Giác.

Giảng: Vị Chuyển Luân Thánh Vương Đại Oai Đức đó, đã đắc được thần thông tự tại của Bồ Tát, có thể biến hoá ra vô lượng binh chúng, số nhiều gấp bội hơn chúng ma, vây quanh đạo tràng, giữ gìn vị Bồ Tát Ly Cấu Tràng. Ác ma Kim Sắc Quang và quyến thuộc của chúng đều kinh hoàng sợ hãi, tự động tan rã bỏ chạy. Lúc đó, Bồ Tát Ly Cấu Tràng đó chứng được thành tựu quả vị Phật A nậu đa la tam miệu tam bồ đề (Chánh Đẳng Chánh Giác).

 

Thời, đạo tràng thần kiến thị sự dĩ, hoan hỉ vô lượng, tiện ư bỉ Vương nhi sanh tử tưởng, đảnh lễ Phật túc, tác thị nguyện ngôn: thử Chuyển luân Vương, tại tại sanh xứ, nãi chí thành Phật, nguyện ngã thường đắc dữ kỳ vi mẫu.

Thần đạo-tràng thấy sự việc trên đây, lòng hoan hỉ vô-lượng, với Chuyển-Luân-Vương tưởng là con trai của mình, đối trước Phật pháp nguyện rằng: Chuyển-Luân-Vương nầy chẳng luận sanh chỗ nào, nguyện tôi đều làm mẹ của Vương, nhẫn đến đời Vương thành Phật cũng vậy.

Giảng: Lúc đó, vị Thần Đạo Tràng Từ Đức thấy việc đó rồi, sinh tâm hoan hỉ vô lượng, bèn nghĩ tưởng vị Chuyển Luân Thánh Vương Đại Oai Đức đó là con của mình. Bèn đảnh lễ đức Phật, phát nguyện rằng: Tương lai vị Chuyển Luân Thánh Vương nầy sinh ở chỗ nào, cho đến khi thành Phật, nguyện cho tôi thường được làm mẹ của Ngài.

 

Tác thị nguyện dĩ, ư thử đạo tràng, phục tằng cúng dường thập na-do-tha Phật.

Sau khi phát nguyện, nơi đạo-tràng ấy, Thần lại từng cúng dường mười na-do-tha đức Phật.

Giảng: Phát nguyện đó rồi, ở nơi đạo tràng đó, lại từng cúng dường mười Na do tha vị Phật.

 

Thiện nam tử! ư nhữ ý vân hà, bỉ đạo tràng thần khởi dị nhân hồ? Ngã thân thị dã. Chuyển luân Vương giả, kim Thế Tôn Tỳ Lô Giá Na thị.

Nầy Thiện-nam-tử! Thuở xưa ấy, Thần đạo-tràng tên Từ-Ðức chính là tiền thân của ta. Chuyển-Luân-Vương Ðại-Oai-Ðức là tiền thân của đức Tỳ-Lô-Giá-Na Như-Lai.

Giảng: Thiện nam tử! Ý ngươi như thế nào? Vị Thần Đạo Tràng đó đâu phải là người nào khác, chính là thân ta (Ma Gia phu nhân) vậy. Còn vị Chuyển Luân Thánh Vương đó, đâu phải là ai khác, nay chính là đức Thế Tôn Tỳ Lô Giá Na (Phật Thích Ca Mâu Ni) vậy.

 

Ngã tùng ư bỉ phát nguyện dĩ lai, thử Phật Thế tôn, ư thập phương sát nhất thiết chư thú, xứ xứ thọ sanh, chủng chư thiện căn, tu Bồ Tát hạnh, giáo hóa thành tựu nhất thiết chúng sanh, nãi chí thị hiện trụ tối hậu thân, niệm niệm phổ ư nhất thiết thế giới, thị hiện Bồ Tát thọ sanh thần biến, thường vi ngã tử, ngã thường vi mẫu.

Từ lúc ta phát nguyện thuở xưa ấy, đức Tỳ-Lô-Giá-Na Như-Lai phàm thọ sanh ở xứ nào cõi nào tu bồ-tát hạnh gieo thiện-căn giáo-hóa chúng-sanh, nhẫn đến thị-hiện tối-hậu-thân, mỗi niệm khắp tất cả thế-giới, thị-hiện thần-biến bồ-tát thọ sanh, thường làm con trai của ta, ta thường làm mẹ của Ngài.

Giảng: Ma Gia phu nhân nói: Từ đó ta phát nguyện đến nay, đức Phật Thế Tôn nầy, ở trong mười phương cõi nước, tất cả các loài, nơi nơi thọ sinh. Tại sao? Vì thị hiện ra loài đó, thì mới có thể giáo hoá loài chúng sinh đó. Bởi nhân duyên đó, cho nên thị hiện chúng sinh thai, noãn, thấp hoá. Bất cứ trong loài nào, cũng đều trồng tất cả căn lành, tu tất cả Bồ Tát hạnh, giáo hoá chúng sinh chín pháp giới, thành tựu chúng sinh chín pháp giới, cho đến thị hiện trụ thân cuối cùng, tức là thân sắp thành Phật. Niệm niệm khắp trong tất cả thế giới, thị hiện Bồ Tát thọ sinh thần biến, thường làm con của ta, ta thường làm mẹ của Ngài.

 

Thiện nam tử! quá khứ, hiện tại thập phương thế giới vô lượng chư Phật tướng thành Phật thời, giai ư tề trung phóng đại quang minh, lai chiếu ngã thân cập ngã sở trụ cung điện ốc trạch; bỉ tối hậu sanh, ngã tất vi mẫu.

Nầy Thiện-nam-tử! Quá-khứ và hiện-tại thập phương thế-giới, vô-lượng chư Phật lúc sắp thành Ðẳng-Chánh-Giác, đều từ nơi rốn phóng đại-quang-minh chiếu đến thân ta và cung-diện của ta ở tối-hâu-thân của các Ngài, ta đều làm mẹ.

Giảng: Thiện nam tử! Quá khứ, hiện tại, mười phương thế giới, có vô lượng chư Phật lúc sắp thành Phật, ở nơi rốn của các Ngài đều phóng đại quang minh, để chiếu đến thân ta và cung điện nhà cửa chỗ của ta ở. Cho đến thân cuối cùng của các Ngài, ta đều làm mẹ của các Ngài.

 

Thiện nam tử! ngã duy tri thử Bồ Tát Đại nguyện trí huyễn giải thoát môn.

Nầy Thiện-nam-tử! Ta chỉ biết môn giải-thoát bồ-tát đại-nguyện-trí-huyễn nầy.

Giảng: Thiện nam tử! Ta chỉ biết môn giải thoát Bồ Tát đại nguyện trí huyễn nầy, những môn giải thoát khác không thể biết được.

 

Như chư Bồ-Tát Ma-ha-tát, cụ đại bi tạng, giáo hóa chúng sanh thường Vô yếm túc, dĩ tự tại lực, nhất nhất mao khổng thị hiện vô lượng chư Phật thần biến; ngã kim vân hà năng tri năng thuyết bỉ công đức hạnh?

Như chư đại Bồ-Tát có đủ tạng đại-bi giáo-hóa chúng-sanh thường không nhàm đủ, dùng sức tự-tại mỗi mỗi lỗ lông thị-hiện thần-biến của vô lượng chư Phật. Ta thế nào biết được nói được công-đức-hạnh ấy.

Giảng: Như các đại Bồ Tát đủ đại bi tạng, để giáo hoá tất cả chúng sinh, thường không khi nào nhàm đủ. Dùng sức nhậm vận tự tại, trong mỗi mỗi lỗ chân lông, thị hiện vô lượng thần biến của chư Phật. Nay ta làm sao biết được, nói được, những hạnh công đức đó?

 

Thiện nam tử! ư thử thế giới tam thập tam thiên, hữu Vương danh: chánh niệm, kỳ Vương hữu nữ danh: Thiên Chủ quang.

Nầy Thiện-nam-tử! Ở thế-giới nầy, nơi Ðao-Lợi-Thiên, có Thiên-Vương tên là Chánh-Niệm. Thiên-Vương có người con gái tên là Thiện Chủ-Quang.

Giảng: Thiện nam tử! Tại cõi trời Tam Thập Tam (trời Đao Lợi) thế giới Ta Bà nầy, có vị Thiên Vương tên là Chánh Niệm. Vị Thiên Vương đó có người con gái, tên là Thiên Chủ Quang.

 

Nhữ nghệ bỉ vấn: Bồ Tát vân hà học Bồ Tát hạnh, tu Bồ Tát đạo? thời, Thiện tài đồng tử kính thọ kỳ giáo, đầu diện tác lễ, nhiễu vô số tạp, luyến mộ chiêm ngưỡng, khước hành nhi thoái.

Ngươi đến đó hỏi Bồ-Tát thế nào học bồ-tát-hạnh, tu bồ-tát-đạo? Thiện-Tài Ðồng-Tử kỉnh lễ nơi chân Ma-Gia Phu-Nhơn, hữu nhiễu vô số vòng, luyến mộ chiêm ngưỡng từ tạ mà đi.

Giảng: Ngươi hãy đến đó hỏi cô ta: Thánh nữ, Bồ Tát làm thế nào học Bồ Tát hạnh, làm thế nào tu Bồ Tát đạo? Cô ta sẽ nói rõ cho ngươi biết. Lúc đó, Thiện Tài đồng tử cung kính thọ nhận lời dạy của Ma Gia phu nhân, bèn cuối đầu làm lễ, rồi đi nhiễu quanh bên phải vô lượng vòng, ái mộ chiêm ngưỡng, từ tạ mà đi đến cõi trời tham vấn Thánh nữ Thiên Chủ Quang, thỉnh giáo vấn đề muốn biết.

 

=============================

42. CÔ GÁI THIÊN CHỦ QUANG
HỘI DUYÊN VÀO THẬT TƯỚNG

Thiên Chủ Quang là bi trí thắng dụng, quang tịnh tự tại, nghĩa là phá tối. Thánh nữ Thiên Chủ Quang ở cõi trời Tam Thập Tam, tức là cõi trời Đạo Lợi, Ma Gia phu nhân bỏ hoá chỗ sinh thiên vậy, liền biết Ma Gia phu nhân chẳng phải một mình ở cõi trời. Nên Phổ Kinh có nói rằng, ở thành Ca Tỳ La vậy.

 

Toại vãng Thiên cung, kiến bỉ Thiên nữ, lễ túc vi nhiễu, hợp chưởng tiền trụ, bạch ngôn: Thánh Giả! ngã dĩ tiên phát a nậu đa la tam miệu tam Bồ-Đề tâm, nhi vị tri Bồ Tát vân hà học Bồ Tát hạnh? vân hà tu Bồ Tát đạo?

Thiện-Tài đến Thiên-Cung Ðao-Lợi, đảnh lễ Thiên-Nữ Thiên-Chủ-Quang, hữu nhiễu cung kính, chắp tay thưa rằng: Ðại-Thánh! Tôi đã phát tâm vô-thượng bồ-đề mà chưa biết Bồ-Tát thế nào học bồ-tát-hạnh, thế nào tu bồ-tát-đạo?

Giảng: Thiện Tài đồng tử chiếu theo sự chỉ thị của Ma Gia phu nhân, đi đến cung trời Tam Thập Tam, thấy vị Thánh nữ Thiên Chủ Quang đó, bèn đảnh lễ, đi nhiễu quanh bên phải vô số vòng, chắp tay cung kính, đứng ở trước vị Thánh nữ bạch rằng: Bạch đức Thánh! Con từ trước đã phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, mà chưa biết Bồ Tát làm thế nào học Bồ Tát hạnh? Làm thế nào tu Bồ Tát đạo?

 

Ngã văn Thánh Giả thiện năng dụ hối, nguyện vi ngã thuyết!

Tôi nghe Ðại-Thánh khéo có thể dạy bảo, xin chỉ dạy cho.

Giảng: Con nghe Ma Gia phu nhân giới thiệu, nói đức Thánh khéo chỉ dạy chúng sinh, cho nên xin Ngài hãy vì con mà nói nghĩa lý nầy.

 

Thiên nữ đáp ngôn: Thiện nam tử! ngã đắc Bồ Tát giải thoát, danh: vô ngại niệm thanh tịnh trang nghiêm.

Thiện-Nữ nói: Nầy Thiện-nam-tử! Ta được bồ-tát giải-thoát-môn tên là vô-ngại-niệm thanh-tịnh trang-nghiêm.

Giảng: Thánh nữ Thiên Chủ Quang đáp rằng: Thiện nam tử! Ta đắc được giải thoát tam muội Bồ Tát, tên là Vô Ngại Niệm Thanh Tịnh Trang Nghiêm (dùng một niệm vô ngại trí, quán khắp ba đời, đều hiện rõ, mà không có quá khứ, vị lai, hiện tại. Không lìa niệm khác, vì niệm thanh tịnh. Niệm Phật công đức, có ích bi trí, nên gọi là trang nghiêm).

 

Thiện nam tử! ngã dĩ thử giải thoát lực, ức niệm quá khứ, hữu tối thắng kiếp, danh: thanh liên hoa. Ngã ư bỉ kiếp trung, cúng dường hằng-hà sa-số chư Phật Như Lai.

Nầy Thiện-nam-tử! Ta ở nơi thế-lực của môn giải-thoát nầy, ghi nhớ quá-khứ có một kiếp tên là thanh-liên-hoa. Trong kiếp đó, ta cúng-dường hằng-hà-sa-số chư Phật Như-Lai.

Giảng: Thiện nam tử! Ta nhờ sức giải thoát nầy, mà nghĩ nhớ lại quá khứ có kiếp tối thù thắng, tên là Thanh Liên Hoa. Ta ở trong kiếp đó, cúng dường chư Phật Như Lai nhiều như số cát sông Hằng.

 

Bỉ chư Như Lai, tòng sơ xuất gia, ngã giai chiêm phụng, thủ hộ cúng dường, tạo tăng già lam, doanh biện thập vật.

Chư Như-Lai ấy từ khi mới xuất gia, ta đều săn sóc kính thờ kiến tạo tăng-già-lam, sắm sửa vật dụng.

Giảng: Các đức Như Lai đó, từ lúc ban đầu xuất gia, ta đều thờ phụng, hộ trì cúng dường các Ngài. Lại vì các Ngài tạo Tăng già lam (chỗ ở của chư Tăng), lại vì các Ngài sắm sửa tất cả vật dụng cần dùng.

 

Hựu, bỉ chư Phật tùng vi Bồ-tát trụ mẫu thai thời, đản sanh chi thời, hành thất bộ thời, Đại sư tử hống thời, trụ Đồng tử vị tại cung trung thời, hướng Bồ-đề thụ thành chánh giác thời, chuyển chánh Pháp luân hiện Phật thần biến giáo hóa điều phục chúng sanh chi thời; như thị nhất thiết chư sở tác sự, tùng sơ phát tâm nãi chí Pháp tận, ngã giai minh ức, vô hữu di dư, thường hiện tại tiền, niệm trì bất vong.

Lại lúc chư Phật ấy làm Bồ-Tát ở thai mẹ, lúc đản-sanh, lúc đi bảy bước, lúc đại sư-tử-hống, lúc làm đồng-tử ở tại cung, lúc đến cội bồ-đề thành Ðẳng-Chánh-Giác, lúc chuyển pháp-luân hiện thần-biến giáo-hóa điều phục chúng-sanh, tất cả sự việc nhẫn đến pháp-tận, ta đều ghi nhớ rõ không sai sót.

Giảng: Lại nữa chư Phật đó, từ lúc làm Bồ Tát ở trong thai mẹ, lúc đản sinh, lúc đi bảy bước, lúc đại sư tử hống, lúc còn nhỏ ở trong cung, lúc hướng về cội bồ đề thành Chánh Giác, lúc chuyển bánh xe pháp, lúc thị hiện Phật thần biến, lúc giáo hoá điều phục chúng sinh, tất cả những việc làm như vậy, từ lúc ban đầu phát tâm, cho đến lúc pháp diệt tận, ta đều nhớ rõ ràng, không có sót thừa, những cảnh giới đó thường hiện ra ở trước, nhớ trì không quên mất.

 

Hựu, ức quá khứ kiếp, danh: thiện địa, ngã ư bỉ cúng dường thập hằng-hà sa-số chư Phật Như Lai;

Ta lại nhớ kiếp quá-khứ tên là Thiện-Ðịa, trong kiếp ấy ta cúng-dường mười hằng-hà-sa-số chư Phật Nhu-Lai.

Giảng: Ta lại nhớ kiếp quá khứ tên là Thiện Địa, ta ở trong kiếp đó, từng cúng dường chư Phật Như Lai, nhiều như số hạt bụi mười sông Hằng.

 

Hựu, quá khứ kiếp danh vi: diệu đức, ngã ư bỉ cúng dường nhất Phật thế giới vi trần số chư Phật Như Lai;

Ta lại nhớ kiếp quá-khứ tên là Diệu-Ðức, trong kiếp ấy ta cúng-dường một phật-sát vi-trần-số chư Phật Như-Lai.

Giảng: Ta lại nghĩ nhớ kiếp quá khứ tên là Diệu Đức, ta ở trong kiếp đó, cúng dường chư Phật Như Lai, nhiều như số hạt bụi một Phật thế giới.

 

Hựu, kiếp danh: vô sở đắc, ngã ư bỉ cúng dường bát thập tứ ức bách thiên na-do-tha chư Phật như lai;

Ta lại nhớ kiếp quá-khứ tên là Vô-Sở-Ðắc, trong kiếp ấy ta cúng-dường tám mươi bốn ức trăm ngàn na-do-tha chư Phật Như-Lai.

Giảng: Ta lại nhớ kiếp quá khứ tên là Vô Sở Đắc, ta ở trong kiếp đó, cúng dường tám mươi bốn ức trăm ngàn Na do tha chư Phật Như Lai.

 

Hựu, kiếp danh: thiện quang, ngã ư bỉ cúng dường Diêm-phù-đề vi trần số chư Phật Như Lai;

Ta lại nhớ kiếp quá-khứ tên là Thiện-Quang trong kiếp ấy ta cúng-dường diêm-phù-đề vi-trần-số chư Phật Như-Lai.

Giảng: Ta lại nhớ kiếp quá khứ tên là Thiện Quang, ta ở trong kiếp đó, cúng dường chư Phật Như Lai, nhiều như số hạt bụi cõi Diêm Phù Đề.

 

Hựu, kiếp danh: Vô Lượng Quang, ngã ư bỉ cúng dường nhị thập hằng-hà sa-số chư Phật Như Lai;

Ta lại nhớ kiếp quá-khứ tên là Vô-Lượng-Quang, trong kiếp ấy ta cúng-dường hai mươi hằng-hà-sa-số chư Phật Như-Lai.

Giảng: Ta lại nhớ kiếp quá khứ tên là Vô Lượng Quang, ta ở trong kiếp đó, cúng dường chư Phật Như Lai, nhiều như cát hai mươi sông Hằng.

 

Hựu, kiếp danh: tối thắng đức, ngã ư bỉ cúng dường nhất hằng hà sa số chư Phật Như Lai;

Ta lại nhớ kiếp quá-khứ tên là Tối-Thắng-Ðức, trong kiếp ấy ta cúng-dường một hằng-hà-sa-số chư Phật Như-Lai.

Giảng: Ta lại nhớ kiếp quá khứ tên là Tối Thắng Đức, ta ở trong kiếp đó, cúng dường chư Phật Như Lai, nhiều như số cát một sông Hằng.

 

Hựu, kiếp danh: thiện bi, ngã ư bỉ cúng dường bát thập hằng-hà sa-số chư Phật Như Lai;

Ta lại nhớ kiếp quá-khứ tên là Thiện-Bi, trong kiếp ấy ta cúng-dường tám mươi hằng-hà-sa-số chư Phật Như-Lai.

Giảng: Ta lại nhớ kiếp quá khứ tên là Thiện Bi, ta ở trong kiếp đó, cúng dường chư Phật Như Lai, nhiều như số cát tám mươi sông Hằng.

 

Hựu, kiếp danh: thắng du, ngã ư bỉ cúng dường lục thập hằng-hà sa-số chư Phật Như Lai;

Ta lại nhớ kiếp quá-khứ tên là Thắng-Du, trong kiếp ấy ta cúng-dường sáu mươi hằng-hà-sa-số chư Phật Như-Lai.

Giảng: Ta lại nhớ kiếp quá khứ tên là Thắng Du, ta ở trong kiếp đó, cúng dường chư Phật Như Lai, nhiều như số cát sáu mươi sông Hằng.

 

Hựu, kiếp danh: diệu nguyệt, ngã ư bỉ cúng dường thất thập hằng-hà sa-số chư Phật Như Lai.

Ta lại nhớ kiếp quá-khứ tên là Diệu-Nguyệt, trong kiếp ấy ta cúng-dường bảy mươi hằng-hà-sa-số chư Phật Như-Lai.

Giảng: Ta lại nhớ kiếp quá khứ tên là Diệu Nguyệt, ta ở trong kiếp đó, cúng dường chư Phật Như Lai, nhiều như số cát bảy mươi sông Hằng.

 

Thiện nam tử! như thị ức niệm hằng hà sa kiếp, ngã thường bất xả chư Phật Như Lai, ưng, chánh đẳng giác, tòng bỉ nhất thiết chư Như Lai sở, văn thử vô ngại niệm thanh tịnh trang nghiêm Bồ Tát giải thoát, thọ trì tu hành hằng bất vong thất.

Nầy Thiện-nam-tử! Ghi nhớ quá-khứ hằng-hà-sa-số kiếp như vậy, ta thường chẳng bỏ rời chư Phật Như-Lai Chánh-Ðẳng-Giác. Ở chỗ chư Như-Lai như vậy ta nghe môn giải-thoát bồ-tát vô-ngại-niệm thanh-tịnh trang-nghiêm nầy thọ trì tu hành hằng chẳng quên mất.

Giảng: Thiện nam tử! Ta nghĩ nhớ số kiếp nhiều như số cát sông Hằng như vậy, ta thường gần gũi chư Phật, cúng dường chư Phật, không bỏ chư Phật Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác. Ta ở chỗ đạo tràng của tất cả các Như Lai đó, nghe được pháp môn giải thoát Bồ Tát vô ngại niệm thanh tịnh trang nghiêm rồi, thọ trì pháp môn đó, tu hành pháp môn đó, luôn không quên mất.

Giống như chúng ta tu trì 42 thủ nhãn, phải thọ trì mỗi ngày, không thể gián đoạn. Mỗi ngày tu trì pháp nầy thì thọ trì. Tu trì pháp nầy, thì đừng khởi vọng tưởng, chuyên tâm nhất chí, tức là tu hành. Vĩnh viễn không quên mất, tức đắc được lợi ích của pháp, có công đức không thể nghĩ bàn, diệu không thể tả.

 

Như thị, tiên kiếp sở hữu Như Lai, tòng sơ Bồ Tát, nãi chí Pháp tận, nhất thiết sở tác, ngã dĩ tịnh nghiêm giải thoát chi lực, giai tùy ức niệm, minh liễu hiện tiền, trì nhi thuận hành, tằng vô giải phế.

Những kiếp trước như vậy có bao nhiêu đức Như-Lai từ sơ Bồ-Tát nhẫn đến pháp tận, tất cả sự việc của chư Phật đã làm, ta dùng sức giải-thoát thanh-tịnh trang-nghiêm, đều ghi nhớ rõ ràng như hiện trước mắt, và ta giữ gìn tùy thuận tuân hành từng không bỏ phế.

Giảng: Thánh nữ Thiên Chủ Quang nói: Những kiếp trước kia nhiều như số cát sông Hằng như vậy, trong mỗi kiếp, có bất khả thuyết bất khả thuyết chư Phật Như Lai. Các Ngài từ lúc ban đầu phát tâm bồ đề, cho đến lúc Phật pháp diệt hết (thời đại mạt pháp), tất cả hết thảy những việc làm, ta nhờ sức giải thoát Tịnh trang nghiêm, đều tuỳ theo sự nghĩ nhớ, thấu rõ pháp của các Ngài nói, thảy đều hiện tiền. Ta y pháp tu hành, chưa từng khi nào lười biếng phế bỏ.

 

Thiện nam tử! ngã duy tri thử vô ngại niệm thanh tịnh giải thoát.

Nầy Thiện-nam-tử! Ta chỉ biết môn giải-thoát vô-ngại-niệm thanh-tịnh trang-nghiêm nầy.

Giảng: Thiện nam tử! Ta chỉ biết pháp môn giải thoát Vô ngại niệm thanh tịnh trang nghiêm nầy.

 

Như chư Bồ-Tát Ma-ha-tát, xuất sanh tử dạ lãng nhiên minh triệt, vĩnh ly si minh vị thường hôn mị, tâm vô chư cái, thân hành khinh an, ư chư pháp tánh thanh tịnh giác liễu, thành tựu thập lực khai ngộ quần sanh; nhi ngã vân hà năng tri năng thuyết bỉ công đức hạnh?

Như chư đại Bồ-Tát ra khỏi đêm sanh tử, sáng suốt rời hẳn si tối, chưa từng mê ngủ, tâm không bị che chướng, thân luôn khinh an, thanh tịnh biết rõ các pháp-tánh, thành tựu thập-lực khai ngộ quần sanh. Ta thế nào biết được nói được công-đức-hạnh đó.

Giảng: Như nói về các đại Bồ Tát đã thoát khỏi đêm dài sinh tử, sáng suốt thấu rõ tỏ ngộ, vĩnh lìa ngu si đen tối, chưa từng mê ngủ, tâm không bị năm cái che chướng, thân luôn nhẹ nhàng, tức là chẳng có chút phiền não nào. Năm cái tức là:
1. Tham dục cái.
2. Sân khuể cái.
3. Thuỳ miên cái.
4. Trạo hối cái.
5. Nghi pháp cái.

Đối với tự tánh của tất cả các pháp, vừa thanh tịnh, vừa tỏ ngộ. Thành tựu mười lực của Phật:
1. Trí lực tri giác xứ phi xứ.
2. Trí lực biết nghiệp báo ba đời.
3. Trí lực biết các thiền giải thoát tam muội.
4. Trí lực biết các căn thắng liệt.
5. Trí lực biết đủ thử sự hiểu biết.
6. Trí lực biết đủ thứ cõi.
7. Trí lực biết tất cả chí xứ đạo.
8. Trí lực biết thiên nhãn vô ngại.
9. Trí lực biết túc mạng vô ngại.
10. Trí lực biết vĩnh đoạn tập khí.

Khiến cho tất cả chúng sinh đều được khai ngộ, đắc được đại trí huệ. Đối với những pháp môn nầy, mà ta làm sao biết được, nói được, những hạnh công đức đó!

 

Thiện nam tử! Ca-tỳ la thành hữu Đồng tử sư, danh viết: Biến hữu.

Nầy Thiện-nam-tử! Thành Ca-Tỳ-La có Ðồng-Tử-Sư tên là Biến-Hữu.

