<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Tam Muội &#8211; Lăng Nghiêm Tự</title>
	<atom:link href="https://langnghiem.com/vi/category/tam-muoi/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://langnghiem.com</link>
	<description>Shurangama Temple</description>
	<lastBuildDate>Sun, 31 May 2026 20:16:45 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=7.0.3</generator>

<image>
	<url>https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2024/10/cropped-logo-32x32.png</url>
	<title>Tam Muội &#8211; Lăng Nghiêm Tự</title>
	<link>https://langnghiem.com</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Pháp Hoa Tam Muội</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/phap-hoa-tam-muoi/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 29 Apr 2019 18:50:59 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Tam Muội]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://langnghiem.com/?p=5335</guid>

					<description><![CDATA[Pháp là Phật Pháp cũng là Diệu Pháp. &#8220;Diệu Pháp&#8221; tức là pháp huyền diệu,...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><span style="color: #993300;"><strong>Pháp</strong> </span>là Phật Pháp cũng là Diệu Pháp. &#8220;Diệu Pháp&#8221; tức là pháp huyền diệu, vi diệu, thâm áo không thể dò.</p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #993300;"><strong>Hoa</strong> </span>là Liên Hoa hay là hoa sen để làm ví dụ. Có nghĩa là dùng diệu pháp chi phối liên hoa, làm đề mục cho tam muội nầy</p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #993300;"><strong>Tam muội</strong></span> có nghĩa là bất động hay là định</p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="color: #993300;">Pháp Hoa Tam Muội</span></strong> là một trong những tam muội trong bộ kinh Pháp Hoa. Tam muội nầy dùng Diệu Pháp Liên Hoa làm tên. Diệu Pháp là pháp, Liên Hoa là ví dụ. Tam muội này rất là vi diệu thâm sâu, một số người không dễ gì hiểu nổi, cho nên dùng hoa để ví dụ, do đó tam muội nầy lấy pháp và dụ làm tên.</p>
<p style="text-align: justify;">Hoa có nhiều loại khác nhau, có loại “hoa dại không có quả”, chỉ có hoa mà chẳng có quả, là ví dụ những người buông lung, cứ nói dối, chỉ nói mà không làm, cũng là ví dụ cho ngoại đạo. Vì những bàng môn tả đạo, mặt ngoài trông có vẻ rất là thần thánh, họ cũng rất dụng công tu hành, tu đủ thứ sự khổ hạnh, nhưng chẳng kết quả, cuối cùng chẳng thành công, đó cũng như hoa dại chẳng có quả.</p>
<p style="text-align: justify;"><img loading="lazy" decoding="async" class="alignleft wp-image-5360" src="http://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/04/blackberry2.jpg" alt="" width="99" height="80" />Có thứ “hoa có rất nhiều quả”, đó là ví dụ phàm phu cúng dường cho cha mẹ, sư trưởng, đủ thứ hành vi hiếu thuận. Vì cúng dường cha mẹ, cho nên được rất nhiều công. Những công này, tương lai cũng sẽ kết rất nhiều quả, hoặc là sinh về cõi trời, hoặc là sinh vào cõi người làm người giàu có, đó thật là một hoa có nhiều quả.</p>
<p style="text-align: justify;">Lại có, “một hoa kết một quả”, đó là biểu thị Duyên Giác. Duyên Giác tu hạnh viễn ly, tu pháp môn này, thì vào trong rừng sâu núi thẳm, cũng chỉ đắc được quả vị Duyên Giác.</p>
<p style="text-align: justify;"><img loading="lazy" decoding="async" class="alignleft wp-image-5357" src="http://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/04/fig.jpg" alt="" width="79" height="63" />Lại có, “trước quả sau hoa”, như Tu Ðà Hoàn, họ đã chứng quả Tu Ðà Hoàn, nhưng về sau họ vẫn cần tiếp tục tu hành.</p>
