Kinh Pháp Hoa – Phẩm Khuyên Trì

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Giáo Bồ Tát Pháp

Phật Sở Hộ Niệm

phụng chiếu dịch

Diêu Tần Tam tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập

Giảng Giải:

Hoà Thượng Tuyên Hoá

— o0o —

Phẩm Khuyên Trì

Khuyên trì là gì ? Khuyên là khuyên nói, trì là phụng trì. Tức là bạn có thể dùng đủ thứ lời lẽ khuyên nói người khác, hoan hỉ đọc tụng bộ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa nầy, hoặc là hoan hỉ phụng trì bộ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa nầy, thì chắc chắn sẽ có công đức không thể nghĩ bàn. Nếu không tin thì đừng ngại hãy thử xem ! Một khi đọc kinh nầy, thì cảm thấy diệu không thể tả. Muốn không đọc tụng cũng không thể ngưng được. Do đó, hằng ngày đọc tụng kinh nầy, hằng ngày phụng trì kinh nầy, thì có vô lượng công đức.

Các vị hằng ngày nghe Kinh Pháp Hoa càng có vô lượng công đức. Kinh Pháp Hoa là vua trong các kinh, là kinh thành Phật. Cho nên, chư Phật, Bồ Tát, A La Hán, đều khuyên nói mọi người đọc tụng thọ trì bộ Kinh Pháp Hoa nầy. Ðây là một phẩm trong hai mươi tám phẩm Kinh Pháp Hoa, phẩm thứ mười ba, cho nên gọi là Phẩm Khuyên Trì Thứ Mười Ba.

 

Nhĩ thời Dược Vương Bồ Tát Ma Ha Tát cập Đại nhạo thuyết Bồ Tát Ma ha tát, dữ nhị vạn Bồ Tát quyến thuộc câu, giai ư Phật tiền tác thị thệ ngôn: “Duy nguyện Thế Tôn  bất dĩ vị lự. Ngã đẳng ư Phật diệt hậu, đương phụng trì, độc tụng, thuyết thử Kinh điển.

Lúc bấy giờ, ngài Dược Vương đại Bồ Tát  và ngài Ðại Nhạo Thuyết Bồ Tát  Ma ha tát cùng chung với quyến thuộc hai muôn vị Bồ Tát  đều ở trước Phật nói lời thệ rằng: “Cúi mong đức Thế Tôn chớ lo, sau khi Phật diệt độ chúng con sẽ phụng trì đọc tụng nói kinh điển này,

Bấy giờ, đại Bồ Tát Dược Vương và Bồ Tát Ðại Nhạo Thuyết, cùng hai vạn vị Bồ Tát quyến thuộc, cùng nhau đồng đến trước đức Phật phát thệ nguyện rằng : Xin nguyện đức Thế Tôn, đừng lấy làm lo lắng, sau khi đức Phật diệt độ, chúng con sẽ phụng trì đọc tụng diễn nói kinh này.

Sau khi Ðức Phật nói xong phẩm Ðề Bà Ðạt Ða, tiếp theo là Phẩm Khuyên Trì. Lúc đó, đại Bồ Tát Dược Vương và Ðại Bồ Tát Dược Thượng, cùng với hai vạn vị Bồ Tát quyến thuộc, cùng nhau đồng đến trước Ðức Phật phát thệ nguyện rằng : ‘’Chúng con đại chúng xin nguyện đức Thế Tôn yên tâm, đừng vì việc nầy mà lo lắng. Sau khi Thế Tôn vào Niết Bàn, chúng con đại chúng sẽ phụng trì đọc tụng bộ Kinh Pháp Hoa nầy, sẽ cung kính cúng dường bộ Kinh Pháp Hoa nầy‘’.

Trong quá khứ Bồ Tát Dược Vương tên là Tinh Tú Quang. Lúc ấy, có Tỳ Kheo Nhật Tạng tuyên dương truyền bá chánh pháp. Ông ta đem các thứ thuốc A lê lặc dâng lên Tỳ Kheo Nhật Tạng, và đại chúng phát nguyện đời sau, hay trị lành hai bệnh thân, tâm của chúng sinh, đời đời làm lương y, khéo trị bệnh, có thuốc đến thì bệnh tiêu trừ. Ông ta biết rành tính thuốc thảo, mộc, kim, thạch, bốn thứ. Như cam thảo thì ngọt, hoàng liên thì đắng. Tính lạnh trị được bệnh nhiệt, tính nóng trị được bệnh lạnh.

Ðại Nhạo Thuyết Bồ Tát có đủ bốn vô ngại biện :

  1. Pháp vô ngại biện : Nói được pháp thế gian và xuất thế gian, đối với tất cả các danh tướng, chẳng có gì mà không biết. Tuy biết tất cả các pháp, song chẳng chấp trước các pháp.
  2. Nghĩa vô ngại biện : Nói phân biệt được nghĩa của các pháp, thông đạt vô ngại. Tuy biết nghĩa lý của các pháp, song chẳng chấp trước.
  3. Từ vô ngại biện : Trong một lời bao hàm vô lượng nghĩa. Ðối với từng lời lẽ thông đạt tự tại, viên dung vô ngại.
  4. Lạc thuyết vô ngại biện : Tùy thuận sự vui thích của chúng sinh, mà thiện xảo phương tiện nói Phật pháp, cho nên gọi là Bồ Tát Ðại Nhạo Thuyết.

 

Hậu ác thế chúng sanh, thiện căn chuyển thiểu, đa tăng thượng mạn, tham lợi cúng dường, tăng bất thiện căn, viễn ly giải thoát. Tuy nan khả giáo hóa, ngã đẳng đương khởi đại nhẫn lực, độc tụng thử Kinh, trì thuyết, thư tả, chủng chủng cúng dường, bất tích thân mạng.”

 Đời ác sau, chúng sinh căn lành càng ít, nhiều kẻ tăng thượng mạn tham lợi dưỡng cúng dường, thêm lớn căn chẳng lành, xa lìa đạo giải thoát, dầu khó có thể giáo hóa, chúng con sẽ khởi sức nhẫn lớn đọc tụng kinh này, thụ trì giải nói biên chép, dùng các món cúng dường cho đến chẳng tiếc thân mệnh”.

Chúng sinh đời ác sau này, căn lành dần dần bớt đi, tăng nhiều thượng mạn, tham lợi cúng dường, tăng trưởng căn chẳng lành, xa lìa giải thoát. Tuy khó có thể giáo hóa, nhưng chúng con sẽ khởi sức nhẫn nhục lớn, đọc tụng kinh này, biên chép giải nói, đủ thứ cúng dường, chẳng tiếc thân mạng.

Chúng sinh trong đời ác năm trược chẳng tin Phật, nói Phật pháp cũng chẳng ai nghe. Tại sao ? Vì căn lành của chúng sinh dần dần giảm bớt đi, cho nên phước mỏng manh. Tuy nhiên người tăng trưởng căn lành giảm bớt, song người tăng thượng mạn thì nhiều. Như có người nói : ‘’Các vị có biết tôi là ai ? Tôi là Phật, chẳng những tôi đã thành Phật, mà mọi người cũng đều là Phật.’’ Ðó là biểu hiện tăng thượng mạn.

Thứ người đó chẳng biết hổ thẹn, đối với kinh điển của Phật nói, y chẳng hiểu một bộ kinh nào hết, vậy mà chẳng biết hổ thẹn nói mình là Phật. Thứ người đó tương lai chắt chắn sẽ đọa vào địa ngục vô gián. Tại sao tự nói mình là Phật ? Ðó là vì tham đồ lợi ích, tham đồ cúng dường. Như thế thì tăng thêm căn chẳng lành, vĩnh viễn xa lìa đạo giải thoát. Giải thoát là gì ? Nói đơn giản là chẳng chấp trước những thứ gì, đắc được cảnh giới vô câu vô thúc, thân tâm tự tại.