Giảng: Thiện nam tử! Ở trong thành Ca Tỳ La có vị sư phụ đồng tử, tên là Biến Hữu.

 

Nhữ nghệ bỉ vấn: Bồ Tát vân hà học Bồ Tát hạnh, tu Bồ Tát đạo? thời, Thiện tài đồng tử dĩ văn Pháp cố, hoan hỉ dũng dược, bất tư nghị thiện căn tự nhiên tăng quảng; đảnh lễ kỳ túc, nhiễu vô số tạp, từ thoái nhi khứ.

Ngươi đến đó hỏi Bồ-Tát thế nào học bồ-tát-hạnh, tu bồ-tát-đạo. Nhờ nghe pháp, Thiện-Tài vui mừng hớn hở thiện-căn bất-tư-nghì tự-nhiên thêm lớn rộng, bèn đảnh lễ nơi chân Thiên-Nữ Thiên-Chủ-Quang, hữu nhiễu vô-số vòng từ tạ mà đi.

Giảng: Ngươi đến đó hỏi: Bồ Tát làm thế nào học Bồ Tát hạnh? Làm thế nào tu Bồ Tát đạo?

Lúc đó, Thiện Tài đồng tử nhờ sự nghe pháp, nên hoan hỉ nhảy nhót vui mừng, căn lành không nghĩ bàn của Ngài, tự nhiên tăng thêm rộng lớn. Thiện Tài đảnh lễ Thánh nữ Thiên Chủ Quang, đi nhiễu quanh bên phải vô lượng vòng, rồi từ tạ Thánh nữ mà đi. Bèn từ cung trời trở về nhân gian, đi đến thành Ca Tỳ La để thưa hỏi đồng tử sư Biến Hữu.

 

==========================

43. ĐỒNG TỬ SƯ BIẾN HỮU
HỘI DUYÊN VÀO THẬT TƯỚNG

Tùng Thiên cung hạ, tiệm hướng bỉ thành. Chí biến hữu sở, lễ túc vi nhiễu, hợp chưởng cung kính, ư nhất diện lập, bạch ngôn: Thánh Giả! ngã dĩ tiên phát a nậu đa la tam miệu tam Bồ-Đề tâm, nhi vị tri Bồ Tát vân hà học Bồ Tát hạnh? vân hà tu Bồ Tát đạo?

Thiện-Tài từ Thiên-Cung xuống đi lần đến thành Ca-Tỳ-La chỗ của Biến-Hữu đảnh lễ hữu-nhiễu, đứng chắp tay cung kính thưa rằng: Ðại-Thánh! Tôi đã phát tâm vô-thượng bồ-đề, mà chưa biết Bồ-Tát thế nào học bồ-tát-hạnh, thế nào tu bồ-tát-đạo?

Giảng: Thiện Tài đồng tử từ cung trời Tam Thập Tam trở về nhân gian, đi từ từ đến thành Ca Tỳ La, đến chỗ vị Biến Hữu đảnh lễ, đi nhiễu quanh bên phải vô số vòng, rồi chắp tay cung kính, đứng về một bên, bạch với vị Biến Hữu rằng: Đức Thánh! Con trước đã phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, mà chưa biết Bồ Tát làm thế nào học Bồ Tát hạnh? Làm thế nào tu Bồ Tát đạo?

 

Ngã văn Thánh Giả thiện năng dụ hối, nguyện vi ngã thuyết! biến hữu đáp ngôn: Thiện nam tử! thử hữu Đồng tử, danh: thiện tri chúng nghệ, học Bồ Tát tự trí. Nhữ khả vấn chi, đương vi nhữ.

Tôi nghe Ðại-Thánh khéo dạy bảo, xin chỉ dạy cho. Biến-Hữu nói: Nầy Thiện-nam-tử! Nơi đây có Ðồng-Tử tên là Thiện-Tri-Chúng-Nghệ-Học-Bồ-Tát-Tự-Trí, ngươi nên đến hỏi. Thiện-Tài vâng lời đến đảnh lễ đồng-tử, cung kính thưa rằng:

Giảng: Con nghe đức Thánh khéo chỉ dạy tất cả chúng sinh, xin đức Thánh từ bi, hãy vì con mà nói đạo lý nầy. Vị Biến Hữu đáp rằng: Thiện nam tử! Ở nơi đây có vị đồng tử, tên là Thiện Tri Chúng Nghệ, học Bồ Tát tự trí. Ngươi đi đến đó hỏi Ngài, vị đó sẽ vì ngươi nói tỉ mỉ. Thiện Tài đồng tử đảnh lễ từ tạ mà đi, tìm thưa hỏi vị thiện tri thức khác.

==============================

44. THIỆN TRI CHÚNG NGHỆ ĐỒNG TỬ
HỘI DUYÊN VÀO THẬT TƯỚNG

Vị đồng tử nầy rất thông minh, có đại trí huệ. Đối với tất cả nghề nghiệp, túc mạng, âm nhạc, kỹ nghệ .v.v… không học mà biết, không thầy mà tự thông. Có thể nói tinh thông mọi thứ, đã đạt đến cảnh giới tận thiện tận mỹ, cho nên gọi Thiện Tri Chúng Nghệ đồng tử. Đồng tử là sự hy vọng xuất gia tu đạo, nương theo chỗ Tỳ Kheo mà ở, nên gọi là đồng tử. Bồ Tát là Pháp Vương tử của Như Lai, nên gọi là đồng tử. Giống như Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi gọi là Văn Thù Sư Lợi đồng tử. Lại lấy niệm không dâm dục, nghĩa giống như đồng tử thế gian.

 

Nhĩ thời, Thiện Tài tức chí kỳ sở, đầu đính lễ kính, ư nhất diện lập, bạch ngôn: Thánh Giả! ngã dĩ tiên phát a nậu đa la tam miệu tam Bồ-Đề tâm, nhi vị tri Bồ Tát vân hà học Bồ Tát hạnh? vân hà tu Bồ Tát đạo? ngã văn Thánh Giả thiện năng dụ hối, nguyện vi ngã thuyết!

Bấy giờ, Thiện Tài liền đi đến chỗ vị Thiện Tri Chúng Nghệ đồng tử, đảnh lễ cung kính, đứng về một bên, bạch rằng: Đức Thánh! Con trước đã phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, mà chưa biết Bồ Tát làm thế nào học Bồ Tát hạnh? Làm thế nào tu Bồ Tát đạo? Con nghe đức Thánh khéo chỉ dạy, xin hãy vì con mà nói.

Giảng: Lúc đó, Thiện Tài đồng tử liền đến chỗ Thiện Tri Chúng Nghệ đồng tử, đảnh lễ cung kính chắp tay, đứng về một bên, hướng về Thiện Tri Chúng Nghệ đồng tử bạch rằng: Đức Thánh! Con trước đã phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, mà chưa biết Bồ Tát làm thế nào học Bồ Tát hạnh? Làm thế nào tu Bồ Tát đạo? Con nghe đức Thánh khéo chỉ bảo dạy dỗ tất cả chúng sinh, cho nên xin đức Thánh hãy từ bi vì con mà nói đạo lý nầy.

 

Thời, bỉ Đồng tử cáo Thiện Tài ngôn: Thiện nam tử! ngã đắc Bồ Tát giải thoát, danh: thiện tri chúng nghệ.

Ðồng-Tử nói: Nầy Thiện-nam-tử! Ta được bồ-tát giải-thoát-môn tên là thiện-tri-chúng-nghệ.

Giảng: Lúc đó, Thiện Tri Chúng Nghệ đồng tử bảo Thiện Tài đồng tử rằng: Thiện nam tử! Ta chứng đắc được Bồ Tát giải thoát tam muội, tên là Thiện tri chúng nghệ. Dùng trí huệ vô ngại, vì cùng tận kỹ nghệ thế gian.

 

Ngã hằng xướng trì thử chi tự mẫu:

Ta hằng xướng trì những tự-mẫu nầy:

Giảng: Thiện Tri Chúng Nghệ nói: Ta luôn luôn xướng niệm tu trì bốn mươi hai tự mẫu Hoa Nghiêm. Trong Trí Luận có nói: “Các Đà La Ni đều từ phân biệt lời mà sinh ra. Bốn mươi hai tự (chữ) là căn bản của tất cả chữ. Do chữ mà có lời, do lời mà có tên, do tên mà có nghĩa. Nếu Bồ Tát nghe chữ, cho đến hiểu nghĩa. Chữ đó bắt đầu chữ A sau Đà, trong có bốn mươi, đắc được chữ Đà La Ni đó, thì thành tựu được nhiều lợi ích”.

Xướng niệm 42 tự mẫu Hoa Nghiêm, có lợi ích gì? Có sự diệu dụng vô cùng tận, có thể tiêu trừ tội nghiệp hết sạch, sức lực không thể nghĩ bàn. Tóm lại, có nghĩ cũng nghĩ không đến được, có nói cũng nói không ra, cho nên nói không thể nghĩ bàn. Vậy, tu trì như thế nào? Trong Du Già Nghĩa Quy Sớ Sao có nói rằng: “Ai muốn sớm vào một thừa, thì tu tập quán thân Tỳ Lô Giá Na Như Lai. Trước hết nên phát khởi hạnh nguyện vi diệu của Bồ Tát Phổ Hiền. Còn phải dùng ba mật gia trì thân tâm. Liền có thể ngộ nhập biển đại trí huệ của Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi. Sau đó người tu hành, trước hết ở chỗ vắng vẻ, nhiếp niệm an tâm, nhắm mắt ngồi kiết già ngay ngắn, vận tâm duyên khắp vô biên biển cõi, quán sát kỹ càng tất cả Như Lai ba đời, ở trước khắp mỗi vị Phật Bồ Tát, ân cần cung kính, lễ bái đi nhiễu quanh.

Lại dùng đủ thứ biển mây đồ cúng dường, dâng cúng tất cả các Thánh chúng như vậy, cúng dường rộng lớn rồi, lại phải quán tâm mình. Tâm vốn không sinh, tự tánh thành tựu. Quang minh chiếu khắp như hư không. Lại phải khởi tâm bi thâm sâu, thương xót chúng sinh, chẳng ngộ tâm mình, luân hồi các loài. Tôi sẽ giáo hoá cứu độ khắp, khiến cho họ khai ngộ hết không sót thừa. Lại phải quán sát tâm mình, tâm các chúng sinh, và tâm chư Phật, vốn không có gì khác biệt, bình đẳng một tướng, thành đại bồ đề tâm. Trong suốt thanh tịnh, rộng lớn khắp cùng. Tròn sáng trong sạch, thành vầng mặt trăng lớn. Lượng đồng hư không, chẳng có bờ mé.

Lại ở trong mặt trăng, bày bố 42 chữ Phạn vòng về bên phải, thảy đều sắc vàng ròng, phóng đại quang minh, chiếu sáng mười phương, phân minh hiển hiện. Trong mỗi quang minh, có đủ vô lượng biển cõi. Mỗi mỗi biển cõi, có vô lượng chư Phật. Mỗi mỗi chư Phật, có vô lượng Thánh chúng, vây quanh trước sau. Ngồi bồ đề tràng, thành Đẳng Chánh Giác. Trí vào ba đời, thân khắp mười phương. Chuyển đại pháp luân, độ thoát tất cả chúng sinh. Đều khiến cho họ hiện chứng vô trụ Niết Bàn. Lại phải ngộ nhập môn Bát Nhã Ba La Mật 42 chữ, thấu rõ tất cả pháp đều không chỗ đắc. Quán pháp giới thảy đều bình đẳng, không có sự khác biệt. Người tu Du Già, nếu có thể quán hành tương ưng với Đà La Ni, thì lập tức hiện chứng được trí thân Tỳ Lô Giá Na Như Lai. Ở trong chư Phật, đắc được không chướng ngại”.

42 chữ, đều nói nhập vào môn Bát Nhã Ba La Mật. Bát Nhã dịch là trí huệ. Ba La Mật dịch là đến bờ kia. Dùng từ chữ vào môn vô tướng, cho nên chữ nghĩa làm môn. Vì dùng ngộ để hiển nghĩa, đều nói không thể đắc được trí, không chỗ đắc tức là Bát Nhã.

Trong Kinh Văn Thù Ngũ Tự có nói rằng: Thọ trì Đà la ni nầy, liền nhập vào tất cả pháp bình đẳng, sớm được thành tựu Ma Ha Bát Nhã. Chỉ tụng một biến, giống như trì tám vạn bốn ngàn tạng Tu đa la, tức là tạng Kinh.

Văn Thù Ngũ Tự Tâm Chú tức là: A, Đa, Ba, Giả, Na. Dùng chữ A vì pháp vốn không sinh, chữ Na không có tánh tướng. Dùng chữ Na vì không có tánh tướng, chữ Giả không có các hạnh. Dùng chữ Giả vì không có các hạnh, chữ Ba không có đệ nhất nghĩa. Dùng chữ Ba vì không có đệ nhất nghĩa, chữ Đa không có trần cấu nghĩa. Dùng chữ Đa vì không có trần cấu nghĩa, chữ A pháp vốn không sinh.

 

Xướng A tự thời, nhập Bát-nhã Ba-la-mật môn, danh: dĩ Bồ Tát uy lực nhập vô sái biệt cảnh giới;

Lúc xướng chữ A, thời nhập bát-nhã ba-la-mật-môn tên là bồ-tát-oai-lực nhập vô-sai-biệt cảnh-giới.

Giảng: 1. Ý nghĩa chữ A là vô sinh. Dùng lý vô sinh, thống lý vạn pháp, cho nên nói không khác biệt. Bồ Tát đắc được vô sinh nầy, liền thông đạt các pháp không, dứt tất cả chướng, cho nên là oai lực.

Trong Trí Luận có nói rằng: Chữ nầy là môn thật tướng, liền hiển ba thứ Bát Nhã, chẳng lìa bỏ nhau, tự tức văn tự Bát Nhã. Nhập vào môn Bát Nhã Ba La Mật, tức quán chiếu Bát Nhã, ngộ chẳng sinh, tức thật tướng Bát Nhã.

 

Xướng ĐA tự thời, nhập Bát-nhã Ba-la-mật môn, danh: vô biên sái biệt môn;

Lúc xướng chữ ÐA, thời nhập bát-nhã ba-la-mật-môn tên là vô-biên-sai-biệt-môn.

Giảng: 2. Chữ Đa nghĩa là thanh tịnh không nhiễm, lìa khỏi trần cấu. Trong Kim Cang Đỉnh có nói rằng: Vì như như bất khả đắc. Như tức là vô biên sai biệt, nên như bất khả đắc. Chữ Đa, còn là chữ La. Trong Niết Bàn có nói rằng: Chữ La, có thể hoại tham sân si, nói pháp chân thật, cũng có nghĩa hoại trần cấu.

 

Xướng BA tự thời, nhập Bát-nhã Ba-la-mật môn, danh: phổ chiếu Pháp giới;

Lúc xướng chữ BA, thời nhập bát-nhã ba-la-mật-môn tên là phổ-chiếu-pháp-giới.

Giảng: 3. Chữ Ba, trong Ngũ Tự Kinh có nói rằng: Cũng không có đệ nhất nghĩa đế, các pháp bình đẳng, tức là chân tục cả hai đều mất, là chân pháp giới. Các pháp bình đẳng, là chiếu khắp. Chữ La còn là chữ Bả. Trong Kim Cang Đỉnh có nói rằng: Bả, đệ nhất nghĩa bất khả đắc, liền đủ tướng Bát Nhã.

 

Xướng GIẢ tự thời, nhập Bát-nhã Ba-la-mật môn, danh: phổ luân đoạn sái biệt;

Lúc xướng chữ GIẢ, thời nhập bát-nhã ba-la-mật-môn tên là phổ-luân-đoạn-sai-biệt.

Giảng: 4. Chữ Giả, là các pháp không có các hạnh. Là các hạnh tức không, nên khắp thôi sai biệt. Kim cang luân hay đoạn trừ tất cả phiền não của chúng sinh. Chữ Giả còn là chữ Già. Trong Niết Bàn có nói rằng: Già, tức là nghĩa tu. Vì điều phục tất cả các chúng sinh, mà hạnh xuất thế cũng bất khả đắc, mới là môn Bát Nhã vậy.

 

Xướng NA tự thời, nhập Bát-nhã Ba-la-mật môn, danh: đắc vô y vô thượng;

Lúc xướng chữ NA, thời nhập bát-nhã ba-la-mật-môn tên là đắc-vô-y-vô-thượng.

Giảng: 5. Chữ Na, là các pháp không có tánh tướng. Lới nói văn tự đều bất khả đắc. Là tánh tướng cả hai đều mất, nên không chỗ nương. Năng sở cả hai đều mất, gọi là vô thượng. Ở trên là Văn Thù Ngũ Tự Tâm Chú, ở trong Năng Quy Quán Tâm có nói rằng: Ông biết là quan trọng, nên quán tâm nầy. Bổn lai thanh tịnh, không nhiễm, không chấp, lìa khỏi phân biệt cái ta và của ta.

 

Xướng LÃ tự thời, nhập Bát-nhã Ba-la-mật môn, danh: ly y chỉ vô cấu;

Lúc xướng chữ LÃ, thời nhập bát-nhã ba-la-mật-môn tên là y-chỉ-vô-cấu.

Giảng: 6. Chữ La, có thể ngộ tất cả pháp, vì lìa khỏi duyên của thế gian, vì chi ái nhân duyên vĩnh viễn chẳng hiện, lìa khỏi thế gian nên không nương tựa, vì ái chẳng hiện nên không dơ bẩn.

 

Xướng ÐẢ (khinh hô )tự thời, nhập Bát-nhã Ba-la-mật môn, danh: Bất-thoái-chuyển phương tiện;

Lúc xướng chữ ÐẢ, thời nhập bát-nhã ba-la-mật-môn tên là bất-thối-chuyển-phương-tiện.

Giảng: 7. Chữ Đả, có thể ngộ tất cả pháp, điều phục tịch tĩnh, chân như bình đẳng. Vì không phân biệt, mới không thối chuyển phương tiện. Chữ Đả còn là chữ Na. Trong Trí Luận có nói rằng: Nếu nghe được chữ Đả, thì biết tướng tất cả pháp thiện.

 

Xướng BÀ (bồ ngã thiết )tự thời, nhập Bát-nhã Ba-la-mật môn, danh: Kim cương trường;

Lúc xướng chữ BÀ, thời nhập bát-nhã ba-la-mật-môn tên là kim-cang-tràng.

Giảng: 8. Chữ Bà, có thể tất cả pháp, vì lìa khỏi duyên buộc giải, mới nhập vào kim cang tràng. Đức Phật nhập vào kim cang tam muội, dứt hoặc như kim cang. Tại kim cang tràng, đắc được không buộc giải, là thật dứt vậy.

 

Xướng ÐỒ (đồ giải thiết )tự thời, nhập Bát-nhã Ba-la-mật môn, danh viết: phổ luân;

Lúc xướng chữ ÐỒ, thời nhập bát-nhã ba-la-mật-môn tên là nhật-phổ-luân.

Giảng: 9. Chữ Đồ, có thể ngộ tất cả pháp, lìa nóng kiêu bẩn, vì đắc được sự mát mẻ, là phổ thôi nghĩa. Trong Trí Luận có nói rằng: Nếu nghe chư Đồ, thì liền biết các pháp chẳng nóng, chẳng nóng tức được mát mẻ, mới là tướng Bát Nhã.

 

Xướng SA (sử ngã thiết )tự thời, nhập Bát-nhã Ba-la-mật môn, danh vi: hải tạng;

Lúc xướng chữ SA, thời nhập bát-nhã ba-la-mật-môn tên là hải-tạng.

Giảng: 10. Chữ Sa, có thể ngộ tất cả pháp, vì không quái ngại, giống như biển dung chứa. Giống như nước với nhau, vì chẳng ngại nhau.

 

Xướng PHƯỢC (phòng khả thiết )tự thời, nhập Bát-nhã Ba-la-mật môn, danh: phổ sanh an trụ;

Lúc xướng chữ PHƯỢC, thời nhập bát-nhã ba-la-mật-môn tên là phổ-sanh-an-trụ.

Giảng: 11. Chữ Phược, có thể ngộ tất cả pháp, vì lời nói đã bặc, nên có thể khắp an trụ. Trong Trí Luân có nói rằng: Nếu nghe đến chư Phược, thì biết tất cả pháp lìa tướng lời nói.

 

Xướng ĐÁ (đô ngã thiết )tự thời, nhập Bát-nhã Ba-la-mật môn, danh: viên mãn quang;

Lúc xướng chữ ÐÁ, thời nhập bát-nhã ba-la-mật-môn tên là viên-mãn-quang.

Giảng: 12. Chữ Đá, có thể ngộ tất cả pháp, vì chân như bất động, bất động liền viên mãn phát quang. Trong trí luận có nói rằng: Nếu nghe chữ Đá thì liền biết các pháp ở trong như bất động.

 

Xướng DÃ (dĩ khả thiết )tự thời, nhập Bát-nhã Ba-la-mật môn, danh: sái biệt tích tụ;

Lúc xướng chữ DÃ, thời nhập bát-nhã ba-la-mật-môn tên là sai-biệt-tích-tụ.

Giảng: 13. Chữ Dã, có thể ngộ tất cả pháp, vì chân thật chẳng sinh, tức các thừa sai biệt tích tụ, đều bất khả đắc. Trong trí luận có nói rằng: Nếu nghe chữ Dã, liền biết các pháp vào trong thật tướng, chẳng sinh, chẳng diệt. Chữ Dã còn là chữ Dạ.

 

Xướng SẮC-TRA tự thời, nhập Bát-nhã Ba-la-mật môn, danh: phổ quang minh tức phiền não;

Lúc xướng chữ SẮC-TRA, thời nhập bát-nhã ba-la-mật-môn tên là phổ-quang-minh-tức-phiền-não.

Giảng: 14. Chữ Sắc Tra, có thể ngộ tất cả pháp, vì chế phục tướng nhậm trì bất khả đắc. Phổ quang minh tức hay chế phục nhậm trì, phiền não tức sở chế phục. “Tức” nghĩa là phục. Trong trí luận có nói rằng: Nếu nghe chữ Sắc Tra, liền biết tất cả pháp tướng không chướng ngại.

 

Xướng CA tự thời, nhập Bát-nhã Ba-la-mật môn, danh: vô sái biệt vân;

Lúc xướng chữ CA, thời nhập bát-nhã ba-la-mật-môn tên là Vô-sai-biệt-vân.

Giảng: 15. Chữ Ca, có thể ngộ tất cả pháp, vì kẻ làm bất khả đắc, thì nghiệp làm như mây, đều không khác biệt. Trong trí luận có nói rằng: Nếu nghe chữ Ca, thì liền biết trong các pháp không có kẻ làm.

 

Xướng SA (tô ngã thiết )tự thời, nhập Bát-nhã Ba-la-mật môn, danh: hàng chú đại vũ;

Lúc xướng chữ SA, thời nhập bát-nhã ba-la-mật-môn tên là giáng-chú-đại-vũ.

Giảng: 16. Chữ Sa, có thể ngộ tất cả pháp, tức thời tánh bình đẳng, bất khả đắc. Trong trí luận có nói rằng: Nếu nghe chữ Sa, thì biết tất cả pháp tất cả mọi thứ bất khả đắc. Trong Niết Bàn có nói rằng: Sa, vì các chúng sinh diễn nói chánh pháp. Ý sáng chủng trí đúng thời mà nói, vì cũng bất khả đắc. Nay Kinh tên Giáng chú đại vũ vậy.

 

Xướng MẠ tự thời, nhập Bát-nhã Ba-la-mật môn, danh: Đại lưu thoan kích chúng phong tề trì;

Lúc xướng chữ MẠ, thời nhập bát-nhã ba-la-mật-môn tên là đại-lưu-thoan-khích-chúng-phong-tề-trĩ.

Giảng: 17. Chữ Ma, có thể ngộ tất cả pháp, ngã sở chấp tánh bất khả đắc. Đại lưu là ngã mạn tức sinh tử chảy mãi. Nước chảy xiết mau lẹ, ngã mạn cao vời. Nếu các đỉnh núi đứng trơ trọi, vì đều do ngã sở chấp. Trong trí luận có nói rằng: Nếu nghe chữ Ma, nghĩa là biết tất cả pháp lìa ngã sở.

 

Xướng GIÀ (thượng thanh khinh hô )tự thời, nhập Bát-nhã Ba-la-mật môn, danh: phổ an lập;

Lúc xướng chữ GIÀ, thời nhập môn bát-nhã ba-la-mật  tên là phổ-an-lập.

Giảng: 18. Chữ Già, có thể ngộ tất cả pháp, vì hạnh thủ tánh bất khả đắc. Lời an lập, vì dùng hạnh thủ mà có thể an lập. Trong trí luận có nói rằng: Nếu nghe chữ Già, thì liền biết đáy tất cả pháp bất khả đắc.

 

Xướng THA (tha khả thiết )tự thời, nhập Bát-nhã Ba-la-mật môn, danh: chân như bình đẳng tạng;

Lúc xướng chữ THA, thời  nhập môn bát-nhã ba-la-mật tên là chơn-như-bình-đẳng-tạng.

Giảng: 19. Chữ Tha, có thể ngộ tất cả pháp, vì tánh xứ sở bất khả đắc. Dùng chân như bình đẳng, là xứ sở chỗ nương của tất cả pháp. Trong trí luận có nói rằng: Nếu nghe chữ Tha, thì liền biết bốn câu như pháp bất khả đắc. Như pháp tức là xứ sở, vì như pháp thời pháp.

 

Xướng XÃ tự thời, nhập Bát-nhã Ba-la-mật môn, danh: nhập thế gian hải thanh tịnh;

Lúc xướng chữ XÃ, thời nhập môn bát-nhã ba-la-mật tên là nhập-thế-gian-hải-thanh-tịnh.

Giảng: 20. Chữ Xã, tức ngộ tất cả pháp, chỗ sinh khởi bất khả đắc. Dùng có năng, có sở, vì là biển thế gian. Chữ Xã còn là chữ Xà. Trong Trí Luận có nói rằng: Nếu nghe chữ Xà, liền biết các pháp sinh tử bất khả đắc.

 

Xướng TOẢ tự thời, nhập Bát-nhã Ba-la-mật môn, danh: niệm nhất thiết Phật trang nghiêm;

Lúc xướng chữ TOẢ, thời nhập môn bát-nhã ba-la-mật tên là niệm-nhứt-thiết-phật-trang-nghiêm.

Giảng: 21. Chữ Toả, tức ngộ tất cả pháp, tánh an ổn bất khả đắc. Dùng niệm Phật trang nghiêm, vì an ổn nhất. Chữ Toả còn là chữ Bà Phược, còn là chữ Thấp Ba. Trong Trí Luận có nói rằng: Nếu nghe chữ Thấp Ba, liền biết tất cả pháp bất khả đắc, như Thấp Ba bất khả đắc, chữ Thấp Ba nghĩa không khác biệt. Mà trong Quang Tán có nói rằng: Không chỗ khởi. Không chỗ khởi, tức nghĩa an ổn.

