<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Lăng Nghiêm &#8211; Lăng Nghiêm Tự</title>
	<atom:link href="https://langnghiem.com/vi/category/lang-nghiem/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://langnghiem.com</link>
	<description>Shurangama Temple</description>
	<lastBuildDate>Tue, 02 Mar 2021 22:37:00 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=7.0</generator>

<image>
	<url>https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2024/10/cropped-logo-32x32.png</url>
	<title>Lăng Nghiêm &#8211; Lăng Nghiêm Tự</title>
	<link>https://langnghiem.com</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Lăng Nghiêm Tự</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/lang-nghiem-tu/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 29 Nov 2018 19:09:31 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Lăng Nghiêm]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://langnghiem.com/?p=4604</guid>

					<description><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự không phải là một ngôi chùa hay một nơi, một chổ. Vậy...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><img decoding="async" class="alignleft  wp-image-4609" src="http://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/11/langNghiemTu.jpg" alt="" width="218" height="161" srcset="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/11/langNghiemTu.jpg 501w, https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/11/langNghiemTu-300x222.jpg 300w" sizes="(max-width: 218px) 100vw, 218px" />Lăng Nghiêm Tự không phải là một ngôi chùa hay một nơi, một chổ. Vậy Lăng Nghiêm Tự ở đâu, và các vị tu hành tu hành nơi đâu? Câu trả lời đó nằm tại trong ý nghiã của chữ &#8220;Lăng Nghiêm Tự&#8221;.</p>
<p>Lăng Nghiêm (Śūraṃgama) là tiếng Sanskrit, có nghĩa là bền chắc nhất trong tất cả mọi thứ. Tất cả mọi thứ, mọi vật thể, như núi, sông, đất đai, nhà cửa, người, vật, các loài sinh từ bào thai, từ trứng, từ nơi ẩm thấp hoặc loài hóa sinh. Tất cả những thứ đều phải được thể nghiệm qua chiều sâu và tính vững chãi mới có thể đạt được bản thể của định, bản thể của “mật nhơn.”. Khi hành giả đạt được “đại định” của “mật nhơn”, người ấy là một bằng chứng của “liễu nghĩa.”. Khi một hành giả đã đạt được liễu nghĩa, nghĩa là hành giả ấy đã tu tập lục độ vạn hạnh của bồ-tát, đã chứng được “đại hạnh.”. Chứng được “đại hạnh” rồi sau đó mới thành tựu được loại định cứu cánh kiên cố nhất trong các hiện tượng, đó là “đại quả”, kết quả lớn nhất trong tất cả các kết quả. Đó là quả vị Lăng Nghiêm Đại Định.</p>
<p>&#8220;Tự&#8221; là gì? Chữ Tự có nghiã là chùa, tiếng Anh là Temple. Ngài Đạt La Ma (Dalai Lama) giảng giải ý nghiã chữ Temple như sau:</p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="size-medium wp-image-4600 alignright" src="http://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/11/dalaiLama-300x193.jpg" alt="" width="300" height="193" srcset="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/11/dalaiLama-300x193.jpg 300w, https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/11/dalaiLama.jpg 640w" sizes="auto, (max-width: 300px) 100vw, 300px" /></p>
<p>Tâm là chùa, chùa là tâm. Chùa nằm tại tâm. Trong tâm có chùa. Vậy Lăng Nghiêm Tự đó là gì? Đó là chân tâm, vốn không thể thấy được. Tâm nằm trong lồng ngực mà quý vị có thể trông thấy được, đó chỉ là trái tim, nhiệm vụ nó là để giúp cho quý vị sống còn. Đó không phải là chân tâm. Trái tim ấy chắc chắn không thể nào dẫn quý vị đến sự hiểu biết chân chính. Nếu trái tim trong lồng ngực quý vị là chân tâm, thì lẽ ra nó phải cùng đồng hành với quý vị khi chết đi. Vậy mà sau khi chết thân xác quý vị còn đó mà trái tim vẫn nằm yên trong thân. Thế nên trái tim thịt ấy không phải là chân tâm.</p>
<p>Các ngôi chùa mà quý vị đã đi hành hương viếng thăm là những ngôi nhà che mưa che nắng để quý vị tu hành. Những nơi đó cũng như trái tim của quý vị, nhiệm vụ nó là để giúp cho quý vị sống. Các ngôi chùa đó thường phải tu bổ chăm sóc, nó không giống như Lăng Nghiêm Tự, kiên cố bất sanh bất diệt. Lăng Nghiêm Tự là tâm chân thật và Tâm chân thật của quý vị chính là Phật tánh. “Thế Phật tánh ở nơi đâu?”</p>
<p>Phật tánh chẳng ở trong, chẳng ở ngoài, chẳng ở giữa. Kinh văn sẽ giải thích đạo lý này rất chi tiết. Trong kinh cũng sẽ giải thích “Thập phiên hiển kiến” (mười lần chỉ bày tánh thấy), đó là “chân tâm.” Đây là nguyên nhân thứ ba khiến Đức Phật tuyên thuyết bộ kinh này, là để chỉ bày rõ cho chúng sinh Thường Trụ Chân Tâm Tánh Tịnh Minh Thể (thể tánh thanh tịnh sáng suốt thường trụ của chân tâm). Chơn tâm này vốn không đi, không đến, không biến đổi, không dao động. Chơn tâm ấy là bản thể, không bị nhiễm ô. Bản chất của chân tâm hoàn toàn thanh tịnh. Thể tánh của chân tâm hoàn toàn sáng suốt.</p>