Người tăng thượng mạn tuy khó giáo hóa, song chúng con đại chúng dùng sức đại nhẫn nhục để giáo hóa, độ thoát họ. Dùng phương pháp gì để độ ? Hoặc là đọc tụng Kinh Pháp Hoa, hoặc là thuyết giảng Kinh Pháp Hoa, hoặc là biên chép ấn tống Kinh Pháp Hoa, thậm chí chẳng tiếc thân mạng để cúng dường Kinh Pháp Hoa.

Thuở xưa, có vị Bồ Tát Nhất Thiết Chúng Sinh Hỉ Kiến (tiền thân của Bồ Tát Dược Vương), Ngài phát tâm đốt thân cúng dường Phật và Kinh Pháp Hoa. Chư Phật cùng khen ngợi rằng : ‘’Lành thay ! Lành thay ! Thiện nam tử ! Là chân tinh tấn, gọi là chân pháp cúng dường Như Lai‘’. Trí Giả đại sư đọc kinh đến chỗ nầy, đột nhiên nhập định. Ở trong định thấy pháp hội trên núi Linh Thứu chưa tan. Ðức Phật Thích Ca vẫn vì các đại Bồ Tát và hàng Thanh Văn diễn nói Kinh Pháp Hoa. Cảnh giới đó thật là không thể nghĩ bàn.

Nhân tạo ra đời ác trược là do tâm trược mà ra. Nếu ai ai cũng thanh tâm quả dục, chẳng tranh, chẳng tham, chẳng cầu, chẳng ích kỷ, chẳng lợi mình, chẳng nói dối, thì tâm tự nhiên thanh tịnh, trở thành cõi tịnh độ nhân gian. Năm trược là gì ? Tức là :

  1. Kiếp trược : Tuổi thọ con người vốn là tám vạn bốn ngàn tuổi, song vì phước cạn mỏng, dần dần giảm bớt mà đi vào kiếp trược. Kiếp trược vốn chẳng có thể, lấy bốn trược làm thể.
  2. Kiến trược : Vì kiến giải của chúng sinh chẳng chân chánh, mê hoặc chánh kiến, trở thành kiến hoặc, tức cũng là năm lợi sử : Thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ kiến, giới cẩm thủ kiến).
  3. Phiền não trược : Sáu căn đối với sáu trần, bèn sinh năm độn sử (tham, sân, si, mạn, nghi) mà có đủ thứ phiền não sinh ra.
  4. Chúng sinh trược : Vì ảnh hưởng thọ kiến trược và phièn mão trược, nên phước báo của chúng sinh càng tổn giảm, còn khổ báo thì dần dần tăng lên, cho nên gặp nhiều tai họa.
  5. Mạng trược : Chúng sinh vì phiền não sinh, nên thân tâm ốm gầy, cho nên mạng sống ngắn ngủi.

 

Nhĩ thời chúng trung ngũ bách A La Hán đắc thọ kí giả, bạch Phật ngôn: Thế Tôn! ngã đẳng diệc tự thệ nguyện, ư dị quốc độ, quảng thuyết thử Kinh.

Lúc đó, trong chúng có năm trăm vị A La Hán đã được thụ ký đồng bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Chúng con cũng tự thệ nguyện ở nơi cõi khác rộng nói kinh này”.

Bấy giờ, năm trăm vị A la hán ở trong chúng, được thọ ký bạch Phật rằng : Ðức Thế Tôn ! Chúng con cũng tự thệ nguyện, ở cõi nước khác rộng nói kinh này.

Lúc đó, ở trong chúng có năm trăm vị A La Hán đều được Ðức Phật thọ ký, các Ngài đại chúng cùng hướng Phật nói : ‘’Ðức Thế Tôn ! Chúng con năm trăm A La Hán cũng tự phát thệ nguyện, đến cõi nước khác hoằng dương Kinh Pháp Hoa, chẳng khi nào lười mỏi‘’.

 

Phục hữu học, vô học bát Thiên nhân, đắc thọ kí giả, tùng tọa nhi khởi, hợp chưởng hướng Phật tác thị thệ ngôn: Thế Tôn! Ngã đẳng diệc đương ư tha quốc độ quảng thuyết thử Kinh.

Lại có bậc học và vô học tám nghìn người đã được thụ ký đồng từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay hướng về phía Phật nói lời thệ rằng: “Thế Tôn! Chúng con cũng sẽ ở cõi khác rộng nói kinh này.

Lại có bậc hữu học, và vô học hai ngàn người được thọ ký, từ tòa ngồi đứng dậy, chắp tay hướng về đức Phật phát thệ nguyện nói : Ðức Thế Tôn ! Chúng con cũng sẽ ở cõi nước khác, rộng nói kinh này.

Lại có Tỳ Kheo hữu học (sơ quả, nhị quả, tam quả A La Hán) và các Tỳ kheo vô học (tứ quả A La Hán), cùng với tám ngàn người đều được Ðức Phật thọ ký. Ðại chúng cùng nhau từ tòa ngồi đứng dậy, cùng chắp tay hướng về Ðức Phật, mà phát thệ nguyện rằng : ‘’Ðức Thế Tôn ! Chúng con tám ngàn người, cũng đến mười phương cõi nước khác, để rộng nói bộ Kinh Pháp Hoa nầy chẳng ngừng nghỉ‘’.

Sơ quả A La Hán là kiến đạo vị (bậc thấy đạo). Nhị quả và tam quả A La Hán là tu đạo vị (bậc tu đạo), cho nên gọi là hữu học vị (bậc hữu học). Tứ quả A La Hán là chứng đạo vị (bậc chứng đạo), cho nên gọi là vô học vị (bậc vô học).

 

Sở dĩ giả hà? Thị Ta bà quốc trung, nhân đa tệ ác, hoài tăng thượng mạn, công đức thiển bạc, sân trược siểm khúc, tâm bất thật cố.

Vì sao! Vì người trong nước Ta Bà nhiều điều tệ ác, ôm lòng Tăng thượng mạn, công đức cạn mỏng, giận hờn, qua vạy tâm không chân thật”.

Tại sao ? Vì nhiều người ở thế giới Ta Bà tệ ác, ôm lòng tăng thượng mạn, công đức cạn mỏng, tâm sân hận ô trược siểm khúc chẳng thật.

Tại sao ? Vì người ở thế giới Ta Bà tính tình đa số rất tệ ác. Trong tâm ôm lòng cống cao ngã mạn, khinh khi mọi người. Công đức của họ vừa cạn vừa mỏng, tâm của họ sân hận nhất, ô trược nặng nhất, siểm cuống nhất, chẳng chân thật.

Chúng sinh ở thế giới Ta Bà hay kham nhẫn mọi sự khổ, lấy khổ làm vui, chẳng biết tu pháp lìa khổ được vui, suốt ngày dụng công trên sự danh lợi, bạn tranh thì tôi giành, chẳng ngừng nghỉ. Vì khởi hoặc, tạo nghiệp, cho nên thọ quả báo. Nếu hồi quang phản chiếu, vạn duyên buông bỏ, thì tự nhiên thoát khỏi luân hồi, do đó :

‘’Biển khổ mênh mông, quay đầu là bờ .’’