<p style="text-align: justify;">Lại có, “trước hoa sau quả”, đây là biểu thị Bồ Tát thừa, Bồ Tát thì trước phải tu hành, về sau mới đắc được quả vị Bồ Tát. Song, những thứ hoa đã nói ở trên, không thể ví dụ với diệu pháp được, cũng không thể sánh với diệu pháp, chỉ có hoa sen mới thật sự có thể ví dụ cho diệu pháp, vì hoa sen là hoa quả cùng lúc, biểu thị tức quyền tức thật.</p>
<p style="text-align: justify;"><img loading="lazy" decoding="async" class="alignleft wp-image-5328" src="http://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/04/lotus.jpg" alt="" width="104" height="76" srcset="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/04/lotus.jpg 306w, https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/04/lotus-300x221.jpg 300w" sizes="auto, (max-width: 104px) 100vw, 104px" />Hoa quả cùng lúc vừa nói ở trên, mới biểu thị khai quyền hiển thật, vừa có hoa lại có quả, quyền là hoa, thật là quả, song, duy thật thí quyền, sao lại có hoa? Hoa là vì chấp quả mà có. Khi Phật nói Kinh Hoa Nghiêm, A Hàm, Phương Ðẳng, Bát Nhã đều vì nói Kinh Pháp Hoa, mới nói những Kinh điển đó. Pháp được nói ra trước là quyền pháp (pháp phương tiện), chứ chẳng phải là thật pháp, đến hội Pháp Hoa mới là thật pháp, thật giáo. Ðem quyền giáo triển khai, để hiện thị ra nhất thừa thật pháp,</p>
<p style="text-align: justify;">Loài hoa tượng trưng trong Pháp Hoa Tam Muội là hoa sen. Bởi vì hoa nở sen hiện, cũng gọi là khai quyền hiển thật. Hoa rụng sen thành, tức gọi là bỏ quyền lợi thật, xả bỏ quyền pháp, tuyên lưu ra diệu pháp chân thật. Thật giáo thượng thừa tức là viên đốn nhất thừa.</p>
<p style="text-align: justify;">Hoa sen là một thứ hoa hy hữu nhất. Thứ hoa này, thuộc về: hoa quả cùng lúc ; hoa nở thì sen hiện, hoa rụng thì sen thành. Rễ của hoa sen ở dưới bùn, cọng thì ở trong nước, còn hoa thì vượt lên khỏi mặt nước. Rễ ở trong bùn là biểu thị phàm phu, cọng ở trong nước là biểu thị hàng nhị thừa. Phàm phu chấp về có, ở trong bùn là ví dụ có ; nhị thừa thì chấp không, cọng hoa ở trong nước là biểu thị không. Hoa sen ở trên mặt nước là vượt ra không, có ; là biểu thị trung đạo và liễu nghĩa. Tức chẳng rơi về không, cũng chẳng rơi về có. Không, có gọi là hai bên, chẳng chấp vào hai bên, là trung đạo liễu nghĩa.</p>
<p style="text-align: justify;">Sao lại nói hoa sen là biểu thị sự trung đạo liễu nghĩa, đại giáo viên đốn? Vì một khi hoa sen nở, thì có sen, đó gọi là biểu thị nhân quả không hai ; nhân là quả, quả cũng là nhân, như trồng nhân Phật thì kết quả Phật. Mà hoa quả cùng lúc, cũng là biểu thị khai quyền hiển thật. Hoa sen nở thì biểu thị khai quyền, pháp quyền xảo phương tiện, sen hiện ra là biểu thị thật pháp; là chân thật không hư, dùng pháp thật tướng làm thể.</p>
<p style="text-align: justify;">Quý vị muốn tu hành Pháp hoa tam muội thì phải hiểu rằng nhân quả không hai. Nhân tức là quả, quả tức là nhân. Nhân quả cùng lúc, cho nên ví như hoa sen. Hoa sen là hoa nở sen hiện, hoa tàn thì sen thành. Tức là quyền thật không hai. Quyền là quyền xảo phương tiện, thật là chân thật bất hư, vì thật thí quyền, vì thật pháp mới dùng pháp quyền xảo phương tiện. Khai quyền hiển thật, khai mở quyền rồi, thì hiện ra thật. Tức là bổn tích không hai. Bổn là sự lý rất lâu xa về trước, tích là thật hiện sinh. Vì nhân quả không hai, quyền thực không hai, bổn tích không hai, cho nên gọi là Pháp hoa tam muội.</p>