<p>Vậy quý vị có nên rời bỏ chùa để lên núi vào hang đá tu hành hay không? Dĩ nhiên là không. Hang động cũng là nơi che mưa che gió. Hang động cũng là tướng, vẫn trải qua sanh trụ hoại không. Đó là tu hành với tâm phân biệt và vọng tưởng. Đem tâm phân biệt (thức) và vọng tưởng mà tu học Phật pháp cũng giống như nấu cát mà mong thành cơm, không thể nào thành tựu được, dù quý vị có tu hành như thế trải qua vô số kiếp, cũng không thể nào thoát khỏi vòng luân hồi, chẳng thể nào thành Phật được.</p>
<p>Yếu chỉ tu hành tại Lăng Nghiêm Tự là phá hủy và làm tiêu tan những vọng tưởng điên đảo này và phá trừ những mê lầm rất vi tế nhỏ nhiệm từ tâm thức. Giáo thể của Lăng Nghiêm Tự cũng căn cứ vào duy thức môn và khi quy về Như Lai Tạng. Tánh quy về chân như, thì không liên quan đến hiện tượng nữa mà nói thẳng đến bản thể nên gọi là quy tánh môn. Quy tánh môn là hoàn toàn viên dung không ngăn ngại, vì thức tâm có thể tánh nhất định, nên tất cả đều quy về chơn tánh. Vậy quy tánh là giáo thể Lăng Nghiêm Tự. Quy tánh môn là quay về với thể tánh của chúng sinh. Khi các môn dung nhiếp với nhau không ngăn ngại, sự lý vô ngại chính là giáo thể của Lăng Nghiêm Tự.</p>
<p>Tu hành tại Lăng Nghiêm Tự không phải tu hành theo Nhị Thừa (Thanh văn, Duyên giác), cũng không phải quyền thừa, mà là Thật Thừa. Thật Thừa là gì? Đó là nhất thừa thật pháp, đó tức là: hoa nở sen hiện, cũng gọi là khai quyền hiển thật. Hoa rụng sen thành, tức gọi là bỏ quyền lợi thật, xả bỏ quyền pháp, tuyên lưu ra diệu pháp chân thật. <strong>Thật</strong> giáo thượng thừa tức là viên đốn nhất <strong>Thừa</strong>, cho nên gọi là Thật Thừa, một giáo lý bất biến, hằng vĩnh.</p>
<p>Lăng Nghiêm Tự là ngôi chùa không có tướng thì làm sao mà suy hoại, làm sao mà phá vỡ. Người đời bên ngoài chấp <em>tướng</em>, bên trong chấp <em>không</em>. Nếu có thể nơi tướng ly khai tướng, nơi không rời không, đó chính là không chấp nơi không, không chấp nơi có. Cũng chính là trong ngoài không mê, không mê sẽ không chấp trước, không chấp trước thì không có mê. Nếu có thể hiểu rõ diệu pháp này thì trong một niệm tâm có thể sáng suốt khai ngộ</p>
<p>Cho nên chỗ nào quý vị đi đến, thì chỗ đó là Lăng Nghiêm Tự. Ngay cả trên mạng, trên website nầy, Lăng Nghiêm Tự tại đây đâu có hình thể để quý vị nắm lấy, nhưng nó đang hiện hữu trước mặt quý vị. Chỉ cần quý vị đón nhận nó, thì bạn không cần tốn kiếm một đồng xu, mà quý vị cũng có một Lăng Nghiêm Tự để quý vị tu hành.</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Phản văn văn tự tánh, Tánh thành vô thượng đạo</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/phan-van-van-tu-tanh-tanh-thanh-vo-thuong-dao/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 24 May 2018 20:59:58 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Lăng Nghiêm]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://langnghiem.com/?p=3864</guid>

					<description><![CDATA[Trong kinh Lăng Nghiêm, pháp “phản văn văn tự tánh, tánh thành vô thượng đạo”...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="entry-content">
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="alignleft  wp-image-3865" src="http://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/05/listen.jpg" alt="" width="249" height="249" srcset="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/05/listen.jpg 200w, https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/05/listen-150x150.jpg 150w" sizes="auto, (max-width: 249px) 100vw, 249px" />Trong kinh Lăng Nghiêm, pháp <em>“phản văn văn tự tánh, tánh thành vô thượng đạo” </em>(xoay ngược cái Nghe để nghe tự tánh, tánh trở thành vô thượng đạo) của Quán Thế Âm Bồ Tát chính là ý nghĩa này. Kinh Lăng Nghiêm dạy chúng ta phương pháp xoay chuyển lục căn, đức Phật chỉ nêu ra một căn của sáu trần bên ngoài, quay ngược lại duyên theo tự tánh để nói: Hãy nên xoay ngược dòng của sáu căn, [chuyện đó] được gọi là <em>“phản văn”</em> , dùng chữ Văn (nghe) để biểu thị. Nói cách khác, lục căn chẳng duyên theo trần cảnh, mà duyên theo căn tánh của sáu căn, đó là đúng! Căn tánh của sáu căn là Chân Như bản tánh của chính mình.</p>
<p>Trong hội Lăng Nghiêm, đối với sáu căn, đức Phật nêu ra một căn là Nhãn Căn. Phần đầu của kinh Lăng Nghiêm có một đoạn kinh văn rất dài, gọi là <em>“thập phiên hiển kiến”</em> (mười phen giảng rõ cái Thấy). <em>“Kiến”</em> ở đây chẳng phải là Nhãn Thức, chẳng phải là <em>“ngũ câu ý thức”</em> đồng thời khởi tác dụng với Nhãn Thức, chẳng phải là thứ ấy. Lìa khỏi Nhãn Thức lẫn ngũ câu ý thức; sau khi đã lìa khỏi, sẽ là kiến tánh. Kiến tánh là chân tánh, nơi mắt gọi là tánh Thấy, nơi tai là tánh Nghe, nơi mũi gọi là tánh Ngửi, là một tánh. Một tánh, chứ không phải là hai tánh! Có thể thật sự tìm được thứ này, bèn thành vô thượng đạo.</p>