 

Nhĩ thời Phật di mẫu Ma ha Ba xà ba đề Tỳ Kheo Ni, dữ học, vô học Tỳ Kheo Ni lục Thiên nhân câu, tùng tọa nhi khởi, nhất tâm hợp chưởng, chiêm ngưỡng tôn nhan, mục bất tạm xả.

 Khi đó, dì của Phật là Ðại Ái Ðạo Tỳ khiêu ni cùng chung với bậc “học” và “vô học” Tỳ Kheo Ni sáu nghìn người đồng từ chỗ ngồi đứng dậy chắp tay chiêm ngưỡng dung nhan của Phật mắt chẳng tạm rời.

Bấy giờ, dì của đức Phật là Tỳ Kheo Ni Ma Ha Ba Xà Ba Ðề, với các Tỳ Kheo Ni hữu học và vô học sáu ngàn người, đều từ chỗ ngồi đứng dậy, một lòng chắp tay chiêm ngưỡng tôn nhan đức Thế Tôn, mắt chẳng tạm rời.

Lúc đó, dì của Ðức Phật, cũng là mẹ kế của Ðức Phật, Tỳ Kheo ni Ma Ha Ba Xà Ba Ðề (Ðại Ái Ðạo), với các vị Tỳ Kheo ni hữu học và vô học, cả thảy là sáu ngàn người cùng nhau đứng dậy, chuyên tâm chắp tay lại chiêm ngưỡng tôn nhan của Phật, mắt chẳng tạm rời, tựa như nhập định.

Tỳ Kheo ni Ma Ha Ba Xà Ba Ðề, là em gái của Ma Gia phu nhân. Sau theo Phật xuất gia trở thành Tỳ Kheo ni bậc nhất, tức là người lãnh đạo các Tỳ Kheo ni. Ðương thời họ muốn xuất gia tu đạo, Phật vốn chẳng cho phép, sau tôn giả A Nan ba lần thỉnh cầu Ðức Phật, cuối cùng Phật miễn cưỡng đáp ứng.

 

Ư thời Thế Tôn  cáo Kiều đàm di: hà cố ưu sắc nhi thị Như Lai, nhữ tâm tướng vô vị ngã bất thuyết nhữ danh, thọ A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề kí da?

Bây giờ, Thế Tôn bảo Kiều Ðàm Di: “Cớ chi có sắc buồn mà nhìn Như Lai, tâm ngươi toan không cho rằng ta chẳng nói đến tên ngươi, để thụ ký thành vô thượng chíng đẳng chíng giác ư?

Lúc đó, đức Thế Tôn bảo Kiều Ðàm Di rằng : Sao lại buồn rầu mà nhìn Như Lai ! Có phải trong tâm ngươi cho rằng, ta không nói đến tên ngươi, thọ ký quả Vô thượng chánh đẳng chánh giác chăng !

Lúc ấy, đức Thế Tôn bảo Kiều Ðàm Di (Tỳ Kheo ni thượng thủ) : ‘’Vì sao ngươi buồn rầu nhìn ta như thế ? Ở trong tâm ngươi có phải vì ta không nói đến tên ngươi, thọ ký quả vị Vô thượng chánh đẳng chánh giác‘’ ? Phật hòa nhan duyệt sắc hỏi, khiến cho hàng đệ tử hòa mục khả thân, tự nhiên khởi kính.

 

Kiều đàm di! ngã tiên tổng thuyết nhất thiết Thanh văn giai dĩ thọ kí, kim nhữ dục tri kí giả, tướng lai chi thế, đương ư lục vạn bát Thiên ức chư Phật Pháp trung vị đại pháp sư, cập lục Thiên học, vô học Tỳ Kheo Ni câu vị Pháp sư.

Kiều Ðàm Di! Ta trước tổng nói tất cả Thanh Văn đều đã được thụ ký đó, Nay ngươi muốn biết thọ ký chăng? Đời tương lai sau ngươi sẽ ở trong Pháp Hội của sáu muôn tám nghìn ức đức Phật làm vị đại Pháp Sư và sáu nghìn vị “học” “vô học” Tỳ Kheo Ni đều làm Pháp sư.

Ðức Phật bảo Kiều Ðàm Di ! Ta ở trước vừa nói tổng quát tất cả hàng Thanh Văn (nghe tiếng của Phật mà ngộ đạo), đều đã được thọ ký. Bây giờ ngươi muốn biết thì hãy chú ý nghe. Ở đời vị lai trải qua sáu vạn tám ngàn ở trong các Phật pháp, ngươi sẽ làm đại pháp sư và sáu nghìn vị Tỳ Kheo ni hữu học và vô học kia, cũng đều làm pháp sư.

Ðại pháp sư có mười đức :

  1. Khéo biết nghĩa của pháp.
  2. Hay rộng tuyên nói.
  3. Ở trong đại chúng chẳng sợ.
  4. Khéo nói phương tiện.
  5. Vô đoạn biện tài.
  6. Pháp tùy đức hành.
  7. Ðầy đủ oai nghi.
  8. Dũng mãnh tinh tấn.
  9. Thân tâm chẳng mệt.
  10. Thành tựu sức nhẫn nhục.

Ðầy đủ mười đức hạnh nầy, mới đủ tư cách xưng là đại pháp sư.

 

Nhữ như thị tiệm tiệm cụ Bồ Tát đạo, đương đắc tác Phật, hiệu nhất thiết chúng sanh hỉ kiến Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, thiện thệ, Thế gian giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

Ngươi lần lần đủ đạo hạnh Bồ Tát  như thế sẽ được thành Phật hiệu là Nhất thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến Như Lai, Ứng cúng, Chính biến tri, Minh hạnh túc, Thiện Thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Ðiều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật Thế Tôn.

Như thế ngươi trải qua sáu vạn tám ngàn ức chư Phật, gần gũi chư Phật, cúng dường chư Phật, dần dần đầy đủ Bồ Tát đạo. Ðến khi ba giác tròn vạn đức đầy, thì sẽ thành Phật, hiệu là Nhất Thiết Chúng Sinh Hỉ Kiến Như Lai. Ðầy đủ mười hiệu, tức là:

Như Lai : Thừa đạo như thật, lai thành chánh giác.

Ứng Cúng : Xứng đáng thọ lãnh sự cúng dường của chín pháp giới.

Chánh Biến Tri : Trí của Phật chiếu soi tất cả các pháp, vừa chánh lại vừa biến.

Minh Hạnh Túc : Ba minh thuộc về huệ, Năm hạnh thuộc về phước, phước huệ đều đầy đủ.

Thiện Thệ : Tu chánh đạo, vào Niết Bàn.

Thế Gian Giải : Thế và xuất thế tất cả các tướng đều thấu rõ.

Vô Thượng Sĩ : Tu đến địa vị vô tu vô chứng.

Ðiều Ngự Trượng Phu : Hóa đạo chúng sinh, điều phục chúng sinh.

Thiên Nhân Sư : Làm đại đạo sư của trời người.

Phật: Bậc giác ngộ.

Thế Tôn : Người tôn quý nhất của thế và xuất thế. Ðầy đủ mười danh hiệu mới xưng là Thế Tôn.

Pháp môn của Bồ Tát tu là lục độ vạn hạnh. Lục độ là gì ? Tức là sáu pháp Ba la mật đến bờ kia :

  1. Bố thí : Gồm có ba thứ. Thứ nhất là tài thí : Dùng của cải tiền bạc cứu tế người nghèo. Bồ Tát xả bỏ được nội tài (Ðầu mắt tủy não), và ngoại tài (Ðất nước vợ con), chẳng có gì mà xả bỏ chẳng đặng. Thứ hai là pháp thí : Tức là giảng kinh thuyết pháp, đem pháp lành mà mình biết, khiến cho mọi người cũng biết, do đó có câu :

‘’Trong các sự bố thí,
Bố thí pháp là hơn hết.’’