 

Xướng ÐÀ tự thời, nhập Bát-nhã Ba-la-mật môn, danh: quan sát giản trạch nhất thiết pháp tụ;

Lúc xướng chữ ÐÀ, thời nhập môn bát-nhã ba-la-mật tên là quán-sát-giản-trạch-nhất-thiết-pháp-tụ.

Giảng: 22. Chữ Đá còn là chữ Đà, tức ngộ tất cả pháp, tánh trì giới bất khả đắc. Dùng giản pháp tụ, vì liền có thể trì giới tánh. Trong Trí Luận có nói rằng: Nếu nghe chữ Đà, thì biết tánh tất cả pháp bất khả đắc.

 

Xướng XA (thi hà thiết )tự thời, nhập Bát-nhã Ba-la-mật môn, danh: tùy thuận nhất thiết Phật giáo luân quang minh;

Lúc xướng chữ XA, thời nhập môn bát-nhã ba-la-mật tên là tùy-thuận-nhất-thiết-phật-giáo-luân-quang-minh.

Giảng: 23. Chữ Xa, tức ngộ tất cả pháp, tánh tịch tĩnh bất khả đắc. Vì dùng tịch tĩnh thì thuận Phật giáo. Trong Trí Luận có nói rằng: Nếu nghe chữ Xa, liền biết tướng tịch diệt của chư Phật.

 

Xướng KHƯ tự thời, nhập Bát-nhã Ba-la-mật môn, danh: tu nhân địa trí tuệ tạng;

Lúc xướng chữ KHƯ, thời nhập môn bát-nhã ba-la-mật tên là tu-nhơn-địa-trí-huệ-tạng.

Giảng: 24. Chữ Khư, tức ngộ tất cả pháp, tánh như hư không bất khả đắc. Nhờ trí huệ như hư không, nên có thể dung chứa. Chữ Khư còn là chữ Khứ. Trong Trí Luận có nói rằng: Nếu nghe chữ Khứ, thì biết tất cả pháp, đồng với hư không bất khả đắc.

 

Xướng XOA (sở ngã thiết )tự thời, nhập Bát-nhã Ba-la-mật môn, danh: tức chư nghiệp hải tạng;

Lúc xướng chữ XOA, thời nhập môn bát-nhã ba-la-mật tên là tức-chư-nghiệp-hải-tạng.

Giảng: 25. Chữ Xoa, tức ngộ tất cả pháp, tánh hết bất khả đắc. Do đó biển nghiệp sâu rộng, đều bao dung hết, cho nên tên là tạng. Trong Trí Luận có nói rằng: Nếu nghe chữ Xoa, liền biết hết tất cả pháp bất khả đắc.

 

Xướng SA (tô hột thiết ) ÐA (thượng thanh hô )tự thời, nhập Bát-nhã Ba-la-mật môn, danh: quyên chư hoặc chướng khai Tịnh Quang minh;

Lúc xướng chữ SA-ÐA, thời nhập môn bát-nhã ba-la-mật tên là quyên-chư-hoặc-chướng-khai-tịnh-quang-minh.

Giảng: 26. Chữ Sa Đa, tức ngộ tất cả pháp, nhậm trì nơi xứ chẳng phải xứ, khiến tánh bất động bất khả đắc. Dùng hoặc chướng làm chẳng phải xứ. Khai tĩnh quang minh làm xứ sở. Ở đây dùng lìa chướng chân không làm xứ như thật. Trong Trí Luận có nói rằng: Nếu nghe chữ Đa, liền biết bờ mé các pháp bất khả đắc.

 

Xướng NHƯƠNG tự thời, nhập Bát-nhã Ba-la-mật môn, danh: tác thế gian trí tuệ môn;

Lúc xướng chữ NHƯƠNG, thời nhập môn bát-nhã ba-la-mật tên là tác-thế-gian-trí-huệ-môn.

Giảng: 27. Chữ Nhưỡng, lối khác dịch là chữ Nương, tức ngộ tất cả pháp, biết được tánh bất khả đắc. Năng biết là trí huệ, sở biết là cửa. Chữ Nhưỡng còn là chữ Nhược. Trong Trí Luận có nói rằng: Nếu nghe chữ Nhược, liền biết trong tất cả pháp không có tướng trí.

 

Xướng HẠT-LÃ-ÐA (thượng thanh )tự thời, nhập Bát-nhã Ba-la-mật môn, danh: sanh tử cảnh giới trí tuệ luân;

Lúc xướng chữ HẠT-LÃ-ÐA, thời nhập môn bát-nhã ba-la-mật tên là sanh-tử-cảnh-giới-trí-huệ-luân.

Giảng: 28. Chữ Hạt Lã Đa, tức ngộ tất cả pháp, chấp trước nghĩa tánh bất khả đắc. Do đó chấp trước là cảnh sinh tử, nghĩa tức trí huệ luân. Dùng chấp trước sinh tử là sở quán cảnh của trí huệ. Chữ Hạt Lã Đa còn là chữ Tha. Trong Trí Luận có nói rằng: Nếu nghe chữ Tha, liền biết nghĩa tất cả pháp bất khả đắc.

 

Xướng BÀ (bồ ngã thiết )tự thời, nhập Bát-nhã Ba-la-mật môn, danh: nhất thiết trí cung điện viên mãn trang nghiêm;

Lúc xướng chữ BÀ, thời nhập môn bát-nhã ba-la-mật tên là nhất-thiết-trí-cung-điện-viên-mãn-trang-nghiêm.

Giảng: 29. Chữ Ba, tức ngộ tất cả pháp, tánh có thể phá hoại bất khả đắc. Lời viên mãn. Tam Tạng Pháp Sư Bất Không dịch là đạo tràng. Do đó, cung điện đạo tràng, trang nghiêm theo duyên, nên có thể phá hoại, tức chẳng phải trang nghiêm, nên bất khả đắc. Cho nên đó nói rằng: Khi đọc chữ Ba, thì nhập vào môn Bát Nhã Ba La Mật nhất thiết cung điện đạo tràng trang nghiêm. Trong Trí Luận có nói rằng: Nếu nghe chữ Ba, thì biết rõ tướng phá hoại tất cả pháp bất khả đắc.

 

Xướng XA (thượng thanh hô )tự thời, nhập Bát-nhã Ba-la-mật môn, danh: tu hành phương tiện tạng các biệt viên mãn

Lúc xướng chữ XA, thời nhập môn bát-nhã ba-la-mật tên là tu-hành-phương-tiện-tạng-các-biệt-viên-mãn.

Giảng: 30. Chữ Xa, lối khác dịch là Tha. Tức ngộ tất cả pháp, tánh che đậy dục lạc bất khả đắc. Tức phương tiện tuỳ hỉ lạc, nên các biệt viên mãn. Tức che đậy bất khả đắc. Trong Trí Luận có nói rằng: Nếu nghe chữ Xa, liền biết tất cả pháp không chỗ đi.

 

Xướng SA (tô hột thiết )MA tự thời, nhập Bát-nhã Ba-la-mật môn, danh: tùy thập phương hiện kiến chư Phật;

Lúc xướng chữ SA-MẠ, thời nhập môn bát-nhã ba-la-mật tên là tùy-thập-phương-hiện-kiến-chư-phật.

Giảng: 31. Chữ Sa Ma, tức ngộ tất cả pháp, tánh có thể nghĩ nhớ bất khả đắc. Chữ Sa Ma còn là chữ Thấp Đạm. Trong Trí Luận có nói rằng: Nếu nghe chữ Thấp Đạm, liền biết nghĩa các pháp kiên cố như kim cang.

 

Xướng HA-BÀ (nhị tự giai thượng thanh hô )tự thời, nhập Bát-nhã Ba-la-mật môn, danh: quan sát nhất thiết vô duyên chúng sanh phương tiện nhiếp thọ lệnh xuất sanh vô ngại lực;

Lúc xướng chữ HA-BÀ, thời nhập môn bát-nhã ba-la-mật tên là quán-sát nhất-thiết vô-duyên chúng-sanh phương-tiện nhiếp-thọ linh xuất-sanh vô-ngại-lực.

Giảng: 32. Chữ Ha Bà, lối khác dịch là chữ Ha Phược. Tức ngộ tất cả pháp, tánh có thể hô chiêu bất khả đắc. Do đó vì vô duyên chiêu khiến cho hữu duyên. Trong Trí Luận có nói rằng: Nếu nghe chữ Hoả, liền biết tất cả pháp không âm thanh.

 

Xướng THA (thất khả thiết )tự thời, nhập Bát-nhã Ba-la-mật môn, danh: tu hành thú nhập nhất thiết công đức hải;

Lúc xướng chữ THA, thời nhập môn bát-nhã ba-la-mật tên là tu-hành-xu-nhập-nhất-thiết-công-đức-hải.

Giảng: 33. Chữ Tha, tức ngộ tất cả pháp, tánh dũng kiện bất khả đắc, dùng dũng kiện mới có thể tu nhập công đức. Trong Trí Luận có nói rằng: Nếu nghe chữ Tha, liền biết tất cả pháp không sẻn, không thí.

 

Xướng GIÀ (thượng thanh hô )tự thời, nhập Bát-nhã Ba-la-mật môn, danh: trì nhất thiết pháp vân kiên cố hải tạng;

Lúc xướng chữ GIÀ, thời nhập môn bát-nhã ba-la-mật tên là trì-nhất thiết-pháp-vân-kiên-cố-hải-tạng.

Giảng: 34. Chữ Già, tức ngộ tất cả pháp, tánh dày bình đẳng bất khả đắc. Do đó dày như đất, có thể giữ gìn bình đẳng. Cũng có thể dung chứa, như biển bình đẳng, có thể bao mây mưa thuyết pháp, dùng bất khả đắc, nên có thể giữ gìn, có thể dung chứa. Trong Trí Luận có nói rằng: Nếu nghe chữ Già, liền biết các pháp không dày, không mỏng.

 

Xướng TRA tự thời, nhập Bát-nhã Ba-la-mật môn, danh: tùy nguyện phổ kiến thập phương chư Phật;

Lúc xướng chữ TRA, thời nhập môn bát-nhã ba-la-mật tên là tùy-nguyện-phổ-kiến-thập-phương-chư-Phật.

Giảng: 35. Chữ Tra, lối khác dịch là chữ Sá. Tức ngộ tất cả pháp, tánh tích tập bất khả đắc. Do đó tích tập niệm Phật, nên có thể thấy khắp. Chữ Tra còn là chữ Tha. Trong Trí Luận có nói rằng: Nếu nghe chữ Tha, liền biết tất cả pháp không chỗ trụ.

 

Xướng NÃ (nãi khả thiết )tự thời, nhập Bát-nhã Ba-la-mật môn, danh: quan sát tự luân hữu vô tận chư ức tự;

Lúc xướng chữ NÃ, thời nhập môn bát-nhã ba-la-mật tên là quán-sát tự-luân hữu vô-tận chư ức tự.

Giảng: 36. Chữ Nã, lối khác dịch là chữ Ninh. Tức ngộ tất cả pháp, lìa các sự kiện cãi. Không vãng lai, tánh đi đứng nằm ngồi bất khả đắc. Do đó dùng thường quán tự luân, vì biết chúng sinh không, pháp không.  Trong Trí Luận có nói rằng: Nếu nghe chữ Nã, liền biết tất cả pháp và chúng sinh không đi, không đến, chẳng sinh, chẳng diệt, chẳng ngồi, chẳng nằm, chẳng đứng, chẳng dậy, chúng sinh không, pháp không.

 

Xướng SA (tô hột thiết ) PHÃ tự thời, nhập Bát-nhã Ba-la-mật môn, danh: hóa chúng sanh cứu cánh xứ;

Lúc xướng chữ SA-PHÃ, thời nhập môn bát-nhã ba-la-mật tên là hóa-chúng-sanh-cứu-cánh-xứ.

Giảng: 37. Chữ Sa Phã, tức ngộ tất cả pháp, đầy khắp quả báo bất khả đắc. Do đó hoá sinh cứu kính, mới đầy khắp quả báo. Nhân quả đều không, mới viên mãn. Chữ Sa Phã còn là chữ Phã. Trong Trí Luận có nói rằng: Nếu nghe chữ Phã, liền biết tất cả pháp nhân quả đều không.

 

Xướng SA (đồng tiền âm ) CA tự thời, nhập Bát-nhã Ba-la-mật môn, danh: quảng đại tạng vô ngại biện quang minh luân biến chiếu;

Lúc xướng chữ SA-CA, thời nhập môn bát-nhã ba-la-mật tên là quảng-đại-tạng-vô-ngại-biện-quang-minh-luân-biến-chiếu.

Giảng: 38. Chữ Sa Ca, lối khác dịch là chữ Tắc Ca. Tức ngộ tất cả pháp, tánh tích tụ uẩn bất khả đắc. Do đó uẩn tích làm tạng rộng lớn. Quang luân vô ngại sở tích uẩn vậy. Trong Trí Luận có nói rằng: Nếu nghe chữ Ca, liền biết tất cả pháp năm chúng bất khả đắc. Năm chúng tức là sắc thọ tưởng hành thức năm uẩn vậy.

 

Xướng DÃ (di khả thiết ) TA (tô khả thiết )tự thời, nhập Bát-nhã Ba-la-mật môn, danh: tuyên thuyết nhất thiết Phật Pháp cảnh giới;

Lúc xướng chữ DÃ-TA, thời nhập môn bát-nhã ba-la-mật tên là tuyên-thuyết nhất-thiết-phật-pháp cảnh-giới.

Giảng: 39. Chữ Dã Sa, ức ngộ tất cả pháp, tánh tướng suy già bất khả đắc. Do đó tánh suy già tức cảnh giới Phật pháp. Trong Trí Luận có nói rằng: Nếu nghe chữ Tha, liền biết chữ Tha là không, các pháp cũng thế, cũng là không.

 

Xướng THẤT giả tự thời, nhập Bát-nhã Ba-la-mật môn, danh: ư nhất thiết chúng sanh giới pháp lôi biến hống;

Lúc xướng chữ THẤT, thời nhập môn bát-nhã ba-la-mật tên là nhất-thiết chúng-sanh-giới pháp-lôi biến-hống.

Giảng: 40. Chữ Thất Giả, lối khác dịch là Thất Tả. Tức ngộ tất cả pháp, dấu chân tích tụ bất khả đắc. Do đó tích tụ tức tất cả chúng sinh. Pháp lôi tức là dấu chân. Chân tức là năng đi, do đi mà có dấu, dấu là sở đi. Pháp lôi, pháp hống, tức pháp đi vậy. Trong Trí Luận có nói rằng: Nếu nghe chữ Giá, liền biết nghĩa tất cả pháp tướng bất động.

 

Xướng SÁ (sỉ gia thiết )tự thời, nhập Bát-nhã Ba-la-mật môn, danh: dĩ vô ngã Pháp khai hiểu chúng sanh;

Lúc xướng chữ SÁ, thời nhập môn bát-nhã ba-la-mật tên là dĩ vô-ngã-pháp khai-hiểu chúng-sanh.

Giảng: 41. Chữ Sá, lối dịch khác là chữ Thác, tức ngộ tất cả pháp, tánh tướng thúc đuổi bất khả đắc. Do đó dùng hiểu sự vô ngã, tức là thúc đuổi khiến cho đến bờ bên kia. Nếu là bậc biểu ước thì đây sẽ là Đẳng Giác. Pháp thân muốn đầy, xưa vốn muốn bằng. Nên quên hai bờ. Trong Trí Luận có nói rằng: Nếu nghe chữ Sá, liền biết tất cả pháp đó đây hai bờ bất khả đắc.

 

Xướng ÐÀ tự thời, nhập Bát-nhã Ba-la-mật môn, danh: nhất thiết pháp luân sái biệt tạng.

Lúc xướng chữ ÐÀ, thời nhập môn bát-nhã ba-la-mật tên là nhất-thiết pháp-luân sai-biệt-tạng.

Giảng: 42. Chữ Đà, tức ngộ tất cả pháp, nơi rốt ráo bất khả đắc. Nói về sai biệt tạng, là nơi rốt ráo nầy bất khả đắc, hàm chứa tất cả pháp luân, cũng là nơi quy cực của tất cả pháp luân. Ước biểu vị đương diệu giác, là rốt ráo bờ mé tất cả pháp. Tận kỳ xứ sở, không sinh, không chết, không có kẻ làm, ý đều bồ đề vậy. Trong Trí Luận có nói rằng : Nếu nghe chữ Trà, tức biết tất cả pháp bất khả đắc.

Bốn mươi hai tự mẫu ở trên, đều nói về môn nhập vào Bát Nhã Ba La Mật, mà bậc Đẳng Giác bạn lành, nói pháp môn tự mẫu nầy, ý lìa tướng văn tự, lìa tâm duyên tướng, cho đến lìa tất cả tướng, mới chứng nhập được nguồn tâm nhứt pháp giới vậy.

Bốn mươi hai tự mẫu, pháp môn tổng nhiếp bốn mươi hai bậc. Tức bậc Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, Thập Địa, Đẳng giác, Diệu giác. Phải lìa lời nói mới có thể chứng nhập. Thiện Tài đồng tử, tham một vị thiện tri thức, thì tiến lên một bậc. Thiện Tài đồng tử tham đến tột cùng bậc nhân, thì phải quên lời đốn chứng. Cho nên bốn mươi hai chữ nầy, mỗi mỗi đều lập, nhập vào môn Bát Nhã Ba La Mật. Mà Bát Nhã nầy, rốt ráo là căn bổn quả trí của Phật. Bốn mươi hai chữ nầy, đều nói bất khả đắc. Bất khả đắc vẫn đắc bồ đề, đó là nơi trở về tột cùng nhập vào pháp giới.

Xướng tự mẫu nầy, thì dẫn nhập vào môn Bát Nhã, chứ chẳng phải chữ là Bát Nhã, điểm nầy phải minh bạch. Thọ trì pháp môn chữ nầy, có thể đắc được hai mươi thứ công đức :
1. Đắc được nghĩ nhớ mạnh mẽ.
2. Đắc được tàm quý thù thắng.
3. Đắc được sức kiên cố.
4. Đắc được pháp chỉ thú.
5. Đắc được tăng thượng giác.
6. Đắc được huệ thù thắng.
7. Đắc được vô ngại biện.
8. Đắc được môn tổng trì.
9. Đắc được không nghi hoặc.
10. Đắc được trái thuận không sinh thương ghét.
11. Đắc được không cao thấp bình đẳng mà trụ.
12. Đắc được lời nói âm thanh khéo léo đối với hữu tình.
13. Đắc được uẩn khéo léo, xứ khéo léo, giới khéo léo.
14. Đắc được duyên khởi khéo léo, nhân khéo léo, duyên khéo léo.
15. Đắc được pháp khéo léo.
16. Đắc được căn thắng liệt trí khéo kéo.
17. Đắc được tha tâm trí khéo léo.
18. Đắc được quán tinh lịch khéo léo.
19. Đắc được thiên nhĩ trí khéo léo, túc trụ tuỳ niệm trí khéo léo, thần cảnh trí khéo léo, sinh tử trí khéo léo, lậu tận trí khéo léo.
20. Đắc được nói xứ phi xứ trí khéo léo, oai nghi thi thiết đến đi khéo léo.

 

Thiện nam tử! ngã xướng như thị tự mẫu thời, thử tứ thập nhị Bát-nhã Ba-la-mật môn vi thủ, nhập vô lượng vô số Bát-nhã Ba-la-mật môn.

Nầy Thiện-nam-tử! Lúc ta xướng những tự-mẫu như vậy, thời trước tiên ta nhập bốn mươi hai môn bát-nhã ba-la-mật đây cùng với vô-lượng vô-số môn bát-nhã ba-la-mật.

Giảng: Thiện Tri Chúng Nghệ đồng tử nói với Thiện Tài đồng tử : Thiện nam tử ! Khi ta đọc xướng bốn mươi hai tự mẫu, thì dùng bốn mươi hai môn Bát Nhã Ba La Mật nầy làm đầu, chứng nhập vào vô lượng vô số môn Bát Nhã Ba La Mật. Đủ thứ lời nói, đều không ra khỏi bốn mươi hai tự mẫu nầy. Kinh Hoa Nghiêm diễn nói vô tận pháp giới, pháp môn bốn mươi hai bậc viên dung nhân quả, đều không ra khỏi sự biểu đạt ngôn ngữ âm thanh, cho nên bốn mươi hai chữ tổng nhiếp pháp môn bốn mươi hai bậc.

 

Thiện nam tử! ngã duy tri thử thiện tri chúng nghệ Bồ Tát giải thoát.

Nầy Thiện-nam-tử! Ta chỉ biết môn giải-thoát bồ-tát thiện tri chúng nghệ nầy.

Giảng: Thiện nam tử ! Ta chỉ biết tam muội Bồ Tát giải thoát khéo biết các nghề nầy

 

Như chư Bồ-Tát Ma-ha-tát, năng ư nhất thiết thế, xuất thế gian thiện xảo chi Pháp, dĩ Trí Thông đạt đáo ư bỉ ngạn; thù phương dị nghệ, hàm tống vô di; văn tự, toán số, uẩn kỳ thâm giải; y phương, chú thuật, thiện liệu chúng bệnh;

Như chư đại Bồ-Tát có thể đối với pháp thiện-xảo thế-gian và xuất-thế-gian dùng trí thông đạt đến bỉ-ngạn. Những phương-pháp lạ, những nghề nghiệp khéo đều thấu đáo không sót. Hiểu rành những văn tự toán số, Y-phương, chú-thật, trị lành bịnh tật.

Giảng: Như các đại Bồ Tát đối với tất cả pháp môn thiện xảo thế xuất thế gian, dùng sức trí huệ thông đạt đến nơi bờ kia. Đối với những phương khác nhau, nghề khác nhau, Bồ Tát đều tinh thông, không sót chỗ nào. Bồ Tát đối với văn tự, toán số, năm uẩn .v.v… đều hiểu biết thâm sâu. Dùng đủ thứ phương y, đủ thứ chú thuật, khéo trị tất cả các chứng bệnh.

 

Hữu chư chúng sanh, quỷ mị sở trì, oán tăng chú trớ, ác tinh biến quái, tử thi bôn trục, điên giản, luy sấu, chủng chủng chư tật, hàm năng cứu chi, sử đắc thuyên dũ; hựu thiện biệt tri kim ngọc, châu bối, san hô, lưu ly, ma-ni, xa cừ, kê tát la đẳng nhất thiết Bảo Tạng, xuất sanh chi xứ, phẩm loại bất đồng, giá trực đa thiểu; thôn doanh hương ấp, đại tiểu đô thành, cung điện uyển viên, nham tuyền tẩu trạch, phàm thị nhất thiết nhân chúng sở cư, Bồ Tát hàm năng tùy phương nhiếp hộ;

Lại biết rành những chỗ sản xuất vàng, bạc, châu, ngọc, san-hô, lưu-ly, ma-ni, xa-cừ, tất cả kho tàng bửu-vật, những phẩm-loại, những giá-trị. Những xóm làng thành ấp, cung điện vườn tược, núi, rừng, suối, ao phàm những chỗ ở của tất cả nhơn chúng, Bồ-Tát đều có thể phương-tiện nhiếp thọ.

Giảng: Nếu có chúng sinh, bị quỷ mị bắt giữ, khống chế họ, mất đi tự do, hoặc oán hận ghét những người khác. Hoặc dùng chú trù ẻo người khác, hoặc bỏ bùa người khác, hoặc vũ trụ xuất hiện ngôi sao ác, như sao chổi, hoặc có đủ thứ hiện tượng biến quái, hoặc trong mộng bị tử thi rượt đuổi, hai chân không cử động được, hoặc bị chứng bệnh thần kinh tán loạn, hoặc bị giựt kinh phong, khi phát bệnh thì chẳng còn biết trời đất là gì, đập phá đồ đạt, tay chân co giật, lớn tiếng kêu la, hoặc thân thể ốm gầy như cây củi. Đủ thứ những chứng bệnh đó, Bồ Tát đều cứu chữa được, khiến cho chúng sinh đều khỏi bệnh.

Bồ Tát lại khéo biết rõ chỗ nào sinh ra vàng, đá ngọc, châu báu, san hô, lưu ly, ma ni, xa cừ, tất cả bảo tàng, phẩm loại đều khác nhau, giá trị bao nhiêu, Bồ Tát đều biết.

Bất cứ thôn ấp xóm làng, đô thành lớn nhỏ, cung điện vườn tược, suối ao, phàm là chỗ tất cả dân chúng ở, Bồ Tát đều tuỳ phương nhiếp thọ bảo hộ.

 

Hựu thiện quan sát Thiên văn địa lý, nhân tướng cát hung, điểu thú âm thanh, vân hà khí hậu, niên cốc phong kiệm, quốc độ an nguy, như thị thế gian sở hữu kỹ nghệ, mạc bất cai luyện, tận kỳ nguyên bổn; hựu năng phân biệt xuất thế chi Pháp, chánh danh biện nghĩa, quan sát thể tướng, tùy thuận tu hành, trí nhập kỳ trung, vô nghi, vô ngại, vô ngu ám, vô ngoan độn, Vô ưu não, vô trầm một, vô bất hiện chứng. Nhi ngã vân hà năng tri năng thuyết bỉ công đức hạnh?

Bồ-Tát lại khéo quán-sát thiên-văn, địa-lý, tướng người tốt xấu, tiếng của chim thú, mây ráng khí hậu, trúng mùa, thất thu, quốc độ an nguy, tất cả kỹ nghệ thế-gian Bồ-Tát đều rành rẽ tận nguyên bổn tất cả. Bồ-Tát lại có thể phân biệt pháp xuất thế, chánh-danh biện-nghĩa quán-sát thể tướng, tùy thuận tu hành, trí nhập trong đó, không nghi ngại, không ngu tối, không ngoan độn, không ưu-não, không trầm một, đều hiện chứng tất cả. Ta thế nào biết được, nói được công-đức-hạnh đó.

Giảng: Bồ Tát lại khéo quán sát thiên văn địa lý, tướng người cát hung. Lại có thể biết âm thanh chim thú, nói được tiếng cầm thú. Quán sát mây mù khí hậu, liền biết trong năm trúng mùa, hoặc thất thu, đất nước an nguy. Hết thảy những kỹ nghệ thế gian như vậy, chẳng có chỗ nào mà không nghiên cứu, chẳng có gì không luyện tập, Bồ Tát đều biết rõ hết nguồn gốc kỹ nghệ.

Bồ Tát lại phân biệt được pháp xuất thế, chánh danh, biện nghĩa, quán sát tất cả thể tướng, tuỳ thuận pháp môn thiện xảo phương tiện để tu hành. Có đủ thứ trí huệ, chứng được đủ thứ cảnh giới, không có nghi hoặc, không có quái ngại, không có ngu si đen tối, không có độn tánh ngoan cố, không có lo buồn, không có trầm một, những cảnh giới đó thảy đều hiện chứng, mà ta làm sao biết được, nói được những hạnh công đức đó ?