<p>Vì lẽ này, Phật pháp được gọi là <em>“nội học”</em>, phải hướng nội, hồi quang phản chiếu, đừng duyên theo cảnh giới bên ngoài. Duyên theo cảnh giới bên ngoài, sẽ vĩnh viễn chẳng đạt được chân tướng. Đức Phật dạy chúng ta dùng phương pháp này để tu hành.</p>
<p><em>“<strong>Thể sát cứu thẩm</strong>”</em>:<em> “Thể”</em> là dùng tâm để lãnh hội, trong tâm hiểu rõ là Sát . Ba chữ Sát , Cứu, Thẩm đều có nghĩa là “hiểu rõ”. Do lãnh hội mà hiểu rõ, chẳng phải là nghiên cứu hoặc tư duy, chẳng phải là suy luận. Hễ dùng những phương pháp ấy (nghiên cứu, tư duy, suy luận) sẽ đều sai bét, đều rơi vào tâm ý thức.</p>
<p><em>“<strong>Cúc kỳ căn nguyên</strong>”</em> nghĩa là truy cứu đến tận cùng, thấu hiểu đến chỗ sâu thẳm. Chư vị ngẫm xem: Chúng ta có thể làm được ba câu ấy (<em>“tức niệm phản quán, thể sát cứu thẩm, cúc kỳ căn nguyên”</em>) hay không? Vì sao chúng ta chẳng làm được? Nói thật ra, tâm quá thô. Ở đây, tâm rất tế, tế tâm là gì? Tế tâm là định tâm, là tâm thanh tịnh. Do vậy, chúng ta hiểu rõ: Lý nhất tâm ở sau Sự nhất tâm. Quý vị chẳng đoạn phiền não, chẳng có cách nào thực hiện công phu này! Chúng ta còn có thị phi, nhân ngã, còn có tham, sân, si, mạn, còn có ưu lự, được, mất, sẽ chẳng có cách nào thực hiện công phu này. Người tâm địa hết sức thanh tịnh thì được, có thể thực hiện công phu này.</p>
<p><em> “<strong>Thể cứu chi cực</strong>”</em>: Thể Cứu là định công (công phu định lực), Định chẳng phải là <em>“tử định” </em>(định lực chết cứng, cứng ngắc, chẳng hoạt bát, uyển chuyển). Nếu là tử định, trong ấy chẳng có Quán; còn Định có Quán, như trong phần trước đã nói là <em>“tức niệm phản quán”</em> (quán ngược lại ngay nơi niệm). Nói theo Giáo Hạ, sẽ là <em>“Chỉ Quán song vận”</em> (vận dụng Chỉ lẫn Quán); nói theo Thiền thì Thiền là Tĩnh Lự, Tĩnh là Định, Lự là Huệ, <em>“Định Huệ đẳng trì”</em> (giữ cân bằng Định và Huệ). Họ dùng công phu này, dùng đến mức kha khá, sẽ hoát nhiên khai ngộ. <em>“Ư tự bổn tâm, hốt nhiên khế hợp”</em> (Bỗng dưng khế hợp bản tâm của chính mình). Đấy là khai ngộ, nhà Thiền nói là <em>“minh tâm kiến tánh”</em>, trong Giáo Hạ nói là <em>“đại khai viên giải”.</em></p>
<p><em>“Pháp” </em>là vạn vật, diệu ở chỗ nào? Những gì mắt trông thấy là thấy sắc tánh (hoặc nói là “tánh sắc”). Những gì tai nghe là nghe tánh thanh, nói “tánh thanh” hay “thanh tánh”, ý nghĩa như nhau. Trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật đã nói: <em>“Sáu căn tiếp xúc là diệu tánh”</em>, đó chính là <em>“kiến tánh”</em>. Mắt thấy tánh, tai nghe tánh, mũi ngửi tánh, lưỡi nếm tánh, tay chạm tánh, chẳng có gì không phải là tánh. Thông thường, chúng ta dùng một chữ để biểu thị chung, minh tâm <em>“kiến tánh”</em>, kiến tánh bèn thành Phật.</p>
<p>Kinh Lăng Nghiêm nói: <em>“Đương xứ xuất sanh, tùy xứ diệt tận”</em> (Sanh ra từ nơi đâu, sẽ diệt ngay từ nơi đó), gần như là sanh diệt đồng thời. Nếu các nhà khoa học đọc kinh Lăng Nghiêm, có lẽ khoa học sẽ tăng tấn, tiến cao hơn một nấc, có thể chứng minh chân tướng được nói trong kinh Phật. Nay chúng ta nghiên cứu theo phương hướng sai lầm, luôn nghĩ chúng có thứ tự, luôn nghĩ chúng có khởi nguyên. Đối với khởi nguyên của vũ trụ, sinh vật và nhân loại, [giới khoa học] luôn bảo là chúng có trước sau, không biết là chúng chẳng có trước sau.</p>
<p>Tình hình này có thể lãnh hội, kiểm nghiệm bằng mộng cảnh. Chúng ta nằm mộng, cảnh giới trong mộng bỗng dưng hiện tiền, cảnh giới ấy có trước sau hay chăng? Một thứ sanh, hết thảy đều sanh! Vừa tỉnh giấc, mộng cảnh chẳng còn nữa. Một thứ diệt, hết thảy đều diệt! Chẳng phải là diệt theo thứ tự, mà cũng chẳng phải là sanh theo thứ tự. Các hiện tượng trong toàn thể đại vũ trụ cũng là tình hình này, tỏ rõ ý nghĩa <em>“tâm ấn bất hoại”</em>. Năng và Sở đều bất hoại. Các hiện tượng được biến hiện chính là <em>“tương tục tướng”</em> (tướng liên tục). Các hiện tượng liên tục [xuất hiện và diệt mất] mà thôi, tìm sự sanh diệt đúng là tìm chẳng thấy. Nhập cảnh giới này, bèn gọi là <em>“chứng đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn”. </em></p>
<p><em>“Vô Sanh” </em>là hết thảy vạn pháp xác thực chẳng có sanh diệt. Chẳng có sanh diệt là vô sanh; vô sanh bèn vô diệt. <em>“Pháp”</em>  là hết thảy các pháp. Nhẫn là thừa nhận. Quý vị đã thấy sự thật này, thừa nhận lời Phật dạy “hết thảy các pháp bất sanh, bất diệt”, đó gọi là <em>“chứng đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn”</em>. Hết thảy các pháp bất sanh bất diệt là ý nghĩa <em>“tâm ấn bất hoại”</em>.</p>