Thứ ba là vô úy thí : Có người gặp nguy hiểm, phải có tinh thần dũng mãnh cứu người gặp nạn, thoát khỏi cảnh khổ dầu sôi lửa bỏng .

  1. Trì giới : Giới là điều răn cấm, ngưng làm ác ngừa việc quấy. Cho nên người tại gia phải giữ năm giới hoặc tám giới. Sa di phải giữ mười giới, Tỳ Kheo giữ hai trăm năm mươi giới, Tỳ Kheo ni giữ ba trăm bốn tám giới. Dù tại gia hoặc xuất gia, sau khi thọ giới Bồ Tát, phải hành Bồ Tát đạo, vì người chẳng vì mình.
  1. Nhẫn nhục : Người tu đạo nhất định phải tu nhẫn nhục, nhẫn những gì người khác không nhẫn được, chịu đựng những điều người khác chịu không được, như thế mới có thể chứng được vô sinh pháp nhẫn.
  1. Tinh tấn : Tức là dũng mãnh hướng về trước, chẳng giải đãi, chẳng phóng dật, tuyệt đối không lùi bước. Không thể một ngày nóng mười ngày lạnh, không thể có trước chẳng có sau. Tóm lại, phải có ý chí khiên nhẫn không lùi bước, mới có sở thành tựu.
  1. Thiền định : Tức là tĩnh lự. Nghĩa là ngưng bặc hết mọi tạp niệm lăn xăn, một niệm không sinh thì trí huệ hiện tiền.
  1. Bát nhã : Dịch là “trí huệ”. Có trí huệ thì rõ thiện ác, thị phi, trắng đen, chánh tà, chẳng làm nghiệp ác. Trí huệ từ đâu mà có ? Có hai phương pháp : Một là tham thiền, phải tham đến khi sơn cùng thủy tận (Núi mòn nước cạn), thì sẽ có cảnh giới “liễu ám hoa minh”. Thứ hai là tụng kinh, do đó có câu : ‘’Thâm nhập kinh tạng, trí huệ như hải‘’. (Vào sâu tạng kinh, trí huệ như biển).

 

Kiều Đàm Di! Thị nhất thiết chúng sanh hỉ kiến Phật cập lục Thiên Bồ Tát, chuyển thứ thọ kí đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề.

Kiều Ðàm Di! Đức Nhất thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến Phật đó và sáu nghìn Bồ Tát  tuần tự thụ ký được đạo vô thượng chính đẳng chính giác.

Phật lại bảo Kiều Ðàm Di ! Ngươi sẽ thành Phật hiệu là Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến Phật, và sáu ngàn vị Bồ Tát lần lược thọ ký cho nhau. Nghĩa là vị Bồ Tát thứ nhất thọ ký cho vị Bồ Tát thứ hai, cứ như thế thọ ký cho đến sáu ngàn vị Bồ Tát, đều chứng quả vị Vô thượng chánh đẳng chánh giác.

A La Hán chứng được Chánh giác, còn Bồ Tát chưa chứng được Chánh đẳng và vô thượng. Bồ Tát chỉ chứng được Chánh đẳng, chứ chưa chứng được Vô thượng. Phật đã chứng được Vô thượng, chẳng còn gì cao hơn Phật.

 

Nhĩ thời La hầu la mẫu Da du đà la Tỳ Kheo Ni tác thị niệm: Thế Tôn  ư thọ kí trung, độc bất thuyết ngã danh.

Bây giờ, mẹ của La Hầu La là bà Gia Du Ðà La Tỳ Kheo Ni nghĩ rằng: “Thế Tôn ở nơi trong hội thụ ký riêng chẳng nói đến tên tôi”.

Lúc đó, mẹ của tôn giả La Hầu La (Phú chướng) Tỳ Kheo ni Gia Du Ðà La (Hoa sắc), trong tâm nghĩ rằng : ‘’Ta với Ðức Phật có danh là vợ chồng, tại sao thọ ký cho hàng Tỳ Kheo và Tỳ Kheo ni, mà riêng tên tôi chẳng đề cập đến?’’ Trong tâm bà ta nghĩ như vậy, song Phật có trí huệ tha tâm thông, cho nên biết tư tưởng của bà ta, do đó có câu :

‘’Bao nhiêu tâm tánh của chúng sinh
Như Lai đều biết đều thấy.’’

Tôn giả La Hầu La là con của đức Phật Thích Ca. Xuất gia lúc bảy tuổi, là một trong mười vị đại đệ tử của Ðức Phật, được xưng là mật hạnh đệ nhất. Trong quá khứ tôn giả là người tu đạo. Một ngày nọ, đang lúc tọa thiền nghe tiếng chuột kêu, bèn khởi tâm sân hận đến bít lỗ hang chuột. Sáu ngày sau mới nghĩ đến chuyện nầy, bèn khởi tâm đại bi thương xót, tâm nghĩ chuột ở trong hang chẳng phải sẽ chết đói chăng ? Do đó, mới lấy đá ra. Do quả báu đó, mà sáu năm ở trong bụng mẹ, cho nên gọi là ‘’Phú chướng‘’.

Gia Du Ðà La em gái bà con với Ðức Phật, dung mạo đoan chánh rất xinh đẹp, xa gần đều nghe danh, cho nên gọi là Hoa sắc. Khi Ðức Phật mười bảy tuổi, thì kết hôn với cô ta. Một ngày nọ, cô ta cầu con với Ðức Phật. Phật dùng ngón tay chỉ vào bụng cô ta, thì cô ta thọ thai. Phật xuất gia sáu năm sau mới sinh La Hầu La. Lúc đó, dòng họ Thích bàn tán xôn xao, cả thành đều cho rằng Gia Du Ðà La chẳng giữ đạo vợ chồng. Gia Du Ðà La biểu thị sự thanh bạch ở trước công chúng tuyên bố : ‘’Nếu La Hầu La chẳng phải là con của thái tử Tất Ðạt Ða, thì nguyện lửa lớn sẽ thiêu hủy mẹ con chúng tôi, bằng ngược lại thì lửa lớn không thể thiêu đốt mẹ con chúng tôi.’’ Nói xong lập tức bồng La Hầu La nhảy vào hầm lửa. Hầm lửa lập tức biến thành ao sen, mẹ con an nhiên ngồi trên hoa sen. Lúc đó, dòng họ Thích biết Gia Du Ðà La thân thanh bạch như ngọc. Sau khi trải qua sóng gió, về sau mới được mọi người cung kính. Sau đó, theo Ma Ha Ba Xà Ba Ðề cùng nhau xuất gia tu đạo làm Tỳ Kheo ni.

 

Phật cáo Da du đà la: Nhữ ư lai thế bách Thiên vạn ức chư Phật Pháp trung tu Bồ Tát hạnh, vị đại pháp sư, tiệm cụ Phật đạo. Ư thiện quốc trung đương đắc tác Phật, hiệu Cụ Túc Thiên Vạn Quang Tướng Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, thế gian giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn . Phật thọ vô lượng a tăng kì kiếp.

Phật bảo bà Gia Du Ðà La: “Ngươi ở đời sau trong pháp hội của trăm nghìn muôn ức đức Phật, tu hạnh Bồ Tát , làm vị đại Pháp Sư, lần lần đầy đủ Phật đạo ở trong cõi Thiện Quốc sẽ được thành Phật hiệu là Cụ Túc Thiên Vạn Quang Tướng Như Lai, Ứng cúng, Chính biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Ðiều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật Thế Tôn. Phật sống lâu vô lượng vô số kiếp.