 

Thiện nam tử! thử Ma kiệt đề quốc, hữu nhất tụ lạc, bỉ trung hữu thành, danh: Bà đát na; hữu ưu-bà-di, hiệu viết: hiền thắng.

Nầy Thiện-nam-từ! Nước Ma-Kiệt-Ðề có một tụ-lạc, trong đó có thành Bà-Ðát-Na. Trong thành ấy có một ưu-bà-di tên là Hiền-thắng.

Giảng: Thiện nam tử ! Nước Ma Kiệt Đề nầy, có một thôn xóm, trong thôn xóm đó có một thành tên là Bà Đát Na. Trong thành đó, có vị ưu bà di tên là Hiền Thắng,

 

Nhữ nghệ bỉ vấn: Bồ Tát vân hà học Bồ Tát hạnh, tu Bồ Tát đạo?

Ngươi đến đó hỏi Bồ-Tát thế nào học bồ-tát-hạnh, tu bồ-tát-đạo?

Giảng: Ngươi đến đó hỏi: Bồ Tát làm thế nào học Bồ Tát hạnh ? Làm thế nào tu Bồ Tát đạo? Cô ta sẽ vì ngươi nói kỹ càng.

 

Thời, Thiện tài đồng tử đầu diện kính lễ tri nghệ chi túc, nhiễu vô số tạp, luyến ngưỡng từ khứ.

Thiện-Tài đảnh lễ Tri-Nghệ Ðồng-Tử, hữu-nhiễu vô-số vòng, luyến mộ chiêm ngưỡng từ tạ mà đi.

Giảng: Lúc đó, Thiện Tài đồng tử cung kính đảnh lễ Thiện Tri Chúng Nghệ đồng tử, đi nhiễu bên phải vô lượng vòng, luyến mộ chiêm ngưỡng từ tạ mà đi về hướng nam nước Ma Kiệt Đề tham phương vị ưu bà di Hiền Thắng.

 

=======================

45. ƯU BÀ DI HIỀN THẮNG
HỘI DUYÊN VÀO THẬT TƯỚNG

Bậc Hiền Thắng, hiền do thẳng thiện. Không nương đạo tràng nên tối thẳng thiện. Ưu ba di dịch là cận sự nữ, tức là nữ cư sĩ tại gia tu giữ năm giới, phụng hành thập thiện. Là cư sĩ nữ gần gũi Tam Bảo, thừa sự Tam Bảo, cúng dường Tam Bảo, hộ trì Tam Bảo.

 

Hướng tụ lạc thành, chí hiền thắng sở, lễ túc vi nhiễu, hợp chưởng cung kính, ư nhất diện lập, bạch ngôn: Thánh Giả! ngã dĩ tiên phát a nậu đa la tam miệu tam Bồ-Đề tâm, nhi vị tri Bồ Tát vân hà học Bồ Tát hạnh? vân hà tu Bồ Tát đạo?

Thiện-Tài đến thành Bà-Ðát-Na đảnh lễ Hiền-Thắng, hữu-nhiễu cung kính, chắp tay thưa rằng: Bạch đức Thánh! Tôi đã phát tâm vô-thượng bồ-đề, mà chưa biết Bồ-Tát thế nào học bồ-tát-hạnh, thế nào tu bồ-tát-đạo.

Giảng: Thiện Tài đồng tử đi về hướng nam thành thôn xóm, đến chỗ vị ưu bà di Hiền Thắng, đảnh lễ đi nhiễu quanh bên phải vô lượng vòng, chắp tay cung kính đứng về một bên, mà bạch với vị ưu bà di Hiền Thắng rằng: Đại Thánh! Con trước đã phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, mà chưa biết Bồ Tát làm thế nào học Bồ Tát hạnh? Làm thế nào tu Bồ Tát đạo?

 

Ngã văn Thánh Giả thiện năng dụ hối, nguyện vi ngã thuyết!

Hiền thắng đáp ngôn: Thiện nam tử! ngã đắc Bồ Tát giải thoát, danh: vô y xứ đạo tràng; ký tự khai giải, phục vi nhân thuyết.

Giảng: Tôi nghe đức Thánh khéo dạy bảo, xin chỉ dạy cho.

Ưu-bà-di Hiền-Thắng nói: Nầy Thiện-nam-từ! Ta được môn bồ-tát giải-thoát tên là vô-y-xứ đạo-tràng. Nơi môn giải-thoát nầy, ta đã thông đạt và đem dạy người.

Con nghe đại Thánh khéo chỉ dạy tất cả chúng sinh, cho nên con đến đây thỉnh giáo, xin đại Thánh hãy từ bi vì con mà nói.

Ưu bà di Hiền Thắng đáp rằng: Thiện nam tử! Ta chứng được tam muội Bồ Tát giải thoát, tên là Vô y xứ đạo tràng (trong ngoài không nương, tức là đạo tràng), liền tự mình khai ngộ, thấu hiểu chân lý, rồi đem đạo lý hiểu được vì người khác nói, khiến cho họ cũng hiểu được, do đó có câu: “Tự giác giác tha, tự độ độ tha”.

 

 

Hựu đắc vô tận tam muội, phi bỉ tam muội pháp hữu tận, vô tận, dĩ năng xuất sanh nhất thiết trí tánh nhãn vô tận cố, hựu năng xuất sanh nhất thiết trí tánh nhĩ vô tận cố, hựu năng xuất sanh nhất thiết trí tánh tỳ vô tận cố, hựu năng xuất sanh nhất thiết trí tánh thiệt vô tận cố, hựu năng xuất sanh nhất thiết trí tánh thân vô tận cố, hựu năng xuất sanh nhất thiết trí tánh ý vô tận cố, hựu năng xuất sanh nhất thiết trí tánh công đức ba đào vô tận cố, hựu năng xuất sanh nhất thiết trí tánh trí tuệ quang minh vô tận cố, hựu năng xuất sanh nhất thiết trí tánh tốc tật thần thông vô tận cố.

Ta lại được môn vô-tận tam-muội, vì có thể xuất sanh nhất-thiết-trí-tánh nhãn vô-tận, nhĩ vô-tận, tỹ vô-tận, thiệt vô-tân, thân vô-tận, ý vô-tận, công-đức vô-tận, trí-huệ vô-tận, thần-thông vô-tận.

Ta còn đắc được vô tận tam muội, chẳng phải tam muội pháp đó có cùng tận, hoặc chẳng cùng tận, mà vì hay sinh ra nhất thiết trí huệ tánh sáu căn .v.v… chẳng cùng tận. Vì hay sinh ra nhất thiết trí tánh căn mắt chẳng cùng tận. Lại hay sinh ra nhất thiết trí tánh căn tai chẳng cùng tận. Lại hay sinh ra nhất thiết trí tánh căn mũi chẳng cùng tận. Lại hay sinh ra nhất thiết trí tánh căn lưỡi chẳng cùng tận. Lại hay sinh ra nhất thiết trí tánh căn thân chẳng cùng tận. Lại hay sinh ra nhất thiết trí tánh căn ý chẳng cùng tận. Lại hay sinh ra nhất thiết trí tánh công đức ba đào chẳng cùng tận. Lại hay sinh ra nhất thiết trí tánh trí huệ quang minh chẳng cùng tận. Lại hay sinh ra nhất thiết trí tánh thần thông mau chóng chẳng cùng tận.

 

Thiện nam tử! ngã duy tri thử vô y xứ đạo tràng giải thoát. Như chư Bồ-Tát Ma-ha-tát nhất thiết Vô Trước công đức hạnh, nhi ngã vân hà tận năng tri thuyết?

Nầy Thiện-nam-tử! Ta chỉ biết môn bồ-tát giải-thoát vô-y-xứ đạo-tràng nầy. Như chư đại Bồ-Tát tất cả công-đức-hạnh không chắp trước, ta thế nào biết được nói được.

Giảng: Thiện nam tử! Ta chỉ biết giải thoát Vô y xứ đạo tràng nầy. Như tất cả các đại Bồ Tát, các Ngài không chấp trước tất cả công đức hạnh, mà ta làm sao biết được, nói ra được.

 

Thiện nam tử! Nam phương hữu thành, danh vi: ốc điền; bỉ hữu Trưởng-giả, danh: kiên cố giải thoát.

Nầy Thiện-nam-từ! Phương nam có thành Ốc-Ðiền. Trong thành ấy có trưởng-giả Kiên-Cố-Giải-Thoát.

Giảng: Thiện nam tử! Ở phương nam có thành tên là Ốc Điền, trong thành đó có vị trưởng giả, tên là Kiên Cố Giải Thoát.

 

Nhữ khả vãng vấn: Bồ Tát vân hà học Bồ Tát hạnh, tu Bồ Tát đạo?

Ngươi nên đến đó hỏi Bồ-Tát thế nào học bồ-tát-hạnh, thế nào tu bồ-tát-đạo?

Giảng: Ngươi hãy đi đến đó hỏi: Bồ Tát làm thế nào học Bồ Tát hạnh? Làm thế nào tu Bồ Tát đạo? Ngài sẽ vì ngươi mà nói rõ.

 

Nhĩ thời, Thiện Tài lễ hiền thắng túc, nhiễu vô số tạp, luyến mộ chiêm ngưỡng, từ thoái Nam hành.

Thiện-Tài đảnh lễ Hiền-Thắng, hữu nhiễu vô-số vòng, luyến mộ chiêm ngưỡng từ tạ mà đi qua hướng nam

Giảng: Lúc đó, Thiện Tài đảnh lễ ưu bà di Hiền Thắng, nhiễu quanh bên phải vô lượng vòng, luyến mộ chiêm ngưỡng, rồi từ tạ mà đi về hướng nam thành Ốc Điền, tham phương vị trưởng giả Kiên Cố Giải Thoát.

 

=========================

46. TRƯỞNG GIẢ KIÊN CỐ GIẢI THOÁT
HỘI DUYÊN VÀO THẬT TƯỚNG

Kiên Cố Giải Thoát, vì không chấp trước thanh tịnh, hoặc không thể động, tức giải thoát. Trưởng giả có mười đức:

1. Sinh vào dòng quý tộc.
2. Địa vị rất cao.
3. Tài sản phong phú.
4. Uy võ dũng cảm.
5. Trí huệ thâm sâu.
6. Tuổi cao có đức.
7. Hành vi thanh tịnh.
8. Lễ nghĩa đầy đủ.
9. Trưởng bối khen ngợi.
10. Người dưới quy thuận.

Phải có mười điều kiện nầy, thì mới đủ tư cách xưng là trưởng giả.

 

Đáo ư bỉ thành, nghệ Trưởng-giả sở, lễ túc vi nhiễu, hợp chưởng cung kính, ư nhất diện lập, bạch ngôn:

Thiện Tài đồng tử đến thành đó rồi, đi đến chỗ trưởng giả, đảnh lễ, đi nhiễu quanh, chắp tay cung kính, đứng về một bên, bạch rằng:

Giảng: Thiện Tài đồng tử đến thành Ốc Điền rồi, bèn đi đến chỗ trưởng giả Kiên Cố Giải Thoát, đảnh lễ đi nhiễu quanh bên phải vô lượng vòng, chắp tay cung kính, đứng về một bên, bạch với vị trưởng giả rằng:

 

Thánh Giả! ngã dĩ tiên phát a nậu đa la tam miệu tam Bồ-Đề tâm, nhi vị tri Bồ Tát vân hà học Bồ Tát hạnh? vân hà tu Bồ Tát đạo?

Bạch đức Thánh! Tôi đã phát tâm vô-thượng bồ-đề, mà chưa biết Bồ-Tát thế nào học bồ-tát-hạnh, thế nào tu bồ-tát-đạo?

Giảng: Đức Thánh! Con trước đã phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, mà chưa biết Bồ Tát làm thế nào học Bồ Tát hạnh? Làm thế nào tu Bồ Tát đạo?

 

Ngã văn Thánh Giả thiện năng dụ hối, nguyện vi ngã thuyết! Trưởng-giả đáp ngôn: Thiện nam tử! ngã đắc Bồ Tát giải thoát, danh: Vô Trước niệm thanh tịnh trang nghiêm. Ngã tự đắc thị giải thoát dĩ lai, ư thập phương Phật sở cần cầu chánh pháp vô hữu hưu tức.

Tôi nghe đức Thánh khéo dạy bảo, xin chỉ dạy cho. Trưởng-giả nói: Nầy Thiện-nam-tử! Ta được môn bồ-tát-giải-thoát tên là vô-trước-niệm-thanh-tịnh-trang-nghiêm. Từ khi ta được môn giải-thoát nầy đến nay, ta siêng cầu chánh-pháp nơi thập phương chư Phật không thôi dứt.

Giảng: Con nghe đức Thánh Ngài khéo chỉ dạy tất cả chúng sinh, nay xin hãy Ngài từ bi thương xót vì con mà nói. Vị trưởng giả Kiên Cố Giải Thoát đáp rằng: Thiện nam tử! Ta chứng được tam muội Bồ Tát giải thoát, tên là Vô trước niệm thanh tịnh trang nghiêm. Ta tự đắc được giải thoát nầy từ đó đến nay, ở chỗ đạo tràng của mười phương chư Phật, siêng cầu chánh pháp, không có khi nào ngừng nghỉ, lúc nào cũng cầu vô thượng bồ đề.

 

Thiện nam tử! ngã duy tri thử Vô Trước niệm tịnh trang nghiêm giải thoát. Như chư Bồ-Tát Ma-ha-tát, hoạch vô sở úy Đại sư tử hống, an trụ quảng đại phước trí chi tụ; nhi ngã vân hà năng tri năng thuyết bỉ công đức hạnh?

Nầy Thiện-nam-tử! Ta chỉ biết môn giải-thoát vô-trước-niệm thanh-tịnh trang-nghiêm. Như chư đại Bồ-Tát được vô-úy sư-tử-hống, an trụ nơi phước trí quảng-đại, mà ta thế nào biết được, nói được công-đức hạnh ấy.

Giảng: Thiện nam tử! Ta chỉ biết giải thoát Vô trước niệm thanh tịnh trang nghiêm nầy. Như các đại Bồ Tát, đắc được pháp vô sở uý đại sư tử hống, an trụ phước trí tụ rộng lớn, mà ta làm sao biết được, nói được công đức hạnh đó ?

 

Thiện nam tử! tức thử thành trung, hữu nhất Trưởng-giả, danh vi: diệu nguyệt; kỳ Trưởng-giả trạch, thường hữu quang minh.

Nầy Thiện-nam-tử! Chính trong thành nầy có một trưởng-giả tên là Diệu-Nguyệt, nhà ông thường có quang-minh.

Giảng: Thiện nam tử ! Ở trong thành đó, có một vị trưởng giả, tên là Diệu Nguyệt. Nhà của vị trưởng giả đó, thường phóng quang minh.

 

Nhữ nghệ bỉ vấn: Bồ Tát vân hà học Bồ Tát hạnh, tu Bồ Tát đạo?

Ngươi đến đó hỏi Bồ-Tát thế nào học bồ-tát-hạnh, thế nào tu bồ-tát-đạo?

Giảng: Ngươi hãy đi đến chỗ vị đó hỏi : Bồ Tát làm thế nào học Bồ Tát hạnh? Làm thế nào tu Bồ Tát đạo ? Vị đó sẽ nói cho ngươi minh bạch.

 

Thời, Thiện tài đồng tử lễ kiên cố túc, nhiễu vô số tạp, từ thoái nhi hành.

Thiện-Tài đảnh lễ trưởng-giả Kiên-Cố Giải-Thoát, hữu nhiễu vô-số vòng, từ tạ đi

Giảng: Lúc đó, Thiện Tài đồng tử đảnh lễ vị trưởng giả Kiên Cố Giải Thoát, đi nhiễu quanh vô lượng vòng, luyến mộ chiêm ngưỡng, từ tạ mà đi đến chỗ vị trưởng giả Diệu Nguyệt, để thỉnh giáo vấn đề muốn biết.

 

======================

47. TRƯỞNG GIẢ DIỆU NGUYỆT
HỘI DUYÊN VÀO THẬT TƯỚNG

Ý nghĩa Diệu Nguyệt là chân trí không vọng, gọi là tịnh trí. Hậu trí chiếu pháp, gọi là trí quang. Hay chiếu sáng, mùa thu bầu trời đầy trăng, nên gọi là Diệu Nguyệt.

 

Hướng diệu nguyệt sở, lễ túc vi nhiễu, hợp chưởng cung kính, ư nhất diện lập, bạch ngôn: Thánh Giả! ngã dĩ tiên phát a nậu đa la tam miệu tam Bồ-Đề tâm, nhi vị tri Bồ Tát vân hà học Bồ Tát hạnh? vân hà tu Bồ Tát đạo?

Đến nhà trưởng-giả Diệu-Nguyệt đảnh lễ hữu nhiễu, cung kính chắp tay thưa rằng: Bạch đức Thánh! Tôi đã phát tâm vô-thượng bồ-đề mà chưa biết Bồ-Tát thế nào học bồ-tát-hạnh, thế nào tu bồ-tát-đạo?

Giảng: Thiện Tài đồng tử nghe theo sự chỉ dạy của vị trưởng giả Kiên Cố Giải Thoát, đi đến chỗ trưởng giả Diệu Nguyệt, đảnh lễ, đi nhiễu quanh bên phải vô lượng vòng, sau đó chắp tay cung kính, đứng qua một bên, bạch với vị trưởng giả rằng: Đại Thánh! Con trước đã phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, mà chưa biết Bồ Tát làm thế nào học Bồ Tát hạnh? Làm thế nào tu Bồ Tát đạo?

 

Ngã văn Thánh Giả thiện năng dụ hối, nguyện vi ngã thuyết! diệu nguyệt đáp ngôn: Thiện nam tử! ngã đắc Bồ Tát giải thoát, danh: tịnh trí quang minh.

Tôi nghe đức Thánh khéo dạy bảo, xin chỉ dạy cho. Trưởng-giả Diệu-Nguyệt nói: Nầy Thiện-nam-tử! Ta được bồ-tát giải-thoát tên là tịnh-trí-quang-minh.

Giảng: Con nghe đại Thánh khéo dạy dỗ, cho nên đến để thỉnh giáo, xin Ngài từ bi hãy vì con mà nói rõ nghĩa nầy. Trưởng giả Diệu Nguyệt đáp rằng: Thiện nam tử! Ta chứng được tam muội Bồ Tát giải thoát, tên là Tịnh trí quang minh.

 

Thiện nam tử! ngã duy tri thử trí quang giải thoát. Như chư Bồ-Tát Ma-ha-tát chứng đắc vô lượng giải thoát Pháp môn, nhi ngã vân hà năng tri năng thuyết bỉ công đức hạnh?

Nầy Thiện-nam-tử! Ta chỉ biết môn giải-thoát nầy. Như chư đại Bồ-Tát chứng được vô-lượng môn giải-thoát. Ta thế nào biết được nói được công-đức hạnh ấy.

Giảng: Thiện nam tử! Ta chỉ biết pháp môn giải thoát trí quang nầy. Như các đại Bồ Tát chứng được vô lượng pháp môn giải thoát, mà ta làm sao biết được nói được hạnh công đức đó?

 

Thiện nam tử! ư thử Nam phương, hữu thành danh: xuất sanh; bỉ hữu Trưởng-giả, danh: Vô thắng quân.

Nầy Thiện-nam-tử! Phương nam có thành Xuất-Sanh. Nơi đó có trưởng-giả tên là Vô-Thắng-Quân.

Giảng: Thiện nam tử! Ở phương nam nầy, có thành tên là Xuất Sinh. Trong thành đó có vị trưởng giả tên là Vô Thắng Quân.

 

Nhữ nghệ bỉ vấn: Bồ Tát vân hà học Bồ Tát hạnh, tu Bồ Tát đạo? Thị thời, Thiện Tài lễ diệu nguyệt túc, nhiễu vô số tạp, luyến ngưỡng từ khứ.

Ngươi đến đó hỏi Bồ-Tát thế nào học bồ-tát-hạnh, thế nào tu bồ-tát-đạo? Thiện-Tài đảnh lễ trưởng-giả Diệu-Nguyệt, hữu nhiễu vô-số vòng, từ tạ đi

Giảng: Ngươi đi đến đó hỏi: Bồ Tát làm thế nào học Bồ Tát hạnh? Làm thế nào tu Bồ Tát đạo? Ngài sẽ khai thị cho ngươi. Lúc đó, Thiện Tài đồng tử đảnh lễ trưởng giả Diệu Nguyệt, đi nhiễu bên phải vô lượng vòng, luyến mộ chiêm ngưỡng, từ tạ mà đi đến thành Xuất Sinh, tham phương vị trưởng giả Vô Thắng Quân.

 

=======================

48. TRƯỞNG GIẢ VÔ THẮNG QUÂN
HỘI DUYÊN VÀO THẬT TƯỚNG

Ý nghĩa Vô Thắng Quân, do nghe các diệu pháp, hoặc Phật, hoặc pháp, đều không cùng tận, tức thấy Phật đắc pháp vô tận, nên gọi là Vô Thắng Quân, các đức tích tụ, từ dụ như quân, vì cũng hay thắng khắp các ma.

 

Tiệm hướng bỉ thành, chí Trưởng-giả sở, lễ túc vi nhiễu, hợp chưởng cung kính, ư nhất diện lập, bạch ngôn:

Thiện Tài đồng tử từ từ đi về hướng thành đó, đến chỗ vị trưởng giả, đảnh lễ, đi nhiễu quanh, chắp tay cung kính, đứng về một bên, bạch rằng:

Giảng: Thiện Tài đồng tử từ giã vị trưởng giả Diệu Nguyệt, từ từ đi về hướng nam, đến thành Xuất Sinh đó, đến chỗ vị trưởng giả Vô Thắng Quân, đảnh lễ vị trưởng giả, đi nhiễu quanh bên phải vô lượng vòng, chắp tay cung kính, đứng về một bên, bạch với vị trưởng giả rằng:

 

Thánh Giả! ngã dĩ tiên phát a nậu đa la tam miệu tam Bồ-Đề tâm, nhi vị tri Bồ Tát vân hà học Bồ Tát hạnh? vân hà tu Bồ Tát đạo?

Bạch đức Thánh! Tôi đã phát tâm vô-thượng bồ-đề, mà chưa biết Bồ-Tát thế nào học bồ-tát-hạnh, thế nào tu bồ-tát-đạo.

Giảng: Đức Thánh! Con trước đã phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, mà chưa biết làm thế nào học Bồ Tát hạnh? Làm thế nào tu Bồ Tát đạo?

 

Ngã văn Thánh Giả thiện năng dụ hối, nguyện vi ngã thuyết! Trưởng-giả đáp ngôn:  Thiện nam tử! ngã đắc Bồ Tát giải thoát, danh: vô tận tướng. ngã dĩ chứng thử Bồ Tát giải thoát, kiến vô lượng Phật, đắc vô tận tạng.

Tôi nghe đức Thánh khéo dạy bảo, xin chỉ dạy cho. Trưởng-giả Vô-Thắng-Quân nói: Nầy Thiệ-nam-tử! Ta được bồ-tát giải-thoát tên là vô-tận-tướng. Ta do chứng môn bồ-tát giải-thoát nầy nên thấy vô-lượng chư Phật, được vô-tận-tạng.

Giảng: Con nghe nói đại Thánh khéo chỉ dạy tất cả chúng sinh, nên con đến thỉnh giáo, mong đại Thánh từ bi, xin hãy vì con mà nói. Vị trưởng giả Vô Thắng Quân đáp rằng: Thiện nam tử! Ta đắc được Bồ Tát giải thoát tên là Vô tận tướng. Ta nhờ chứng được Bồ Tát giải thoát nầy, mà thấy được vô lượng chư Phật, đắc được vô tận pháp tạng.

 

Thiện nam tử! ngã duy tri thử vô tận tướng giải thoát. Như chư Bồ-Tát Ma-ha-tát đắc vô hạn trí vô ngại biện tài, nhi ngã vân hà năng tri năng thuyết bỉ công đức hạnh?

Nầy Thiện-nam-tử! Ta chỉ biết môn giải-thoát vô-tận-tướng nầy. Như chư đại Bồ-Tát được vô-hạn-trí vô-ngại biện-tài, ta làm sao biết được nói được công-đức-hạnh ấy.

Giảng: Thiện nam tử! Ta chỉ biết pháp môn giải thoát Vô tận tướng nầy. Như các đại Bồ Tát, các Ngài đắc được pháp môn trí vô hạn và biện tài vô ngại, mà ta làm sao biết được, nói được công đức hạnh đó?

 

Thiện nam tử! ư thử thành Nam, hữu nhất tụ lạc, danh chi vi: Pháp; bỉ tụ lạc trung, hữu Bà-la-môn, danh: tối tịch tĩnh.

Nầy Thiện-nam-tử! Thành-nam nầy có tụ-lạc Chi-Vi-Pháp. Trong đó có một bà-la-môn tên là Tối-tịch-Tịnh.

Giảng: Thiện nam tử! Ở hướng nam thành Xuất Sinh nầy, có một thôn xóm tên là Vi Pháp. Ở trong thôn xóm đó, có vị Bà La Môn tên là Tối Tịch Tĩnh.

 

Nhữ nghệ bỉ vấn: Bồ Tát vân hà học Bồ Tát hạnh, tu Bồ Tát đạo? thời, Thiện tài đồng tử lễ Vô thắng quân túc, nhiễu vô số tạp, luyến ngưỡng từ khứ.

Ngươi đến đó hỏi Bồ-Tát thế nào học bồ-tát-hạnh, thế nào tu bồ-tát-đạo? Thiện-Tài đảnh lễ Trưởng-giả Vô-Thắng-Quân hữu nhiễu vô-số vòng luyến-mộ chiêm-ngưỡng từ tạ đi

Giảng: Ngươi đi đến đó hỏi: Bồ Tát làm thế nào học Bồ Tát hạnh? Làm thế nào tu Bồ Tát đạo? Lúc đó, Thiện Tài đồng tử đảnh lễ vị trưởng giả Vô Thắng Quân, đi nhiễu quanh vô lượng vòng, luyến mộ chiêm ngưỡng, rồi từ tạ mà đi đến thôn xóm Vi Pháp, để tham phương vị Bà La Môn Tối Tịch Tĩnh.

 

===============================

49. BÀ LA MÔN TỐI TỊCH TĨNH
HỘI DUYÊN VÀO THẬT TƯỚNG

Ý nghĩa tịch tĩnh, lời hư dối đã dứt. Tịch tĩnh tức là tịnh hạnh. Bà La Môn là đứng đầu trong bốn giai cấp ở Ấn Độ, chủng tộc tối thù thắng. Người Ấn Độ cho rằng dòng dõi Bà La Môn là từ trong miệng Phạm Thiên sinh ra, là chủng tộc thần Thánh không thể xâm phạm, chủng tộc nầy chuyên tu hạnh thanh tịnh. Theo truyền thuyết nói, khi nhi đồng bảy tuổi, ở nhà tiếp thọ giáo dục, đến mười lăm tuổi đi ra ngoài học tập pháp Bà La Môn, đến bốn mươi tuổi thì trở về kết hôn, truyền tông tiếp đại, năm mươi tuổi thì vào núi tu đạo.