</div>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Bà già phạm tát đát đa bác đát ra</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/ba-gia-pham-tat-dat-da-bac-dat-ra/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 02 Apr 2018 15:42:19 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Lăng Nghiêm]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://langnghiem.com/?p=1068</guid>

					<description><![CDATA[Không Như Lai Tạng diệu vô cùng Bất không tạng tánh siêu hoá công Không...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><img loading="lazy" decoding="async" class="alignleft  wp-image-1071" src="http://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/04/thanchulangnghiem2.jpg" alt="" width="141" height="326" />Không Như Lai Tạng diệu vô cùng<img loading="lazy" decoding="async" class="wp-image-6109 alignright" src="http://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/04/IMG_1812.jpg" alt="" width="161" height="320" srcset="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/04/IMG_1812.jpg 501w, https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/04/IMG_1812-151x300.jpg 151w" sizes="auto, (max-width: 161px) 100vw, 161px" /><br />
Bất không tạng tánh siêu hoá công<br />
Không bất không tạng ly ngôn thuyết<br />
Trung đạo liễu nghĩa tổng viên dung.</p>
<p>Trong chú Lăng Nghiêm, đây là câu đầu tiên Hội Thứ Tư, Hội Kim Cang Tạng Triết Nhiếp.<br />
Bà già phạm nghiã là Như Lai. Câu Chú nầy có hai chữ “Đát”, chữ trước đọc “đãn”, chữ sau đọc “đáp”.<br />
“Tát” là “Không”<br />
“Bác” là “Bất không”<br />
“Đát Ra” tức là “tạng tánh”</p>
<p>Câu <strong>Bà già phạm tát đát đa bác đát ra</strong> nầy bao hàm “Không Như Lai tạng, Bất không Như Lai tạng, không bất không Như Lai tạng”. Thế nào gọi là không Như Lai tạng? Tức là tất cả đều không. Bất không Như Lai tạng tức là có, không bất không Như Lai tạng, tức là trung đạo, tức cũng là không rơi về không, không chấp vào có, trung đạo liễu nghĩa.<br />
“Không Như Lai tạng diệu vô cùng”: Diệu nghĩa trong không Như Lai tạng vô cùng vô tận, không cách gì có thể nói hết được.<br />
“Bất không tạng tánh vượt hoá công”: Bất không Như Lai tạng tánh vượt thoát công năng của tạo hoá không thể nghĩ bàn.<br />
“Không bất không tạng lìa lời nói”: Trung đạo liễu nghĩa lìa lời nói, chẳng có gì để nói.<br />
“Trung đạo liễu nghĩa tổng viên dung”: Đây là nơi cứu kính trung đạo liễu nghĩa. Tóm lại, đây là tổng trì pháp lớn, là linh văn viên dung vô ngại, thường thường niệm câu Chú nầy, thì sẽ minh tâm, sẽ thấy tánh, cũng hàng phục được thiên ma, chế các ngoại đạo, xem bạn có dùng được hay không!</p>
<p>Trong Như Lai tạng, lục độ cũng không. Ở đây chúng ta đang nói về cái không của Như Lai tạng. Để diễn tả tính không của Như Lai tạng, phải dùng đến chữ không, nhưng đó không phải là hoàn toàn phủ định. Trong đó, vẫn có cái đang hiện hữu, đó là bổn diệu viên tâm. Nhưng tâm ấy không được gọi bằng tên ấy. Thế là ở đây đã mô tả không Như Lai tạng rồi.</p>
<p>Như thế cho đến có nghĩa là các mức độ của giác ngộ, từ lục độ cho đến thập trụ, thập tín, thập hạnh, thập hồi hướng và thập địa; cho đến cả quả vị Phật, đều được bao gồm trong không Như Lai tạng. Từ các giai vị của hàng Bồ-tát đến quả vị Phật phải cần rất nhiều thời gian, và cần rất nhiều công hạnh tu tập, nhưng tất cả đều là không, quả vị Phật cũng là không.</p>
<p>Chẳng phải Như Lai. Ngay cả danh hiệu Như Lai cũng không. Chẳng phải A-la-hán, chẳng phải Chánh biến tri. Ngay cả danh hiệu Ứng cúng, Chánh biến tri cũng không. Chánh tri là biết tâm bao trùm vạn pháp. Biết vạn pháp chỉ là tâm, tức biến tri. Chánh tri tức là thật trí hiển bày rõ phần lý. Biến tri là quyền trí làm sáng tỏ phần sự. Chẳng phải đại niết-bàn. Ngay cả ý niệm bất sanh bất diệt cũng không.</p>
<p>Chẳng có thường lạc ngã tịnh . “Thường” tức là không lay động, không thay đổi. “Lạc” là tràn đầy niềm vui diệu pháp. “Ngã” là đã đạt được chân ngã. “Tỉnh” là tính chất đặc trưng vốn có trong pháp niết-bàn. Những tên gọi nầy cũng chẳng có. Nó hoàn toàn là không.</p>
<p>Thế thì, quý vị có thể hỏi rằng, cái gì có trong Như Lai tạng? Tôi đã nói với quý vị rằng vạn pháp vẫn hiện hữu ở đó. Quý vị hỏi cái gì không hiện hữu trong đó, thì chẳng có gì hiện hữu trong đó cả. Mọi thứ thảy đều do tâm. Như Lai tạng là không, là bất không, là không và là bất không, cái vi diệu của nó là bất tận. Quý vị có thể nói vạn pháp là có, rồi quý vị có thể nói vạn pháp là không, và rồi quý vị có thể nói vạn pháp vừa không vừa là bất không. Sau khi thâm nhập Phật pháp một thời gian dài, quý vị mới hiểu được điều nầy. Đó chính là không Như Lai tạng. Do đó đều chẳng phải là các pháp thế gian và xuất thế gian. Như Lai tạng là không. Trong đó chẳng có pháp nào.</p>