<p style="text-align: justify;">Hoa sen nở và mang quả đồng thời cũng đại diện cho &#8220;sự mở ra tạm thời để biểu lộ sự thật. Sự nở hoa của hoa sen tượng trưng cho sự&#8221; mở ra &#8220;của pháp tạm thời. Pháp tạm thời đề cập đến các thiết bị hiện có và Pháp thực là Pháp chân chính, &#8220;không giả&#8221;, chân lý của dấu ấn chân thật.</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Như Huyễn Văn Huân Văn Tu Kim Cang Tam-Muội</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/quan-the-am-bo-tat-2/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 16 Aug 2018 00:18:05 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Tam Muội]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://langnghiem.com/?p=3959</guid>

					<description><![CDATA[Bồ Tát Quán Thế Âm. Danh hiệu của Ngài là Quán Tự Tại. Quán Thế...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><img loading="lazy" decoding="async" class="alignleft  wp-image-3957" src="http://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/08/quantheam.jpg" alt="" width="230" height="202" />Bồ Tát Quán Thế Âm. Danh hiệu của Ngài là Quán Tự Tại. Quán Thế Âm là quán sát âm thanh của thế gian. Chúng ta đều biết Ngài, vì Ngài từ bi nhất, như tình thương của người mẹ ban cho chúng sinh tất cả sự mong cầu. Do đó, tại Á Châu có câu liễu rằng : Nhà nhà Quán Âm, cửa cửa Di Ðà Phật. Bồ Tát Quán Thế Âm là đệ tử lớn của Phật A Di Ðà. Phật A Di Ðà là giáo chủ cõi Tây phương thế giới Cực Lạc. Bên trái của Ngài là Bồ Tát Quán Thế Âm, bên phải của Ngài là Bồ Tát Ðại Thế Chí. Ðó là Tây phương Tam Thánh. Khi Phật A Di Ðà hết làm giáo chủ, thì Bồ Tát Quán Thế Âm lên thay thế làm giáo chủ, sau đó khi Bồ Tát Quán Thế Âm hết làm giáo chủ, thì Bồ Tát Ðại Thế Chí lên thay thế làm giáo chủ.</p>
<p>Vì Bồ Tát Quán Thế Âm, thường hóa hiện vô lượng số thân hình để cứu độ khổ nạn của chúng sinh, cho nên Ngài có danh hiệu là Ðại Từ Ðại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. Ngài dùng ngàn con mắt chiếu soi chúng sinh trôi nổi trong biển khổ, cho nên dùng ngàn tay để cứu vớt chúng sinh lìa khỏi biển khổ, khiến cho họ đến nơi yên ổn an vui.</p>
<p>Phẩm thứ hai mươi lăm trong Kinh Pháp Hoa là Phẩm Phổ Môn Quán Thế Âm Bồ Tát, chuyên nói về thần lực không thể nghĩ bàn của vị Bồ Tát nầy. Phẩm thứ sáu trong Kinh Lăng Nghiêm nói về Nhĩ Căn Viên Thông.</p>
<p style="text-align: center;">=========================</p>
<div class="entry-content">
<p style="text-align: center;"><span style="color: #993300;"><strong>Như Huyễn Văn Huân Văn Tu Kim Cang Tam-Muội</strong></span></p>
<p><span style="color: #993300;"><strong>Như huyễn</strong></span> có nghĩa là bản tánh của thức là hư vọng, không có thể tướng nhất định, như hoa đốm giữa hư không. Nhân nơi trần mà phát ra cái biết (của căn). Tri thức phân biệt sinh khởi là do sáu trần. Nhân các căn mà có tướng (của trần). Tướng của sáu trần sinh khởi là do ở sáu căn. Tướng (phần sở kiến) và kiến (phần năng kiến) đều không có tự tánh, như bó lau gác vào nhau. Kiến (phần) ở đây là chỉ cho trần. Cả tướng (phần sở kiến) và kiến (phần năng kiến) đều không có tự tánh. Tướng biểu hiện ra chỉ vì do sáu căn hiệp với sáu trần; do vì điều ấy không thực; nó hoàn toàn là hư vọng. Kiến cũng là hư vọng.</p>
