<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Lăng Nghiêm Tự</title>
	<atom:link href="https://langnghiem.com/vi/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://langnghiem.com</link>
	<description>Shurangama Temple</description>
	<lastBuildDate>Sun, 19 Apr 2026 18:28:44 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.9.4</generator>

<image>
	<url>https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2024/10/cropped-logo-32x32.png</url>
	<title>Lăng Nghiêm Tự</title>
	<link>https://langnghiem.com</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Sanh do Thức ấm mà có, Diệt từ Sắc ấm mà Trừ</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/sanh-do-thuc-am-ma-co-diet-tu-sac-am-ma-tru/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 19 Apr 2026 04:26:53 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài Luận]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://langnghiem.com/?p=7366</guid>

					<description><![CDATA[Trong duy thức học có câu: &#8220;Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức&#8221; Mọi...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><img decoding="async" class="alignleft size-full wp-image-706" src="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/03/SanhDiet-300x202.jpg" alt="" width="300" height="202" />Trong duy thức học có câu: &#8220;Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức&#8221; Mọi thứ trên thế gian nầy đều do thức biến hiện.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Có người lại hỏi: Nếu vạn vật duy thức biến hiện và không có thực, vậy sông núi nó có từ đâu và sẽ đi về đâu, có từ bao giờ, và bao giờ tiêu mất. Thế nhưng tại sao ta vẫn thấy xe, thấy người, vẫn thấy có mọi sự tác dụng? Sông kia núi nọ khi ta chưa sanh nó đã có, khi ta chết rồi nó vẫn còn, thế sao gọi là thức biến? Hoặc như chiếc máy vi tính, khi khoa học chưa chế ra thì không ai biết, khi khoa học chế ra rồi người ta mới biết, thế sao gọi là thức biến?</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ðáp: biết rằng sông kia núi nọ khi ta chưa sanh nó đã có, khi ta chết rồi nó vẫn còn, vậy nó là có với ai? Còn với ai? Ai biết nó có? ai biết nó còn? Nếu khi ta đang sống trong hiện tại mà biết được núi sông khi ta chưa sanh hay sau khi ta chết, thì đó là cái biết theo tưởng tượng, mà tưởng tượng thì đâu phải ngoại thức.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Không phải núi mà thấy núi, là thức biến. Không phải sông mà thấy sông, là thức biến. Không phải vậy mà thấy vậy, là thức biến. Duy Thức là duy cái biết, do cái biết, hoặc y nơi cái biết (bỉ y thức sở biết).</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Như Cổ đức nói:” Vô biên cát hải tự tha bất cách ư mao đoan, thập thể cổ kim thủy chung bất ly ư đương niệm” </span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">(Muôn vàn thế giới cùng ở trên đầu mãy lông, ức kiếp xưa nay không lìa ngoài một niệm).</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Biến thức có hai cách:</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">1. Nhân duyên biến &#8211; có đủ nhân duyên mới hiện hữu, như sợi dây hiện hữu được do có duyên gai kế hợp lại, có tướng có dụng, chứ không phải như lông rùa, sừng thỏ. Mọi hiện hữu trong thế gian cũng vậy, do thức phân biệt danh tướng, sa éc, tâm, huân tập vào Tạng thức nhiều đời nhiều kiếp thành chủng tử (tập khí, thói quen) cố hữu, nên khi thức móng khởi thì liền hiện ra đủ các tướng đúng như khi được huân tập vào Tạng thức, và trong đó tự phân biệt ra Kiến phần có năng lực nhận biết và Tướng phần là đối tượng của nhận biết. Kiến, Tướng phần như vậy là nhân duyên biến. Ở đây, tất cả chỉ có thấy và bị thấy, biết và bị biết, chứ không gì khác. Không có gì là núi, sông, người, vật. Ðó là nhân duyên biến.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">2. Phân biệt biến &#8211; tức những điều do vọng tình phân biệt biến ra, hoàn toàn chủ quan ảo tưởng, như đi đạp nhằm sợi dây tưởng lầm là con rắn, hoặc như người bị bịnh cuồng loạn thấy cảnh giới thay đổi khác với ngày thường. Cũng như thế, Kiến phần biết và Tướng phần bị biết nói trên không phải là ngã và pháp; người và vật, nhưng tâm phàm phu phân biệt sai lầm cho đo là ngã và pháp, là người và vật. Nếu tướng ngã pháp này được huân tập mãi vào Tàng thức thành chủng tử có sẵn, thì khi thức móng khởi lên liền thấy ngã pháp.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Những gì do phân biệt biến thì dễ thay đổi, loại bỏ, những gì nhân duyên biến thì khó thay đổi loại bỏ. Và những gì do tâm thức riêng của mỗi người biến ra, gọi là biệt biến, thì dễ thay đổi, còn những gì do nhiều tâm thức của nhiều hữu tình chung biến ra, gọi là cộng biến, thì khó thay đổi.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Tất cả mọi tướng mà ta gọi là hiện hữu, đều là tướng hiện hữu của thức theo hai cách đó biến ra. Ðó là Duy thức biến. Nói Duy thức biến cũng đồng nghĩa với nói “y thức biến”. Như câu&#8221; “Bỉ y thức sở biến”, tức các pháp kia nương thức biến ra, hay nương thức khởi lên. Các Bộ phái Phật giáo khai triển và hệ thống Hóa các thứ tâm ấy, rõ nét nhất là phái Hữu bộ hệ thống Hóa thành 75 pháp, trong đó tâm là chủ yếu. Ðến Du-già Sư Ðịa Luận hệ thống hóa thành 200 pháp, đến Duy thức tông thì rút lại còn 100 pháp, gom vào năm vị, trong đó Tâm thức là chủ.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Năm vị, một trăm (100) pháp là:</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">1. Sắc là tướng của thức nhận biết, ngoài thức thì không có tướng sắc.</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">2. Tâm vương là tự thể của thức.</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">3. Tâm sở là quyến thuộc, sở thuộc của thức.</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">4. Bất tương ưng hành là cái bóng của Sắc, Tâm, Tâm sở hợp lại.</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">5. Vô vi pháp là thực tánh của thức.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Thức là một trong hết thảy pháp, nhưng thức có năng lực đặc biệt biết được cái khác và tự biết được mình, nó là chủ lực ở ngay trong mỗi mỗi chúng sanh. Chính cái biết này làm cho các pháp trong đồng nhất tính duyên khởi. Vô danh vô tướng, vô thỉ vô chung, vô trung vô biên (không trong không ngoài) nổi lên thiên hình vạn trạng, rồi mê muội chạy theo giả tướng thiên hình vạn trạng đó mà đắm trước, tạo nghiệp, buộc ràng theo nó, gây nên khổ đau.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">“Duy có nghĩa là giản biệt, ngăn không có ngoại cảnh; Thức có nghĩa là liễu giải, biểu thị có nội tâm”. Người thế gian nhờ có ánh sáng mặt trời, mặt trăng và đèn mà thấy được mọi vật; cái đó không phải là thấy, mà là nhãn thức. Nếu khi tối, không thấy sáng, mà gọi là không thấy được; vậy quý vị có thấy màu đen tối không? </span></p>
<ol>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Khi thấy sáng thì cái thấy không phải là sáng,</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Khi thấy tối thì cái thấy không phải là tối,</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Khi thấy hư không thì cái thấy không phải là hư không,</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Khi thấy ngăn bít thì cái thấy không phải là ngăn bít.</span></li>
</ol>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật giảng giải cho A-Nan sự khác biệt giữa nhãn thức và tánh thấy. Vậy Nhãn thức và Tánh thấy khác nhau chổ nào. Tánh thấy là khả năng nhận biết chân thật, còn nhãn thức là một trong những công cụ để thực hiện việc nhận biết đó trong đời sống hàng ngày. Tánh thấy là bản chất thấy. Và &#8220;nhãn thức&#8221; là sự nhận biết qua mắt. Nên biết khi thấy được iPhone, thì tánh thấy không phải là iPhone. Tánh thấy lìa iPhone và tánh thấy không liên quan gì đến iPhone. Cái thấy đó hay cái hình dạng iPhone trong đầu là do nhãn thức hay thức nhận biết.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Lục Tổ Huệ Năng nói: “vốn chẳng có một vật”, chẳng phải là bên ngoài vốn chẳng có một vật, bên ngoài thứ gì cũng có, nhưng trong tâm chẳng có. Cho nên tu hành là mình sửa đổi cái nhìn của mình qua bớt đi cái tâm phân biệt. Quý vị bắt đầu tu hành từ đâu? </span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Đó là bắt đầu từ Diệt trừ cái &#8220;Sắc ấm&#8221; trần. Trong kinh Kim Cang, tu hành bắt đầu từ &#8220;Sắc bất dị không, không bất dị sắc &#8230;&#8221;. Nếu tâm quý vị không chấp vê sắc thì cái Sắc đó là không. Cội nguồn của sắc ấm này sanh khởi trùng điệp. Sắc ấm sanh khởi từng lớp hỗ tương tuần hoàn với nhau, cùng hỗ trợ cho nhau. Sự sanh khởi hoại diệt hoại diệt xảy ra như thế nào? Một khi sắc chất biến mất, thì ấm trở thành không, nó sanh khởi từ thức, và sự hoại diệt bắt nguồn từ khi hình sắc tiêu trừ.</span></p>
<p><center></p>
<table style="width: 100%; height: 132px;">
<tbody>
<tr style="height: 132px;">
<td style="width: 100%; height: 132px;">
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif; font-size: 16px;"><em><strong><span style="color: #ff0000;">Sắc </span></strong></em>Thọ Tưởng Hành <span style="color: #ff0000;"><em><strong>Thức</strong></em></span></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif; font-size: 16px;"> Sanh do <span style="color: #ff0000;"><em><strong>Thức</strong> </em></span>mà có.  Diệt từ <strong><em><span style="color: #ff0000;">Sắc </span></em></strong>mà trừ</span></p>