<p><span class="fixedtablefont1">Như Lai tạng chính là bổn diệu viên tâm, chẳng phải là tâm thức của quý vị, chẳng phải là không</span>. Tức là đất nước gió lửa. Tức là mắt tai mũi lưỡi thân ý. Tức là sắc thanh hương vị xúc pháp. Tức là nhãn thức giới, cho đến tức là ý thức giới. Thế nên không Như Lai tạng cũng chính là bất không Như Lai tạng, Như Lai tạng chẳng hề không. Như vậy, trong Như Lai tạng, vốn là không vừa là bất không, chính là nguyên minh tâm diệu. Đó chính là năm uẩn, là sáu nhập, là mười hai xứ, là mười tám giới.</p>
<p>Trước đây, không Như Lai tạng đã được trình bày. Bây giờ nói Như Lai tạng bất không. Nếu Như Lai tạng vốn đã là không, tại sao bây giờ lại nói là bất không? Khi nó đã là không rồi, thì nó không thể là bất không được. Nếu Như Lai tạng là không, hoặc là nếu tất cả mọi thứ đều có trong đó, thì chẳng có gì là vi diệu cả. Mà bởi vì chính từ chân không lại xuất sinh diệu hữu, và từ diệu hữu phát sinh chân không. Thế nên Như Lai tạng vốn là không lại xuất sinh diệu hữu. Do vậy, năm uẩn, sáu nhập, mười hai xứ, mười tám giới, tứ đế, mười hai nhân duyên… chẳng có thứ nào không cả. Chúng có thể không và bất không, vì chúng là bất định pháp.</p>
<p>Nếu quý vị chưa nắm rõ ý nghiã của Như Lai Tạng Tánh, bởi vì quý vị đang bị vướng mắc vào các pháp, và nếu như vậy, quý vị là kẻ chấp pháp. Nếu quý vị là người bị pháp trói buộc, cũng giống như quý vị chưa thông hiểu được pháp. Vốn quý vị là người chấp ngã, nhưng khi quý vị tu học Phật pháp thì quý vị trở thành người chấp pháp. Thế nên trong đạo Phật, quý vị không nên mang trong mình một thứ chấp trước nào cả. Nếu không chấp vào điều gì, cái bất không chính là cái không. Nếu quý vị còn chấp, thì cái không trở thành cái có.</p>
<p>Rời các nghĩa “tức,” rời cái , và “phi,” không có, chẳng phải. Không phải là nó có, và chẳng phải là nó không có. Đó là chân không và diệu hữu. Thế nên, đạo lý của Như Lai tạng là không mà vừa là bất không, là vượt lên trên cái không và bất không, và cũng chẳng tách rời cái không và bất không.</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Bỏ thức, Dùng căn</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/bo-thuc-dung-can/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 27 Mar 2018 22:22:20 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Lăng Nghiêm]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://langnghiem.com/?p=882</guid>

					<description><![CDATA[Kinh Lăng Nghiêm dạy chúng ta bỏ Ý Thức, tức thức thứ sáu, mà hãy...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="entry-content">
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="alignleft size-full wp-image-880" src="http://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/03/hearing-1.jpg" alt="" width="220" height="187" />Kinh Lăng Nghiêm dạy chúng ta bỏ Ý Thức, tức thức thứ sáu, mà hãy dùng Diệu Quán Sát, bỏ thức thứ bảy để dùng Bình Đẳng Tánh, đó gọi là <em>“bỏ Thức, dùng Căn”</em>. Bỏ được thức thứ sáu và thứ bảy, quý vị mắt nhìn Sắc sẽ là do tánh Thấy mà thấy Sắc tánh. Đó gọi là “minh tâm kiến tánh”. Kiến tánh sẽ minh tâm. Quý vị thấy được Sắc tánh ở bên ngoài nên gọi là kiến tánh. Dùng tánh Nghe để nghe Thanh tánh, tánh Nghe cũng là minh tâm, nghe được Thanh tánh thì cũng gọi là kiến tánh. Minh tâm kiến tánh, kiến tánh thành Phật!</p>
<p><em> “Tánh”</em> là thể tánh, mức độ ý nghĩa của hai câu này khá sâu. <em>“Cảnh giới”</em> là sáu trần bên ngoài, bên trong là lục căn và lục thức. Toàn bộ những thứ ấy đều thuộc về cảnh giới. Trong khi lục căn của chúng ta tiếp xúc sáu trần, quý vị có thể thấy được tánh cảnh giới thì tốt lắm.</p>
<p>“Bỏ Thức dùng Căn như thế nào?” Đây là đạo lý nhất định. Làm như thế nào mới có thể thấy được Sắc tánh? Quý vị dùng tánh Thấy để thấy Sắc tánh, dùng tánh Nghe để nghe Thanh tánh. Những thứ ấy chẳng gọi là lục trần, mà gọi là lục tánh. Thiền gia nói <em>“minh tâm kiến tánh”</em> là nói về cảnh giới này. Minh tâm là thành tâm (tâm chân thành), tức là nhất tâm.</p>
<p>Quý vị phải hiểu: Nhất tâm là minh, nhị tâm là vô minh, là mê, là chẳng minh. Nhất tâm là minh; do vậy, nhất tâm thấy Sắc bên ngoài, sẽ thấy được Sắc tánh, chẳng phải Sắc trần. Sắc trần là gì? Trần có nghĩa là ô nhiễm; tánh chẳng ô nhiễm. Dùng nhất tâm để nghe, sẽ nghe Thanh tánh, chẳng phải là Thanh trần. Chỉ cần quý vị có thể dùng nhất tâm thì lục trần biến thành lục tánh, lục tánh là nhất tâm. Do vậy, gọi là minh tâm kiến tánh, <em>“dẫn phát hiện hành”</em> là kiến tánh. Kiến tánh chính là <em>“tự ngã dĩ pháp nhũ”</em> (dùng sữa pháp nuôi nấng ta),</p>