<p><span style="color: #993300;"><strong>Văn huân</strong></span> có nghĩa là hằng ngày.</p>
<p><span style="color: #993300;"><strong>Văn Tu</strong></span> có nghĩa là thường tu tập pháp môn phản văn văn tự tánh cho đến khi thấm nhuần công phu nầy.</p>
<p><span style="color: #993300;"><strong>Kim cang</strong></span> có ba nghĩa: kiên cố, xán lạn, và bén nhọn. Thể của kim cang là kiên cố bất hoại. Tướng của kim cang là xán lạn, có thể soi sáng bóng tối trần gian. Dụng của kim cang là sự bén nhọn của nó.</p>
<p><span style="color: #993300;"><strong>Tam muội</strong></span> có nghĩa là bất động hay là định. Sự vắng mặt của vọng tưởng chính là tam muội. Đây là pháp Kim cang tam-muội. Khi hành giả phát huy định lực nầy, sẽ được thành tựu Kim cang tam-muội. Đây là một trong 25 viên thông, Nhĩ Căn Viên Thông, tu hành trong Kinh Lăng Nghiêm, cũng là pháp tu hành của Quán Thế Âm Bồ Tát.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #993300;"><strong>Phương pháp mở 6 nút</strong></span></p>
<p>“.. văn sở văn tận. Tận văn bất trụ, giác sở giác không. Không giác cực viên, không sở không diệt. Sanh diệt ký diệt, tịch diệt hiện tiền.”</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="color: #ff6600;"><strong>Năng văn sở văn</strong></span>: Miệng niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” (năng văn), nhĩ căn nghe âm thanh. Phải nhận kỹ ra từng tiếng từng chữ khi đó mới gọi sở văn.</p>
<p><span style="color: #993300;"><strong>Nút buộc thứ nhất</strong></span>: Trần cảnh diêu động. Sau một thời gian nửa tiếng, thì không dùng miệng để niệm Phật. Mà chỉ niệm ở trong tâm. Lúc nầy thì không còn âm thanh (sắc trần) cho nên không nghe bằng nhĩ căn nữa, mà chỉ dùng tánh nghe vào bên trong. Lúc nầy hành giả không để tâm ruổi rong theo thanh trần, mà xoay tánh nghe vào chân tánh, đó là danh hiệu Phật đang tuôn chảy liên miên bất tận thành một dòng tâm <span style="color: #ff6600;">(văn sở văn tận</span>). Quay tánh nghe vào bên trong có nghĩa là không nghe âm thanh bên ngoài, mà thay vì vậy, quay trở lại, hướng vào bên trong, để nghe tự tánh của mình. Cũng có nghĩa là nhiếp vào trong thân tâm của mình. ‘Văn trung tánh nghe.’ Nên đặc biệt chú ý chỗ nầy: chẳng phải nghe trong thiệt thức (miệng), chẳng phải là trong nhĩ thức, chẳng phải là trong ý thức…, mà chính là trong tánh nghe không sanh không diệt, cũng chính là tánh Như Lai tạng. <span class="fixedfont1">Khi quên hết các thanh trần từ bên ngoài, thì không còn tướng động, tức là “Nhập lưu vong sở.” Vong tức là giải thoát, Sở tức là thanh trần.</span>Tướng sở nhập cũng vắng lặng, hai trạng thái động tịnh rõ ràng chẳng còn sanh. Cội nguồn của sáu căn và sáu trần cũng đều dừng bặt, tức là đã mở ra được nút buộc thứ nhất của trần cảnh diêu động.</p>
<p><span style="color: #993300;"><strong>Nút buộc thứ hai của cái tịnh</strong></span>: Sắc Ấm. Khi đạt đến cực điểm cảnh giới tịch lặng, thì tướng động và tĩnh cũng vắng bặt. Do cảnh tịnh chính là khu vực của sắc ấm. Người tu hành thường cho là cảnh giới tịnh hay an lạc, cho nên rơi vào 10 tưởng giới của sắc ấm (bài rõ trong kinh Lăng Nghiêm). Nên không được trụ vào cảnh tịnh. Bởi vì còn chấp vào tịnh thì sẽ bị động. Còn động còn tịnh thì vẫn là pháp nhị nguyên. Phật pháp bất nhị. Khi đến được hai cảnh động tĩnh đều chẳng sanh, thì mới đến được cái gọi là sở nhập vắng lặng. Lúc đó, tức là đã mở ra được nút buộc thứ hai của cái tịnh. Thanh trần hoàn toàn vắng bặt, hai tướng động tĩnh rõ ràng chẳng còn sanh trở lại nữa. Tức là đã phá trừ được sắc ấm.</p>