</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p><center></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nói Duy thức chính là đưa ra lời khai thị, thức tỉnh người ta hãy tự giác, hãy quán tâm mình, nhìn lại cái năng lực thiên biến vạn hóa ở ngay trong mình để gạn lọc nó, trau dồi nó, sửa chữa nó phải biến hóa như thế nào để chỉ đem lại lợi lạc, chứ đừng gây ra đau khổ. Nói y thức biến còn có tác dụng đặc biệt là đối trị cái bịnh vọng ngoại tha hóa, để xoay nhìn lại mình, thấy lại mình vốn là chủ nhân ông của mọi hiện hữu, như thấy lại bổn lai diên mục. Từ đó chuyển bỏ dần lối thấy biết sai lầm gây đau khổ, thành cái Trí tuệ Bát-nhã, trí Ðại viên cảnh, xây dựng cảnh giới an vui tự tại.</span></p>
<p></center></center></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Thập Nhị Nhân Duyên</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/thap-nhi-nhan-duyen/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 11 Apr 2026 17:57:53 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài Luận]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://langnghiem.com/?p=7337</guid>

					<description><![CDATA[Trước khi đức Phật tái sanh trên cõi Ta Bà, các nhà ngoại đạo thường...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><img loading="lazy" decoding="async" class="alignleft size-full wp-image-7343" src="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2026/04/ThapNhiNhanDuyen.jpg" alt="" width="214" height="190" />Trước khi đức Phật tái sanh trên cõi Ta Bà, các nhà ngoại đạo thường nói vạn vật từ trời Ðại tự tại sanh. Có người nói từ trời Vĩ-nữu sanh. Có người nói từ sự hòa hợp sanh. Có người nói từ thời sanh. Có người nói từ thế tánh sanh. Có người nói từ biến hóa sanh. Có người nói từ tự nhiên sanh. Có người nói từ vi trần sanh. Có các sai lầm như vậy nên bị rơi vào tà kiến như: không nhân, tà nhân, đoạn, thường v.v&#8230; và các thuyết ngã, ngã sơ, không hiểu được chánh pháp. Phật muốn đoạn trừ các tà kiến ấy để làm cho hiểu được Phật pháp, nên trước hết đối với hàng ngoại đạo, Phật giảng giải mười hai nhân duyên: Vô Minh, Hành, Thức, Sắc, Lục Nhập, Xúc, Thọ, Ái, Thủ, Hữu, Sanh, Tử.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Vô Minh duyên Hành, </span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Hành duyên Thức, </span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Thức duyên Danh Sắc, </span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Danh Sắc duyên Lục Nhập,</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Lục Nhập duyên Xúc, </span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Xúc duyên Thọ, </span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Thọ duyên Ái, </span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ái duyên Thủ, </span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Thủ duyên Hữu, </span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Hữu duyên Sanh, </span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Sanh duyên Lão Tử.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Đức Phật thuyết Thập Nhị Nhân Duyên trong thời A-Hàm (đây là những năm đầu đức Phật thuyết những kinh điển cơ bản, nguyên thủy nhất của Phật giáo, ghi lại những lời dạy trực tiếp của Đức Phật về Tứ diệu đế, Bát chính đạo, Duyên khởi và Nghiệp. Đây là nền tảng giáo lý chung cho cả Phật giáo Nam tông và Bắc tông, tương đương với hệ tư tưởng Pali Nikaya)</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Sau thời A-Hàm, vào lúc A-Nan gặp con gái của Ma-đăng-già, đức Phật thuyết kinh Lăng Nghiêm. Trong kinh, đức Phật cũng giảng rõ ý nghĩa câu thứ ba, &#8220;Thức duyên Danh Sắc&#8221;, qua bài giảng về Sanh Diệt. </span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">&#8220;Sanh do Thức mà có, Diệt từ Sắc mà trừ&#8221;</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Năm trăm năm sau Phật diệt độ, vào thời tượng pháp, con người căn tánh trở nên ám độn, chấp trước sâu các pháp, đi tìm tướng quyết định thật có của mười hai nhân duyên, năm ấm, mười hai nhập, mười tám giới. Không hiểu ý của Phật, chỉ chấp vào văn tự, nghe trong pháp Ðại thừa nói “rốt ráo không”, nhưng không biết vì nhân duyên gì mà không, liền sanh tâm chấp kiến và nghi ngờ: “Nếu tất cả rốt ráo không, làm sao phân biệt có tội phước báo ứng, và như vậy sẽ không có Thế đế, và Ðệ nhất nghĩa đế?”. Chấp giữ lấy tướng không ấy, nên khởi lên lòng tham đắm, sanh ra nhiều điều sai lầm đối với nghĩa rốt ráo không.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Vì những lý do như vậy, nên trong thời tượng pháp, Bồ-tát Long Thọ đã tạo ra bài pháp:</span></p>
<p><strong><em><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Chẳng sanh cũng chẳng diệt</span></em></strong><br />
<strong><em><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Chẳng thường cũng chẳng đoạn</span></em></strong><br />
<strong><em><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Chẳng một cũng chẳng khác</span></em></strong><br />
<strong><em><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Chẳng đến cũng chẳng đi.</span></em></strong></p>
<p><strong><em><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nói pháp nhân duyên ấy</span></em></strong><br />
<strong><em><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Khéo trừ các hý luận</span></em></strong><br />
<strong><em><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Con cúi đầu lễ Phật</span></em></strong><br />
<strong><em><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Bậc thuyết pháp đệ nhất.</span></em></strong></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Đó là bài thơ pháp nói về 8 việc: sanh, diệt, thường, đoạn, một, khác, đến và đi. Với mục đích phá hết tất cả pháp.</span></p>
<p style="text-align: center;"><strong>— o0o —</strong></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #800000;"><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Sanh, diệt, thường, đoạn, một, khác, đến và đi</span></strong></span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Chẳng sanh là, vì các Luận sư có nhiều chủ trương khác nhau về tướng sanh. Có người nói nhân và quả là một. Có người nói nhân và quả là khác, hoặc cho trong nhân trước đã có quả, hoặc cho trong nhân trước không có quả, hoặc cho chính tự thể sanh, hoặc cho cái khác sanh, hoặc cho do tự và tha cộng sanh, hoặc cho do hữu sanh hoặc cho do không sanh (tự nhiên sanh, không có nguyên nhân). Những thuyết nói về tướng sanh của vạn vật như vậy, không đúng. Vì tướng sanh nhất định không thể có được nên nói chẳng sanh. Chẳng diệt là, nếu không có sanh thì đâu có cái gì diệt. Vì không có sanh diệt nên sáu việc kia cũng không có</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Vì sao còn nói thêm sáu việc kia? Vì để thành tựu ý nghĩa chẳng sanh chẳng diệt. Có người không lãnh nhận nghĩa chẳng sanh chẳng diệt, mà chỉ tin nhân nghĩa chẳng thường chẳng đoạn. Nếu tìm hiểu sâu nghĩa chẳng thường chẳng đoạn tức là nghĩa chẳng sanh chẳng diệt.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Vì sao? Vì các pháp nếu thật có, không thể không có, trước có mà nay không, tức là đoạn, nếu trước sẵn có tánh, tức là thường. Thế nên nói chẳng thường chẳng đoạn, liền nhập vào nghĩa chẳng sanh chẳng diệt. </span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Có người tuy nghe nói bốn môn (chẳng sanh, chẳng diệt, chẳng thường, chẳng đoạn) phá trừ các pháp, song còn bốn môn (một, khác, </span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">đến, đi) thành lập các pháp, việc ấy không đúng. Nếu là một thì không có nhân duyên, nếu là khác thì không có tương tục nhau. Sau đây sẽ phá từng loại. Thế nên lại nói chẳng một, chẳng khác.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Có người tuy nghe nói sáu môn (chẳng, chẳng diệt, chẳng thường, chẳng đoạn, chẳng một, chẳng khác) phá trừ các pháp, song còn </span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">dùng đến và đi để thành lập các pháp. Ðến là cho các pháp đến từ trời Tự Tại, hoặc thế tánh hoặc vi trần v.v&#8230; Ði là trở về lại chỗ cũ. Lại nữa, vạn vật không có sanh.</span></p>