 

Tiệm thứ Nam hành, nghệ bỉ tụ lạc, kiến tối tịch tĩnh, lễ túc vi nhiễu, hợp chưởng cung kính, ư nhất diện lập, bạch ngôn:

Thiện Tài đồng tử từ từ đi về hướng nam, đến thôn xóm đó, gặp vị Bà La Môn Tối Tịch Tĩnh, đảnh lễ, đi nhiễu quanh, chắp tay cung kính, đứng về một bên, bạch rằng:

Giảng: Thiện Tài đồng tử từ từ đi về hướng nam, đến thôn xóm Vi Pháp đó, gặp vị Bà La Môn Tối Tịch Tĩnh, đảnh lễ Ngài, đi nhiễu quanh bên phải vô lượng vòng, chắp tay cung kính, đứng về một bên, bạch với vị Bà La Môn Tối Tịch Tĩnh rằng:

 

Thánh Giả! ngã dĩ tiên phát a nậu đa la tam miệu tam Bồ-Đề tâm, nhi vị tri Bồ Tát vân hà học Bồ Tát hạnh? vân hà tu Bồ Tát đạo?

Bạch đức Thánh! Tôi đã phát tâm vô-thượng bồ-đề, mà chưa biết Bồ-Tát thế nào học bồ-tát-hạnh, thế nào tu bồ-tát-đạo?

Giảng: Đức Thánh! Con trước đã phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, mà chưa biết làm thế nào học Bồ Tát hạnh? Làm thế nào tu Bồ Tát đạo?

 

Ngã văn Thánh Giả thiện năng dụ hối, nguyện vi ngã thuyết! Bà-la-môn đáp ngôn:

Tôi nghe đức Thánh khéo dạy bảo, xin chỉ dạy cho. Bà-La-Môn nói:

Giảng: Con nghe đức Thánh khéo giáo hoá, xin hãy vì con mà nói.

 

Thiện nam tử! ngã đắc Bồ Tát giải thoát, danh: thành nguyện ngữ; quá khứ, hiện tại, vị lai Bồ Tát, dĩ thị ngữ cố, nãi chí ư A-nậu-đa-la tam-miệu-tam Bồ-đề, vô hữu thoái chuyển, vô dĩ thoái, vô hiện thoái, vô đương thoái.

Nầy Thiện-nam-tử! Ta được môn bồ-tát giải-thoát tên là Thành-Nguyện-Ngữ. Chư Bồ-Tát quá-khứ hiện-tại và vị-lai do dùng lời nói chơn thành nầy nên được không  thối-chuyển đạo vô-thượng bồ-đề, không đã thối, không hiện thối, không sẽ thối.

Giảng: Bà La Môn Tối Tịch Tĩnh đáp rằng: Thiện nam tử! Ta chứng được tam muội Bồ Tát giải thoát, tên là Lời nguyện chân thành. Vì Bồ Tát quá khứ, hiện tại, vị lai ba đời, nhờ lời nguyện chân thành nầy, cho đến không thối chuyển nơi A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Đã không thối chuyển, hiện không thối chuyển, sẽ không thối chuyển.

 

Thiện nam tử! ngã dĩ trụ ư thành nguyện ngữ cố, tùy ý sở tác, mạc bất thành mãn.

Do ta trụ nơi lời nói thành-nguyện nên làm điều chi cũng được toại ý.

Giảng: Thiện nam tử! Ta nhờ trụ lời nguyện chân thành nầy, mà những việc làm đều tuỳ theo ý của ta, tất cả hành động đều thành tựu viên mãn.

 

Thiện nam tử! ngã duy tri thử thành ngữ giải thoát. Như chư Bồ-Tát Ma-ha-tát, dữ thành nguyện ngữ, hành chỉ vô vi, ngôn tất dĩ thành, vị tằng hư vọng, vô lượng công đức nhân chi xuất sanh; nhi ngã vân hà năng tri năng thuyết?

Nầy Thiện-nam-tử! Ta chỉ biết môn giải-thoát thành-nguyện-ngữ nầy. Như chư đại Bồ-Tát đi đứng đều chẳng trái với thành-nguyện-ngữ, lời nói ra quyết là chơn thành chưa bao giờ hư vọng, do đây xuất sanh vô-lượng công-đức. Ta làm sao biết được nói được công-đức-hạnh đó.

Giảng: Thiện nam tử! Ta chỉ biết pháp môn giải thoát Lời nguyện chân thành nầy. Như các đại Bồ Tát với lời nguyện chân thành, đi đứng đều không trái với lời nguyện chân thành. Lời nói ra đều chân thành, chưa từng nói dối. Vô lượng công đức do đây mà sinh ra, mà ta làm sao biết được, nói được những hạnh công đức đó?

 

Thiện nam tử! ư thử Nam phương, hữu thành danh: Diệu ý hoa môn; bỉ hữu Đồng tử, danh viết: đức sanh; phục hưũ đồng nữ, danh vi: hữu đức.

Nầy Thiện-nam-tử! Phương nam đây có thành tên là Diệu-Ý-Hoa-Môn. Nơi đó có Ðồng-Tử tên là Ðức-Sanh, lại có Ðồng-Nữ tên là Hữu-Ðức.

Giảng: Thiện nam tử! Ở phương nam thôn xóm Vi Pháp nầy, có thành tên là Diệu Ý Hoa Môn. Trong thành đó, có hai vị đồng tử, một vị tên là Đức Sinh, một vị đồng nữ tên là Hữu Đức.

 

Nhữ nghệ bỉ vấn: Bồ Tát vân hà học Bồ Tát hạnh, tu Bồ Tát đạo?

Ngươi đến đó hỏi Bồ-Tát thế nào học bồ-tát-hạnh, thế nào tu bồ-tát-đạo.

Giảng: Ngươi đi đến đó hỏi: Bồ Tát làm thế nào học Bồ Tát hạnh? Làm thế nào tu Bồ Tát đạo?

 

Thời, Thiện tài đồng tử ư Pháp tôn trọng, lễ Bà-la-môn túc, nhiễu vô số tạp, luyến ngưỡng nhi khứ.

Thiện-Tài đảnh lễ Tối-Tịch-Tịnh hữu nhiễu vô-số vòng, từ tạ đi qua phương nam.

Giảng: Lúc đó, Thiện Tài đồng tử vì tôn trọng pháp, mà đảnh lễ vị Bà La Môn Tối Tịch Tĩnh, đi nhiễu quanh vô lượng vòng, luyến mộ chiêm ngưỡng rồi từ tạ mà đi tham phương Đức Sinh đồng tử và Hữu Đức đồng nữ.

 

====================

QUYỂN BẢY MƯƠI BẢY

50. ĐỨC SINH ĐỒNG TỬ, HỮU ĐỨC ĐỒNG NỮ
HỘI DUYÊN VÀO THẬT TƯỚNG

Đức Sinh đồng tử và Hữu Đức đồng nữ là huyễn trí quy huyễn thiện hữu. Đồng tử biểu thị tịnh trí, đồng nữ biểu thị tịnh bi. Dùng bi trí chỉ dẫn với nhau, nên hai người cùng hội với nhau, hội duyên kết thúc. Vì bi trí viên mãn, nên gặp được Từ Thị, nên vượt lên Phật vị.

 

Nhĩ thời, Thiện tài đồng tử tiệm thứ Nam hành, chí Diệu ý hoa môn thành, kiến đức sanh Đồng tử, hữu đức đồng nữ, đảnh lễ kỳ túc, hữu nhiễu tất dĩ, ư tiền hợp chưởng nhi tác thị ngôn: Thánh Giả! ngã dĩ tiên phát A nậu đa la tam miệu tam Bồ-đề tâm, nhi vị tri Bồ Tát vân hà học Bồ Tát hạnh? vân hà tu Bồ Tát đạo?

Thiện-Tài đi lần đến thành Diệu-Ý-Hoa-Môn, đảnh lễ đồng-tử Ðức-Sanh va đồng-nữ Hữu-Ðức, hữu nhiễu cung kính chắp tay bạch rằng: Ðức Thánh! Tôi đã phát tâm vô-thượng bồ-đề mà chưa biết Bồ-Tát thế nào học bồ-tát-hạnh, thế nào tu bồ-tát-đạo.

Giảng: Lúc đó, Thiện Tài đồng tử từ thôn xóm Vi Pháp, từ từ đi về hướng nam, đến thành Diệu Ý Hoa Môn, thấy Đức Sinh đồng tử và Hữu Đức đồng nữ, bèn đảnh lễ, đi nhiễu quanh bên phải, rồi ở trước hai vị đồng tử chắp tay lại, mà nói như vầy : Đại Thánh ! Con trước đã phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, mà chưa biết làm thế nào học Bồ Tát hạnh ? Làm thế nào tu Bồ Tát đạo ?

 

Duy nguyện từ ai, vi ngã tuyên thuyết!

Xin đức Thánh từ mẫn chì dạy.

Giảng: Xin đại Thánh từ bi, thương xót con, xin vì con mà nói, con thật là cảm kích.

 

Thời, Đồng tử, đồng nữ cáo Thiện Tài ngôn: Thiện nam tử! ngã đẳng chứng đắc Bồ Tát giải thoát, danh vi: huyễn trụ. Đắc thử giải thoát cố,

Ðức-Sanh và Hữu-Ðức nói: Nầy Thiện-nam-tử! Chúng ta chứng được bồ-tát giải-thoát tên là huyễn-trụ. Vì được môn giải-thoát nầy nên thấy:

Giảng: Lúc đó, Đức Sinh đồng tử và Hữu Đức đồng nữ bảo Thiện Tài đồng tử rằng : Thiện nam tử ! Chúng tôi chứng được tam muội Bồ Tát giải thoát, tên là Huyễn trụ. Nhờ chúng tôi chứng được môn giải thoát nầy.

 

Kiến nhất thiết thế giới giai huyễn trụ, nhân duyên sở sanh cố;

Tất cả thế-giới đều là huyễn trụ, do nhơn-duyên mà sanh khởi.

Giảng: Thấy được tất cả thế giới, đều là huyễn trụ, là hư vọng, chẳng chân thật. Tại sao nói là huyễn trụ? Vì tất cả pháp đều do nhân duyên mà sinh ra, do nhân duyên mà diệt. Cho nên do duyên sinh, duyên sinh không tánh, vốn chẳng có tự tánh, cho nên nói là hư vọng.

 

Nhất thiết chúng sanh giai huyễn trụ, nghiệp phiền não sở khởi cố;

Tất cả chúng-sanh đều là huyễn trụ, do nghiệp phiền-não mà khởi.

Giảng: Chẳng những thế giới là huyễn trụ, mà tất cả chúng sinh cũng đều huyễn trụ, đều do khởi hoặc, tạo nghiệp, phiền não mà sinh khởi.

 

Nhất thiết thế gian giai huyễn trụ, vô minh, hữu, ái đẳng triển chuyển duyên sanh cố;

Tất cả thế-gian đều là huyễn trụ, do vô-minh, hữu, ái xoay vần làm duyên sanh khởi.

Giảng: Tất cả thế gian vạn sự vạn vật, đều như huyễn trụ, do vô minh, hữu, ái, ba thứ duyên nầy xoay vòng không ngừng mà sinh ra.

 

Nhất thiết pháp giai huyễn trụ, ngã kiến đẳng chủng chủng huyễn duyên sở sanh cố;

Tất cả pháp đều là huyễn trụ, do những huyễn-duyên ngã-kiến, vân vân, sanh khởi.

Giảng: Tất cả pháp đều như huyễn trụ, do có cái ta và ta thấy, đều do đủ thứ huyễn duyên mà sinh ra.

 

Nhất thiết tam thế giai huyễn trụ, ngã kiến đẳng điên đảo trí sở sanh cố;

Tất cả tam thế đều là huyễn trụ, do những điên đảo trí ngã-kiến vân-vân sanh khởi.

Giảng: Tất cả ba đời đều như huyễn trụ, là do cái ta thấy điên đảo trí sinh ra.

 

Nhất thiết chúng sanh sanh diệt, sanh lão bệnh tử, ưu bi khổ não giai huyễn trụ, hư vọng phân biệt sở sanh cố;

Tất cả chúng-sanh sanh diệt, sanh lão bịnh tử ưu bi khổ não đều là huyễn trụ, do hư-vọng phân-biệt sanh khởi.

Giảng: Tất cả chúng sinh, sinh diệt, sinh già, bệnh chết, ưu sầu, khổ não, đều như huyễn trụ, do hư vọng phân biệt mà sinh ra.

 

Nhất thiết quốc độ giai huyễn trụ, tưởng đảo, tâm đảo, kiến đảo vô minh sở hiện cố;

Tất cả quốc-độ đều huyễn trụ, do tưởng-đảo, tâm-đảo, kiến-đảo và vô-minh hiện khởi.

Giảng: Tất cả cõi nước đều như huyễn trụ, do tưởng điên đảo, tâm điên đảo, thấy điên đảo, đủ thứ vô minh biến hiện ra.

 

Nhất thiết Thanh văn, Bích Chi Phật giai huyễn trụ, trí đoạn phân biệt sở thành cố;

Tất cả Thanh-Văn và Bích-Chi-Phật đều là huyễn trụ, do trí-đoạn phân-biệt mà thành.

Giảng: Tất cả Thanh Văn và Bích Chi Phật cũng là huyễn trụ, vì trí huệ của các Ngài hay đoạn phân biệt mà thành tựu quả vị.

 

Nhất thiết Bồ Tát giai huyễn trụ, năng tự điều phục giáo hóa chúng sanh chư hạnh nguyện Pháp chi sở thành cố;

Tất cả Bồ-Tát đều là huyễn trụ, do những hạnh nguyện hay tự điều phục và giáo-hóa chúng-sanh mà thành.

Giảng: Tất cả Bồ Tát cũng là huyễn trụ, vì hay tự điều phục giáo hoá tất cả chúng sinh, các hạnh nguyện pháp mà thành tựu.

 

Nhất thiết Bồ Tát chúng hội, biến hóa, điều phục, chư sở thí vi giai huyễn trụ, nguyện trí huyễn sở thành cố.

Tất cả Phật Bồ-Tát chúng-hội biến-hoá điều-phục, những công-hạnh đều là huyễn-trụ, do nguyện-trí-huyễn mà thành.

Giảng: Tất cả Bồ Tát chúng hội, biến hoá, điều phục, các sự bố thí đều huyễn trụ, do nguyện trí huyễn mà thành tựu.

 

Thiện nam tử! huyễn cảnh tự tánh bất khả tư nghị.

Nầy Thiện-nam-tử! Huyễn-cảnh tự-tánh bất-tư-nghì.

Giảng: Thiện nam tử! Cảnh giới huyễn vốn chẳng có tự tánh, cho nên không thể nghĩ bàn. (Huyễn pháp chẳng co, vì thể không thật. Chẳng không, vì tướng chẳng không. Chẳng một, vì tánh tướng khác. Chẳng khác, vì không hai thể. Không có tướng tức một khác đều mất. Tức lìa hai bên, cũng mất trung đạo. Do sự giao triệt, nên trong một hiện nhiều, nhiều tức một, trùng trùng vô ngại, là không nghĩ bàn).

 

Thiện nam tử! ngã đẳng nhị nhân đãn năng tri thử huyễn trụ giải thoát.

Chúng ta chỉ biết môn giải-thoát huyễn-trụ nầy.

Giảng: Thiện nam tử! Chúng tôi hai người, chỉ biết được huyễn trụ giải thoát nầy.

 

Như chư Bồ-Tát Ma-ha-tát thiện nhập vô biên chư sự huyễn võng, bỉ công đức hạnh, ngã đẳng vân hà năng tri năng thuyết?

Như chư đại Bồ-Tát khéo nhập vô-biên sự huyễn.  Chúng ta thế nào biết được nói được công-đức-hạnh đó.

Giảng: Như nói về các đại Bồ Tát khéo vào vô biên cảnh giới các sự việc lưới huyễn, những công đức hạnh của các Ngài, chúng tôi làm sao biết được, nói được? Dù có miễn cưỡng nói ra, cũng không thể nào nói hết được.

 

Thời, Đồng tử, đồng nữ thuyết tự giải thoát dĩ, dĩ ất tư nghị chư thiện căn lực, lệnh Thiện Tài thân nhu nhuyễn quang trạch, nhi cáo chi ngôn:

Ðồng-Tử và Ðồng-Nữ nói môn giải-thoát của mình đã chứng xong, dùng sức thiện-căn bất-tư-nghì làm cho thân Thiện-Tài được nhu nhuyến bóng sáng, mà nói rằng:

Giảng: Lúc đó, Đức Sinh đồng tử và Hữu Đức đồng nữ nói giải thoát của mình đắc được rồi, nhờ sức các căn lành không thể nghĩ bàn, khiến cho thân thể Thiện Tài mềm mại sáng lạn. Đồng tử và đồng nữ nói với Thiện Tài đồng tử rằng:

 

Thiện nam tử! ư thử Nam phương, hữu quốc danh: hải ngạn, hữu viên danh: đại trang nghiêm, kỳ trung hữu nhất quảng đại lâu các, danh: Tỳ Lô Giá Na trang nghiêm tạng, tùng Bồ Tát thiện căn quả báo sanh, tùng Bồ Tát niệm lực, nguyện lực, tự tại lực, thần thông lực sanh, tùng Bồ Tát thiện xảo phương tiện sanh, tùng Bồ Tát phước đức trí tuệ sanh.

Nầy Thiện-nam-tử! Phương nam đây có nước Hải-Ngạn. Trong nước ấy có khu vườn Ðại-Trang-Nghiêm. Trong vườn có một tòa lâu các rộng lớn tên là Tỳ-Lô-Giá-Na-Trang-Nghiêm Tạng. Lâu các nầy có ra là do bồ-tát thiện-căn quả báo, do bồ-tát niệm-lực, nguyện-lực, tự-tại-lực, thần thông-lực, do bồ-tát thiện-xảo phương-tiện, do bồ-tát phước-đức trí tuệ.

Giảng: Thiện nam tử! Ở phương nam thành Diệu Ý Hoa Môn nầy, có một nước tên là Hải Ngạn, có khu vườn tên là Đại Trang Nghiêm. Trong vườn đó, có một lầu các rộng lớn, tên là Tỳ Lô Giá Na Trang Nghiêm Tạng. Đó là từ căn lành quả báo của Bồ Tát sinh ra. Từ niệm lực, nguyện lực, tự tại lực, thần thông lực của Bồ Tát sinh ra. Từ phương tiện thiện xảo của Bồ Tát sinh ra. Từ phước đức trí huệ của Bồ Tát sinh ra.

 

Thiện nam tử! trụ bất tư nghị giải thoát Bồ Tát, dĩ đại bi tâm, vi chư chúng sanh, hiện như thị cảnh giới, tập như thị trang nghiêm.

Nầy Thiện-nam-tử! Bồ-Tát trụ bất-tư-nghì giải-thoát dùng tâm đại-bi vì các chúng-sanh mà hiện cảnh-giới như vậy, chứa họp những trang-nghiêm như vậy.

Giảng: Thiện nam tử! Trụ Bồ Tát giải thoát không nghĩ bàn, nhờ tâm đại bi, vì các chúng sinh thị hiện cảnh giới như vậy, tích tập sự trang nghiêm như vậy.

 

Di lặc Bồ-Tát Ma-ha-tát an xứ kỳ trung, vi dục nhiếp thọ bổn sở sanh xứ phụ mẫu, quyến thuộc cập chư nhân dân, lệnh thành thục cố; hựu dục lệnh bỉ đồng thọ sanh, đồng tu hành chúng sanh, ư Đại-Thừa trung đắc kiên cố cố; hựu dục lệnh bỉ nhất thiết chúng sanh, tùy tứ trụ địa, tùy thiện căn giai thành tựu cố;

Di-Lặc đại Bồ-Tát ở trong lâu các ấy để nhiếp thọ phụ mẫu quyến-thuộc và nhơn-dân làm cho họ được thành-thục. Lại muốn cho những chúng-sanh đồng thọ-sanh, đồng tu-hành ở trong đại-thừa được kiên-cố. Lại muốn cho tất cả chúng-sanh ấy, tùy bậc tùy thiện-căn, đều được thành-tựu.

Giảng: Đức Sinh đồng tử và Hữu Đức đồng nữ nói với Thiện Tài đồng tử rằng: Đại Bồ Tát Di Lặc (Vô Năng Thắng), Ngài an trụ ở trong lầu các Tỳ Lô Giá Na Trang Nghiêm Tạng đó. Ngài vì muốn nhiếp thọ cha mẹ quyến thuộc nơi gốc sinh ra và tất cả các nhân dân, khiến cho họ đều thành thục. Lại vì muốn khiến cho chúng sinh cùng thọ sinh, cùng tu hành, ở trong đại thừa đắc được bồ đề tâm kiên cố bất thối. Lại vì muốn khiến cho tất cả chúng sinh đó, tuỳ bậc trụ tuỳ căn lành đều thành tựu.

 

Hựu dục vi nhữ hiển thị Bồ Tát giải thoát môn cố, hiển thị Bồ Tát biến nhất thiết xứ thọ sanh tự tại cố, hiển thị Bồ Tát dĩ chủng chủng thân phổ Hiện-Nhất-Thiết chúng sanh chi tiền thường giáo hóa cố, hiển thị Bồ Tát dĩ đại bi lực phổ nhiếp nhất thiết thế gian tư tài nhi bất yếm cố, hiển thị Bồ Tát cụ tu chư hạnh tri nhất thiết hành ly chư tướng cố, hiển thị Bồ Tát xứ xứ thọ sanh liễu nhất thiết sanh giai vô tướng cố.

Lại cũng muốn vì ngươi mà hiển-thị môn bồ-tát giải-thoát, hiển thị Bồ-Tát khắp tất cả chỗ thọ-sanh tự-tại, hiển-thị Bồ-Tát dùng nhiều thân hiện khắp nơi thường giáo hóa chúng-sanh, hiển-thị Bồ-Tát dùng sức đại-bi nhiếp tất cả tài sản thế-gian mà chẳng nhàm, hiển-thị tu đủ tất cả công-hạnh biết rõ tất cả hạnh lìa các tướng, hiển-thị Bồ-Tát thọ sanh khắp nơi vì biết rõ tất cả sanh đều vô-tướng.

Giảng: Lại muốn vì ngươi (Thiện Tài đồng tử) hiển bày môn Bồ Tát giải thoát. Lại vì hiển bày Bồ Tát tự tại thọ sinh khắp tất cả mọi nơi. Lại vì hiển bày Bồ Tát dùng đủ thứ thân, khắp hiện ở trước tất cả chúng sinh, thường thường giáo hoá chúng sinh. Lại vì hiển bày Bồ Tát dùng sức đại bi, nhiếp khắp tài sản của tất cả thế gian mà không nhàm mỏi. Lại vì ngươi hiển bày Bồ Tát tu đủ các hạnh, biết tất cả hạnh lìa tất cả tướng. Lại vì ngươi hiển bày Bồ Tát nơi nơi thọ sinh, biết rõ tất cả sinh đều vô tướng, đó là nguyên nhân Bồ Tát Di Lặc trụ ở đại lầu các.

 

Nhữ nghệ bỉ vấn: Bồ Tát vân hà hành Bồ Tát hạnh? vân hà tu Bồ Tát đạo? vân hà học Bồ-tát giới? vân hà tịnh Bồ Tát tâm? vân hà phát Bồ Tát nguyện? vân hà tập Bồ Tát trợ đạo cụ? vân hà nhập Bồ Tát sở tứ trụ địa? vân hà mãn Bồ Tát Ba-la-mật? vân hà hoạch Bồ Tát vô sanh nhẫn? vân hà cụ Bồ Tát công đức Pháp? vân hà sự Bồ Tát thiện tri thức?

Ngươi đến đó hỏi: Bồ-Tát thế nào thật hành bồ-tát-hạnh, thế nào tu bồ-tát-đạo, thế nào học bồ-tát-giới, thế nào tịnh bồ-tát-tâm, thế nào phát bồ-tát-nguyện, thế nào chứa nhóm bồ-tát trợ-đạo, thế nào nhập bậc bồ-tát, thế nào thành-mãn bồ-tát ba-la-mật, thế nào được bồ-tát vô-sanh-nhẫn, thế nào đủ bồ-tát công-đức, thế nào thờ bồ-tát thiện-tri-thức?

Giảng: Ngươi hãy đi đến đại lầu các báu trong vườn hoa Đại Trang Nghiêm nước Hải Ngạn, hỏi Bồ Tát Di Lặc làm thế nào Bồ Tát tu mười pháp môn nầy:

1. Làm thế nào học Bồ Tát hạnh?

2. Làm thế nào tu Bồ Tát đạo?

3. Làm thế nào học Bồ Tát giới?

4. Làm thế nào tịnh Bồ Tát tâm?

5. Làm thế nào phát Bồ Tát nguyện?

6. Làm thế nào tích tập Bồ Tát trợ đạo cụ?

7. Làm thế nào vào bậc chỗ trụ của Bồ Tát?

8. Làm thế nào viên mãn Bồ Tát Ba La Mật?

9. Làm thế nào đắc được Bồ Tát vô sinh nhẫn?

10. Làm thế nào đầy đủ Bồ Tát công đức pháp?

Xin chỉ bày làm thế nào phụng sự Bồ Tát thiện tri thức,

 

Hà dĩ cố? Thiện nam tử! bỉ Bồ-Tát Ma-ha-tát thông đạt nhất thiết Bồ Tát hạnh, liễu tri nhất thiết chúng sanh tâm, thường hiện kỳ tiền giáo hóa điều phục.

Nầy Thiện-nam-tử! Di-Lặc Bồ-Tát thông đạt tất cả bồ-tát-hạnh, biết rõ tâm chúng-sanh, thường hiện thân trước họ để giáo hóa điều phục.

Giảng: Tại sao? Thiện nam tử! Đại Bồ Tát Di Lặc, Ngài thông đạt tất cả hạnh môn của Bồ Tát tu, biết rõ tâm niệm của tất cả chúng sinh, thường thường hiện ra ở trước chúng sinh, giáo hoá chúng sinh, điều phục chúng sinh.

 

Bỉ Bồ Tát dĩ mãn nhất thiết Ba-la-mật, dĩ trụ nhất thiết Bồ Tát địa, dĩ chứng nhất thiết Bồ-tát nhẫn, dĩ nhập nhất thiết Bồ Tát vị, dĩ mông thụ dữ cụ túc kí, dĩ du nhất thiết Bồ Tát cảnh, dĩ đắc nhất thiết Phật thần lực, dĩ mông nhất thiết Như Lai dĩ nhất thiết trí cam lộ pháp thủy nhi quán kỳ đảnh.