<p><em>“Trở về nhất tâm”: Vốn là nương vào một cái tinh minh mà chia thành sáu thứ hòa hợp, nay quay ngược sáu thứ hòa hợp trở về một cái tinh minh. </em></p>
<p>Đây là những câu trích từ kinh Lăng Nghiêm. <em>“Nhất tinh minh”</em> là nhất tâm của chính mình, <em>“lục hòa hợp”</em> là sáu căn. Chân tâm quý vị từ sáu căn khởi ra sáu thứ tác dụng khác nhau, nơi mắt gọi là thấy, nơi tai là nghe, nơi mũi là ngửi, nơi lưỡi là nếm; thật ra, chúng đều là tác dụng của nhất tâm. Nếu quý vị chẳng thấu hiểu ý nghĩa này thì chúng tôi nêu lên một tỷ dụ để quý vị dễ hiểu! Thí như điện từ nhà máy điện phát ra là một, chẳng có gì khác nhau, nhưng điện ở nơi đèn thì tỏa sáng. Đèn là một khí cụ, nó khởi tác dụng là ánh sáng. Nơi máy thâu âm, điện khiến cho máy thâu lại âm thanh của chúng ta. Tại máy sưởi điện thì nó tỏa nhiệt. Tùy theo đồ vật khác nhau mà điện khởi tác dụng khác nhau. Tuy khởi tác dụng khác nhau, nhưng đều là một dòng điện, tuyệt đối chẳng thể nói điện tỏa sáng và điện nơi máy thâu âm là hai thứ, chẳng phải là một! Không có đạo lý ấy!</p>
<p>Tác dụng nơi sáu căn của chúng ta quả thật là một, không hai, nó là chân tâm. Mắt của chúng ta giống như đèn, tai giống như máy thâu âm, dòng điện khởi tác dụng tại những nơi đó. Vì thế nói là <em>“nguyên y nhất tinh minh, phân thành lục hòa hợp”</em>, tại sáu căn khởi sáu thứ tác dụng khác nhau; tuy khởi sáu thứ tác dụng khác nhau, nhưng phải biết chúng hoàn toàn là nhất tâm.</p>
<p><em>“Kim phản lục hòa hợp, hoàn quy nhất tinh minh”</em>:   Nay chúng ta quay đầu lại, hợp sáu cái tâm nơi sáu căn này thành một, “thành tâm” (tâm chân thành) bèn hiện tiền. Nhất tâm phân tán nơi sáu căn, đó là tách rời ra; hiện thời chúng lại được quy nhất, biểu thị chí thành, biểu thị cung kính, đấy là ý nghĩa <em>“hoàn quy nhất tâm”</em>.</p>
</div>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Bổn nhân của ngũ ấm, đó là vọng tưởng.</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/bon-nhan-cua-ngu-am-do-la-vong-tuong/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 22 Mar 2018 21:25:23 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Lăng Nghiêm]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://langnghiem.com/?p=703</guid>

					<description><![CDATA[Ngũ ấm bổn nhân, đồng thị vọng tưởng. Cái gì là bổn nhân của ngũ...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><strong><em><img loading="lazy" decoding="async" class="alignleft  wp-image-704" src="http://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/03/vongTuong.png" alt="" width="182" height="136" />Ngũ ấm bổn nhân, đồng thị vọng tưởng.</em></strong><br />
Cái gì là bổn nhân của ngũ ấm? Đó là vọng tưởng. Nếu quí vị quán chiếu thật sâu vào vọng tưởng quí vị sẽ thấy nó không có thực thể riêng biệt. Thực ra mẹ của vọng tưởng là năm uẩn. Từ năm uẩn mà có vọng tưởng. Nương nơi chơn mà vọng sanh khởi.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #993300;"><strong>1. Vọng tưởng kiên cố thứ nhất: Sắc thân</strong></span></p>
<p>Nguyên nhân ban đầu của thân thể quí vị là do cái tưởng của cha mẹ sanh ra. Bằng cánh nào mà quí vị có được cái thân hiện tiền? Cái thân ấy do đâu mà có? Có là do mọi thứ tưởng nơi cha mẹ quí vị. Trong kinh gọi là tưởng nhưng thực ra chính là tình. Nói rõ ràng hơn là một thứ xúc cảm. Vì loài noãn sanh do tưởng sanh ra, loài thai sanh do tình sanh ra.</p>
<p>Vì cha mẹ đã khởi cả tình lẫn tưởng nên mới có chuyện nam nữ. Tuy nhiên khi quí vị đang ở trong dạng thân trung ấm, nếu quí vị không khởi nên cái tình yêu mến mẹ và ghét cha, hoặc ghét mẹ và yêu thương cha, thì thân quí vị không thể hiện hữu được. Chính quí vị cũng vậy, mới ngay trong giai đoạn thân trung ấm thôi, mà quí vị đã có niệm tưởng về tình rồi.</p>
<p>Vì niệm tưởng về tình ấy, nên thân trung ấm của quí vị nhập vào thai người mẹ. Nếu quí vị không có niệm tưởng về tình ấy, thì quí vị không thể nhập thai và quí vị không thể có thân này. Nếu quí vị không có tình tưởng, thì thân tuyệt đối không thể nào hiện hữu. Làm sao mà có thể ra đời được.</p>
<p>Sinh mạng của quí vị có được là do nơi tưởng.Niệm tình tưởng ấy đã truyền sự sống đến cho quí vị. Nguyên nhân để quý vị có mạng sống là do các tình tưởng tương giao với nhau mà thành. Nếu quí vị không có niệm tưởng nào thì sự sinh tử sẽ chấm dứt. Khi tưởng ấm tiêu dung thì quý vị sẽ rời xa tất cả điên đảo mộng tưởng. Khi mọi vọng tưởng đều tiêu trừ rồi thì việc sanh tử nơi quí vị cũng chấm dứt luôn. Tại sao quí vị phải chịu trải qua sanh tử? Đơn giản là chỉ vì quí vị có quá nhiều vọng tưởng. Khi một niệm vọng tưởng dừng, thì niệm khác lại dấy lên giống như sóng, vọng tưởng sinh khởi kế tiếp nhau vô cùng tận, và nó khiến cho sinh mạng tương tục. Sắc thân hiện nay của quí vị, được gọi là vọng tưởng kiên cố thứ nhất.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #993300;"><strong>2. Vọng tưởng hư minh thứ hai: Cảm Thọ</strong></span></p>