<p style="text-align: center;"><strong>— o0o —</strong></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #800000;"><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Lấy gạo lúa làm ví dụ</span></strong></span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Vì sao? Vì thế gian hiện thấy. Thế gian mắt thấy kiếp ban sơ lúa chẳng sanh. </span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Vì sao? Vì lìa lúa trong kiếp ban sơ thì lúa hiện nay không thể có được. Nếu lìa lúa trong kiếp ban sơ mà lúa có hiện nay mới gọi là có sanh ra, song kỳ thật không như vậy.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nếu chẳng sanh thì phải diệt?</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ðáp: Chẳng diệt. Vì sao? Vì thế gian hiện thấy. Thế gian mắt thấy lúa trong kiếp ban sơ chẳng diệt, nếu diệt thì nay không thể có lúa, song kỳ thật có lúa. Thế nên chẳng diệt.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Hỏi: Nếu chẳng diệt thì phải thường?</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ðáp: Chẳng thường. Vì sao? Vì thế gian hiện thấy. Thế gian mắt thấy vạn vật chẳng thường, như khi hạt lúa mọc mầm, thì hạt lúa biến hoại. Thế nên chẳng thường.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Hỏi: Nếu chẳng thường thì phải đoạn?</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ðáp: Chẳng đoạn. Vì sao? Vì thế gian hiện thấy. Thế gian mắt thấy vạn vật chẳng đoạn, như từ hạt lúa có mầm. Thế nên chẳng đoạn. </span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nếu đoạn thì không thể tiếp nối.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Hỏi: Nếu vậy vạn vật là một chăng?</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ðáp: Chẳng một. Vì sao? Vì thế gian hiện thấy. Thế gian mắt thấy vạn vật chẳng một, như hạt lúa không làm mầm, mầm không làm hạt </span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">lúa. Nếu hạt lúa làm mầm, mầm làm hạt lúa mới là một, song kỳ thật không như vậy. Thế nên chẳng một.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Hỏi: Nếu chẳng một thì phải khác?</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ðáp: Chẳng khác. Vì sao? Vì thế gian hiện thấy. Thế gian mắt thấy vạn vật chẳng khác . Nếu khác thì cớ sao phân biệt đây là mầm </span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">lúa, cành lúa, lá lúa mà không nói đây là mầm cây, cành cây, lá cây? Thế nên chẳng khác.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Hỏi: Nếu chẳng khác thì phải có đến?</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ðáp: Chẳng đến. Vì sao? Vì thế gian hiện thấy. Thế gian mắt thấy vạn vật không đến. Như mầm trong hạt lúa không từ đâu đến. Nếu đến thì mầm ấy phải từ chỗ khác đi đến, như chim đến đậu trên cây, song kỳ thật không như vậy. Thế nên chẳng đến.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Hỏi: Nếu chẳng đến thì phải có đi?</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ðáp: Chẳng đi. Vì sao? Vì thế gian hiện thấy. Thế gian mắt thấy vạn vật chẳng đi. Nếu có đi thì phải thấy mầm từ hạt lúa đi ra, như rắn từ trong hang bò ra, kỳ thật không như vậy. Thế nên chẳng đi.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>— o0o —</strong></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif; color: #800000;"><strong>Tứ Sanh</strong></span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Tứ Sanh: là tự sanh, tha sanh, cộng sanh, vô nhân sanh</span></p>
<p><em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Các pháp chẳng tự sanh</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Chẳng do cái khác sanh</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Chẳng cộng, chẳng vô nhân</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Vì vậy biết vô sanh.</span></strong></em></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Chẳng tự sanh là vạn vật không sanh ra từ chính tự thể nó, mà nhất định phải chờ đủ các nhân duyên mới sanh ra. Lại nữa, nếu pháp sanh ra từ chính tự thể nó, thì một pháp có hai thể, một là đối tượng được sanh, hai là chủ thể sanh. Nếu không cần các </span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">nhân, chỉ từ chính tự thể nó sanh ra, thì thành ra không có nhân duyên và sanh ra lại sanh nữa, không cần nhân duyên, thì sanh sanh mãi vô cùng. Vì tự không có, nên tha cũng không có. Vì sao? Vì có tự nên mới có tha. Nếu không sanh từ chính nó, thì cũng không sanh từ cái khác (nên tha sanh).</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">(Tự và tha) cộng sanh thì bị hai lỗi là lỗi tự sanh và lỗi tha sanh như trên. Nếu không có nguyên nhân mà có vạn vật thì đó là thường, việc ấy không đúng, vì không có nhân thì không có quả. Nếu không có nhân mà có quả, thì làm việc bố thí, giữ giới lại bị đọa vào địa ngục, mà làm mười điều ác, năm tội nghịch lại được sanh cõi trời, vì không có nguyên nhân.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: left;"><em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Như tự tánh các pháp</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Không ở trong các duyên</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Vì tự tánh: không có</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nên tha tánh cũng không.</span></strong></em></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Tự tánh của các pháp không có sẵn ở trong các duyên (tức các điều kiện tương quan) chỉ do các duyên hòa hợp lại nên có được tên gọi (là pháp nầy pháp kia). Tự tánh chính là tự thể. Trong các duyên không có tự tánh, vì tự tánh trong các duyên không có, nên không tự sanh. Tự tánh không có nên tha tính cũng không có. Vì sao? Vì nhân nơi tự tánh mà có tha tánh, tha tánh đối với cái khác cũng là tự tánh. Nếu phá tự tánh là phá tha tánh. Thế nên không thể từ tha tánh sanh. Nếu phá nghĩa tự tánh sanh, tha tánh sanh, tức là phá nghĩa (tự tánh tha tánh) cộng sanh.</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Còn nói không nhân sanh thì có lỗi lớn. Nói có nhân sanh còn bị phá, huống gì nói không nhân sanh. Ở trong bốn cách (tự sanh, tha sanh, cộng sanh, vô nhân sanh) trên, tìm tướng sanh không thể có được. Thế nên nói vô sanh.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: center;"><strong>— o0o —</strong></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #800000;"><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Bốn Duyên</span></strong></span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Hỏi: Học giả A-tỳ-đàm nói: Các pháp từ bốn duyên sanh, nay vì sao nói không sanh? Bốn duyên là gì? Là:</span></p>
<p><em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nhân duyên, Thứ đệ duyên</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Duyên duyên, Tăng thượng duyên</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Bốn duyên sanh các pháp</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Không có duyên thứ năm.</span></strong></em></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ðáp: Tất cả duyên đều gôm vào trong bốn duyên. Do bốn duyên ấy vạn vật được sanh khởi. </span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Nhân duyên</strong> là chỉ cho hết thảy pháp hữu vi. </span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Thứ đệ duyên</strong> là chỉ cho tâm, tâm sở pháp quá khứ, hiện tại, trừ tâm, tâm sở pháp tối hậu của vị A-la-hán quá khứ, hiện tại. </span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Sở duyên duyên và Tăng thượng duyên</strong> là chỉ cho hết thảy pháp.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: center;"><strong>— o0o —</strong></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif; color: #800000;"><strong>Nhân duyên</strong> &amp; <strong>Thứ đệ duyên</strong></span></p>
<p><em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Quả là từ duyên sanh</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Hay từ phi duyên sanh</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Duyên ấy sẵn có quả</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Hay là vốn không quả?</span></strong></em></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nếu bảo có quả thì quả ấy từ duyên sanh ra hay từ phi duyên sanh? Nếu bảo từ duyên sanh ra thì trong duyên ấy đã sẵn có quả hay không sẵn có quả? Cả hai đều không đúng. (Cứ cái gì từ nhân khác sanh ra, thì gọi là quả). Vì sao? Vì:</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nếu pháp nào sanh quả</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Gọi pháp ấy là duyên</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Thì quả khi chưa sanh</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Sao không gọi phi duyên?</span></strong></em></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Các duyên không có quyết định. Vì sao? Nếu quả chưa sanh, khi ấy không gọi nó là duyên. Chỉ khi con mắt thấy quả từ duyên sanh ra gọi đó là duyên, duyên thành là do nơi quả, vì quả có sau mà duyên có trước. Nên nếu khi chưa có quả thì đâu được gọi là duyên. Như cái bình do đất nước hòa hợp nên có cái bình sanh ra, vì thấy cái bình nên biết đất nước là cái duyên của cái bình, vậy nếu khi bình chưa có thì sao không gọi đất nước là phi duyên. Thế nên biết quả không từ duyên sanh, duyên còn không sanh, huống gì phi duyên.</span></p>
<p>