Ðức Phật bảo Gia Du Ðà La : Ngươi ở đời vị lai, trong trăm ngàn vạn ức các Phật pháp, tu lục độ vạn hạnh tự lợi lợi tha, tự giác giác tha, tự độ độ tha, làm đại pháp sư, dần dần thành tựu Phật đạo. Ở trong nước Thiện Lương sẽ được thành Phật hiệu là Cụ Túc Thiên Vạn Quang Tướng Như Lai, đầy đủ mười hiệu. Phật đó sống lâu vô lượng A tăng kỳ kiếp.

 

Nhĩ thời Ma ha Ba xà ba đề Tỳ Kheo Ni cập Da du đà la Tỳ Kheo Ni, tinh kỳ quyến thuộc, giai đại hoan hỉ, đắc vị tằng hữu, tức ư Phật tiền nhi thuyết kệ ngôn:

Lúc đó bà Ðại Ái Ðạo Tỳ Kheo Ni và bà Gia Du Ðà La Tỳ Kheo Ni cùng cả quyến thuộc đều rất vui mừng được việc chưa từng có, liền ở trước Phật mà nói kệ rằng:

 

Thế Tôn  Đạo sư,                                 Ðấng Thế Tôn Ðạo Sư
An ổn Thiên Nhân,                              Làm an ổn trời người
Ngã đẳng văn kí,                                 Chúng con nghe thụ ký
Tâm an cụ túc.                                     Lòng an vui đầy đủ.

Lúc đó, Tỳ Kheo ni Ðại Ái Ðạo và Tỳ kheo ni Hoa Sắc, cùng với quyến thuộc được Phật thọ ký, đều rất hoan hỉ, được chưa từng có, lập tức ở trước Phật nói ra bài kệ :

Ðức Thế Tôn ! Ngài là đại Đạo sư của trời người, Ngài hay khiến cho trời người được an ổn, được an lạc. Chúng con hàng Tỳ Kheo ni, nghe đức Thế Tôn thọ ký cho chúng con, ai nấy trong tâm đều an ủi chẳng cách gì hình dung được.

 

Chư Tỳ Kheo Ni thuyết thị kệ dĩ, bạch Phật ngôn: Thế Tôn! ngã đẳng diệc năng ư tha phương quốc độ quảng tuyên thử Kinh.

Các vị Tỳ Kheo Ni nói kệ đó rồi, bạch Phật rằng: “Chúng con cũng có thể ở cõi nước phương khác rộng tuyên nói kinh này”.

Các vị Tỳ Kheo ni nói xong rồi, mới bạch với Phật rằng : ‘’Ðức Thế Tôn ! Chúng con hàng Tỳ Kheo ni, cũng ở nơi nước khác hoằng dương bộ Kinh Pháp Hoa nầy, rộng nói bộ Kinh Pháp Hoa nầy‘’.

 

Nhĩ thời Thế Tôn  thị bát thập vạn ức na do tha chư Bồ Tát Ma Ha Tát. Thị chư Bồ Tát giai thị A duy việt trí, chuyển bất thoái Pháp luân, đắc chư Đà La Ni tức tùng toạ khởi, chí ư Phật tiền, nhất tâm hợp chưởng, nhi tác thị niệm: Nhược Thế Tôn  cáo sắc ngã đẳng trì thuyết thử Kinh giả, đương như Phật giáo, quảng tuyên tư Pháp. Phục tác thị niệm: Phật kim mặc nhiên, bất kiến cáo sắc, ngã đương vân hà

Bây giờ, đức Thế Tôn nhìn tám mươi muôn ức na do tha vị đại Bồ Tát , các vị Bồ Tát  đó đều là bậc bất thối chuyển, chuyển pháp luân bất thối được các pháp tổng trì, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đến trước Phật một lòng chắp tay mà nghĩ rằng: “Nếu đức Thế Tôn dạy bảo chúng ta nói kinh này, thời chúng ta sẽ như là Phật dạy rộng tuyên nói pháp này”. Các vị đó lại nghĩ: Nay đức Phật yên lặng chẳng thấy dạy bảo, chúng ta phải làm thế nào?”

Bấy giờ, đức Thế Tôn nhìn tám mươi vạn ức Na do tha các vị đại Bồ Tát. Các vị Bồ Tát đó, đều là chuyển bất thối pháp luân, đắc được các Đà la ni, bèn từ tòa ngồi đứng dậy, đến trước đức Phật, một lòng chắp tay mà nghĩ như vầy : Nếu đức Thế Tôn dạy bảo chúng con thọ trì diễn nói kinh này, thì chúng con sẽ y theo lời Phật dạy, mà rộng tuyên nói pháp này. Lại nghĩ như vầy : Nay đức Phật yên lặng, chẳng thấy dạy bảo, chúng ta phải làm thế nào?

Lúc đó, đức Phật chăm chú nhìn tám vạn ức Na do tha (một trong số mục lớn nhất của Ấn Ðộ) các vị đại Bồ Tát. Các Ngài đều là: Vị bất thối, niệm bất thối, hạnh bất thối, chuyển bất thối đại pháp luân, chứng được Đà la ni (dịch là “tổng trì”, tổng tất cả các pháp, trì vô lượng nghĩa). Các vị Bồ Tát nầy; cùng nhau từ tòa ngồi đứng dậy, đều đi đến trước Ðức Phật, cung kính một lòng chắp tay. Ðó là biểu thị thân cung kính và tâm cung kính. Các vị đại Bồ Tát đó, cùng nghĩ như vầy : ‘’Nếu như Ðức Thế Tôn dạy bảo chúng ta thọ trì diễn nói Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, thì chúng ta đại chúng nhất định tuân theo lời Phật dạy, rộng vì chúng sinh diễn nói diệu pháp nầy.’’

Các vị Bồ Tát đó lại nghĩ như vầy : ‘’Tuy chúng ta cùng nhau phát tâm nguyện như vậy, song Phật nay lại yên lặng chẳng nói, chẳng thấy Phật dạy bảo chúng ta. Bây giờ chúng ta phải làm thế nào ? Phát nguyện hoằng dương Kinh Diệu Pháp Liên Hoa ? Hay là chờ đợi Phật dạy bảo‘’?

 

Thời chư Bồ Tát kính thuận Phật ý, tinh dục tự mãn Bổn Nguyện, tiện ư Phật tiền, tác sư tử hống nhi phát thệ ngôn: Thế Tôn! Ngã đẳng ư Như Lai diệt hậu, chu toàn vãng phản thập phương thế giới, năng lệnh chúng sanh thư tả thử Kinh, thọ trì, độc tụng, giải thuyết kỳ nghĩa, như pháp tu hành, chánh ức niệm, giai thị Phật chi uy lực. Duy nguyện Thế Tôn , tại ư tha phương dao kiến thủ hộ.

Lúc đó, các vị Bồ Tát  kính thuận ý của Phật, và muốn tự thỏa mãn bàn nguyện, bèn ở trước Phật nói lớn tiếng mà phát lời thệ rằng: “Thế Tôn, sau khi Như Lai diệt độ, chúng con đi giáp vòng qua lại khắp mười phương thế giới hay khiến chúng sinh biên chép kinh này thụ trì, đọc tụng, giải nói nghĩa đó, nghĩ nhớ chân chính, đúng như pháp mà tu hành, như thế đều là sức uy thần của Phật. Cúi mong đức Thế Tôn ở phương khác xa giữ gìn cho”.