Di-Lặc Bồ-Tát đã viên-mãn tất cả ba-la-mật, đã ở tất cả bậc bồ-tát, đã chứng tất cả bồ-tát-nhẫn, đã nhập tất cả bồ-tát-vị, đã được Phật thọ ký, đã du tất cả cảnh bồ-tát, đã được thần-lực của tất cả Phật, đã được đức Như-Lai đem pháp-thủy cam-lộ nhất-thiết-trí quán đảnh.

Giảng: Bồ Tát Di Lặc đã viên mãn tất cả pháp Ba La Mật, đã trụ tất cả Bồ Tát địa, đã chứng được tất cả Bồ Tát vô sinh pháp nhẫn, đã chứng nhập tất cả Bồ Tát vị, đã được chư Phật thọ ký đầy đủ, đã đi qua tất cả cảnh giới của Bồ Tát, đã đắc được thần lực của tất cả chư Phật, đã được tất cả Như Lai dùng nước pháp cam lồ nhất thiết trí quán đảnh, đắc được bậc Pháp Vương tử.

 

Thiện nam tử! bỉ thiện tri thức năng nhuận trạch nhữ chư thiện căn, năng tăng trưởng nhữ Bồ-đề tâm, năng kiên nhữ chí, năng ích nhữ thiện, năng trưởng nhữ Bồ Tát căn, năng thị nhữ vô ngại Pháp, năng lệnh nhữ nhập Phổ Hiền địa, năng vi nhữ thuyết Bồ Tát nguyện, năng vi nhữ thuyết Phổ Hiền hạnh, năng vi nhữ thuyết nhất thiết Bồ-tát hạnh nguyện sở thành công đức.

Nầy Thiện-nam-tử! Di-Lặc Bồ-Tát có thể nhuận trạch thiện-căn của ngươi, có thể tăng trưởng tâm bồ-đề của ngươi, có thể kiên-cố chí của ngươi, có thể thêm pháp lành cho ngươi, có thể lớn căn bồ-tát cho ngươi, có thể chỉ bày pháp vô-ngại cho ngươi, có thể làm cho ngươi vào bậc phổ-hiền, có thể nói nguyện bồ-tát cho ngươi, có thể nói hạnh phổ-hiền cho ngươi, có thể vì ngươi mà nói tất cả bồ-tát-hạnh-nguyện làm thành công-đức.

Giảng: Thiện nam tử! Bồ Tát Di Lặc sẽ thấm nhuần tất cả căn lành của ngươi, sẽ tăng trưởng bồ đề tâm của ngươi, sẽ kiên cố chí nguyện của ngươi, sẽ tăng ích pháp lành của ngươi, sẽ dưỡng lớn Bồ Tát căn của ngươi, sẽ chỉ bày pháp vô ngại cho ngươi, sẽ khiến cho ngươi vào bậc Bồ Tát Phổ Hiền, sẽ vì ngươi nói nguyện của Bồ Tát Phổ Hiền, sẽ vì ngươi nói hạnh của Bồ Tát Phổ Hiền, sẽ vì ngươi nói tất cả Bồ Tát hạnh nguyện thành tựu công đức.

 

Thiện nam tử! nhữ bất ưng tu nhất thiện, chiếu nhất pháp, hành nhất hạnh, phát nhất nguyện, đắc nhất kí, trụ nhất nhẫn, sanh cứu cánh tưởng; bất ưng dĩ hạn lượng tâm, hành ư lục độ, trụ ư Thập Địa, tịnh Phật quốc độ, sự thiện tri thức.

Nầy Thiện-nam-tử! Ngươi chẳng nên tu một điều lành, chiếu một pháp, hành một hạnh, phát một nguyện, được một thọ-ký, trụ một nhẫn mà cho là rốt ráo. Ngươi chớ nên đem tâm có hạn lượng mà thật hành lục-độ, trụ nơi thập-địa, tịnh phật-độ, thờ thiện-tri-thức.

Giảng: Thiện nam tử! Ngươi không nên chỉ tu một hạnh lành, chỉ chiếu sáng một pháp môn, tu hành một hạnh môn, phát một lời nguyện, được một thọ ký, trụ một vô sinh pháp nhẫn, mà sinh tư tưởng rốt ráo. Ngươi đừng dùng tâm hạn lượng mà tu hành pháp môn lục độ, trụ quả vị Thập địa, thanh tịnh cõi nước chư Phật, phụng thờ một vị thiện tri thức.

 

Hà dĩ cố? Thiện nam tử! Bồ-Tát Ma-ha-tát ưng chủng vô lượng chư thiện căn,

ưng tập vô lượng Bồ-đề cụ, ưng tu vô lượng Bồ-đề nhân,

ưng học vô lượng xảo hồi hướng, ưng hóa vô lượng chúng sanh giới,

ứng tri vô lượng chúng sanh tâm, ứng tri vô lượng chúng sanh căn,

Tại sao vậy? Nầy Thiện-nam-tử! Vì Bồ-Tát phải gieo vô-lượng thiện-căn,

phải chứa vô-lượng bồ-đề-cụ, phải tu vô-lượng bồ-đề nhơn,

phải học vô-lượng xảo hồi-hướng, phải giáo hóa vô-lượng chúng-sanh-giới,

phải biết vô-lượng chúng-sanh-tâm, phải biết vô-lượng chúng-sanh-căn,

Giảng: Tại sao vậy? Thiện nam tử! Đại Bồ Tát phải gieo trồng vô lượng các căn lành.

Phải tích tập vô lượng bồ đề cụ. Phải tu hành vô lượng nhân bồ đề.

Phải học tập vô lượng thiện xảo hồi hướng. Phải giáo hoá vô lượng cõi chúng sinh.

Phải biết vô lượng tâm chúng sinh. Phải biết vô lượng căn chúng sinh.

 

ưng thức vô lượng chúng sanh giải, ưng quán vô lượng chúng sanh hạnh,

ưng điều phục vô lượng chúng sanh, ưng đoạn vô lượng phiền não,

ưng tịnh vô lượng nghiệp tập, ưng diệt vô lượng tà kiến,

ưng trừ vô lượng tạp nhiễm tâm, ưng phát vô lượng thanh tịnh tâm,

phải rõ vô-lượng chúng-sanh-giải, phải quán vô-lượng chúng-sanh-hạnh,

phải điều-phục vô-lượng chúng-sanh, phải đoạn vô-lượng phiền-não,

phải tịnh vô-lượng nghiệp tập, phải diệt vô-lượng tà kiến,

phải trừ vô-lượng tâm tạp nhiễm, phải phát vô-lượng tâm thanh-tịnh,

Giảng: Phải biết rõ vô lượng sự hiểu biết của chúng sinh. Phải quán sát vô lượng hạnh của chúng sinh.

Phải điều phục vô lượng chúng sinh. Phải đoạn trừ vô lượng phiền não.

Phải thanh tịnh vô lượng nghiệp tập. Phải tiêu diệt vô lượng tà kiến.

Phải trừ sạch vô lượng tâm nhiễm ô. Phải phát vô lượng tâm thanh tịnh.

 

ưng bạt vô lượng khổ độc tiễn, ưng hạc vô lượng ái dục hải,

ưng phá vô lượng vô minh ám, ưng tồi vô lượng ngã mạn sơn,

ưng đoạn vô lượng sanh tử phược, ưng độ vô lượng chư hữu lưu,

ưng kiệt vô lượng thọ sanh hải, ưng lệnh vô lượng chúng sanh xuất ngũ dục ứ nê,

phải nhổ vô-lượng tên độc khổ, phải cạn vô-lượng biển ái dục,

phải phá vô-lượng tối vô-minh, phải xô vô-lượng núi ngã mạn,

phải bức đứt vô-lượng dây sanh tử, phải qua khỏi vô-lượng giòng hữu-lậu,

phải khô vô-lượng biển thọ sanh, phải làm cho vô-lượng chúng-sanh ra khỏi bùn lầy ngũ-dục,

Giảng: Phải nhổ vô lượng mũi tên khổ độc. Phải cạn khô vô lượng biển ái dục.

Phải phá tan vô lượng tối vô minh. Phải san bằng vô lượng núi ngã mạn.

Phải đoạn trừ vô lượng ràng buộc sinh tử. Phải vượt qua vô lượng dòng các cõi.

Phải khô cạn vô lượng biển thọ sinh. Bồ Tát phải khiến cho vô lượng chúng sinh thoát khỏi bùn lầy năm dục.

 

ưng sử vô lượng chúng sanh ly tam giới lao ngục,

ưng trí vô lượng chúng sanh ư Thánh đạo trung,

ưng tiêu diệt vô lượng tham dục hạnh,

ưng tịnh trì vô lượng sân khuể hạnh,

phải khiến vô-lượng chúng-sanh lìa ngục tù tam-giới,

phải đặt vô-lượng chúng-sanh ở trong thánh-đạo,

phải tiêu diệt vô-lượng hạnh tham dục,

phải trừ sạch vô-lượng hạnh sân hận,

Giảng: Phải khiến cho vô lượng chúng sinh lìa khỏi ngục tù ba cõi.

Phải đặt để vô lượng chúng sinh ở trong Thánh đạo.

Phải tiêu diệt vô lượng hành vi tham dục.

Phải tịnh trị vô lượng hành vi sân hận.

 

ưng tồi phá vô lượng ngu si hạnh,

ưng siêu vô lượng ma võng,

ưng ly vô lượng ma nghiệp,

ưng tịnh trì Bồ Tát vô lượng dục lạc,

phải phá trừ vô-lượng hạnh ngu-si,

phải siêu vô-lượng lưới ma,

phải lìa vô-lượng nghiệp ma,

phải rửa sạch bồ-tát vô-lượng dục lạc,

Giảng: Phải phá tan vô lượng hành vi ngu si.

Phải vượt thoát vô lượng lưới ma.

Phải thoát khỏi vô lượng nghiệp ma.

Phải tịnh trị vô lượng dục lạc của Bồ Tát.

 

ưng tăng trưởng Bồ Tát vô lượng phương tiện,

ưng xuất sanh Bồ Tát vô lượng tăng thượng căn,

ưng minh khiết Bồ Tát vô lượng quyết định giải,

ưng thú nhập Bồ Tát vô lượng bình đẳng,

phải tăng trưởng bồ-tát vô-lượng phương-tiện,

phải xuất sanh bồ-tát vô-lượng căn tăng-thượng,

phải sáng sạch bồ-tát vô-lượng quyết-định-giải,

phải xu nhập bồ-tát vô-lượng bình-đẳng,

Giảng: Phải tăng trưởng vô lượng phương tiện của Bồ Tát.

Phải sinh ra vô lượng căn tăng thượng của Bồ Tát.

Phải sáng rõ vô lượng quyết định giải của Bồ Tát.

Phải thú nhập vô lượng bình đẳng của Bồ Tát.

 

ưng thanh tịnh Bồ Tát vô lượng công đức,

ưng tu trì Bồ Tát vô lượng chư hạnh,

ưng thị hiện Bồ Tát vô lượng tùy thuận thế gian hạnh,

ưng sanh vô lượng tịnh tín lực,

phải thanh-tịnh bồ-tát vô-lượng công-đức,

phải tu tập bồ-tát vô-lượng công-hạnh,

phải thị-hiện bồ-tát vô-lượng hạnh tùy thuận thế-gian,

phải sanh vô-lượng sức tịnh tín,

Giảng: Phải thanh tịnh vô lượng công đức của Bồ Tát.

Phải tu trị vô lượng các hạnh của Bồ Tát.

Phải thị hiện vô lượng hạnh môn tuỳ thuận thế gian của Bồ Tát.

Bồ Tát phải sinh vô lượng sức tin thanh tịnh.

 

ưng trụ vô lượng tinh tấn lực,

ưng tịnh vô lượng chánh niệm lực,

ưng mãn vô lượng tam muội lực,

ưng khởi vô lượng tịnh tuệ lực,

phải trụ vô-lượng sức tinh-tấn,

phải thanh-tịnh vô-lượng sức chánh-niệm,

phải thành-mãn vô-lượng sức tam-muội,

phải khởi vô-lượng sức tịnh-huệ,

Giảng: Phải an trụ vô lượng sức tinh tấn.

Phải thanh tịnh vô lượng sức chánh niệm.

Phải viên mãn vô lượng sức tam muội.

Phải sinh khởi vô lượng sức trí huệ thanh tịnh.

 

ưng kiên vô lượng thắng giải lực,

ưng tập vô lượng phước đức lực,

ưng trưởng vô lượng trí tuệ lực,

ưng phát khởi vô lượng Bồ Tát lực,

phải kiên-cố vô-lượng sức thắng-giải,

phải tích tập vô-lượng sức phước-đức,

phải lớn vô-lượng sức trí-huệ,

phải phát khởi vô-lượng sức bồ-tát,

Giảng: Phải kiên cố vô lượng sức thắng giải.

Phải tích tập vô lượng sức phước đức.

Phải tăng trưởng vô lượng sức trí huệ.

Phải phát khởi vô lượng sức Bồ Tát.

 

ưng viên mãn vô lượng Như Lai lực,

ưng phân biệt vô lượng Pháp môn,

ưng liễu tri vô lượng Pháp môn,

ưng thanh tịnh vô lượng Pháp môn,

phải viên-mãn vô-lượng sức Như-Lai,

phải phân-biệt vô-lượng pháp-môn,

phải rõ biết vô-lượng pháp-môn,

phải thanh-tịnh vô-lượng pháp-môn,

Giảng: Phải viên mãn vô lượng sức Như Lai.

Phải phân biệt vô lượng pháp môn.

Phải biết rõ vô lượng pháp môn.

Phải thanh tịnh vô lượng pháp môn.

 

ưng sanh vô lượng pháp quang minh,

ưng tác vô lượng pháp chiếu diệu,

ưng chiếu vô lượng phẩm loại căn,

ứng tri vô lượng phiền não bệnh,

phải sanh vô-lượng pháp quang-minh,

phải làm vô-lượng pháp chiếu-diệu,

phải chiếu vô-lượng phẩm loại-căn,

phải biết vô-lượng phiền-não bịnh,

Giảng: Phải sinh khởi vô lượng pháp quang minh.

Phải làm vô lượng pháp chiếu sáng.

Phải chiếu sáng vô lượng căn phẩm loại.

Phải biết vô lượng bệnh phiền não.

 

ưng tập vô lượng diệu pháp dược,

ưng liệu vô lượng chúng sanh tật,

ưng nghiêm biện vô lượng cam lồ cung,

ưng vãng nghệ vô lượng Phật quốc độ,

phải chứa vô-lượng diệu-pháp-dược,

phải chữa vô-lượng bịnh của chúng-sanh,

phải sắm sửa vô-lượng đồ cúng cam-lộ,

phải đến vô-lượng phật-độ

Giảng: Phải tích tập vô lượng thuốc pháp hay.

Phải chữa lành vô lượng bệnh tật của chúng sinh.

Bồ Tát phải sắm sửa vô lượng đồ cúng cam lộ.

Phải đi đến vô lượng cõi nước chư Phật.

 

Ứng-Cúng dưỡng vô lượng chư Như Lai,

ưng nhập vô lượng Bồ Tát hội,

ưng thọ vô lượng chư Phật giáo,

ưng nhẫn vô lượng chúng sanh tội,

phải cúng-dường vô-lượng Như-Lai,

phải vào vô-lượng bồ-tát-hội,

phải thọ vô-lượng phật-giáo,

phải nhẫn vô-lượng tội chúng-sanh

Giảng: Phải cúng dường vô lượng các Như Lai.

Phải vào khắp vô lượng chúng hội Bồ Tát.

Phải tiếp thọ vô lượng sự giáo hoá của chư Phật.

Phải nhẫn thọ vô lượng tội nghiệp của chúng sinh.

 

ưng diệt vô lượng ác đạo nan,

ưng lệnh vô lượng chúng sanh sanh thiện đạo,

ưng dĩ tứ nhiếp nhiếp vô lượng chúng sanh,

ưng tu vô lượng tổng trì môn,

phải diệt vô-lượng nạn ác-đạo,

phải khiến vô-lượng chúng-sanh sanh về thiện-đạo,

phải dùng pháp tứ-nhiếp để nhiếp vô-lượng chúng-sanh,

phải tu vô-lượng môn tổng-trì

Giảng: Phải diệt trừ vô lượng khổ nạn đường ác.

Phải khiến vô lượng chúng sinh, sinh về đường lành.

Phải dùng bốn pháp nhiếp (bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự) để nhiếp thọ vô lượng chúng sinh.

Bồ Tát phải tu vô lượng pháp môn tổng trì.

 

ưng sanh vô lượng đại nguyện môn,

ưng tu vô lượng đại từ, đại nguyện lực,

ưng cần cầu vô lượng Pháp thường vô hưu tức,

ưng khởi vô lượng tư tánh lực,

phải sanh vô-lượng môn đại-nguyện,

phải tu vô-lượng sức đại-từ đại-nguyện,

phải siêng cầu vô-lượng phật-pháp thường không thôi dứt,

phải khởi vô-lượng sức tư-duy,

Giảng: Phải sinh khởi vô lượng pháp môn đại nguyện.

Phải tu vô lượng đại từ đại nguyện lực.

Phải siêng cầu vô lượng pháp môn, thường không ngừng nghỉ.

Phải sinh khởi vô lượng sức tư duy.

 

ưng khởi vô lượng thần thông sự,

ưng tịnh vô lượng trí quang minh,

ưng vãng vô lượng chúng sanh thú,

ưng thọ vô lượng chư hữu sanh,

phải khỏi vô-lượng sự thần-thông,

phải tịnh vô-lượng trí quang-minh,

phải qua đến vô-lượng loài chúng-sanh,

phải thọ vô-lượng đời trong các cõi,

Giảng: Phải sinh khởi vô lượng việc thần thông giáo hoá.

Phải thanh tịnh vô lượng trí huệ quang minh.

Phải đến vô lượng loài chúng sinh trong sáu cõi để giáo hoá chúng sinh.

Phải thọ sinh trong vô lượng các cõi, để điều phục chúng sinh.

 

ưng hiện vô lượng sái biệt thân,

ứng tri vô lượng ngôn từ Pháp,

ưng nhập vô lượng sái biệt tâm,

ứng tri Bồ Tát Đại cảnh giới,

phải hiện vô-lượng thân sai-biệt,

phải biết vô-lượng pháp ngôn-từ,

phải nhập vô-lượng tâm sai-biệt,

phải biết bồ-tát đại cảnh-giới,

Giảng: Phải thị hiện vô lượng thân khác nhau, để giáo hoá chúng sinh.

Phải biết vô lượng pháp môn ngôn từ, để điều phục chúng sinh.

Bồ Tát phải vào vô lượng tâm khác nhau.

Phải biết đại cảnh giới của Bồ Tát.

 

 

ưng trụ Bồ Tát Đại cung điện,

ưng quán Bồ Tát thậm thâm diệu pháp,

ứng tri Bồ Tát nan tri cảnh giới,

ưng hành Bồ Tát nan hành chư hạnh,

phải trụ bồ-tát đại cung-điện,

phải quán bồ-tát thậm-thâm diệu-pháp,

phải biết cảnh-giới khó biết của Bồ-Tát,

phải thật-hành những hạnh khó làm của Bồ-Tát,

Giảng: Phải trụ đại cung điện của Bồ Tát.

Phải quán sát diệu pháp thâm sâu của Bồ Tát.

Phải biết cảnh giới khó biết của Bồ Tát.

Phải tu hành các hạnh khó tu hành của Bồ Tát.

 

ưng cụ Bồ Tát tôn trọng uy đức,

ưng tiễn Bồ Tát nan nhập chánh vị,

ứng tri Bồ Tát chủng chủng chư hạnh,

ưng hiện Bồ Tát phổ biến thần lực,

phải đầy đủ oai-đức tôn trọng của Bồ-Tát,

phải đi theo chánh-vị khó nhập của bồ-Tát,

phải biết những hạnh của Bồ-Tát,

phải hiện thần-lực phổ-biến của Bồ-Tát,

Giảng: Phải đầy đủ oai nghi tôn trọng của Bồ Tát.

Phải giẫm vào chánh vị khó vào của Bồ Tát.

Phải biết đủ thứ các hạnh của Bồ Tát.

Phải thị hiện thần lực khắp cùng của Bồ Tát.

 

ưng thọ Bồ Tát bình đẳng pháp vân,

ưng quảng Bồ Tát vô biên hạnh võng,

ưng mãn Bồ Tát vô biên chư độ,

ưng thọ Bồ Tát vô lượng kí biệt,

phải thọ pháp-vân bình-đẳng của Bồ-Tát,

phải làm rộng vô-biên hạnh của Bồ-Tát,

phải viên-mãn vô-biên ba-la-mật của Bồ-Tát,

phải thọ vô-lượng ký-biệt của Bồ-Tát,

Giảng: Phải nhiếp thọ mây pháp bình đẳng của Bồ Tát.

Phải rộng lớn vô biên lưới hạnh của Bồ Tát.

Phải viên mãn vô biên các độ của Bồ Tát.

Phải nhiếp thọ vô lượng ký biệt hiệu của Bồ Tát.

 

ưng nhập Bồ Tát vô lượng nhẫn môn,

ưng trì Bồ Tát vô lượng chư địa,

ưng tịnh Bồ Tát vô lượng Pháp môn,

ưng đồng chư Bồ-tát, an trụ vô biên kiếp, cúng dường vô lượng Phật, nghiêm tịnh bất khả thuyết Phật quốc độ, xuất sanh bất khả thuyết Bồ Tát nguyện.

phải nhập vô-lượng nhẫn-môn của Bồ-Tát,

phải tu vô-lượng địa-vị của Bồ-Tát,

phải thanh-tịnh vô-lượng pháp-môn của Bồ-Tát,

phải đồng với chư Bồ-Tát, trụ vô-biên kiếp cúng-dường vô-lượng Phật, nghiêm-tịnh bất-khả-thuyết phật-độ, xuất sanh bất-khả-thuyết bồ-tát nguyện.

Giảng: Phải chứng nhập vô lượng môn nhẫn của Bồ Tát.

Phải tịnh trị vô lượng các địa của Bồ Tát.

Phải thanh tịnh vô lượng pháp môn của Bồ Tát.

Phải an trụ vô lượng kiếp đồng với các Bồ Tát. Cúng dường vô lượng Phật. Nghiêm tịnh bất khả thuyết cõi Phật. Sinh ra bất khả thuyết Bồ Tát nguyện.

 

Thiện nam tử! cử yếu ngôn chi,

ưng phổ tu nhất thiết Bồ Tát hạnh,

ưng phổ hóa nhất thiết chúng sanh giới,

ưng phổ nhập nhất thiết kiếp,

ưng phổ sanh nhất thiết xứ,

Nầy Thiện-nam-tử! Tóm lại,

phải khắp tu bồ-tát-hạnh,

phải khắp giáo-hóa chúng-sanh-giới,

phải khắp vào tất cả kiếp,

phải khắp sanh tất cả xứ,

Giảng: Thiện nam tử! Nói tóm lại, phải tu hành khắp tất cả Bồ Tát hạnh.

Phải giáo hoá khắp tất cả cõi chúng sinh.

Phải vào khắp tất cả kiếp.

Phải thọ sinh khắp tất cả mọi nơi.

 

ưng phổ tri nhất thiết thế,

ưng phổ hạnh nhất thiết pháp,

ưng phổ tịnh nhất thiết sát,

ưng phổ mãn nhất thiết nguyện,

phải khắp biết tất cả thế,

phải khắp thật hành tất cả pháp,

phải khắp tịnh tất cả cõi,

phải khắp mãn tất cả nguyện,

Giảng: Phải biết khắp tất cả thế giới.

Phải tu hành khắp tất cả pháp môn.

Phải nghiêm tịnh khắp tất cả cõi.

Phải viên mãn khắp tất cả nguyện lực.

 

ưng phổ cúng nhất thiết Phật,

ưng phổ đồng nhất thiết Bồ Tát nguyện,

ưng phổ sự nhất thiết thiện tri thức.

phải khắp cúng tất cả Phật,

phải khắp đồng tất cả bồ-tát nguyện,

phải khắp thờ tất cả thiện-tri-thức.

Giảng: Phải cúng dường khắp tất cả chư Phật.

Phải đồng khắp tất cả Bồ Tát nguyện.

Phải phụng thờ khắp tất cả thiện tri thức.

 

Thiện nam tử! nhữ cầu thiện tri thức, bất ưng bì quyện; kiến thiện tri thức, vật sanh yếm túc; thỉnh vấn thiện tri thức, vật đạn lao khổ; thân cận thiện tri thức, vật hoài thoái chuyển; cúng dường thiện tri thức, bất ưng hưu tức; thọ thiện tri thức giáo, bất ưng đảo thác; học thiện tri thức hạnh, bất ưng nghi hoặc; văn thiện tri thức diễn thuyết xuất ly môn, bất ưng do dự; kiến thiện tri thức tùy thuận phiền não hạnh, vật sanh hiềm quái; ư thiện tri thức sở sanh thâm tín tôn kính tâm, bất ưng biến cải.

Nầy Thiện-nam-tử! Ngươi cầu thiện-tri-thức chẳng nên nhàm mỏi. Ngươi thỉnh hỏi thiện-trí-thức chớ sợ khổ nhọc. Ngươi gần gũi thiện-tri-thức chớ có thối chuyển. Ngươi cúng-dường thiện-tri-thức chớ có thôi nghỉ. Ngươi lãnh thọ lời dạy của thiện-tri-thức chớ có lầm lộn. Ngươi học hạnh của thiện-tri-thức chớ có nghi hoặc. Ngươi nghe thiện-tri-thức diễn nói môn ly chẳng nên dụ dự. Thấy thiện-tri-thức tùy phiền-não hành chớ có hiềm lạ. Ở chỗ thiện-chi-trức phải sanh lòng thâm tín tôn kính chẳng nên biến đổi.

Giảng: Thiện nam tử! Ngươi muốn cầu gặp thiện tri thức, không nên có tâm mệt mỏi. Gặp được thiện tri thức, chớ sinh tâm nhàm đủ. Thưa hỏi thiện tri thức, đừng sinh tâm sợ khổ nhọc. Gần gũi thiện tri thức, chớ có sinh tâm thối chuyển. Cúng dường thiện tri thức, không nên có tâm ngừng nghỉ. Tiếp thọ thiện tri thức giáo hoá, không nên có sự lầm lộn. Học tập hạnh môn của thiện tri thức, không nên có tâm hoài nghi mê hoặc. Nghe thiện tri thức diễn nói pháp môn thoát khỏi ba cõi, không nên có tâm do dự. Thấy thiện tri thức tuỳ phiền não hành, chớ sinh tâm hiềm quái. Ở chỗ thiện tri thức, nên sinh tâm tôn kính tin sâu, không nên thay đổi giáo hoá của thiện tri thức.