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Quả trước ở trong duyên</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Có không đều không thể</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Trước không làm duyên cho gì</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Trước có, đâu cần duyên.</span></strong></em></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Trong duyên trước chẳng phải có quả, chẳng phải không có quả. Nếu trước đã có quả, thì không gọi là duyên, vì quả đã có trước rồi. Nếu quả trước không có sẵn ở trong duyên, thì cũng không gọi là duyên, vì nó không sanh ra vật gì khác.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Hỏi: Ðã phá hết tất cả nhân duyên, bây giờ muốn nghe (lý lẽ) phá từng duyên một.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nếu quả chẳng có sanh</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Cũng lại chẳng không sanh</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Chẳng có, chẳng không sanh</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ðâu được nói có duyên.</span></strong></em></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nếu từ duyên sanh ra quả, thì phải có ba loại là hoặc đã có quả, hoặc không có quả, hoặc có và không có quả, như trong kệ trước đây nói: Ở trong duyên, nếu trước đã sẵn có quả, thì không nên gọi là sanh, vì đã có trước rồi, nếu trước không sau có quả, thì không thể nói là sanh, vì trước đã không có. Như vậy,duyên và không duyên giống nhau, vì có duyên hay không có duyên, quả cũng không sanh. Có và không có, tức là nửa có nửa không, cả hai đều có lỗi. Lại có và không có trái nhau, không có và có trái nhau, đâu được trong một pháp mà có hai tướng. Ba loại như vậy tìm tướng sanh của quả không thể có được thì sao nói có </span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">nhân duyên.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nếu khi quả chưa sanh</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Thì không thể có diệt</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Pháp diệt đâu thể duyên</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nên không thứ đệ duyên.</span></strong></em></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Các tâm, tâm sở pháp thứ lớp phát sanh trải qua ba đời. Tâm sở hiện tại diệt đi diệt lại làm Duyên thứ đệ tâm sở vị lai phát sanh. Vậy khi pháp vị lai chưa sanh, nó làm Duyên thứ đệ cho cái gì? Nếu pháp vị lai đã có sẵn thì liền sanh, chứ cần gì đến Duyên thứ đệ. Tâm, tâm sở hiện tại không có lúc nào an trụ, nếu không an trụ thì đâu có thể làm Duyên thứ đệ. Nếu an trụ thì nó chẳng phải là pháp hữu vi. </span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Vì sao? Vì hết thảy pháp hữu vi, thường có tướng hoại diệt. Nếu diệt thì không thể làm Duyên thứ đệ. Nếu cho pháp diệt rồi mà vẫn có, tức là thường, thường thì không có tội phước. Nếu bảo khi diệt có thể làm Duyên thứ đệ, thì khi diệt một nửa diệt, một nửa chưa diệt, không có cái thứ ba gọi là khi diệt.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Lại, Phật dạy hết thảy pháp hữu vi niệm niệm diệt, không có một giây phút ngưng, vậy làm sao nói pháp hiện tại có một phần sắp diệt, một phần chưa sắp diệt. Ông nói trong một niệm không có một phần sắp diệt, một phần chưa sắp diệt, thế là ông tự phá giáo pháp của ông.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Trong luận A-tỳ-đàm của các ông nói, có pháp diệt có pháp không diệt, có pháp sắp diệt, có pháp chưa sắp diệt. Pháp sắp diệt là pháp hiện tại, sắp muốn diệt. Pháp chưa sắp diệt là chỉ tất cả pháp hiện tại khác và pháp quá khứ, vị lai, pháp vô vi, trừ pháp hiện tại sắp diệt. Ấy gọi là pháp chưa sắp diệt. Thế nên không có Duyên thứ đệ.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: center;"><strong>— o0o —</strong></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #800000;"><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Sở duyên duyên &amp; Tăng thượng duyên</span></strong></span></p>
<p><em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Pháp chân thật vi diệu</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Như Chư Phật đã nói</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ðối pháp không duyên nầy</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Làm sao có duyên duyên.</span></strong></em></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Phật dạy các pháp Ðại thừa, hoặc có sắc không sắc, có hình không hình, hữu lậu vô lậu, hữu vi, vô vi, khi pháp tưởng pháp tánh, thì tất cả đều không, không tướng, không duyên, ví như muôn sông chảy vào biển, hòa đồng một vị, đó là pháp thật đáng tin, còn các pháp Phật nói ra để thích nghi theo căn cơ, không thể xem là thật. Thế nên không có Sở duyên duyên.</span></p>
<p style="text-align: center;"> </p>
<p><em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Các pháp không tự tánh</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nên không có tưởng có</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nói là có việc ấy</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Việc ấy có, không đúng.</span></strong></em></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Kinh nói mười hai nhân duyên, vì việc nầy có nên việc kia có, là không đúng. Vì sao? Vì các pháp từ các duyên sanh, tự nó không có tánh nhất định, tự nó không có tánh nhất định nên không có tướng thật có, tướng thật có không có, vậy làm sao nói do việc ấy có nên việc kia có. Thế nên không có tăng thượng duyên. Phật tùy theo chỗ phàm phu phân biệt có và không, nên nói các duyên.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Trong nhân duyên lược, rộng</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Tìm quả không thể được</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Trong nhân duyên không có</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Thì sao từ duyên sanh.</span></strong></em></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Lược là ở trong nhân duyên hòa hợp không có quả. Rộng là trong mỗi mỗi duyên cũng không có quả. Nếu trong nhân duyên lược hoặc </span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">rộng đều không có quả, làm sao nói quả từ nhân duyên xuất sanh.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nếu bảo duyên không quả</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Mà quả từ duyên ra</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Vậy vì sao quả ấy</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Chẳng từ phi duyên sanh.</span></strong></em></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nếu trong duyên tìm quả không thể có được, (nhưng quả từ nhân duyên xuất sanh) vậy cớ sao quả ấy không từ trong Phi duyên xuất sanh, như trong đất không có bình, (vẫn sanh ra bình), tại sao không từ trong sữa sanh ra bình.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nếu quả từ duyên sanh</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Duyên ấy không tự tánh</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Từ vô tự tánh sanh</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ðâu phải từ duyên sanh.</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Quả không từ duyên sanh</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Chẳng từ phi duyên sanh</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Vì quả không thật có</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Duyên, phi duyên cũng không.</span></strong></em></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Quả từ các duyên sanh, mà các duyên ấy không có tự tánh. Nếu không có tự tánh, thì không có pháp thật, không có pháp thật thì đâu có thể sanh được. Thế nên quả không từ duyên sanh. Không từ phi duyên sanh là vì phá duyên nên nói phi duyên, chứ thật không có pháp phi duyên, nên không từ phi duyên sanh. Nếu không từ duyên sanh, phi duyên sanh thì không có quả. Vì quả không có nên duyên và phi duyên cũng không có</span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Vô Tâm Niệm Phật</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/vo-tam-niem-phat/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 04 Apr 2026 16:07:44 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài Luận]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://langnghiem.com/?p=7321</guid>

					<description><![CDATA[Tà Niệm là gì? Tâm dâm dục chính là tà niệm, không có “tà niệm”...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><img loading="lazy" decoding="async" class="alignleft size-full wp-image-7328" src="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2026/04/aDiDaPhat.jpg" alt="" width="117" height="209" />Tà Niệm là gì? </span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Tâm dâm dục chính là tà niệm, không có “tà niệm” chính là không có lòng dâm dục, không có lòng dâm dục thì không có ngã tướng, không còn chỗ chấp trước. Lúc không còn chỗ chấp trước, quý vị xem đây có phải là sự tự do chân chánh không, có phải là đã được giải thoát không? </span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Cái gì gọi là niệm Phật? Niệm có nghĩa là nhớ, tức là cần phải nhớ Phật, nhớ cái Chân như tự tánh của mình. Chân như tự tánh là cái tánh mà bổn lai đã có, cũng chính là Như Lai Tạng tánh, cũng chính là Phật tánh. Chân như chính là bổn thể của niệm, mà niệm chính là vận dụng của Chân như. </span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Niệm tự tánh Chân như, là chân niệm, không phải là niệm do mắt, tai, mũi, lưỡi sanh ra. </span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Tuy chúng ta có Phật tánh, nhưng chưa biết quay về tự tánh của mình. Vì vậy nói Chân như có tánh cho nên khởi niệm. Bổn thể Chân Như tuy khởi lên niệm, ở cửa lục căn tuy có thấy nghe hiểu biết nhưng không bị nhiễm trước, vì quý vị không có tà niệm, không chấp vào muôn cảnh.