<p><span style="color: #993300;"><strong>Nút buộc thứ ba của các căn</strong></span>: Thọ Ấm. Tình trạng như vậy tăng dần, các tướng năng văn, sở văn đều hết sạch. Các kết buộc do nơi các căn đã được mở, tiến tu dần dần, tăng cường thêm định lực, thế nên các căn năng văn tuỳ theo chỗ sở văn đều dứt sạch, cũng chẳng còn năng thọ và sở thọ. Tức là đã mở ra được nút buộc thứ ba của các căn, đồng thời cũng phá luôn được năm thức trước của thọ ấm.</p>
<p><span style="color: #993300;"><strong>Nút buộc thứ tư của các biết</strong></span>: Tưởng Ấm. Cũng không dừng trụ trong chỗ hết sạch năng văn sở văn, đạt đến năng giác sở giác đều vắng lặng. Cái năng văn và sở văn đều đã tiêu sạch, còn lại tri giác, còn lại ngã tướng, cho nên cần phải tiếp tục tiến tu (<span style="color: #ff6600;">Tận văn bất trụ</span>). Cho đến chỗ ‘ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm,’ đạt đến chỗ biết mà chẳng biết, giác mà không giác, đến khi mà giác và sở giác đều không thì mới mở được gút thứ tư về cái biết. Đến lúc năng giác và sở giác đều không còn, mới gọi là hoàn toàn không chấp trước, tức là phá trừ được ý thức thứ sáu tưởng ấm (<span style="color: #ff6600;">giác sở giác không</span>).</p>
<p><span style="color: #993300;"><strong>Nút buộc thứ năm của các không giác</strong></span>: Hành Ấm. Không giác viên mãn tột bậc, thì các tướng năng không và sở không đều tịch diệt. Cái năng giác và sở giác đều đã không, cần phải tiến tu, tham cứu cái không ấy nương vào đâu mà có, đến chỗ tánh không của cái biết – không giác, rốt ráo viên mãn thì năng không và sở không đều tiêu trừ sạch (<span style="color: #ff6600;">Không giác cực viên</span>). Tâm có khả năng tạo tác bị tiêu trừ, và cảnh giới do tâm ấy làm cho trở thành không cũng tiêu trừ luôn, đến mức cũng chẳng còn cái không. Vì hễ còn cái không, thì mình vẫn còn chấp trước vào tánh không. Và bây giờ ngay cả tánh không cũng chẳng còn, tức là mở được gút thứ năm của không giác, lúc nầy đồng thời phá trừ luôn thức thứ bảy hành ấm.</p>
<p><span style="color: #993300;"><strong>Nút buộc thứ sáu của ý niệm</strong></span>: Thức Ấm. Sinh diệt đã diệt, thì bản tánh tịch diệt hiện tiền. Cái năng không và sở không đều tịch diệt, vẫn còn ý niệm ‘diệt,’ mà còn diệt tức còn sinh, nên cần phải tiến tu tiếp tục, cho đến khi tướng sinh và tướng diệt đều trừ sạch, mới có thể mở được nút thứ sáu về ý niệm ‘diệt.’ (<span style="color: #ff6600;">không sở không diệt</span>) Đồng thời phá trừ luôn được thức thứ tám, a-lại-da thức của thức ấm.</p>
<p><span style="color: #ffff99;"><span style="color: #ff6600;">Sanh diệt ký diệt, tịch diệt hiện tiền</span></span>: Hai chữ ‘sinh diệt,’ vốn là chỉ cho các nút buộc, do động hết thì sanh tịnh sanh, căn diệt thì giác sanh, giác diệt thì không sanh, không diệt thì diệt sanh, sáu nút buộc nầy chính là pháp sanh diệt. Tướng diệt rất khó mở, cần phải tiêu trừ toàn bộ tướng diệt thì mới có thể đạt đến chỗ không sanh không diệt, mới có thể chính mình thấy được bản lai diện mục. Nay sáu nút buộc đã được mở, ngũ ấm đã được phá trừ hoàn toàn, vọng đã hết sạch rồi thì toàn chân hiển bày, tức là sinh diệt đã diệt rồi, thì tịch diệt hiện tiền, chứng đắc rốt ráo viên thông.</p>