<p>Hãy tưởng tượng chính mình đang đứng trên bờ dốc cao dựng đứng; chỉ cần nói và nghĩ về điều ấy thôi cũng đủ làm cho lòng bàn chân quí vị thấy rờn rợn và tê nhức rồi. Quí vị cảm thấy rất khó chịu như thể cẳng chân không nâng đỡ nổi cái thân và có cảm giác muốn té. Nếu quí vị đi trên bờ đá cao và nhìn xuống dưới vực sâu không đáy, thì lòng bàn chân của mình sẽ có cảm giác như tê cứng lại. Mặc dù quí vị không có nguy cơ bị té mà quí vị cũng có cảm giác như thể mình sắp bị rơi vậy. Cảm giác này sở dĩ xuất hiện trong mình là do vọng tưởng.</p>
<p>Khi mới sinh ra đời, quí vị bẩm thụ được sắc thân có hình và thể. Nên hiện tại quí vị theo đuổi những cảm thọ dễ chịu và khước từ những cảm giác khó chịu. Quí vị thích những thứ thuận lợi cho mình (<em>thuận ích</em>) và không ưa những gì tổn hại cho mình (<em>vi tổn</em> ).</p>
<p>Hai thứ cảm thọ, hai thứ vọng tưởng ấy thúc bách nơi thân quí vị , là lớp vọng tưởng thứ nhì. Đặc điểm của nó là hư minh. Hư nghĩa là không có thực. Đây là loại vọng tưởng thứ nhì.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #993300;"><strong>3. Vọng tưởng hư minh thứ ba: Niệm tưởng</strong></span></p>
<p>Khi niệm tưởng sinh khởi, nó có thể sai sử thân quí vị. Tại sao quí vị vừa khởi niệm thân liền theo niệm tưởng ấy mà hành động một cách tương ứng ngay liền? Ngay khi vừa khởi niệm thân quí vị liền muốn tương ứng ngay với vật tượng mà quí vị vừa tưởng ra. Tại sao hành động của thân lại hợp nhất với niệm tưởng?</p>
<p>“<em>Nhất niệm bất sanh toàn thể hiện, Lục căn hốt động bị vân già</em>.”</p>
<p>Một niệm không sanh khởi, thể tánh toàn chân hiển bày. Sáu căn vừa động, chân tánh liền bị mây mờ che phủ. Nếu quí vị giữ cho mình được nhất tâm, thì thể tánh chân thật sẽ hiển bày. Cái dụng lớn vô biên của chân tánh là Như Lai tạng . Đó là của báu vốn có trong nhà của quí vị. Đó là quê hương xán lạn rộng khắp, là mặt mũi từ khi cha mẹ chưa sanh ra, khi sáu căn chỉ vừa dấy khởi một niệm rất vi tế, thì thân tâm liền bị vây phủ bởi mây mù.</p>
<p>Nếu hành giả tu tập đạt đến mức không còn một niệm tưởng nhỏ nhít nào nữa, thì quỷ thần không thể nào đến gần người ấy được nữa. Nếu như một niệm không sinh, thì chẳng có niệm diệt đi. Nếu quí vị không thể ngăn ngừa đừng cho niệm sanh khởi, thì quí vị không thể nào ngăn cản được niệm ấy diệt đi. Đây là điểm rất quan trọng. Nếu quí vị hiểu được quy luật này, thì trong tâm quí vị không còn vọng tưởng, thể tánh toàn chân hiển bày. Nhưng khi sáu căn vừa động, tâm quí vị liền bị vây phủ bởi mây mù ngay.</p>
<p>Khi thức là tưởng tâm, khi ngủ là chiêm bao, nên niệm tưởng lay động vọng tình của quí vị. Tính chất của nó là dung thông. <em>Dung thông</em> có nghĩa là cùng tác động lẫn nhau. Tưởng ấm vẫn hoạt động dù quí vị ngủ hay thức nên gọi tưởng ấm là “<em>dung thông</em>.” Có nghĩa hợp tác hỗ tương với nhau. Đây là vọng tưởng thứ ba và nó có liên quan với <em>tưởng ấm</em>.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #993300;"><strong>4. Vọng tưởng hư minh thứ tư: Hành Ấm</strong></span></p>
<p>Tiến trình chuyển hóa không ngừng. Ngày đêm tương tục với nhau. Đó là hành ấm , trôi chảy không ngừng như sóng gợn lăn tăn trên mặt nước. Khi niệm trước dừng, niệm sau liền sanh khởi. Khi niệm ấy qua đi, niệm kia liền đến. Nó sanh rồi diệt liên tục nhau.</p>
<p>Quá trình trao đổi và chuyển hóa này không bao giờ chấm dứt. Nó vận hành liên tục, không hề ngừng nghỉ. Sự chuyển biến liên tục ngày đêm, móng tay dài ra, tóc bạc, khí lực suy giảm, da nhăn. Nó còn chính xác hơn cả đồng hồ. Nếu quí vị không lên giây đồng hồ thì đồng hồ nó sẽ đứng máy. Nhưng nếu quý vị không lên giây” tiến trình chuyển hóa vật chất” ấy nó vẫn hoạt động như thường, trừ phi quí vị chết đi.</p>
<p>Tiến trình chuyển hóa theo đuổi quý vị suốt ngày đêm. Từ khi thiếu niên đến tráng niên, cho đến tuổi già cả đến lúc chết. Chết rồi lại tái sinh, rồi lại phải chết quí vị trải qua vô số lần sanh tử như vậy mà không hề biết rõ được nguyên lý này, vẫn cứ bước đi một cách rất hồ đồ đến suốt đời suốt kiếp. Mê mờ lúc sinh ra cho đến luôn cả lúc ra đi. Đó là những chi tiết về loại vọng tưởng từ hành ấm phát sanh.</p>
<p>Hành ấm hoạt động liên tục, nhưng sự nhiễu động vi tế ấy không dễ gì nhận ra. Nó bí ẩn mà mờ mịt, quí vị khó nhận ra được. Đây là loại vọng tưởng thứ tư liên quan với hành ấm.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #993300;"><strong>5. Vọng tưởng hư minh thứ năm: Thức Ấm</strong></span></p>