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nên niệm </span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">như thế nào gọi là niệm Phật? Là khởi thân niệm hay là khởi pháp niệm? </span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Chân niệm về tướng chân thật </span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">của các pháp gọi là niệm Phật. </span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Sao gọi là chánh niệm? Là không </span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">vướng chấp nơi các pháp ác để phỉ báng, nên tu tất cả, không chê bai </span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">hủy báng pháp, nên xa lìa ngã cùng phi ngã, không thấy chúng sinh </span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">thọ mạng chủ tể nuôi dưỡng người cùng sự sinh, không chấp nơi sự </span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">tạo tác, khiến tạo tác, ấm, giới, các nhập, tưởng đối tượng duyên xứ. </span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ðối với hết thảy các pháp đời này, đời sau, cho đến ba cõi đều </span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">không nương, không nhiễm. </span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Vô niệm là gì? </span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Vô niệm chính là không có hai tướng, chính là bảo quý vị chớ quên mà phải niệm Phật hay Nhớ Chân như. Chân như là bổn tánh của chính quý vị, mà bổn tánh của quý vị là thanh tịnh sáng suốt, không có chỗ nhiễm trước. C</span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">ho nên vô tướng, vô niệm, vô trụ, cũng chính là không động không tịnh, không đúng không sai, không nam không nữ, không thiện không ác. </span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Vô niệm, vô tướng, vô trụ. V</span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">ô niệm chính là vô tướng, có thể vô tướng chính là vô trụ. Vô niệm cũng chính là vô sanh, vô tướng là vô diệt, vô trụ – bổn lai không có sanh diệt, không có đúng không có sai. </span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Vô niệm, vô tướng, vô trụ cũng chính là không đúng, không sai, không thiện, không ác, không nam, không nữ.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Trong kinh Lăng Nghiêm, Quay tánh nghe vào bên trong có nghĩa là không nghe âm thanh bên ngoài, mà thay vì vậy, quay trở lại, hướng vào bên trong, để nghe tự tánh của mình. Cũng có nghĩa là nhiếp vào trong thân tâm của mình. ‘Văn trung tánh nghe.’ Đây không phải là kêu quý vị quán chiếu cái tịnh và chấp vào cái tịnh và cho đó là thanh tịnh.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Sao gọi là thanh tịnh? Thanh tịnh vốn không hình không tướng, mà quý vị lại lập ra một cái hình tướng thanh tịnh, quán tịnh và chấp vào tịnh, nói đây là công phu. Có kiến giải như thế, liền chướng ngại bản tánh của mình, mà bị tịnh trói buộc. Vì quý vị đã chấp vào tịnh, đây cũng là một loại chấp trước. Chấp vào một niệm đã đoạn không còn nữa, chẳng phải đã chết rồi hay sao? Vì không có niệm chính là đã chết. Nhưng chết ở đây lại sanh về ở chỗ kia, cho nên đây là cách suy nghĩ hết sức sai lầm. </span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni đến nay, đều lấy vô sở niệm làm tông, vô tướng làm bổn thể, vô trụ làm cơ sở. Cái gì gọi là vô tướng? </span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Chính là ở nơi tướng mà ly khai tướng. Vô niệm chính là ở nơi niệm mà không chấp trước vào niệm. </span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Vô trụ chính là bổn tánh của con người.</span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ở bất cứ cảnh giới nào, tâm không nhiễm trước gọi là vô niệm. Trên niệm thanh tịnh của mình, thường hay ly khai tất cả cảnh giới, chẳng ở trên cảnh mà sanh các tâm tà niệm.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Kỳ thực bổn nguyên thanh tịnh của chính mình, diệu minh giác tánh, bổn lai một pháp cũng không có, nó thì thanh tịnh viên mãn sáng suốt, diệu minh chân tâm, bổn lai vô nhất vật. Cho nên pháp môn tịnh độ lập <em>vô niệm</em> làm tông chỉ. </span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Muốn đắc Niệm Phật Tam Muội thì phải:</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Thường hay xả tất cả</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Tướng hữu vi hư giả</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Chẳng thủ đắc pháp tánh</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Thì được Tam-muội này.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Chớ đắm vào phỉ báng</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Và nhớ nghĩ phân biệt</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Lìa hẳn ngã, ngã sở</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ðược Tam-muội như vậy.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Không với các pháp ấm</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Thấy chúng sinh, thọ mạng</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nhân, ngã và sự sinh</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Sĩ phu cùng dưỡng dục.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Cũng không nghĩ phân biệt</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ðó gọi là nói pháp</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Với các pháp không nhiễm</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ngã tánh và ngã sở.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Thấy thân chẳng ấm sinh</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Thì được Tam-muội này</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Sắc, thọ, tưởng, hành, thức</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Tất cả không, vô tướng.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Căn bản đều bất tịnh</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Biết được Tam-muội này</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Quán các pháp hữu vi</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Theo duyên chẳng tự tại.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Hết thảy không chân thật</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Hư dối không thể giữ</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Như pháp tử duyên kia</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ðó gọi là nhãn nhập.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Tai mũi lưỡi thân ý</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ðều không có tự tánh</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nếu phân biệt rõ ràng</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ðược sinh Tam-muội này.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Thân này không chân thật</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ấm tụ không thanh tịnh</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Máu mủ ra chín lỗ</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ai ưa thích chỗ này</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ý vào niệm, niệm diệt</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Hư vọng thường như huyễn</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nếu phân biệt sâu xa</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Thì được Tam-muội này.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Vì tất cả các nhập</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ðều không, không có thật</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Phàm phu như trẻ con</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Mê hoặc chấp có thân.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Chỗ mê của tham ái</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Không biết là hư vọng</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Thân này như không tụ</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Chỗ ở của các giặc.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Pháp lỗi lầm hư giả</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Người trí thường chán lìa</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Quan sát kỹ như vậy</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Thì được Tam-muội này.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Các pháp ấm, giới, nhập</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ðều không không chân thật</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nếu người hay phân biệt</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ðược sinh Tam-muội này.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Như lửa, như bọt nước</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Như huyễn, như thân chuối</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nên quán thân mỏng manh</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Không thật hơn điều ấy.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nếu các Bồ-tát này</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Trí không hủy như vậy</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Mau được tất cả Phật</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nói Tam-muội sâu xa.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Các pháp không tự sinh</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Cũng không từ khác có</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Rốt ráo không chỗ trụ</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Pháp vô lậu cũng thế.