 

Hà dĩ cố? Thiện nam tử! Bồ Tát nhân thiện tri thức, thính văn nhất thiết Bồ Tát chư hạnh, thành tựu nhất thiết Bồ Tát công đức, xuất sanh nhất thiết Bồ Tát đại nguyện, dẫn phát nhất thiết Bồ Tát thiện căn, tích tập nhất thiết Bồ Tát trợ đạo, khai phát nhất thiết Bồ Tát pháp quang minh, hiển thị nhất thiết Bồ Tát xuất ly môn, tu học nhất thiết Bồ Tát thanh tịnh giới, an trụ nhất thiết Bồ Tát công đức Pháp, thanh tịnh nhất thiết Bồ Tát quảng đại chí, tăng trưởng nhất thiết Bồ Tát kiên cố tâm, cụ túc nhất thiết Bồ Tát Đà-la-ni biện tài môn,

Tại sao vậy? Nầy Thiện-nam-tử! Vì Bồ-Tát do nơi thiện-tri-thức mà được nghe tất cả bồ-tát-hạnh, thành-tựu tất cả bồ-tát công-đức, xuất sanh tất cả bồ-tát đại-nguyện, dẫn phát tất cả bồ-tát thiện-căn, tích tập tất cả bồ-tát trợ-đạo, khai phát tất cả bồ-tát pháp-quang-minh, hiển thị tất cả bồ-tát xuất-ly-môn, tu học tất cả bồ-tát thanh-tịnh-giới, an-trụ tất cả bồ-tát công-đức-pháp, thanh-tịnh tất cả bồ-tát quảng-đại-chí, tăng trưởng tất cả bồ-tát kiên-cố-tâm, đầy đủ tất cả bồ-tát đà-la-ni biện-tài môn

Giảng: Tại sao vậy? Thiện nam tử! Vì Bồ Tát nhờ thiện tri thức, mà nghe được các hạnh của tất cả Bồ Tát. Thành tựu công đức của tất cả Bồ Tát. Sinh ra đại nguyện của tất cả Bồ Tát. Dẫn phát căn lành của tất cả Bồ Tát. Tích tập trợ đạo của tất cả Bồ Tát. Khai phát pháp quang minh của tất cả Bồ Tát. Hiển bày môn xuất ly của tất cả Bồ Tát. Tu tập giới thanh tịnh của tất cả Bồ Tát. An trụ pháp công đức của tất cả Bồ Tát. Thanh tịnh chí rộng lớn của tất cả Bồ Tát. Tăng trưởng tâm kiên cố của tất cả Bồ Tát. Đầy đủ môn đà la ni biện tài của tất cả Bồ Tát.

 

đắc nhất thiết Bồ Tát thanh tịnh tạng, sanh nhất thiết Bồ Tát định quang minh,

đắc nhất thiết Bồ Tát thù thắng nguyện, dữ nhất thiết Bồ Tát đồng nhất nguyện,

văn nhất thiết Bồ Tát thù thắng Pháp, đắc nhất thiết Bồ Tát bí mật xứ,

chí nhất thiết Bồ Tát pháp bảo châu, tăng nhất thiết Bồ Tát thiện căn nha,

trưởng nhất thiết Bồ Tát trí tuệ thân, hộ nhất thiết Bồ Tát thâm mật tạng,

được tất cả bồ-tát thanh-tịnh-tạng, sanh tất cả bồ-tát định-quang-minh,

được tất cả bồ-tát thù-thắng-nguyện, cùng tất cả Bồ-Tát đồng một nguyện,

nghe tất cả bồ-tát thù-thắng-pháp, được tất cả bồ-tát bí-mật-xứ,

đến tất cả bồ-tát pháp bửu sở, thêm tất cả bồ-tát mầm thiện-căn,

lớn tất cả bồ-tát thân trí-huệ, hộ tất cả bồ-tát tạng thâm-mật,

Giảng: Đắc được thanh tịnh tạng của tất cả Bồ Tát. Sinh ra định quang minh của tất cả Bồ Tát.

Đắc được nguyện thù thắng của tất cả Bồ Tát. Đồng một nguyện với tất cả Bồ Tát. Nghe được pháp thù thắng của tất cả Bồ Tát.

Đắc được nơi bí mật của tất cả Bồ Tát. Đến được châu pháp bảo của tất cả Bồ Tát. Tăng trưởng mầm căn lành của tất cả Bồ Tát.

Trưởng dưỡng trí huệ thân của tất cả Bồ Tát. Hộ trì tạng thâm mật của tất cả Bồ Tát.

 

trì nhất thiết Bồ Tát phước đức tụ, tịnh nhất thiết Bồ Tát thọ sanh đạo,

thọ nhất thiết Bồ Tát chánh pháp vân, nhập nhất thiết Bồ Tát đại nguyện lộ, thú nhất thiết Như Lai Bồ-đề quả,

nhiếp thủ nhất thiết Bồ Tát diệu hạnh, khai thị nhất thiết Bồ Tát công đức,

vãng nhất thiết phương thính thọ diệu pháp, tán nhất thiết Bồ Tát quảng đại uy đức,

sanh nhất thiết Bồ Tát đại từ bi lực, nhiếp nhất thiết Bồ Tát thắng tự tại lực,

sanh nhất thiết Bồ Tát Bồ-đề phần, tác nhất thiết Bồ Tát lợi ích sự.

trì tất cả bồ-tát phước-đức-tụ, tịnh tất cả bồ-tát thọ-sanh-đạo,

thọ tất cả bồ-tát chánh-pháp-vân, nhập tất cả bồ-tát đại-nguyện-lộ,

đến tất cả như-lai bồ-đề-quả, nhiếp thủ tất cả bồ-tát diệu-hạnh,

khai thị tất cả bồ-tát công-đức, qua tất cả phương thính thọ diệu-pháp,

khen tất cả bồ-tát oai-đức quảng đại, sanh tất cả bồ-tát đại-từ-bi-lực,

nhiếp tất cả bồ-tát thắng tự-tại-lực, sanh tất cả bồ-tát bồ-đề phần, làm tất cả bồ-tát lợi-ích-sự.

Giảng: Tu trì phước đức tụ của tất cả Bồ Tát. Thanh tịnh đường thọ sinh của tất cả Bồ Tát.

Nhiếp thọ mây chánh pháp của tất cả Bồ Tát. Chứng nhập vào đường đại nguyện của tất cả Bồ Tát.

Hướng về quả bồ đề của tất cả Như Lai. Nhiếp lấy diệu hạnh của tất cả Bồ Tát.

Khai thị công đức của tất cả Bồ Tát. Đến tất cả phương nghe thọ diệu pháp.

Khen ngợi oai đức rộng lớn của tất cả Bồ Tát. Sinh ra sức đại từ bi của tất cả Bồ Tát.

Nhiếp lấy sức tự tại thù thắng của tất cả Bồ Tát. Sinh ra bồ đề phần của tất cả Bồ Tát. Làm việc lợi ích của tất cả Bồ Tát.

 

Thiện nam tử! Bồ Tát do thiện tri thức nhậm trì, bất đọa ác thú;

do thiện tri thức nhiếp thọ, bất thoái đại thừa;

do thiện tri thức hộ niệm, bất hủy phạm Bồ-tát giới;

do thiện tri thức thủ hộ, bất tùy trục ác tri thức;

do thiện tri thức dưỡng dục, bất khuyết giảm Bồ Tát Pháp;

Nầy Thiện-nam-tử! Bồ-Tát do thiện-tri-thức nhiệm trì nên chẳng đọa ác-đạo,

do thiện-tri-thức nhiếp thọ mà chẳng thối đại-thừa,

do thiện-tri-thức hộ-niệm mà chẳng phạm bồ-tát-giới,

do thiện-tri-thức thủ-hộ mà chẳng theo ác-tri-thức,

do thiện-tri-thức dưỡng-dục mà chẳng khuyết bồ-tát-pháp

Giảng: Thiện nam tử! Bồ Tát do nhờ thiện tri thức nhậm trì, nên không đoạ vào đường ác.

Nhờ thiện tri thức nhiếp thọ, nên không thối chuyển pháp môn đại thừa.

Nhờ thiện tri thức hộ niệm, nên không huỷ phạm tịnh giới Bồ Tát.

Nhờ thiện tri thức thủ hộ, nên không theo đuổi ác tri thức.

Nhờ thiện tri thức dưỡng dục, nên không khuyết giảm pháp Bồ Tát.

 

do thiện tri thức nhiếp thủ, siêu việt phàm phu địa;

do thiện tri thức giáo hối, siêu việt nhị thừa địa;

do thiện tri thức thị đạo, đắc xuất ly thế gian;

do thiện tri thức trưởng dưỡng, năng bất nhiễm thế Pháp;

do thừa sự thiện tri thức, tu nhất thiết Bồ Tát hạnh;

do thiện-tri-thức nhiếp thủ mà siêu-việt hạng phàm-phu,

do thiện-tri-thức giáo hối mà siêu-việt bực nhị thừa,

do thiện-tri-thức dìu-dắt mà được ra khỏi thế-gian,

do thiện-tri-thức trưởng-dưỡng mà có thể chẳng nhiễm thế-pháp,

do kính thờ thiện-tri-thức mà tu tất cả bồ-tát-hạnh

Giảng: Nhờ thiện tri thức nhiếp lấy, nên vượt qua bậc phàm phu.

Nhờ thiện tri thức dạy dỗ, nên vượt qua bậc nhị thừa.

Nhờ thiện tri thức chỉ đạo, nên thoát khỏi lưới trần thế gian.

Nhờ thiện tri thức trưởng dưỡng, nên không nhiễm pháp thế gian.

Nhờ phụng thờ thiện tri thức, nên tu tập tất cả Bồ Tát hạnh.

 

 

do cúng dường thiện tri thức, cụ nhất thiết trợ đạo Pháp;

do thân cận thiện tri thức, bất vi nghiệp hoặc chi sở tồi phục;

do thị hỗ thiện tri thức, thế lực kiên cố, bất bố chư ma;

do y chỉ thiện tri thức, tăng trưởng nhất thiết Bồ-đề phần Pháp.

do cúng-dường thiện-tri-thức mà đủ tất cả pháp trợ-đạo,

do thân-cận thiện-tri-thức mà chẳng bị nghiệp hoặc nhiếp phục,

do nương dựa thiện-tri-thức mà thế-lực kiên-cố chẳng sợ ma-chúng,

do y chỉ thiện-tri-thức mà tăng-trưởng tất cả pháp bồ-đề-phần.

Giảng: Nhờ cúng dường thiện tri thức, nên đầy đủ tất cả pháp trợ đạo.

Nhờ gần gũi thiện tri thức, nên không bị nghiệp hoặc thôi phục.

Nhờ nương tựa thiện tri thức, mà thế lực kiên cố, nên chẳng sợ tất cả chúng ma.

Nhờ y chỉ thiện tri thức, mà tăng trưởng tất cả pháp bồ đề phần.

 

Hà dĩ cố? Thiện nam tử! thiện tri thức giả,

năng tịnh chư chướng,

năng diệt chư tội,

năng trừ chư nạn,

năng chỉ chư ác,

năng phá vô minh trường dạ hắc ám,

Tại sao vậy? Nầy Thiện-nam-tử! Vì thiện-tri-thức

có thể trừ sạch các điều chướng ngại,

có thể diệt các tội,

có thể dứt các nạn,

có thể ngăn các ác,

có thể phá đêm dài tối tăm vô-minh,

Giảng: Tại sao vậy? Thiện nam tử! Vì thiện tri thức

thanh tịnh được tất cả nghiệp chướng.

Tiêu diệt được tất cả tội nghiệp.

Trừ sạch được tất cả chướng ngại.

Dừng lại được tất cả các điều ác.

Phá tan được tất cả vô minh đêm dài đen tối.

 

năng hoại chư kiến kiên cố lao ngục,

năng xuất sanh tử thành,

năng xả thế tục gia,

năng tiệt chư ma võng,

năng bạt chúng khổ tiến,

có thể làm sập đổ lao ngục kiên cố kiến-chấp,

có thể thoát khỏi thành sanh tử,

có thể bỏ nhà thế-tục,

có thể cắt lưới ma,

có thể nhổ tên khổ,

Giảng: Phá hoại được tất cả tà kiến lao ngục kiên cố.

Thoát khỏi được thành sinh tử.

Xả bỏ được nhà thế tục.

Chặt đứt được các lưới ma.

Nhổ được mũi tên các khổ.

 

năng ly vô trí hiểm nan xứ,

năng xuất tà kiến Đại khoáng dã,

năng độ chư hữu lưu,

năng ly chư tà đạo,

năng thị Bồ-đề lộ,

năng giáo Bồ Tát Pháp,

có thể lìa chỗ hiểm nạn vô-trí,

có thể ra khỏi đồng hoang rộng lớn tà-kiến,

có thể qua khỏi dòng hữu-lậu,

có thể lìa những tà-đạo,

có thể chỉ đường bồ-đề,

có thể dạy pháp bồ-tát

Giảng: Lìa khỏi được nơi hiểm nạn không có trí huệ.

Thoát khỏi được tà kiến đồng hoang rộng lớn.

Qua được dòng xoáy các cõi.

Lìa khỏi được các tà đạo.

Mở bày được bồ đề đại đạo.

Giáo hoá được diệu pháp Bồ Tát.

 

năng lệnh an trụ Bồ Tát hạnh,

năng lệnh thú hướng nhất thiết trí,

năng tịnh trí Tuệ-nhãn,

năng trưởng Bồ-đề tâm,

năng sanh đại bi,

năng diễn diệu hạnh,

có thể khiến an trụ bồ-tát-hạnh,

có thể khiến xu-hướng nhất-thiết-trí,

có thể tịnh mắt trí-huệ,

có thể lớn tâm bồ-đề,

có thể sanh đại-bi,

có thể diễn diệu-hạnh,

Giảng: Khiến cho an trụ được trong Bồ Tát hạnh.

Khiến cho hướng về được nhất thiết trí.

Thanh tịnh được mắt trí huệ.

Tăng trưởng được bồ đề tâm.

Sinh ra được đại bi nguyện.

Diễn nói được pháp diệu hạnh.

 

năng thuyết Ba-la-mật,

năng bấn ác tri thức,

năng lệnh trụ chư địa,

năng lệnh hoạch chư nhẫn,

năng lệnh tu tập nhất thiết thiện căn,

có thể nói ba-la-mật,

có thể tẩn ác tri-thức,

có thể khiến trụ các bậc,

có thể khiến được các nhẫn,

có thể khiến tu tập các thiện-căn,

Giảng: Tuyên nói được pháp môn Ba La Mật.

Bãi bỏ được tất cả ác tri thức.

Khiến trụ được quả vị tất cả địa.

Khiến cho đắc được sức tất cả nhẫn.

Khiến cho tu tập được tất cả căn lành.

 

năng lệnh thành biện nhất thiết đạo cụ,

năng thí dữ nhất thiết Đại công đức,

năng lệnh đáo nhất thiết chủng trí vị,

năng lệnh hoan hỉ tập công đức,

năng lệnh dõng dược tu chư hạnh,

có thể khiến thành xong tất cả đạo-cụ,

có thể thí cho tất cả công-đức lớn,

có thể khiến đến ngôi nhất-thiết-chủng-trí,

có thể khiến hoan hỉ nhóm công-đức,

có thể khiến hớn hở tu các công hạnh

Giảng: Khiến cho thành tựu được tất cả đạo cụ.

Thí cho được tất cả đại công đức.

Khiến cho đến được bậc nhất thiết chủng trí.

Khiến cho hoan hỉ tích tập được tất cả công đức.

Khiến cho hớn hở tu hành được tất cả hạnh môn.

 

năng lệnh thú nhập thậm thâm nghĩa,

năng lệnh khai thị xuất ly môn,

năng lệnh đỗ tuyệt chư ác đạo,

năng lệnh dĩ pháp quang chiếu diệu,

năng lệnh dĩ Pháp vũ nhuận trạch,

có thể khiến xu-nhập nghĩa thậm-thâm,

có thể khiến khai thị môn xuất ly,

có thể khiến trừ tuyệt các ác-đạo,

có thể dùng pháp-quang chiếu diệu,

có thể dùng pháp-vũ nhuận trạch,

Giảng: Khiến cho nhập vào được nghĩa lý thâm sâu.

Khiến cho khai thị được pháp môn thoát khỏi ba cõi.

Khiến cho lấp hết được các đường ác.

Khiến cho dung được pháp quang minh chiếu sáng.

Khiến cho dùng được mưa pháp để thấm nhuần chúng sinh.

 

năng lệnh tiêu diệt nhất thiết hoặc,

năng lệnh xả ly nhất thiết kiến,

năng lệnh tăng trưởng nhất thiết Phật trí tuệ,

năng lệnh an trụ nhất thiết Phật Pháp môn.

có thể khiến tiêu diệt tất cả phiền-não,

có thể khiến bỏ lìa tất cả kiến chấp,

có thể khiến tăng-trưởng tất cả phật-trí-huệ,

có thể khiến an-trụ tất cả phật pháp-môn.

Giảng: Khiến cho tiêu diệt được tất cả mê hoặc.

Khiến cho xả lìa được tất cả tà kiến.

Khiến cho tăng trưởng được trí huệ của tất cả chư Phật.

Khiến cho an trụ được pháp môn của tất cả chư Phật.

 

Thiện nam tử! thiện tri thức giả, như từ mẫu, xuất sanh Phật chủng cố; như Từ Phụ, quảng đại lợi ích cố; như nhũ mẫu, thủ hộ bất lệnh tác ác cố; như giáo sư, thị kỳ Bồ Tát sở học cố; như Thiện Đạo, năng thị Ba-la-mật đạo cố; như lương y, năng trì phiền não chư bệnh cố; như tuyết sơn, tăng trưởng nhất thiết trí dược cố; như dũng tướng, điễn trừ nhất thiết bố úy cố; như tế khách, lệnh xuất sanh tử bạo lưu cố; như thuyền sư, lệnh đáo trí tuệ bảo châu cố.

Nầy Thiện-nam-tử! Thiện-tri-thức như từ-mẫu, vì xuất sanh phật-chủng. Như từ-phụ, vì lợi ích rộng lớn. Như nhũ-mẫu vì thủ hộ chẳng cho làm ác. Như giáo-sư, vì dạy sở-học của Bồ-Tát. Như đạo-sư, vì hay chỉ đường ba-la-mật. Như lương-y, vì hay chữa bịnh phiền-não. Như Tuyết-Sơn, vì tăng-trưởng thuốc nhất-thiết-trí. Như dũng-tướng, vì dẹp trừ tất cả sự bố-úy. Như người đưa đò, vì làm cho ra khỏi dòng sanh-tử. Như lái thuyền, vì khiến đến bửu-sở-trí-huệ.

Giảng: Thiện nam tử! Thiện tri thức như mẹ hiền, vì hay sinh ra giống Phật. Như cha lành, vì lợi ích rộng lớn. Như nhũ mẫu, vì giữ gìn không khiến cho làm ác. Như giáo sư, vì hay chỉ bày pháp môn sở học của Bồ Tát. Như đường lành, vì chỉ bày con đường Ba La Mật. Như lương y, vì hay trị các bệnh phiền não. Như núi tuyết, vì tăng trưởng thuốc nhất thiết trí. Như dũng tướng, vì dẹp trừ tất cả sự sợ hãi. Như người đưa đò, vì khiến cho chúng sinh thoát khỏi dòng xoáy sinh tử. Như lái thuyền, vì khiến cho đến được châu báu trí huệ.

 

Thiện nam tử! thường đương như thị chánh niệm tư tánh chư thiện tri thức.

Nầy Thiện-nam-tử! Thường phải chánh-niệm suy nghĩ thiện-tri-thức là như vậy.

Giảng: Thiện nam tử! Nên luôn luôn chánh niệm suy gẫm các thiện tri thức như vậy.

 

Phục thứ, Thiện nam tử! nhữ thừa sự nhất thiết thiện tri thức,

ưng phát như Đại địa tâm, hà phụ trọng nhâm vô bì quyện cố;

ưng phát như Kim cương tâm, chí nguyện kiên cố bất khả hoại cố;

ưng phát như Thiết vi sơn tâm, nhất thiết chư khổ vô năng động cố;

Lại nầy Thiện-nam-tử! Ngươi kính thờ tất cả thiện-tri-thức

phải phát tâm như đại-địa, vì gánh vác trọng-nhiệm không mỏi nhọc.

Phải phát tâm như kim-cang vì chí nguyện kiên-cố chẳng hư hoại,

phải phát tâm như núi Thiết-vi vì tất cả các sự khổ không lay động.

Giảng: Lại nữa, thiện nam tử! Khi ngươi phụng thờ thiện tri thức,

Nên phát tâm như đại địa, vì đại địa gánh vác trọng trách không mệt mỏi.

Nên phát tâm như kim cang, vì chí nguyện kiên cố không thể hoại.

Nên phát tâm như núi Thiết Vi, vì tất cả các khổ không động được.

 

ưng phát như cấp thị tâm, sở hữu giáo lệnh giai tùy thuận cố;

ưng phát như đệ-tử tâm, sở hữu huấn hối vô vi nghịch cố;

ưng phát như đồng bộc tâm, bất yếm nhất thiết chư tác vụ cố;

ưng phát như dưỡng mẫu tâm, thọ chư cần khổ bất cáo lao cố;

Phải phát tâm như người hầu hạ, vì đều tùy thuận theo lời dạy.

Phải phát tâm như đệ-tử, vì không chống trái lời dạy bảo.

Phải phát tâm như tôi tớ, vì tất cả lao vụ không nhàm.

Phải phát tâm như dưỡng-mẫu, vì chịu những sự cần khổ không biết nhọc.

Giảng: Nên phát tâm như người hầu hạ, vì tất cả lời dạy, khiến đều tuỳ thuận phục tùng.

Nên phát tâm như đệ tử, vì tất cả lời dạy dỗ của thầy đều không chống trái.

Nên phát tâm như tôi tớ, vì không nhàm chán tất cả các việc làm.

Nên phát tâm như dưỡng mẫu, vì chịu đựng sự cần khổ không than mệt nhọc.

 

ưng phát như dong tác tâm, tùy sở thọ giáo vô vi nghịch cố;

ưng phát như trừ phẩn nhân tâm, ly kiêu mạn cố;

ưng phát như dĩ thục giá tâm, năng đê hạ cố;

ưng phát như lương mã tâm, ly ác tánh cố;

Phải phát tâm như người làm thuê, vì không trái chỗ sai bảo.

Phải phát tâm như người hốt phân, vì lìa kiêu-mạn.

Phải phát tâm như cây lúa đã chín, vì có thể hạ thấp.

Phải phát tâm như lương-mã, vì lìa ác-tánh.

Giảng: Nên phát tâm như người làm thuê, vì theo sự chỉ bảo của chủ nhân không chống trái.

Nên phát tâm như hốt phân, vì lìa sự kiêu mạn.

Nên phát tâm như cây lúa đã chín, vì hay hạ thấp xuống.

Nên phát tâm như ngựa giỏi, vì lìa bỏ tánh ác.

 

ưng phát như đại xa tâm, năng vận trọng cố;

ưng phát như điều thuận tượng tâm, hằng phục tùng cố;

ưng phát Như-Tu-Di-Sơn tâm, bất khuynh động cố;

ưng phát như lương khuyển tâm, bất hại chủ cố;

Phải phát tâm như xe lớn, vì có thể chở nặng.

Phải phát tâm như voi điều thuận, vì hằng phục tùng.

Phải phát tâm như núi Tu-Di, vì chẳng khuynh động.

Phải phát tâm như lương-khuyển, vì chẳng phản hại chủ.

Giảng: Nên phát tâm như xe lớn, vì chở vật nặng được.

Nên phát tâm như voi điều thuận, vì luôn phục tùng.

Nên phát tâm như núi Tu Di, vì chẳng lay động.

Nên phát tâm như chó tốt, vì không hại chủ.

 

ưng phát như Chiên-đà-la tâm, ly kiêu mạn cố;

ưng phát như kiện ngưu tâm, vô uy nộ cố;

ưng phát như châu thuyền tâm, vãng lai bất quyện cố;

ưng phát như kiều lương tâm, tế độ vong bì cố;

Phải phát tâm như chiên-đà-la, vì lìa kiêu-mạn.

Phải phát tâm như kiện-ngưu, vì không hung giận.

Phải phát tâm như ghe thuyền, vì qua lại chẳng mỏi.

Phải phát tâm như cầu đò, vì tế độ không biết nhọc.

Giảng: Nên phát tâm như chiên đà la, vì lìa kiêu mạn.

Nên phát tâm như trâu mạnh, vì không hung giận.

Nên phát tâm như ghe thuyền, vì qua lại không mỏi.

Nên phát tâm như cây cầu, vì đưa người qua sông không biết mệt mỏi.

 

ưng phát như hiếu tử tâm, thừa thuận nhan sắc cố;

ưng phát như Vương tử tâm, tuân hành giáo mạng cố.

Phải phát tâm như hiếu-tử, vì thừ thuận nhan sắc.

Phải phát tâm như vương-tử, vì tuân hành giáo-mạng.

Giảng: Nên phát tâm như hiếu tử, vì thừa thuận nhan sắc.

Nên phát tâm như vương tử, vì tuân giữ làm theo tất cả sự giáo dục và huấn luyện của quốc vương.

 

Phục thứ, Thiện nam tử! nhữ ưng ư tự thân sanh bệnh khổ tưởng, ư thiện tri thức sanh y vương tưởng, ư sở thuyết pháp sanh lương dược tưởng, ư sở tu hành sanh trừ bệnh tưởng;

Lại nầy Thiện-nam-tử! Với tự-thân, ngươi phải tưởng là bịnh khổ. Với thiện-tri-thức, ngươi phải tưởng là y-vương. Với pháp của thiện-tri-thức dạy, ngươi phải tưởng là lương-dược. Với chỗ tu hành, tưởng trừ được bịnh.

Giảng: Lại nữa, Thiện nam tử! Ngươi nên nghĩ tưởng như vầy: Thân mình giống như là bệnh khổ, thiện tri thức là bậc y vương, pháp của thiện tri thức nói, giống như là thuốc hay, ta y pháp tu hành, giống như là trừ được bệnh.

 

hựu ưng ư tự thân sanh viễn hành tưởng, ư thiện tri thức sanh Đạo sư tưởng, ư sở thuyết pháp sanh chánh đạo tưởng, ư sở tu hành sanh viễn đạt tưởng;

Lại phải ở nơi tự-thân, tưởng là đi xa. Nơi thiện-tri-thức, tưởng là đạo-sư. Nơi pháp của thiện-tri-thức dạy, tưởng là con đường chánh. Nọi chỗ tu hành, tưởng là đến được xa.

Giảng: Lại nữa, ngươi nên nghĩ tưởng như vầy: Thân mình giống như là đi xa, thiện tri thức, giống như là vị đạo sư, pháp của Ngài nói, là con đường chân chánh, ta y theo pháp tu hành, giống như là đến được đích nơi xa.