<p>Cuối cùng nơi chỗ sáng suốt tinh thuần lặng yên không dao động ấy là thường, thì thân quí vị chẳng thoát ra khỏi sự thấy nghe, hiểu biết.</p>
<p>Lúc này, quí vị sẽ cảm thấy sáng suốt, tinh thuần, trong lặng, không diêu động. Nếu quí vị cho đây là trạng thái thường hằng, thì những việc thấy nghe hiểu biết lẽ ra có trong thân quí vị.</p>
<p>Nếu nó thật sự tinh thuần, chân thật, thì nó đã không có các tập khí và vọng tưởng. Tập khí và vọng tưởng lẽ ra đã không sanh khởi.</p>
<p>Thí dụ như quí vị thấy một vật kỳ quái, nhưng sau nhiều năm, quí vị chẳng nhớ chẳng quên gì đến vật ấy nữa cả. Nếu quí vị nói rằng mình đã quên việc ấy, có nghĩa là quí vị vẫn còn một vài hồi ức về sự kiện đã xảy ra. Nhưng mà ở đây chẳng có việc nhớ quên gì về sự việc đó nữa cả.</p>
<p>Nhưng rồi sau đó bỗng nhiên thấy lại vật lạ ấy, quí vị liền nhớ lại vật ấy một cách rõ ràng không sót một chi tiết nào cả. Khi quý vị bỗng dưng thấy lại vật ấy, thì quí vị sẽ hồi tưởng lại làm sao mình biết được vật ấy, mình đã gặp vật này trong quá khứ và làm sao nó xuất hiện. Quí vị sẽ chẳng quên một chi tiết nào cả.</p>
<p>Làm sao mà ông có thể theo dõi được sự huân tập của từng niệm từng niệm ở trong tánh chất tinh thuần, sáng suốt không diêu động ấy.</p>
<p>Ở trong trạng thái trong suốt không diêu động ấy, có sự huân tập tiếp diễn liên tục trong từng niệm từng niệm, làm sao theo dõi được việc ấy? Làm sao người ta có thể hồi tưởng lại được mọi sự kiện?</p>
<p>Trước khi thấy lại vật ấy, quí vị không gợi lại nó, nhưng một khi quí vị đã gặp nó, quí vị tự động nhớ đến nó liền. Điều này chứng tỏ cho dù quí vị có tạm thời quên nó, nhưng thức thứ tám vẫn nhớ. Đó là lý do tại sao khi quí vị thấy vật ấy lại, quí vị liền nhớ ngay. Nó đã được lưu giữ trong thức thứ tám một cách tự nhiên.</p>
<p>Trạng thái yên tĩnh trong lặng, không diêu động đã được miêu tả ở trên không thực sự hoàn toàn tĩnh lặng. Như dòng nước chảy quá nhanh nên ở trên bề mặt thấy như yên lặng. Khi nhìn kỹ vào đó như thể không có sóng và nước chảy. Vì nước chảy quá nhanh nên không thấy được, chứ không phải là nước không chảy.</p>
<p>Vì không có sóng nên quí vị không thể thấy được nước đang trôi. Nhưng như thế không có nghĩa là không có sự trôi chảy. Nước vẫn chảy, nhưng quí vị không thấy vì không có sóng. Nếu không có vọng tưởng trong thức ấm , thì sẽ chẳng có ai bị ảnh hưởng và huận tập bởi vọng tưởng và tập khí.</p>
<p>Cho nên những khả năng thấy nghe hiểu biết của quí vị hiện nay đã xâu kết biết bao nhiêu tập khí hư vọng</p>
<p>Sự hoạt động của sáu loại tánh biết: thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, giác đều kết lại với nhau qua những tập khí rất vi tế, như một xâu chuỗi hạt. Những tập khí này rất nhỏ nhiệm và khó phát hiện ra.</p>
<p style="text-align: center;">====================</p>
<p><strong>Năm loại ấm trên</strong>: sắc ấm, thọ ấm , tưởng ấm , hành ấm , thức ấm <strong>là do năm vọng tưởng tạo thành.</strong> Do đó nên năm thứ vọng tưởng này cũng phát sanh.</p>
<p>Nay quí vị muốn biết tầm mức sâu cạn từng lĩnh vực của năm ấm. Quí vị cần phải biết phạm vi của từng ấm sâu hay cạn, nó giống như cái gì? Ở đâu là giới hạn của chúng?</p>
<ol>
<li><strong>Sắc và không là biên giới của <em>sắc ấm</em></strong></li>
<li><strong>Xúc và ly là biên giới của <em>thọ ấm .</em></strong></li>
<li><strong>Nhớ và quên là biên giới của <em>tưởng ấm</em></strong>.</li>
<li><strong>Diệt và sanh là biên giới của <em>hành ấm</em></strong>,</li>
<li><strong>Đứng lặng và hiệp với đứng lặng (</strong>với minh giác<strong>) thuộc về biên giới của <em>thức ấm</em></strong>.</li>
</ol>
<p>Cội nguồn của năm ấm này sanh khởi trùng điệp. Ngũ ấm sanh khởi từng lớp hỗ tương tuần hoàn với nhau, cùng hỗ trợ cho nhau. Sự sanh khởi hoại diệt hoại diệt xảy ra như thế nào? Một khi sắc chất biến mất, thì ấm trở thành không, nó sanh khởi từ thức, và sự hoại diệt bắt nguồn từ khi hình sắc tiêu trừ. Sanh Diệt là gì ?</p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #993300;"><strong>Sanh, do thức ấm mà có.<br />
Diệt, từ sắc ấm mà trừ.</strong></span></p>
<p style="text-align: center;"><img loading="lazy" decoding="async" class="size-full wp-image-706 aligncenter" src="http://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/03/SanhDiet-300x202.jpg" alt="" width="300" height="202" /></p>
<p>Quí vị nên hiểu được quy luật này rõ ràng rồi. Khi quí vị đã ngộ đạo rồi thì phương pháp tu tập mà quí vị đã áp dụng xưa nay đều được ngưng lại. Cả ý niệm về ngộ cũng tiêu mất luôn. Nếu quý vị hiểu được nguyên lý này, thì ngay cả khái niệm liên quan đến Ngộ cũng tiêu dung.</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>