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nếu hay quán như vậy</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Thì sinh Tam-muội này</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Bỏ tất cả hữu vi</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Các hành, tướng đổi khác.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Pháp này như hư không</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Sinh là không thủ đắc</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Bồ-tát biết như thế</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Tu học hết thảy pháp.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Mau được thắng Bồ-đề</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Chuyển pháp luân vô thượng</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Bồ-tát ấy có thể</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Tạo lập nơi pháp tràng.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Dùng trí không nghĩ bàn</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Phân biệt tất cả pháp</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ðều thấy là hư dối</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Rốt ráo không chân thật.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nay ta tuy vì ông</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nêu rõ Tam-muội này</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Tướng nghi thức như vậy</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nghĩa đó rất khó biết.</span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Vọng tưởng không sanh là Thiền</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/numbergenerator/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 28 Jan 2020 20:45:03 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài Luận]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://langnghiem.com/?p=6073</guid>

					<description><![CDATA[Đầu năm Canh Tý, chúng tôi xin chúc Phật tử một năm mới thân tâm...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p>Đầu năm Canh Tý, chúng tôi xin chúc Phật tử một năm mới thân tâm an lạc. Trong những năm vừa qua, quý vị đã đọc qua nhiều bài viết và học hỏi rất nhiều. Hôm nay thay vì viết ra một bài luận, chúng tôi sẽ đưa ra một bài thử nghiệm. Xem thử năm vừa qua, quý vị có tiến triển gì không trên con đường tu hành.</p>
<p><center><em><span style="color: #993300; font-size: 20px;">Vọng tưởng không sanh là Thiền </span></em><br />
<em><span style="color: #993300; font-size: 20px;">Ngồi thấy bổn tánh là Định</span></em></p>
<p><iframe loading="lazy" src="https://langnghiem.com/number/index.html" width="100%" height="380px" frameborder="1" scrolling="yes"> </iframe></p>
<p></center></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Gà Có Trước Hay Trứng Có Trước</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/ga-co-truoc-hay-trung-co-truoc/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 25 Nov 2019 19:55:13 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài Luận]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://langnghiem.com/?p=6047</guid>

					<description><![CDATA[Con gà có trước hay quả trứng có trước là câu hỏi hóc búa khiến...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><img loading="lazy" decoding="async" class="alignleft wp-image-6049" src="http://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/11/chicken.jpg" alt="" width="301" height="323" srcset="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/11/chicken.jpg 447w, https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/11/chicken-279x300.jpg 279w" sizes="auto, (max-width: 301px) 100vw, 301px" />Con gà có trước hay quả trứng có trước là câu hỏi hóc búa khiến nhiều người phải đau đầu, nhức óc để suy ngẫm và giải thích. Có một số người cho rằng con gà khi đến thời kì sinh sản sẽ đẻ ra quả trứng, có thể kết luận là con gà có trước. Nếu đứng ở một góc độ khác, những quả trứng nở ra con gà. Vậy thì, không có quả trứng thì là sao nở ra con gà được? Bài luận hôm nay chúng ta sẽ trả lời qua hai giải đáp, qua một câu chuyện, qua một</p>
<p style="text-align: justify;">Thí dụ: Một đứa trẻ sống và lớn lên trong thành phố. Thỉnh thoảng cha mẹ cho ăn trứng gà luộc hay bánh mì trứng ấp la. Trong mắt của đứa bé thì chỉ biết cái trứng gà. Một hôm người cha về quê thăm gia đình, khi đi ra sau vườn, thì thấy mấy con gà mái đẻ trứng. Người cha lượm vài cái trứng mang về thành phố tặng cho đứa trẻ. Khi về nhà, một cái trứng gà nở ra một con gà bé nhỏ xinh xắn.</p>
<p style="text-align: center;">======</p>
<p style="text-align: justify;">Khi người cha thấy con gà mái đẻ trứng, ông ta cho rằng gà có trước trứng. Vả lại, trong mắt đứa bé, khi thấy cái trứng nở ra con gà, đứa bé cho rằng cái trứng có trước con gà. Vậy ai đúng ai sai ?</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu chúng ta nói tổng quát về tất cả trứng hay tất cả con gà, chúng ta sẽ dị rơi vào cái lý luận 2 bên, Gà có trước hay Trứng có trước. Đây là gọi Nhị (2) pháp. Người tu hành thì đừng để mình rơi vào Nhị Pháp. Quý vị phải nhớ rằng Phật pháp không hai. Không hai đó là Thực tướng. Vậy thực tướng của cái ví dụ trên là gì? <br />
&#8211; Đối với con gà non vừa mới nở, cái trứng có trước.<br />
&#8211; Đối với cái trứng, thì con gà mái mẹ có trước.</p>
<p>Vậy có 2 con gà và một cái trứng. Vậy hỏi quý vị, quý vị có bao giờ thấy hai con gà mái mà đẻ ra một cái trứng hay không? Hay là một cái trứng nở ra hai con gà hay không?</p>
<p>Nay quý vị hiểu và biết được cách trả lời, vậy chúng ta sẽ tiếp tục đi sâu thêm một bước nữa, tiếp tục câu chuyện con gà.</p>
<p style="text-align: center;">======</p>
<p style="text-align: justify;">Khi đứa bé trẻ thấy cái trứng nở ra con gà bé nhỏ rất là xinh (cute). Đứa bé xin cha mẹ cho nó nuôi lớn con gà bé nhỏ kia. 5 tháng trôi qua, con gà bé nhỏ đã lớn lên trưởng thành một con gà mái. Một buổi sáng trời tốt đẹp, đứa bé dạy sớm và chuẩn bị đi học. Khi đứa bé bước ra sau nhà, thì thấy con gà mái vưà mới đẻ ra một quả trứng. Người con hớn hở chạy vào trong nhà nói với cha mẹ:<br />
&#8220;Ba ơi, con gà nhà mình mới đẻ trứng. Vui quá, nhà mình sắp có thêm gà rồi.&#8221;</p>
<p style="text-align: justify;">Người cha nhìn con và mỉm cười nói: &#8220;Cái trứng đó chỉ để ăn thôi. Muốn trứng nở ra gà thì phải cần có con gà mái và con gà trống.&#8221;</p>
<p style="text-align: justify;">Người con nhìn cha với nhiều thắc mắc và nói: &#8220;Con không hiểu.&#8221;</p>
<p style="text-align: justify;">Người cha trả lời: &#8220;Trên thế giới nầy có 12 loại chúng sanh. Chúng sanh là chúng duyên hòa hợp mà sinh, có rất nhiều thứ nhân duyên hòa hợp mà sinh. Ðại khái có bốn loài :</p>
<p style="text-align: justify;">Loài sinh bằng thai như con người<br />
Bằng trứng như con gà<br />
Bằng ẩm thấp như các loài vi trùng<br />
Bằng hóa sinh như con bươm bướm</p>
<p style="text-align: justify;">Khi xưa cha mẹ gặp nhau, thương nhau, và mẹ có thai và sanh con ra đời. Cho nên gọi là thai sanh. Thai do tình mà có. Thai sinh là do có thứ ái tình, nên mới sanh con ra đời. Còn con gà mái của con là loài sanh bằng trứng, mà trứng do tưởng mà sanh. Con gà mái của con nó tối ngày mơ tưởng muốn có con gà con, con nên nó đẻ ra cái trứng nầy. Cái trứng nầy do tưởng mà sanh, nhưng không có ái tình với con gà trống, cho nên không thể nở ra con gà con được.</p>
<p style="text-align: justify;">Thí dụ như con muốn có một chiếc máy bay bằng giấy. Nếu con không có xép giấy làm máy bay, mà chỉ mơ tưởng trong đầu thì chiếc máy bay đó có thành hình hay không?</p>
<p style="text-align: justify;">Người con trả lời: &#8220;Dạ không.&#8221;</p>
<p style="text-align: justify;">Người cha tiếp tục: &#8220;Cái trứng nầy cũng vậy. Con gà mái của con chỉ mơ tưởng nên mới đẻ ra cái trứng nầy, cho nên nó không có thể nở ra thành con gà được. Nếu muốn trứng nở ra gà, thì con gà mái phải có duyên hoà hợp với con gà trống thì mới đẻ ra cái trứng có trống và nở ra con gà con.</p>
<p style="text-align: justify;">Người con trả lời: &#8220;Dạ, con hiểu rồi.&#8221;</p>
<p style="text-align: center;">=======</p>
<p style="text-align: justify;">Khi xưa cũng có một Phật tử hỏi Lục Tổ Huệ Năng câu hỏi giống như gà và trứng: &#8220;Thưa thầy, Phật trước Pháp sau hay là Pháp trước Phật sau, Phật pháp từ đâu sanh ra?</p>
<p style="text-align: justify;">Lục Tổ Ðại sư trả lời: &#8220;Ông có thể thuyết pháp đó là Phật trước Pháp sau. Nếu ông có thể nghe pháp, đó là Pháp trước Phật sau. Phật pháp từ trong chúng sanh sanh ra.&#8221;</p>
<p style="text-align: justify;">Tại sao ? Vì trong tâm chúng sinh vọng tưởng quá nhiều. Vọng tưởng giống như hạt bụi, nhiễu nhiễu chẳng yên, luôn luôn biến động. Hãy nhìn xem, chúng ta quan sát vọng tưởng nhiều vô kể chẳng biết là bao nhiêu, có đếm cũng chẳng biết số lượng.</p>