Bấy giờ, các vị đại Bồ Tát đó, cung kính thuận theo ý của đức Phật, và muốn đầy đủ nguyện của mình đã phát ra, bèn ở trước đức Phật làm sư tử hống, mà phát thệ nguyện rằng : Đức Thế Tôn ! Sau khi Như Lai diệt độ, chúng con sẽ đi khắp mười phương thế giới, để khiến cho chúng sinh, thọ trì đọc tụng biên chép ấn tống giải nói kinh này, theo như pháp mà tu hành, nghĩ nhớ chân chánh, đó đều là oai lực của đức Phật. Xin nguyện đức Thế Tôn ở nơi phương khác, trông thấy mà bảo hộ.

Lúc đó, Ðức Phật chẳng nói gì cả, tám mươi vạn ức Na do tha các vị đại Bồ Tát, vì muốn cung kính tùy thuận tâm ý của Phật, và còn muốn đầy đủ đại nguyện của mình đã phát ra. Mới cùng nhau ở trước Ðức Phật làm sư tử hống (tiếng đại vô úy) mà phát thệ nguyện rằng : ‘’Ðức Thế Tôn ! Sau khi Như Lai diệt độ, chúng con đại chúng, sẽ đi đến khắp mười phương thế giới, khiến cho chúng sinh thọ trì, biên chép, ấn tống, diễn nói, bộ kinh nầy. Chúng con giảng giải nghĩa lý bộ kinh nầy, khiến cho chúng sinh minh bạch y chiếu theo nghĩa kinh mà tu hành, luôn thường nghĩ nhớ. Chúng con khiến cho chúng sinh chẳng quên bộ kinh nầy, đó đều là nhờ đại oai thần lực của Phật mà thành tựu. Xin nguyện đức Thế Tôn từ bi ở phương khác, trông thấy Bồ Tát chúng con và chúng sinh, bảo hộ Bồ Tát chúng con và chúng sinh.

 

Tức thời chư Bồ Tát câu đồng phát thanh, nhi thuyết kệ ngôn:

Tức thời các vị Bồ Tát  đều đồng tiếng mà nói kệ rằng:

 Lúc đó, hết thảy các vị đại Bồ Tát cùng nhau phát ra tiếng, khác miệng cùng lời nói ra bài kệ dưới đây.

 

Duy nguyện bất vị lự,                           Cúi mong Phật chớ lo
Ư Phật diệt độ hậu,                              Sau khi Phật diệt độ
Khủng bố ác thế trung,                        Trong đời ác ghê sợ
Ngã đẳng đương quảng thuyết.         Chúng con sẽ rộng nói.

Hữu chư vô trí nhân,                            Có những người vô trí
Ác khẩu mạ lị đẳng,                              Lời ác mắng rủa thảy
Cập gia đao trượng giả,                        Và dao gậy đánh đập
Ngã đẳng giai đương nhẫn.                 Chúng con đều phải nhẫn.

Chúng con đại chúng, xin nguyện Ðức Thế Tôn phóng tâm, đừng lo lắng chẳng có ai hoằng dương Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Hiện tại chúng con phát nguyện hoằng dương bộ kinh nầy. Sau khi Phật vào Niết Bàn rồi, ở trong đời ác sợ hãi, chúng con sẽ rộng nói Kinh Diệu Pháp Liên Hoa.
Nếu như có người chẳng có trí huệ, làm những hành vi thô bạo, mắng chưởi hoặc dùng đao gậy đánh người, chúng con sẽ tiếp nhận sự ngược đãi của họ, chúng con tu pháp môn nhẫn nhục sẽ nhẫn nhịn.

Nếu có người mắng bạn, mà bạn chẳng tiếp nhận (chẳng đếm xỉa gì đến họ), thì sự mắng chưởi đó sẽ trở về người đó. Giống như có người mang quà tặng đến cho người nọ, song người nọ chẳng tiếp nhận, thì quà tặng đó trở về người tặng quà, cũng đồng lý ấy. Lại như có người, ngửa mặt lên trời phun nước miếng, muốn làm dơ trời, cuối cùng nước miếng rơi vào mặt người đó, tự thọ lấy hậu quả.

Công phu nhẫn nhục của Bồ Tát Di Lặc tu đã đến nhà, có người nhổ nước miếng lên mặt của Ngài, song Ngài chẳng phản ứng, cũng chẳng dùng tay lau chùi, để cho nó khô tự nhiên. Nếu ai ai cũng có công phu hàm dưỡng như vậy, thì trên thế gian chẳng có sự việc tranh giành phát sinh. Người thông minh đều có sự tu dưỡng, bị người chưởi mắng thì xem như là họ ca hát, được như thế thì mọi sự đều thành công, do đó có câu :

‘’Nhẫn phiến khắc phong bình lãng tịnh
Thối nhất bộ hải khoát thiên không‘’.

Nghĩa là :
‘’Nhịn một chút gió yên sóng lặng
Lùi một bước biển êm trời xanh‘’.

Như thế thì tiêu dao tự tại biết bao! Chẳng những bị chưởi mắng phải nhẫn nhịn, mà dù bị giết bằng đao, bị đánh bằng gậy, cũng phải nhẫn chịu, đó là tác phong của Bồ Tát. Có người nói : ‘’Tôi là Bồ đề tát đỏa‘’. Song, bị người mắng chưởi thì lửa vô minh nổi dậy cao đến ba trượng, liều mạng sống chết, đó là Bồ Tát gì ?

 

Ác thế trung Tỳ kheo,                          Tỳ Kheo trong đời ác
Tà trí tâm siểm khúc,                           Trí tà lòng dua vạy
Vị đắc vị vị đắc,                                     Chưa được nói đã được
Ngã mạn tâm sung mãn.                    Lòng ngã man dẫy đầy,

Hoặc hữu a luyện nhã,                         Hoặc người mặc áo nạp
Nạp y tại không nhàn,                          Lặng lẽ ở chỗ vắng
Tự vị hàng chân đạo,                           Tự nói tu chân đạo
Khinh tiện nhân gian giả.                     Khinh rẻ trong nhân gian

Tỳ kheo và Tỳ kheo ni ở trong đời ác năm trược, trong tâm của họ có tư tưởng tà tri tà kiến, xem mọi người chẳng bằng mình, cảm thấy mình giỏi hơn người, trong mắt chẳng xem ai ra gì. Loại người có tà trí huệ chẳng có chánh trí huệ nầy, dạy họ giảng kinh thuyết pháp, thì họ giảng chẳng thông nói chẳng rõ, song đối với việc rượu chè cờ bạc, thì họ chẳng học mà tự thông.

Tâm tánh của họ siểm khúc. Siểm là siểm nịnh, thấy người có tiền có thế, thì sinh tâm phan duyên, nói những lời ngọt ngào, khiến cho họ sinh tâm hoan hỉ. Tại sao ? Ðó là vì tham đồ danh văn lợi dưỡng. Khúc là quanh co, chẳng nói lời ngay thẳng với người, nói lời giả dối. Ðó là hành vi của kẻ tiểu nhân, chẳng phải là tác phong của quân tử.

Có những người tu đạo, chẳng đắc đạo mà nói với mọi người rằng mình đã chứng đạo, chẳng chứng quả mà nói đã chứng quả, đó là chưa được nói đã được, chưa chứng nói đã chứng. Phạm đại vọng ngữ thì tương lai chắc chắn phải đọa vào địa ngục cắt lưỡi.

Người phạm mao bệnh cống cao ngã mạn, chẳng xem ai ra gì cả, ngã mạn đầy dẫy trong tâm, nói mình là Phật, nói mình khai ngộ, tự mình tuyên truyền quảng cáo khắp nơi. Tại sao ? Vì tâm phan duyên đang tác quái, hy vọng có người đến cúng dường.