 

Hựu ưng ư tự thân sanh cầu độ tưởng, ư thiện tri thức sanh thuyền sư tưởng, ư sở thuyết pháp sanh châu tiếp tưởng, ư sở tu hành sanh đáo ngạn tưởng;

Lại phải ở nơi tự thân, tưởng cầu được độ. Nơi thiện-tri-thức, tưởng là người lái thuyền. Nơi pháp của thiện-tri-thức dạy, tưởng là thuyền, là chèo. Nơi chỗ tu hành, tưởng là đến bờ kia.

Giảng: Lại nữa, ngươi nên nghĩ tưởng như vầy: Thân mình cần phải qua sông, thiện tri thức là người lái thuyền. Pháp của Ngài nói giống như là thuyền, là chèo, ta y theo pháp tu hành, thì sẽ đến được bờ bên kia.

 

Hựu ưng ư tự thân sanh thảo giá tưởng, ư thiện tri thức sanh long Vương tưởng, ư sở thuyết pháp sanh thời vũ tưởng, ư sở tu hành sanh thành thục tưởng;

Lại phải ở nơi tự-thân, tưởng là lúa mạ. Nơi thiện-tri-thức tưởng là Long-Vương. Nơi pháp của thiện-tri-thức dạy, tưởng là mưa đúng thời tiết. Nơi chỗ tu hành tưởng là có thể thành thục.

Giảng: Lại nữa, ngươi nên nghĩ tưởng như vầy: Thân mình giống như là lúa mạ, thiện tri thức giống như Long Vương, pháp của Ngài nói giống như đúng mùa mưa, ta y theo pháp tu hành giống như lúa thóc chín mùi.

 

Hựu ưng ư tự thân sanh bần cùng tưởng, ư thiện tri thức sanh Tỳ sa môn Vương tưởng, ư sở thuyết pháp sanh tài bảo tưởng, ư sở tu hành sanh phú nhiêu tưởng;

Lại phải ở nơi tự-thân, tưởng là nghèo cùng. Nơi thiện-tri-thức tưởng là Tỳ-Sa-Môn Thiên-Vương. Nơi pháp của thiện-tri-thức dạy, tưởng là của cải châu báu. Nơi chỗ tu hành, tưởng là giàu có.

Giảng: Lại nữa, ngươi nên nghĩ tưởng như vầy: Thân mình giống như rất bần cùng, thiện tri thức giống như Tỳ Sa Môn Thiên Vương, pháp của Ngài nói giống như là tiền tài châu báu, ta y theo pháp tu hành, thì sẽ được giàu có.

 

Hựu ưng ư tự thân sanh đệ-tử tưởng, ư thiện tri thức sanh lương công tưởng, ư sở thuyết pháp sanh kỹ nghệ tưởng, ư sở tu hành sanh liễu tri tưởng;

Lại phải ở nơi tự-thân, tưởng là đệ-tử. Nơi thiện-tri-thức, tưởng là thợ khéo. Nơi pháp của thiện-tri-thức dạy, tưởng là nghề khéo. Nơi chỗ tu hành, tưởng là biết rõ.

Giảng: Lại nữa, ngươi nên nghĩ tưởng như vầy: Thân mình giống như là đệ tử, thiện tri thức, giống như là người thợ rất khéo giỏi, pháp của thiện tri thức nói giống như là kỹ nghệ, ta y theo pháp tu hành giống như là biết rõ kỹ nghệ.

 

Hựu ưng ư tự thân sanh khủng bố tưởng, ư thiện tri thức sanh dũng kiện tưởng, ư sở thuyết pháp sanh khí trượng tưởng, ư sở tu hành sanh phá oán tưởng;

Lại phải ở nơi tự-thân, tưởng là chỗ đáng sợ hãi. Nơi thiện-tri-thức, tưởng là người dũng kiện. Nơi pháp của thiện-tri-thức dạy, tưởng là dao gậy. Nơi chỗ tu hành, tưởng là dẹp trừ được kẻ oán địch.

Giảng: Lại nữa, ngươi nên nghĩ tưởng như vầy: Thân mình giống như là sự sợ hãi, thiện tri thức giống như là người dũng cảm, pháp của Ngài nói giống như là đao gậy, ta y theo pháp tu hành, giống như là phá được oán địch.

 

Hựu ưng ư tự thân sanh thương nhân tưởng, ư thiện tri thức sanh Đạo sư tưởng, ư sở thuyết pháp sanh trân bảo tưởng, ư sở tu hành sanh quấn thập tưởng;

Lại phải ở nơi tự-thân, tưởng là người đi buôn. Nơi thiện-tri-thức, tưởng là đạo-sư. Nơi pháp của thiện-tri-thức dạy, tưởng là trân-bửu. Nơi chỗ tu hành, tưởng là lượm châu báu.

Giảng: Lại nữa, ngươi nên nghĩ tưởng như vầy: Thân mình giống như là người đi buôn, thiện tri thức giống như là bậc đạo sư, pháp của Ngài nói giống như là châu báu, ta y theo pháp tu hành giống như là lượm được châu báu.

 

Hựu ưng ư tự thân sanh nhi tử tưởng, ư thiện tri thức sanh phụ mẫu tưởng, ư sở thuyết pháp sanh gia nghiệp tưởng, ư sở tu hành sanh thiệu kế tưởng;

Lại phải ở nơi tự-thân, tưởng là con cái. Nơi thiện-tri-thức, tưởng là cha mẹ. Nơi pháp của thiện-tri-thức dạy, tưởng là gia nghiệp. Nơi chỗ tu hành, tưởng là nối nghiệp nhà.

Giảng: Lại nữa, ngươi nên nghĩ tưởng như vầy: Thân mình giống như là con cái, thiện tri thức giống như là cha mẹ, pháp của Ngài nói giống như là gia nghiệp, ta y theo pháp tu hành giống như là nối nghiệp nhà.

 

Hựu ưng ư tự thân sanh Vương tử tưởng, ư thiện tri thức sanh đại thần tưởng, ư sở thuyết pháp sanh Vương giáo tưởng, ư sở tu hành sanh quan Vương quan tưởng, phục Vương phục tưởng, hệ Vương tăng tưởng, tọa Vương điện tưởng.

Lại phải ở nơi tự-thân, tưởng là vương-tử. Nơi thiện-tri-thức, tưởng là đại-thần. Nơi pháp của thiện-tri-thức dạy, tưởng là lịnh của vua. Nơi chỗ tu hành, tưởng là đội mão vua, mặc áo vua, cột đai vua, ngồi điện vua.

Giảng: Lại nữa, ngươi nên nghĩ tưởng như vầy: Thân mình giống như là vương tử, thiện tri thức giống như là đại thần, pháp của Ngài nói giống như là lời vua dạy, ta y theo pháp tu hành giống như là đội mão vua, mặc y phục vua, ngồi cung điện vua.

 

Đạo lý của đoạn Kinh văn nầy nói, là dạy chúng ta gần gũi thiện tri thức, xa lìa ác tri thức. Người chưa gặp được thiện tri thức, thì nên đi các nơi tìm cầu thiện tri thức. Người đã gặp được thiện tri thức, thì nên gần gũi thiện tri thức. Nghe thiện tri thức dạy bảo, thì đừng chống trái sự giáo hoá của thiện tri thức. Thiện tri thức là kim chỉ nam trong đường mê, khiến cho bạn tìm được phương hướng, đi trên con đường bồ đề đại đạo.

Người học Phật pháp, nhất định phải tiêu diệt hết sạch tâm tự tư, tự lợi, của mình, đừng để nó tác quái, làm loạn định tâm, nên biến nói thành tâm vì pháp quên mình. Chỉ cần đắc được Phật pháp, dù có đem thân tâm tánh mạng để bố thí, cũng không tiếc, tuyệt đối không xẻn tiếc. Bất quá, các vị phải hiểu được, do đó có câu:

“Đạo cao một thước, ma cao một trượng.
Đạo cao một trượng, ma ở trên đầu”.

Bạn càng muốn dụng chân tâm để tu hành, thì càng phải thọ sự khảo nghiệm, chỉ xem bạn có nhận thức được hay không mà thôi.

Giảng: Nếu muốn tu đạo, thì trước hết phải đừng có tâm tham, đừng có tâm sân, đừng có phan duyên. Không phan duyên bao quát không phan duyên tiền bạc, vật chất, cho nên nhất định phải đừng có tâm tham, tâm sân, tâm si. Nếu có tâm tham sân si ba độc, thì sẽ sinh ra rất nhiều phiền não.

Các vị hãy xem! Mỗi người của mình không biết có nghiệp chướng gì, càng nhận chân tu hành, thì càng phát sinh nghiệp chướng. Do đó có câu:
“Muốn học tốt, oan nghiệt tìm
Muốn thành Phật, phải thọ ma”.

Hiện tại (1979), Quả Đình (tức thầy Hằng Triều) tam bộ nhất bái, vừa mới khởi hành, đã biết dụng công tu hành, đã hồi tưởng lại chính mình. Nhưng mẹ của Y bị bệnh, ở trong nhà thương mới vừa mổ. Sự mổ nầy không nặng lắm, nhưng làm cho Quả Đình cứ nghĩ tưởng lăn xăn. Khi tam bộ nhất bái, thì Y vừa lạy vừa vọng tưởng. Sự khảo nghiệm nầy, rất là lợi hại, nếu không giữ vững được thì sẽ bị cảnh giới chuyển. Nhưng Quả Đình tâm đang bị động, thân đang lạy, nhờ ý chí kiên cường, mới khắc phục được vọng tưởng. Các vị hãy nghĩ xem! Tu đạo chẳng phải là một việc dễ dàng.

Quả Đình tự cảm thấy đối với cảnh giới khác, đều có thể nhẫn thọ được. Chỉ có cảnh giới nầy (mẹ bị bệnh) có lúc chịu không được. Tuy nhiên nhẫn thọ không được, nhưng vẫn phải tam bộ nhất bái, đây là biểu hiện không chuyển theo cảnh giới.

Người tu đạo phải chú ý! Không thể khởi vọng tưởng, vọng tưởng là đá buộc chân người tu đạo. Bạn có vọng tưởng gì, thì có cảnh giới đó đến khảo nghiệm bạn. Cho nên tôi thường nói:
“Tất cả là khảo nghiệm
Xem bạn làm thế nào
Trước mắt chẳng nhận thức
Phải luyện lại từ đầu”.

Ví như người nam chẳng buông bỏ được người vợ, người nữ chẳng buông bỏ được người chồng, cha mẹ chẳng buông bỏ được con cái. Sự việc nầy đến khảo nghiệm, thì bị sự việc nầy không thể tu hành được. Cho nên cảnh giới đến, chẳng dễ gì phá được cửa ải, cũng không dễ gì qua được cửa ải nầy. Do đó có câu:
“Tu đạo như bò lên cây sào trăm thước,
Xuống thì dễ, lên thì khó”.

Các vị hãy nghĩ xem! Làm thế nào đây? Nếu không hướng về trước tiến tới, thì sẽ thối lùi về sau. Hướng về trước tiến tới, thì dễ dàng thăng đi lên, thối lùi về sau, thì dễ dàng đoạ lạc. Thăng đi lên là đường lành, đoạ lạc là đường ác. Cho nên nói: “Khó! Khó! Khó! Hai chữ tu hành khiến cho người lạnh, phải dậy sớm, phải ngủ trễ, sớm tối không có thời gian ở không”. Bạn nói có khó chăng!

Các vị đối với đoạn Kinh Hoa Nghiêm nầy, có cảm tưởng gì? Phải kiểm thảo kỹ càng lại xem, thì mới nhận thức được đối với đoạn Kinh văn nầy. Không thể nuốt trựng không nhai, ăn mà chẳng biết mùi vị của nó. Phải từ từ nhai cho thật kỹ, mới nếm được mùi vị, thì mới đắc được lợi ích của pháp. Đừng có tham nhiều, chỉ tại tinh mật. Tham nhiều nhai không nát, ngược lại chỉ có hại, thức ăn không tiêu hoá được, thì chẳng có ích gì.

 

Thiện nam tử! nhữ ưng phát như thị tâm, tác như thị ý cận thiện tri thức. Hà dĩ cố? dĩ như thị tâm cận thiện tri thức, lệnh kỳ chí nguyện vĩnh đắc thanh tịnh.

Nầy Thiện-nam-tử! Ngươi phải phát tâm như vậy, suy nghĩ như vậy để gần thiện-tri-thức. Tại sao vậy? Vì có tâm như vậy để gần thiện-tri-thức thời chí nguyện trọn được thanh-tịnh.

Giảng: Thiện nam tử! Ngươi nên phát tâm nguyện như vậy, tác ý như vậy, gần gũi thiện tri thức, phụng thờ thiện tri thức, cúng dường thiện tri thức. Tại sao vậy? Vì dùng tâm nguyện như vậy, ý niệm như vậy, để gần gũi thiện tri thức, thì khiến cho chí nguyện của ngươi, vĩnh viễn được thanh tịnh.

 

Phục thứ, Thiện nam tử! thiện tri thức giả trưởng chư thiện căn, thí như tuyết sơn trưởng chư dược thảo;

Lại nầy Thiện-nam-tử! Thiện-tri-thức làm lớn các thiện-căn, như núi Tuyết sanh lớn các dược-thảo.

Giảng: Lại nữa, thiện nam tử! Thiện tri thức nuôi lớn các căn lành, ví như núi Tuyết, nuôi lớn các cỏ thuốc.

 

Thiện tri thức giả thị Phật Pháp khí, thí như đại hải thôn nạp chúng lưu;

Thiện-tri-thức là pháp-khí của Phật, như đại-hải nhận thọ các dòng nước.

Giảng: Thiện tri thức là pháp khí thành Phật, ví như biển cả, dung nạp các dòng nước sông ngòi đổ vào.

 

Thiện tri thức giả thị công đức xứ, thí như đại hải xuất sanh chúng bảo;

Thiện-tri-thức là chỗ công-đức, như đại-hải xuất sanh các châu báu.

Giảng: Thiện tri thức là nơi hết thảy công đức tích tụ, ví như biển cả, hay sinh ra các châu báu.

 

Thiện tri thức giả tịnh Bồ-đề tâm, thí như mãnh hỏa năng luyện chân kim;

Thiện-tri-thức thanh-tịnh tâm bồ-đề, như lửa hừng luyện chơn-kim.

Giảng: Thiện tri thức là thanh tịnh bồ đề tâm, ví như lửa mạnh, hay rèn luyện vàng thật.

 

Thiện tri thức giả xuất qua thế Pháp, Như-Tu-Di-Sơn xuất ư đại hải

Thiện-tri-thức vượt hơn thế-pháp như núi Tu-Di vọt lên mặt đại-hải.

Giảng: Thiện tri thức là vượt qua pháp thế gian, ví như núi Tu Di, vọt lên nơi biển cả.

 

Thiện tri thức giả bất nhiễm thế Pháp, thí như liên hoa bất trước ư thủy;

Thiện-tri-thức chẳng nhiễm thế-pháp, như hoa sen chẳng dính nước.

Giảng: Thiện tri thức là chẳng nhiễm pháp thế gian, ví như hoa sen, mọc lên trong bùn, mà chẳng nhiễm bùn, sinh ở trong nước mà chẳng dính nước.

 

Thiện tri thức giả bất thọ chư ác, thí như đại hải bất tú tử thi;

Thiện-tri-thức chẳng thọ các điều ác, như đại-hải chẳng chứa tử-thi.

Giảng: Thiện tri thức là chẳng thọ các điều ác, ví như biển cả, chẳng chứa tử thi.

 

Thiện tri thức giả tăng trưởng bạch pháp, thí như bạch nguyệt quang sắc viên mãn;

Thiện-tri-thức tăng trưởng pháp lành, như trăng tròn quang sắc viên-mãn.

Giảng: Thiện tri thức là tăng trưởng pháp trắng tịnh, ví như trăng rằm, ánh sáng màu sắc viên mãn.

 

Thiện tri thức giả chiếu minh Pháp giới, thí như thịnh Nhật chiếu tứ thiên hạ

Thiện-tri-thức soi sáng pháp-giới, như mặt nhựt chiếu khắp thế-gian.

Giảng: Thiện tri thức là chiếu sáng pháp giới, ví như mặt trời, chiếu khắp bốn thiên hạ.

 

Thiện tri thức giả trưởng Bồ Tát thân, thí như phụ mẫu dưỡng dục nhi tử.

Thiện-tri-thức làm lớn thân Bồ-Tát, như cha mẹ nuôi nấng con cái.

Giảng: Thiện tri thức là nuôi lớn thân Bồ Tát, ví như cha mẹ, nuôi lớn con cái.

 

Thiện nam tử! dĩ yếu ngôn chi, Bồ-Tát Ma-ha-tát nhược năng tùy thuận thiện tri thức giáo, đắc thập bất khả thuyết bách thiên ức na-do-tha công đức, tịnh thập bất khả thuyết bách thiên ức na-do-tha thâm tâm, trường thập bất khả thuyết bách thiên ức na-do-tha Bồ Tát căn, tịnh thập bất khả thuyết bách thiên ức na-do-tha Bồ Tát lực, đoạn thập bất khả thuyết bách thiên ức a-tăng-kì chướng, siêu thập bất khả thuyết bách thiên ức a-tăng-kì ma cảnh, nhập thập bất khả thuyết bách thiên ức a-tăng-kì Pháp môn, mãn thập bất khả thuyết bách thiên ức a-tăng-kì trợ đạo, tu thập bất khả thuyết bách thiên ức a-tăng-kì diệu hạnh, phát thập bất khả thuyết bách thiên ức a-tăng-kì đại nguyện.

Nầy Thiện-nam-tử! Tóm lại, Bồ-Tát nếu có thể tùy thuận lời dạy của thiện-tri-thức, thời được mười bất-khả-thuyết trăm ngàn ức na-do-tha công-đức, thời thanh-tịnh mười bất-khả-thuyết trăm ngàn ức na-do-tha thâm-tâm, thời lớn mười bất-khả-thuyết trăm ngàn ức na-no-tha bồ-tát-căn, thời thành mười bất-khả-thuyết trăm ngàn ức na-do-tha bồ-tát lực, thời dứt mười bất-khả-thuyết trăm ngàn ức a-tăng-kỳ-chướng, thời siêu mười bất-khả-thuyết trăm ngàn ức a-tăng-kỳ ma-cảnh, thời nhập mười bất-khả-thuyết trăm ngàn ức a-tăng-kỳ pháp-môn, thời mãn mười bất-khả-thuyết trăm ngàn ức a-tăng-kỳ trợ-đạo, thời tu mười bất-khả-thuyết trăm ngàn ức a-tăng-kỳ diệu-hạnh, thời phát mười bất-khả-thuyết trăm ngàn ức a-tăng-kỳ đại-nguyện.

Giảng: Thiện nam tử! Nói tóm lại, đại Bồ Tát nếu hay tuỳ thuận lời dạy của thiện tri thức, thì sẽ đắc được mười bất khả thuyết trăm ngàn ức Na do tha công đức. Thanh tịnh được mười bất khả thuyết trăm ngàn ức Na do tha thâm tâm. Tăng trưởng được mười bất khả thuyết trăm ngàn ức Na do tha Bồ Tát căn. Thanh tịnh được mười bất khả thuyết trăm ngàn ức Na do tha Bồ Tát lực. Đoạn trừ được mười bất khả thuyết trăm ngàn ức A tăng kỳ nghiệp chướng. Vượt qua được mười bất khả thuyết trăm ngàn ức A tăng kỳ ma cảnh. Chứng nhập được mười bất khả thuyết trăm ngàn ức A tăng kỳ pháp môn. Viên mãn được mười bất khả thuyết trăm ngàn ức A tăng kỳ trợ đạo. Tu hành được mười bất khả thuyết trăm ngàn ức A tăng kỳ diệu hạnh. Phát ra được mười bất khả thuyết trăm ngàn ức A tăng kỳ đại nguyện.

 

Thiện nam tử! ngã phục lược thuyết nhất thiết Bồ Tát hạnh, nhất thiết Bồ Tát Ba-la-mật, nhất thiết Bồ Tát địa, nhất thiết Bồ-tát nhẫn, nhất thiết Bồ Tát tổng trì môn, nhất thiết Bồ Tát tam muội môn, nhất thiết Bồ Tát thần thông trí, nhất thiết Bồ Tát hồi hướng, nhất thiết Bồ Tát nguyện.

Nầy Thiện-nam-tử! Ta lại lược nói bồ-tát-hạnh, tất cả bồ-tát ba-la-mật, tất cả bồ-tát địa, tất cả bồ-tát-nhẫn, tất cả bồ-tát tổng-trì-môn, tất cả bồ-tát tam-muội-môn, tất cả bồ-tát thần-thông-trí, tất cả bồ-tát hồi-hướng, tất cả bồ-tát nguyện

Giảng: Thiện nam tử! Ta lại lược nói hạnh môn của tất cả Bồ Tát tu. Pháp đến bờ kia của tất cả Bồ Tát. Quả vị chứng được của tất cả Bồ Tát. Vô sinh pháp nhẫn của tất cả Bồ Tát chứng được. Pháp môn tổng trì của tất cả Bồ Tát tu trì. Pháp môn tam muội của tất cả Bồ Tát chứng nhập. Thần thông trí huệ của tất cả Bồ Tát có. Hồi hướng của tất cả Bồ Tát. Hồi tiểu hướng đại, hồi nhân hướng quả, hồi sự hướng lý. Nguyện của tất cả Bồ Tát phát ra.

 

Nhất thiết Bồ Tát thành tựu Phật Pháp, giai do thiện tri thức lực, dĩ thiện tri thức nhi vi căn bản, y thiện tri thức sanh, y thiện tri thức xuất, y thiện tri thức trưởng, y thiện tri thức trụ, thiện tri thức vi nhân duyên, thiện tri thức năng phát khởi.

Tất cả bồ-tát thành-tựu phật-pháp, đều do sức của thiện-tri-thức. Ðều dùng thiện-tri-thức làm căn-bổn. Ðều nương thiện-tri-thức mà sanh. Ðều nương thiện-tri-thức mà ra. Ðều nương thiện-tri-thức mà lớn. Ðều nương thiện-tri-thức mà trụ. Ðều do thiện-tri-thức làm nhân-duyên. Ðều do thiện-tri-thức hay phát khởi.

Giảng: Phật quả của tất cả Bồ Tát thành tựu, đều do sức lực của thiện tri thức mà thành tựu. Dùng thiện tri thức mà làm căn bổn, nương thiện tri thức sinh ra tất cả căn lành, nương thiện tri thức nuôi lớn tất cả căn lành, nương thiện tri thức an trụ tất cả căn lành, thiện tri thức là nhân duyên của căn lành, thiện tri thức hay phát khởi tất cả căn lành.

 

Thời, Thiện tài đồng tử văn thiện tri thức như thị công đức, năng khai thị vô lượng Bồ Tát diệu hạnh, năng thành tựu vô lượng quảng đại Phật Pháp, dõng dược hoan hỉ, đảnh lễ đức sanh cập hữu đức túc, nhiễu vô lượng tạp, ân cần chiêm ngưỡng, từ thoái nhi khứ.

Bấy giờ Thiện-Tài Ðồng-Tử nghe thiện-tri-thức có công-đức như vậy, có thể khai-thị vô-lượng diệu-hạnh bồ-tát, có thể thành-tựu phật-pháp quảng đại, nên vui mừng hớn hở đảnh lễ Ðức-Sanh và Hữu-Ðức, hữu-nhiễu vô-số vòng, ân cần chiêm-ngưỡng từ tạ đi qua phương nam.

Giảng: Lúc đó, Thiện Tài đồng tử nghe công đức thiện tri thức như vậy, khai thị vô lượng Bồ Tát diệu hạnh. Thành tựu vô lượng Phật pháp rộng lớn, hớn hở vui mừng, bèn đảnh lễ Đức Sinh đồng tử và Hữu Đức đồng nữ, đi nhiễu quanh vô lượng vòng, ân cần chiêm ngưỡng, từ tạ mà đi đến nước Hải Ngạn, tham phương Bồ Tát Di Lặc.
Ở trước, Ma Gia phu nhân cả thảy mười một vị, minh hội duyên vào cảnh thật tướng. Ở dưới đây Bồ Tát Di Lặc một vị tự thuật nhiếp đức thành nhân tướng.

Hôm nay (ngày 9 tháng 6 năm 1979) nói về đạo lý làm người. Do đó :
« Hồ đồ sinh ra làm người,
Hồ đồ chết rồi làm ma ».

Khi đến, chẳng biết vì sao mà đến ? Khi đi, chẳng biết đi về đâu ? Tại sao lại hồ đồ ? Vì vô minh đang tác quái, cho nên cứ chuyển theo cảnh giới hư vọng. Con người cho rằng phát tài là tốt, kết quả lúc chết, một xu cũng không mang đi được. Cho rằng làm quan là tốt nhất, kết quả quan chức cũng chẳng còn. Phát tài, làm quan, giống như nằm mộng, hư vọng chẳng thật. Tức là hư vọng chẳng thật, thì nên sớm thức tỉnh mới đúng, nhưng có người nói với bạn rằng : Bạn đang nằm mộng ban ngày, thì bạn tuyệt đối không tin, vẫn muốn theo đuổi thanh sắc danh lợi, không chịu ngừng nghỉ. Theo đuổi cho đến chết, vẫn không giác ngộ, thật là đáng thương !

Các vị hãy nghĩ xem ! Cõi này thật là nhiều khổ, chẳng biết đạo lý :
« Biển khổ vô biên, hồi đầu là bờ ».

Các vị hãy mau phát tâm đại bồ đề, dừng lại tâm tham, tâm sân, tâm si ! Đừng để nó nổi sóng làm gió nữa. Phải biết rằng ba độc hại người không ít, hay làm cho con người điên đảo phát cuồng, hay làm cho con người mất đi lý trí, để đạt được mục đích, bất chấp thủ đoạn làm tất cả mọi việc. Nhẹ thì bị thương, nặng thì mất mạng, không thể không cẩn thận.

Tại sao chúng ta điên đảo ? Vì có tham sân si, nếu không có tham sân si, thì tất cả đều sóng yên gió lặng, chẳng có phiền não. Thế nào là tốt, thế nào là xấu, thế nào là giàu, thế nào là nghèo, thế nào là sang, thế nào là hèn ? Phải phân biệt rõ ràng, bằng không, khổ não vô biên. Tôi thường nói với các vị rằng :

« Người thiện chẳng oán người,
Kẻ ác thì hại người.
Người hiền chẳng nổi nóng,
Nổi nóng là kẻ ngu.

Người giàu chẳng chiếm tiện nghi,
Chiếm tiện nghi là kẻ nghèo.
Người sang chẳng sinh nóng giận,
Sinh nóng giận là kẻ hèn ».

Nổi nóng và sinh nóng giận có chỗ khác nhau, nổi nóng thì bên ngoài, nóng giận thì bên trong. Mấy câu nầy là phương pháp làm người. Hy vọng mọi người hãy nghi nhớ và áp dụng trong cuộc sống. Tuy chẳng phải là lời vàng ngọc gì, nhưng đáng khắc vào bia đá!