<p style="text-align: justify;">Gà đẻ ra trứng và Trứng nở ra gà. Soi cho đến cùng hay đáo để là từ đâu ra ? Chúng sinh là từ Phật tánh mà ra, cho nên mới nói : ’’Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, đều có thể thành Phật’’. Tuy hết thảy chúng sinh đều có Phật tánh, đều có thể thành Phật, nhưng chẳng phải nói chúng sinh là Phật, chẳng phải nói chẳng tu thì thành Phật. Nhất định phải dụng công tu hành, tham thiền, học Phật pháp, như thế thì mới có thể trở về cội nguồn mà thành Phật. Chẳng phải nói chúng sinh bây giờ là Phật, chẳng cần dụng công tu hành, đó là thứ tà tri tà kiến ! Mà phải tu hành, học Phật pháp, y giáo phụng hành, mới có thể thành Phật. Cho nên mới nói chúng sinh là từ Phật tánh sinh ra.</p>
<p style="text-align: justify;">Ái hà (biển ái dục) là chỉ ái tình giữa nam nữ, chẳng riêng gì nói về ái của con người, mà các loài khác như súc sinh, cũng chấp mê chẳng ngộ, chấp trước về ái này, nhất là súc sinh càng chẳng rõ lý, cho nên tâm dâm dục của chúng rất nặng, chúng luôn lúc nào cũng nghĩ về dâm dục. Nếu thanh tâm quả dục, tự tịnh kỳ ý, cắt ái đoạn dục, thì cách Phật đạo chẳng xa.</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Pháp Môn Bất Nhị</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/phap-mon-bat-nhi/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 19 Nov 2019 23:18:47 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài Luận]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://langnghiem.com/?p=6040</guid>

					<description><![CDATA[Pháp môn bất nhị là pháp môn không hai. Nói cách khác là hai pháp...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><img loading="lazy" decoding="async" class="alignleft" src="http://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/11/batnhi.jpg" alt="" width="286" height="285" />Pháp môn bất nhị là pháp môn không hai. Nói cách khác là hai pháp môn không có những phân biệt. Nếu viết về ngộ nhập vào pháp môn bất nhị trên site nầy thì chắc phải dùng đến văn tự, ngôn ngữ. Thí dụ như:</p>
<p>&#8211; Sanh và diệt: Nếu quý vị hiểu rõ các pháp xưa nay không sinh cũng không diệt, chứng đắc pháp Nhẫn vô sinh như thế nào.</p>
<p>&#8211; Ngã và Ngã Sở: Vì do chấp ngã nên chấp ngã sở. Nếu hiểu rõ không có ngã, cũng không có ngã sở.</p>
<p>&#8211; Hữu thủ và vô thủ: Hiểu rõ không thủ, không chỗ đắc. Vì không chỗ đắc nên không tăng, không giảm, không làm không nghỉ, không chấp trước vào tất cả pháp.</p>
<p>&#8211; Tạp nhiễm và thanh tịnh: Hiểu rõ tạp nhiễm và thanh tịnh là không hai thì không phân biệt, đoạn hẳn sự phân biệt, hướng đến dấu vết tịch diệt.</p>
<p>&#8211; Tán động và suy nghĩ: Hiểu rõ không bị tán động, không có đối tượng được suy nghĩ thì không tác ý, trụ vào không tán động, không có đối tượng được suy nghĩ thì không tác ý.</p>
<p>&#8211; Tướng và Vô Tướng: Hiểu rõ các pháp không có một tướng, không có tướng khác cũng không có không tướng, thì biết một tướng, tướng khác, không tướng ấy là bình đẳng.</p>
<p>&#8211; Bồ-tát và Thanh văn: Hiểu rõ tánh của hai tâm là không, như huyễn, không có tâm Bồ-tát, không có tâm Thanh văn. Tướng của hai tâm ấy bình đẳng đều như huyễn hóa.</p>
<p>&#8211; Thiện và bất thiện: Hiểu rõ tánh thiện và tánh bất thiện không có chỗ phát sinh. Tướng và vô tướng cả hai đều bình đẳng, không nắm bắt không buông xả.</p>
<p>&#8211; Có tội và không tội: Hiểu rõ có tội và không tội cả hai đều bình đẳng. Dùng tuệ kim cang mà thông đạt các pháp không buộc không mở.</p>
<p>&#8211; Hữu lậu và vô lậu: Hiểu rõ tánh của tất cả pháp đều bình đẳng. Ðối với lậu và vô lậu không có hai tưởng. Nếu không chấp vào hữu tưởng không chấp vào vô tưởng.</p>
<p>&#8211; Hữu vi và vô vi: Hiểu rõ tánh của hai pháp đều bình đẳng. Xa lìa các hành, giác tuệ như hư không. Trí tuệ thanh tịnh, không chấp lấy không xả bỏ</p>
<p>&#8211; Thế gian và xuất thế gian: Hiểu rõ bản tánh của thế gian là không tịch, không nhập, không xuất, không trôi, không tan, không mất, cũng không chấp trước.</p>
<p>&#8211; Sinh tử và Niết-bàn: Hiểu rõ tánh của sinh tử vốn là không, không có lưu chuyển, cũng không tịch diệt.</p>
<p>&#8211; Hữu tận và vô tận: Hiểu rõ hoàn toàn không có hữu tận và vô tận. Chủ yếu đạt rốt ráo tận mới gọi là tận. Nếu đạt rốt ráo tận thì không còn tận đó gọi là vô tận. Nghĩa là trong từng sát-na nhất định không có hữu tận tức là vô tận. Vì hữu tận không có nên vô tận cũng không có, biết rõ tánh của hữu tận và vô tận là không.</p>
<p>&#8211; Hữu ngã và vô ngã: Hiểu rõ hữu ngã còn không thể thủ đắc huống chi vô ngã, thấy tánh ngã và vô ngã không có hai.</p>
<p>&#8211; Minh và vô minh: Hiểu rõ bản tánh của vô minh là minh. Minh và vô minh cả hai đều không thể thủ đắc, không thể tính lường, vượt qua sự tính lường, trong ấy hiện quán bình đẳng không có hai.</p>
<p>&#8211; Sắc, thọ, tưởng, hành và thức với không: Hiểu biết tánh của thủ uẩn vốn là không . Sắc ấy là không, chứ chẳng phải sắc diệt mới là không. Cho đến thức uẩn cũng như vậy.</p>
<p>&#8211; Bốn giới và không: Hiểu biết bốn giới tức là tánh hư không. Tánh của bốn giới và không dù trước, giữa, sau đều không điên đảo nên tỏ ngộ đi vào các giới.</p>
<p>&#8211; Nhãn &#8211; sắc, nhĩ &#8211; thanh, tỷ &#8211; hương, thiệt &#8211; vị, thân &#8211; xúc, ý &#8211; pháp: Hiểu rõ tánh của tất cả đều là không. Thấy tự tánh của nhãn đối với sắc không tham, không sân, không si. Như vậy cho đến thấy tự tánh của ý đối với pháp không tham, không sân, không si. Như vậy đều là không. Ðã thấy như vậy rồi nên an trụ trong tịch tĩnh.</p>
<p>&#8211; Tánh bố thí với hồi hướng Nhất thiết trí: Như vậy, phân biệt tánh của giới, nhẫn, tinh tấn, tĩnh lự, Bát-nhã và hồi hướng Nhất thiết trí đều là hai. Nếu hiểu rõ tánh bố thí tức là đã hồi hướng Nhất thiết trí. Tánh hồi hướng Nhất thiết trí ấy tức là bố thí. Như vậy, cho đến tự tánh của Bát-nhã tức là tánh hồi hướng Nhất thiết trí. Tánh hồi hướng Nhất thiết trí ấy tức là Bát-nhã.</p>
<p>&#8211; Không, Vô tướng và Vô nguyện: Hiểu rõ trong cái không ấy hoàn toàn không có tướng. Trong không tướng ấy cũng không có nguyện. Trong không nguyện này không có tâm, không có ý, không có thức để chuyển.</p>
<p>&#8211; Phật, Pháp, Tăng: Hiểu rõ tánh Phật là tánh Pháp &#8211; Pháp là tánh Tăng. Như thế, Tam bảo đều là tướng vô vi cùng đồng đẳng với hư không. Các pháp cũng như thế.</p>
<p>&#8211; Thân kiến với diệt thân kiến: Hiểu rõ thân kiến tức là diệt thân kiến. Biết rõ rốt ráo như vậy nên không khởi thân kiến. Ðối với thân kiến và diệt thân kiến không có phân biệt, không phân biệt khác, chứng đắc tánh diệt rốt ráo của hai pháp ấy không nghi ngờ, không sợ hãi.</p>
<p>&#8211; Ba loại luật nghi của thân, khẩu, ý: Hiểu rõ ba loại luật nghi ấy đều là tướng vô tác. Tướng ấy không có hai. Vì sao? Vì ba đạo nghiệp này đều là tướng vô tác. Tướng thân vô tác tức là tướng ngữ vô tác. Tướng ngữ vô tác tức là tướng ý vô tác. Tướng ý vô tác tức là tướng của tất cả pháp đều vô tướng. Nếu nhập vào tướng vô tạo tác, đó là ngộ nhập vào pháp môn bất nhị.</p>
<p>&#8211; Hành tội, hành phước và hành bất động: , Hiểu rõ hành tội, hành phước và hành bất động đều là tướng vô tác. Tướng ấy không có hai. Vì sao? Vì tánh tướng của hành phước, hành tội và hành bất động đều là không. Trong cái không ấy, không có sự khác nhau giữa ba hành tội, phước và bất động.</p>
<p>&#8211; Tất cả hai pháp do ngã mà phát sinh. Nếu biết thật tánh của ngã thì không khởi hai. Vì không phát khởi hai nên không phân biệt. Vì không phân biệt nên không có đối tượng để phân biệt.</p>
<p>&#8211; Tất cả hai pháp do có sở đắc mà phát sinh. Nếu biết rõ các pháp hoàn hoàn không sở đắc, không nắm bắt, không xả bỏ. Ðã không nắm bắt không xả bỏ.</p>
<p>&#8211; Sáng và tối: Nếu biết rõ thật tướng là không tối không sáng, tánh nó không có hai. Ví như Bí-sô nhập định diệt tận thì không có sáng không có tối. Tướng của tất cả các pháp cũng như vậy. Lãnh hội các pháp bình đẳng như thế.</p>
<p>&#8211; Thích Niết-bàn và chán sinh tử: Nếu biết rõ Niết-bàn và sinh tử không có gì thích hay chán thì không có hai. Vì sao? Vì nếu bị sinh tử trói buộc thì cầu giải thoát. Nếu hoàn toàn không còn sự trói buộc của sinh tử nữa thì cầu Niết-bàn giải thoát để làm gì? Thông đạt như vậy nên không còn trói buộc không giải thoát, không thích Niết-bàn không chán sinh tử.</p>
<p>&#8211; Chánh đạo và tà đạo: Nếu an trụ vào chánh đạo, hành tà đạo là hoàn toàn không hành. Vì không hành nên không có hai tướng chánh đạo và tà đạo. Vì trừ bỏ hai tướng nên không có hai giác. Nếu không có hai giác thì ngộ nhập vào pháp môn bất nhị.</p>
<p>&#8211; Hư và thật: Nếu quán tánh của thật đế còn không thấy thật làm sao thấy hư. Vì sao? Vì tánh này chẳng phải do Nhục nhãn thấy, chỉ có Tuệ nhãn mới thấy. Khi thấy như vậy, đối với tất cả pháp không thấy, không phải là không thấy.</p>
<p style="text-align: center;">=======</p>
<p>Với những thí dụ trên, mặc dù đều hoàn hảo nhưng viết như vậy vẫn gọi là hai. Nếu đối với các pháp không viết, không nói, không năng, không biểu hiện, không chỉ thị, lìa các hý luận, dứt hẳn sự phân biệt, đó là ngộ nhập vào pháp môn bất nhị.</p>
<p>Chúng tôi có thể viết thêm một trăm bài luận và quý vị cũng có thể đọc thêm một ngàn bài luận kinh. Có thể hiểu sâu vào kinh pháp, nhưng cũng khó ngộ nhập vào pháp môn bất nhị?</p>