Hoặc có Tỳ Kheo ở nơi A lan nhã (nơi vắng lặng), mặc y phấn tảo mà tu ở nơi vắng lặng. Tự nói mình đang tu chân đạo : ‘’Ta là Tăng tu khổ hạnh, ta là cao Tăng hành đạo‘’, càng khinh khi người giảng Kinh Pháp Hoa.

A lan nhã là nơi chẳng có tiếng ồn ào, là nơi người tu khổ hạnh ở, tức cũng là nơi cách xa thành thị huyên náo, nơi tĩnh tâm tu hành. Ban đêm họ ngồi thiền dưới gốc cây chẳng ngủ. Y phấn tảo là y vá, cũng là y phục của người xuất gia mặc. Người xuất gia phải trừ tâm tham, cho nên chẳng mặc y phục tốt, thứ y phục nầy dùng vải cũ may thành, rất dễ rách nát. Do đó, chỗ nào rách thì vá chỗ đó, do đó có câu : ‘’Thiên châm vạn tuyến bổ nạp y‘’. Nghĩa là ‘’Ngàn đường kim vạn sợi tơ vá y rách‘’. Nạp y còn biểu thị năm tuổi tu đạo. Còn gọi là y phấn tảo, là y lượm ở trong đống rác, dùng nước giặc sạch rồi may thành y.

 

Tham trước lợi dưỡng cố,                    Vì ham ưa danh lợi
Dữ bạch y thuyết Pháp,                       Nói pháp cho bạch y
Vị thế sở cung kính,                              Ðược người đời cung kính
Như lục thông La hán.                         Như lục thông La Hán

Thị nhân hoài ác tâm,                           Người đó ôm lòng ác
Thường niệm thế tục sự,                      Thường nghĩ việc thế tục
Giả danh a luyện nhã,                           Giả danh “A luyện nhã”
Hảo xuất ngã đẳng qua,                       Ưa nói lỗi chúng con

Những Tỳ Kheo ác có tâm tham đồ lợi dưỡng, vì người tại gia nói pháp. Nói pháp chẳng phải là chân đạo, song làm giả dạng để được người đời cung kính, giống như cung kính bậc A La Hán đã chúng lục thông. Tỳ Kheo ác tính thường ôm lòng ác độc, ác ý hủy báng pháp sư giảng nói Kinh Pháp Hoa, song ông ta luôn luôn nghĩ nhớ đến việc thế tục, làm thế nào mới có thể thành tựu danh lợi ? Làm thế nào mới có người cúng dường ? Cho nên phan duyên khắp nơi, hóa duyên các nơi. Họ mượn danh nghĩa giả, ở chỗ vắng vẻ. Kỳ thật, họ tham đồ danh văn lợi dưỡng mà thôi. Họ tự cho rằng họ là thanh cao, mà chuyên môn nói lỗi của người thuyết pháp, đó là hành vi của vi trùng ở trong thân của sư tử.

Tông chỉ của tôi (Hòa Thượng Tuyên Hóa) là :
‘’Dù chết lạnh chẳng van xin
Dù chết đói chẳng cầu xin
Dù nghèo chết chẳng cầu cạnh.
Tùy duyên mà không đổi,

Không thay đổi mà tùy duyên.
Giữ gìn ba tông chỉ của chúng ta
Xả bỏ thân mạng làm Phật sự
Tạo mạng là việc gốc

Nuôi mạng chân chánh là việc Tăng
Gặp việc thì rõ lý
Rõ lý tức là việc
Giữ gìn tổ sư một mạch tâm truyền.’’

 

Nhi tác như thị ngôn:                           Mà nói như thế này
Thử chư Tỳ kheo đẳng,                       Các bọn Tỳ Kheo này
Vị tham lợi dưỡng cố,                          Vì lòng tham lợi dưỡng
Thuyết ngoại đạo luận nghị;           Nói luận nghĩa ngoại đạo

Tự tác thử Kinh điển,                            Tự làm kinh điển đó
Cuống hoặc thế gian nhân,                  Dối lầm người trong đời
Vị cầu danh văn cố,                               Vì muốn cầu danh tiếng
Phân biệt ư thị Kinh.                             Mà giải nói kinh đó

Người đó nói kinh nầy : ‘’Những vị Tỳ kheo đó, họ vì tham đồ lợi dưỡng, cho nên vì chúng sinh nói lý luận của ngoại đạo. Họ tự làm bộ kinh Pháp Hoa nầy, mục đích là lường gạt người thế gian, vì cầu danh lợi, cho nên phân biệt để diễn nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa.
Ngoại đạo : Tức là người tu hành, cầu pháp bên ngoài tâm. Lúc Ðức Phật còn tại thế, ở Ấn Ðộ có sáu thứ ngoại đạo, học thuyết của họ không ngoài nói về đoạn về thường, bác vô nhân quả, tự nhiên thành tựu. Cho nên hình thành hai chủ nghĩa lớn : Một là phái hưởng thụ, hai là phái khổ hạnh, song đều chẳng cứu kính.

 

Thường tại Đại chúng trung,               Thường ở trong đại chúng
Dục hủy ngã đẳng cố,                           Vì muốn phá chúng con
Hướng Quốc Vương đại thần              Ðến Quốc vương, quan lớn ,
Bà la môn Cư sĩ,                                    Bà La Môn, cư sĩ

Cập dư Tỳ kheo chúng,                         Và chúng Tỳ Kheo khác
Phỉ báng thuyết ngã ác,                        Chê bai nói xấu con
Vị thị tà kiến nhân,                                Ðó là người tà kiến
Thuyết ngoại đạo luận nghị.                Nói luận nghĩa ngoại đạo

Người đó, thường ở trong đại chúng, vì muốn hủy báng chúng con, nên thường nói với quốc vương và đại thần, thường nói với hàng Bà la môn, cư sĩ và chúng Tỳ Kheo khác. Nói cái gì ? Nói vị pháp sư giảng nói Kinh Pháp Hoa là người tà tri tà kiến, chuyên môn giảng nói luận nghị của ngoại đạo, chẳng phải là Phật pháp chân chánh.

Chúng sinh vào thời mạc pháp, chẳng có mắt lựa chọn pháp, bạn nói với họ pháp thật, thì họ cho là giả. Nếu bạn nói pháp giả, thì họ cho là pháp thật, đó tức là điên đảo. Chẳng phân biệt được rõ ràng thật giả, thiện ác, chánh tà, trắng đen.

Bà la môn là một trong bốn dòng dõi của Ấn Ðộ, thờ phụng trời Phạm Thiên, tu hạnh thanh tịnh. Khi nhi đồng đến bảy tuổi, thì ở nhà học tập kinh điển, đến mười lăm tuổi, thì có thể ra ngoài học giáo lý Bà la môn, đi cầu học các nơi. Bốn mươi tuổi thì trở về nhà kết hôn, sinh con nối dòng, ‘’Truyền tông tiếp đại‘’, năm mươi tuổi thì vào núi tu đạo.