</div>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Nhạo Kiến Chiếu Minh Kim Cang Tam Muội</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/nhao-kien-chieu-minh-kim-cang-tam-muoi/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 22 Mar 2018 21:33:08 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Tam Muội]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://langnghiem.com/?p=709</guid>

					<description><![CDATA[Nhạo Kiến là triền kiến tuần nguyên hay là xoay cái thấy trở về căn...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><span style="color: #ff6600;"><strong><img loading="lazy" decoding="async" class="alignleft size-full wp-image-710" src="http://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/03/lookInside.jpg" alt="" width="227" height="171" />Nhạo Kiến</strong></span> là triền kiến tuần nguyên hay là xoay cái thấy trở về căn nguyên. Chúng sinh vốn không nhận ra được kiến phần và tướng phần vốn chỉ là biểu hiện từ tự tâm.<br />
&#8220;Tam giới duy tâm. Vạn pháp duy thức. &#8220;<br />
Không nhận ra được các pháp từ tâm biến hiện, nên trở lại chấp lầy kiến phần; có nghĩa là chấp lấy quan niệm chủ quan của riêng mình–là thức thứ 8. Tướng phần là chỉ cho ngoại cảnh. Vốn tướng phần và kiến phần cả hai đều là hư vọng. Chúng chỉ ảnh tượng hư giả trong tâm mình. Nhiều người không thể tin được rằng chúng sẽ quay trở lại bản tính tự chiếu soi, mà họ chỉ mong tìm cầu bên ngoài. Đối với chân tâm, họ mê mờ và chạy đuổi theo cái hư vọng. Nếu quý vị nhận ra được vạn pháp chỉ là sự biến hiện từ chính tâm mình; nếu quý vị &#8220;thức tự bổn tâm. Kiến tự bổn tánh&#8221;, thì quý vị sẽ hiểu ra rằng tướng phần và kiến phần vốn sinh khởi từ tâm mình. Nếu quý vị nhân ra được chân tâm thường trú tánh tịnh minh thể thì quý vị sẽ không còn chạy tìm cầu bên ngoài, mà sẽ quay về nhà, hay là xoay cái thấy trở về căn nguyên.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="color: #ff6600;"><strong>Chiếu Minh </strong></span>là chiếu sáng cái vô minh của quý vị. Đó chính là niết-bàn vô lậu chân tịnh. Muốn chiếu sáng thì phải biết câu sinh vô minh là đầu mối khiến quý vị phải luân hồi sinh tử. Nó chính là sáu căn của quý vị chứ không phải là cái gì khác. Mắt thấy sắc trần rồi bị xoay chuyển bởi chúng. “Căn và trần đồng một gốc.” Nhãn căn, nhãn trần, nhãn thức đều có cùng một gốc. Nếu không có nhãn căn, sẽ không có nhãn trần; nếu không có nhãn trần, sẽ không có nhãn thức. Cả ba là một, một mà ba. Trói và mở chẳng phải hai. ‘Trói’ chỉ cho nút buộc, ‘mở’ chỉ cho sự gỡ nút. Hai việc nầy là chẳng phải hai (bất nhị). Không có sự khác biệt nào cơ bản giữa chúng. Trói là mở, mở là trói. Khi quý vị chưa thông hiểu, thì đó là trói, Khi quý vị đã hiểu rồi, thì đó là giải thoát, là các nút đã được gở ra. Tất cả đều tuỳ vào khă năng của quý vị. Bản tính của thức là hư vọng. Bản tính của sáu thức là không có thể tướng nhất định. Như hoa đốm giữa hư không. Quý vị có còn nhớ người bị bệnh nhặm mắt không? Do nhìn lâu mà hoá ra bị mỏi mắt và thấy có các hoa dạng lạ kỳ trong hư không. Chính nó hoàn toàn không có thực.<br />
&#8220;Vốn không phải huyễn, lại thành pháp huyễn.&#8221;</p>