 

Ngã đẳng kính Phật cố,                       Chúng con vì kính Phật
Tất nhẫn thị chư ác.                             Ðều nhẫn các ác đó
Vị tư sở khinh ngôn,                            Bị người đó khinh rằng
Nhữ đẳng giai thị Phật,                       Các người đều là Phật

Như thử khinh mạn ngôn,                   Lời khinh mạn dường ấy
Giai đương nhẫn thọ chi.                     Ðều sẽ nhẫn thụ đó.
Trược kiếp ác thế trung,                       Trong đời ác kiếp trược
Da hữu chư khủng bố,                          Nhiều các sự sợ sệt

Chúng con đại chúng vì cung kính Ðức Phật, dù những người ác gây ra đủ thứ chuyện ác, song chúng con đều phải nhẫn nhịn, chẳng biện luận với họ, cũng chẳng để ý đến lời nói phá hoại của họ. Những người đó ít xít cho nhiều, dùng lời nói tâng bốc nói chúng con : ‘’Các ông đều là Phật‘’. Những lời nói khinh mạn như thế, chúng ta đều phải nhẫn nhịn. Ở trong đời ác năm trược có nhiều việc đáng sợ hãi, để nhiễu loạn thân tâm người tu đạo, khiến cho chẳng thanh tịnh, rất dễ mất đạo tâm.

 

Ác quỷ nhập kỳ thân,                            Quỉ dữ nhập thân kia
Mạ lị hủy nhục ngã.                              Mắng rủa hủy nhục con
Ngã đẳng kính tín Phật,                       Chúng con kính tin Phật
Đương trước nhẫn nhục khải,             Sẽ mặc giáp nhẫn nhục

Vị thuyết thị Kinh cố,                            Vì để nói kinh này
Nhẫn thử chư nạn sự.                          Nên nhẫn các việc khó,
Ngã bất ái thân mạng,                         Con chẳng mến thân mệnh
Đãn tích vô thượng đạo,                      Chỉ tiếc đạo vô thượng.

Vào thời đại mạc pháp, ma mạnh pháp yếu. Ma quỷ nhập vào thân người tác quái. Có người hỏi: ‘’Ác ma sao có thể nhập vào thân người được‘’? Vì tâm con người bất chánh, thường sinh tà niệm, cho nên dễ làm cho ma quỷ nhập vào. Quảng đông có câu rằng: ‘’Quỷ trong thân‘’. Quỷ mà đã nhập vào thân người rồi, thì người đó chẳng còn làm chủ được nữa, chẳng còn tri giác, bị ma quỷ chi phối. Ác quỷ lợi dụng miệng của họ nói những lời tiên đoán tựa như đúng, nhưng là sai, người chẳng có trí huệ rất dễ bị lừa.

Trước kia, tôi có gặp một cô gái bị quỷ nhập. Cô ta nói cô ta là Bồ Tát, tôi nói với cô ta : ‘’Bồ Tát cái gì cũng biết, sao cô chẳng biết gì hết’’? Cô ta chẳng có lời nào để nói bèn bỏ đi. Bây giờ rất dễ mạo xưng là thánh nhân, đi khắp nơi tuyên truyền mình là Phật, là Bồ Tát. Kỳ thật, đó là quỷ trong thân mình, mà mình chẳng biết mà thôi. Những người tà đó, đi khắp nơi vì chúng sinh nói pháp giảng đạo, giáo hóa chúng sinh, khiến cho chúng sinh lầm vào đường tà.

Quỷ ở trong thân ác Tỳ Kheo, chuyên môn mắng chưởi hủy nhục chúng con, nói pháp sư giảng Kinh Diệu Pháp Liên Hoa là ngoại đạo. Chúng con đại chúng vì cung kính Phật, tín ngưỡng Phật, cho nên thường mặc áo giáp nhẫn nhục, để bảo hộ huệ mạng của chúng con. Vì hoằng dương Kinh Pháp Hoa, lưu truyền ở đời, cho nên vui lòng nhẫn nhịn đủ thứ những việc khó nhẫn. Vì tuyên nói bộ kinh nầy, mà chúng con chẳng thương tiếc thân mạng của mình, chỉ muốn bảo hộ bộ kinh nầy, thương tiếc đạo vô thượng.

 

Ngã đẳng ư lai thế,                               Chúng con ở đời sau
Hộ trì Phật sở chúc,                              Hộ trì lời Phật dặn
Thế Tôn  tự đương tri.                         Thế Tôn tự nên biết
Trược thế ác Tỳ kheo,                          Tỳ Kheo ác đời trược

Bất tri Phật phương tiện,                      Chẳng biết Phật phương tiện
Tùy nghi sở thuyết pháp,                     Tùy cơ nghi nói pháp
Ác khẩu nhi tần túc,                              Chau mày nói lời ác
Sát sát kiến bấn xuất,                           Luôn luôn bị xua đuổi

Viễn ly ư tháp tự.                                  Xa rời nơi chùa tháp
Như thị đẳng chúng ác,                       Các điều ác như thế
Niệm Phật cáo sắc cố,                          Nhớ lời Phật dặn bảo
Giai đương nhẫn thị sự.                       Ðều sẽ nhẫn việc đó

Chúng con đại chúng ở đời vị lai, giữ gìn lời phó chúc của Phật, hộ trì bộ Kinh Pháp Hoa nầy. Ðức Thế Tôn ! Ngài chắc chắn sẽ biết, Tỳ Kheo ác ở trong đời ác năm trược chẳng biết pháp môn phương tiện của Phật nói, mới thuận theo căn cơ của chúng sinh mà nói tất cả các pháp. Họ dùng miệng ác hủy báng, biểu tình nhăn nhó, cău mày. Nhiều lần đuổi Tỳ Kheo lánh xa lìa chùa tháp. Những việc ác như thế, thật làm cho con người khó nhẫn nhịn. Song chúng con thường nhớ lời Phật dạy, cho nên mọi việc ác, chúng con đều phải nhẫn nhịn, tuyệt đối chẳng nổi sân với Tỳ Kheo ác.

 

Chư tụ lạc thành ấp,                             Các thành ấp xóm làng
Kỳ hữu cầu Pháp giả,                           Kia có người cầu pháp
Ngã giai đáo kỳ sở,                               Con đều đến chổ đó
Thuyết Phật sở chúc Pháp.                 Nói pháp của Phật dặn.

Ngã thị Thế Tôn  sử,                             Con là sứ của Phật
Xử chúng vô sở úy,                               Ở trong chúng không sợ
Ngã đương thiện thuyết pháp,            Con sẽ khéo nói pháp
Nguyện Phật an ổn trụ.                        Xin Phật an lòng ở

Ngã ư Thế Tôn  tiền,                             Con ở trước Thế Tôn
Chư lai thập phương Phật,                   Mười phương Phật đến nhóm
Phát như thị thệ ngôn,                         Phát lời thệ như thế
Phật tự tri ngã tâm.                              Phật tự rõ lòng con.

Ở trong các xóm làng thành ấp, nếu có người thỉnh cầu Phật pháp, thì con đều đến chỗ của họ, để vì họ diễn nói pháp của Phật nói, Kinh Diệu Pháp Liên Hoa.

Con là sứ giả của Phật, phàm là việc của Phật, con đều đi làm. Ở trong đại chúng đạo tràng, vì nói Kinh Pháp Hoa nên con chẳng có sợ hãi. Con sẽ khéo nói pháp, phân biệt tất cả nghĩa lý thật tướng của các pháp. Xin nguyện Phật hãy yên lòng, đừng lo lắng việc hoằng dương Kinh Pháp Hoa.

Chúng con ở trước đức Thế Tôn, ở trước mười phương chư Phật phát thệ nguyện như thế, chắc chắn Phật sẽ biết tâm nguyện của con. Tâm nguyện của con là bảo hộ thọ trì Kinh Pháp Hoa, hoằng dương Kinh Pháp Hoa, biên chép ấn tống Kinh Pháp Hoa, cúng dường Kinh Pháp Hoa, đó là đại tâm nguyện của chúng con đại chúng.