<p>Vì chúng sinh vốn thường mê mờ chân tâm và đuổi theo vọng tâm, nên quý vị thường nghi ngờ rằng vốn tự thể là không có hư vọng, mà lại trở thành hư vọng. Quý vị phải nên đừng để mình bị vướng mắc vào suy nghĩ hư vọng nầy. Không bị vướng mắc (chấp thủ) chính là điểm quan trọng ở đây. Nguyên nhân mà nhiều người bị mê lầm nhãn căn và nhãn trần là do họ chấp thủ vào tướng phần và kiến phần. Họ bị vướng mắc đến nỗi tin rằng tánh thấy (khả năng thấy–capacity to see) của mình chính là kiến phần, và đó là cái có thực. Họ không hiểu ra rằng tánh thấy ấy vốn cũng chỉ là hư vọng– nó không có thực.</p>
<p>&#8220;Chẳng thủ trước, thì chẳng có gì là phi huyễn. Chẳng có gì là phi huyễn ở đây.&#8221;</p>
<p>Phi huyễn còn chẳng sinh. Những gì hư vọng chắc chắn sẽ không hiện hữu, chẳng có nơi chỗ để chúng sinh khởi. Pháp huyễn làm sao lập? Làm thế nào mà các pháp huyễn tồn tại được?</p>
<p>Vậy nay quý vị ngay nơi tri kiến, lập nên tướng tri kiến. Quý vị lập nên một tri kiến khác trên cái tri kiến vốn đã là hư vọng. Đó tức là cội gốc vô minh. Chính nơi tri kiến, không có tướng tri kiến, thì đó là vô lậu chân tịnh niết-bàn.</p>
<p>Quý vị đã nhận ra rằng tri kiến của mình vốn là không có tự thể, thế nên quý vị không khởi một niệm tưởng nào căn cứ trên tri kiến ấy. Ngay trong tri kiến ấy mà không khởi một niệm tưởng phân biệt nào chính là tương ưng với Đạo. Đó chính là niết-bàn vô lậu chân tịnh. Làm sao trong ấy còn có vật gì khác? Trong chỗ vắng bặt tri kiến, làm sao còn dung chứa một thứ gì khác? Nơi ấy chính là bản nguyên thanh tịnh pháp giới. Tại sao quý vị lại muốn đưa thêm một thứ gì nữa vào trong đó? Tại sao lại chồng thêm tri kiến lên trên tri kiến?</p>
<p>Mê mờ nghĩa ấy, tức vô minh. Điều có nghĩa là với sáu căn của mình, khi quý vị không nhận ra, khi quý vị chưa tỉnh giác, thì quý vị là kẻ mê mờ về chân không. Mê muội phát sinh từ ngoan không, đó là nơi mà vô minh phát khởi. Trong chân tâm thường trú tánh tịnh minh thể, mê muội phát sinh thành vô minh. Hiểu ra nghĩa đó, tức là giải thoát. Nếu quý vị khám phá ra điều nầy, thì chẳng còn vô minh nữa. Quý vị phát minh ra tự tánh giác ngộ sáng suốt bản hữu cuả mình. Điều chiếu minh nầy chính là sự giải thoát.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="color: #ff6600;"><strong>Kim cang</strong> </span>có ba nghĩa: kiên cố, xán lạn, và bén nhọn. Thể của kim cang là kiên cố bất hoại. Tướng của kim cang là xán lạn, có thể soi sáng bóng tối trần gian. Dụng của kim cang là sự bén nhọn của nó.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="color: #ff6600;"><strong>Tam muội</strong> </span>có nghĩa là bất động hay là định. Sự vắng mặt của vọng tưởng chính là tam muội. Phương pháp tu tập nầy là áp dụng nỗ lực ngay từ cửa ngõ của nhãn căn. Có nghĩa là, mắt không bị xoay chuyển bởi hình sắc. Quý vị chuyển hoá ngay những gì xuất hiện nơi cửa của nhãn căn. Quý vị hồi quang phản chiếu, không cần phải tìm cầu bên ngoài. Chỉ cần phòng hộ thân và tâm. Hãy tự tìm cầu ở trong chính mình</p>
<p>&nbsp;</p>
<h3 style="text-align: center;"><span style="color: #ff6600;">Tự tâm thủ tự tâm,</span><br />
<span style="color: #ff6600;">Phi huyễn thành huyễn pháp,</span><br />
<span style="color: #ff6600;">Bất thủ vô phi huyễn,</span><br />
<span style="color: #ff6600;">Phi huyễn thượng bất sanh,</span><br />
<span style="color: #ff6600;">Huyễn pháp vân hà lập?</span><br />
<span style="color: #ff6600;">Thị danh diệu liên hoa,</span><br />
<span style="color: #ff6600;">Kim cang vương bảo giác.</span><br />
<span style="color: #ff6600;">Như huyễn tam-ma-đề</span></h3>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>