<p>Bởi vì sao? Vì muốn ngộ nhập vào pháp môn bất nhị. Trong đó hoàn toàn không có những phân biệt về văn tự, ngôn ngữ. Cho nên những lời viết chúng tôi đã viết cũng như không có viết. Các bài luận mà quý vị đã đọc cũng như chưa đọc. Những lời văn lý luận cũng không còn nữa. Đó mới là ngộ nhập vào pháp môn bất nhị.</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Thong dong, Thảnh thơi và Thoải mái</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/thong-dong-thanh-thoi-va-thoai-mai/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 26 Sep 2019 18:43:13 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài Luận]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://langnghiem.com/?p=5985</guid>

					<description><![CDATA[Người đời trên thế gian cho rằng tình yêu trai gái là hạnh phúc, có...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><img loading="lazy" decoding="async" class="alignleft  wp-image-5986" src="http://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/09/relax.jpg" alt="" width="341" height="224" srcset="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/09/relax.jpg 448w, https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/09/relax-300x197.jpg 300w" sizes="auto, (max-width: 341px) 100vw, 341px" />Người đời trên thế gian cho rằng tình yêu trai gái là hạnh phúc, có nhiền tiền thì mới đủ phương tiện làm cho thân được thoải mái. Nhưng cái thoải mái đó phải trả một cái giá rất là to lớn. Cái sự thoải mái đó không phải là thoải mái tự tại viên mãn. Bởi vì khi qua một đêm ăn chơi ngủ ngon, thì quý vị phải thức dậy sớm đi làm kiếm tiền.</p>
<p style="text-align: justify;">Cho nên những thứ hưởng thụ đó nên gọi là thọ dụng, chớ không phải là hưởng thọ chánh thường, đại tự tại. Người tu hành cũng có thọ dụng, cơm nước, áo quần. Nhưng cái thọ dụng đó không có nhiễm trước. Buông xả nghĩa là không nhiễm trước một tí gì hết, không nhiễm trước chẳng có nghĩa là không có sự thọ dụng. Tất cả đều có thể thọ dụng, vì tất cả đều không nhiễm trước, cho nên sự thọ dụng này được gọi là ‘chánh thọ’, trong kinh nói đến ‘tam muội’, ‘tam muội’ là tiếng Phạn có nghĩa là ‘hưởng thọ chánh thường’</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu có thể nhìn thấu, buông xuống thì đời sống sanh hoạt của quý vị sẽ được thong dong, thảnh thơi và thoải mái. Trong kinh gọi cảm giác nầy là tự tại. Ðời sống được tự tại mới là đời sống hạnh phúc thật sự. Sự biểu hiện trong đời sống nhất định phải nhìn thấu; nhìn thấu nghĩa là hiểu rõ ràng minh bạch chân tướng của vũ trụ nhân sanh. Trong kinh nói giác ngộ triệt để, thấu triệt rồi, đó gọi là ‘hành’. Hành Bồ Tát đạo trên sự nhìn thấu; sau khi nhìn thấu thì không thể nào không buông xả được. Tại sao vậy? Bởi vì quý vị sẽ thấy được sự đại tự tại, thong dong, thảnh thơi, thoải mái.</p>
<p style="text-align: justify;">Bạn xem câu đầu trong Tâm Kinh: ‘Quán Tự Tại Bồ Tát’, chữ ‘quán’ ở đây là ‘nhìn thấu’, quán là trí huệ, trí huệ chân thật. Nhìn thấy chân tướng sự thật của vũ trụ rõ ràng minh bạch. Buông xả nghĩa là không nhiễm trước một tí gì hết. Hưởng thọ chánh thường khác với sự hưởng thọ của quý vị hiện nay ở chỗ nào? Trên ‘sự’ thì hoàn toàn giống nhau. Quý vị mặc áo, Phật, Bồ Tát cũng mặc áo. Quý vị ăn cơm, các ngài cũng ăn cơm, có gì khác nhau?</p>
<p style="text-align: justify;">Nhưng bên trong đích thật có chỗ khác biệt. Quý vị mặc áo, ăn cơm có chấp trước. Các Ngài mặc áo, ăn cơm không có chấp trước; cho nên các Ngài mặc áo ăn cơm vui vẻ tự tại. Khi quý vị mặc áo, ăn cơm không được xứng tâm vừa ý, áo rộng, đồ ăn không ngon hay thiếu một món thì không vừa lòng. Tại sao quý vị lại không thấy thoải mái?  Bởi vì quý vị buông xả không nổi? Nhìn không thấu! Cho nên không được tự tại.</p>
<p style="text-align: justify;">Vậy làm thế nào để đạt được đại tự tại? Trước hết thì phải nhìn thấu để dễ dàng buông xả. Khi buông xả rồi, thì đừng có phan duyên, than thở. Khi đối mặt với người hay vật chất, quý vị phải tùy duyên chớ không phan duyên. Nếu bạn phan duyên thì tâm thanh tịnh của bạn hoàn toàn mất hết. Trong lúc phan duyên bạn có phiền não, sanh ra tri kiến, tâm chân thành của bạn bị che lấp hoàn toàn, không thể hiển lộ ra ngoài.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu người tu hành mỗi ngày trong tâm đều phải suy nghĩ, bận tâm, tìm mọi cách kiếm tiền để xây chùa, để hóa duyên, thì có phải như vậy mệt quá phải không? Còn tự tại gì được nữa! Có an lạc gì đâu! Sự khổ này từ đâu đến? Tự quý vị phan duyên mà thôi! Không có người đem khổ đến cho quý vị, đều là do quý vị tự tạo, phải hiểu rõ đạo lý này. Công việc tu hành xây cất chùa, tượng Phật là điều tốt, nên làm, nhưng phải tùy duyên của chúng sanh. Nếu quý vị phan duyên, thì cái đó sẽ làm tăng trưởng lòng tham, sân, si, mạn, tăng trưởng phân biệt, chấp trước của quý vị.</p>
<p>Trong kinh Bát Nhã: Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm bát nhã ba la mật đa thời chiếu kiến ngã uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách.</p>
<ul>
<li><strong>Quán</strong> là nhìn thấu</li>
<li><strong>Tự Tại</strong> là thong dong, thảnh thơi và thoải mái</li>
<li><strong>Bồ Tát hành thâm</strong> là tu hành, tùy duyên phổ độ chúng sanh qua</li>
<li><strong>Bát nhã ba la mật đa</strong>
<ul>
<li>Bố thí là buông xả tâm tham.</li>
<li>Trì giới là buông xả ác niệm.</li>
<li>Nhẫn nhục là buông xả tâm sân nhuế, đố kỵ</li>
<li>Tinh tấn là buông xả giải đãi, làm biếng.</li>
<li>Thiền định là buông xả tán loạn.</li>
<li>Bát nhã Ba La Mật là nhìn thấu</li>
</ul>
</li>
<li><strong>Thời chiếu kiến</strong> là nhìn thấu mọi thời: quá khứ, hiện tại và tương lai</li>
<li><strong>Ngũ uẩn giai không</strong> là thế giới vô thường, bi khổ</li>
<li><strong>Độ nhất thiết khổ ách</strong> là giải thoát các khổ để được an lạc tự tại</li>
</ul>
<p>Cho nên tu hành là nhìn thấu để dễ dàng buông xả. Khi buông xả thì sẽ được tự tại trong cuộc sống. Dùng tâm chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, chánh giác, từ bi mà tuỳ duyên hóa độ chúng sanh. Khi không phổ độ chúng sanh thì quý vị tu hành như thiền, mật tông, niệm Phật hay đọc chép kinh. Qua lời dạy của đức Phật, quý vị hiểu sâu, nhìn thấu thế giới vô thường, bi khổ nầy. Buông xả những thứ thói quen tật xấu như tham sân si. Sống với cái tâm thường trụ, an lạc tự tại. Khi đạt được tự tại thì quý vị không còn cái ngã cái tôi, lúc đó sẽ dễ dàng tùy duyên phổ độ chúng sanh. Chân ngã Tịnh tu. Đó cũng là pháp môn tu hành theo kinh Kim Cang để sống với &#8216;Thường Lạc Ngã Tịnh&#8221;.</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Buông Xả Để Nhìn Thấu</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/tre-nen-nhin-thau-gia-nen-buong-xa/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 23 Sep 2019 21:53:46 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài Luận]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://langnghiem.com/?p=5957</guid>

					<description><![CDATA[Nhìn Thấu là trình độ hiểu rõ đối với trạng thái sanh diệt hiện thực....]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><strong><img loading="lazy" decoding="async" class="alignleft  wp-image-5962" src="http://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/09/handWater.jpg" alt="" width="269" height="207" srcset="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/09/handWater.jpg 418w, https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/09/handWater-300x231.jpg 300w" sizes="auto, (max-width: 269px) 100vw, 269px" />Nhìn Thấu</strong> là trình độ hiểu rõ đối với trạng thái sanh diệt hiện thực. Nếu quý vị không hiểu rõ, ham mê luyến tiếc thế gian thì đương nhiên sẽ không buông xuống nổi. Cho nên, hơn phân nửa những người niệm Phật vãng sanh là người già bảy tám chục tuổi. Vì họ nhìn thấy nhiều, từng trải nhiều, biết hết thảy những việc trong thế gian đều là hư ảo không thật. Bất luận sinh sống trong cảnh thuận hoặc nghịch, trải qua một thời gian dài thì sẽ chán chường. Sinh sống cảm thấy chán ghét, không muốn ở lại thêm nữa, đến lúc này thì buông xuống hết.</p>
<p>Đối với tuổi trẻ, họ cảm thấy thế gian này còn rất đẹp đẽ, vẫn còn muốn sống thêm vài năm nữa. Thậm chí muốn sống thêm vài chục năm, vài trăm năm nữa. Họ không thể nào buông xả. Buông xuống hết không nổi thì công phu tu hành làm sao có thể đắc lực cho được!</p>
<p style="text-align: center;"><strong>Cho nên trẻ nên tập nhìn thấu, còn già nên buông xả</strong></p>
<p>Buông xả và nhìn thấu là hai việc khác nhau, nhưng lại là hai việc bổ sung và hỗ trợ lẫn nhau. Nếu quý vị có thể buông xả một phần thì quý vị sẽ nhìn rõ, nhìn thấu thêm một phần. Nếu có thể nhìn thấu một phần thì quý vị có thể buông xả thêm một phần. Vậy tu hành như thế nào thì dễ buông xả và nhìn thấu mọi việc.</p>
<p>Trong kinh đức Phật dạy chúng ta buông xả là buông xả phiền não, buông xả dục vọng, chứ không phải buông xả công việc làm.Tu hành thì phải siêng năng, chứ không phải làm biếng, ngồi một chổ đợi Phật Tử đến cúng dường nấu cơm dưng nước. Ngược lại còn phải nỗ lực hết lòng làm việc. Nếu cả công việc làm, tu hành cũng buông xuống thì đức Phật không cần phải giảng kinh thuyết pháp.</p>
<p>Trong kinh Kinh Cang, Lục Độ Ba La Mật:<img loading="lazy" decoding="async" class="size-full wp-image-5978 alignright" src="http://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/09/letGoAndSee.png" alt="" width="344" height="182" srcset="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/09/letGoAndSee.png 344w, https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/09/letGoAndSee-300x159.png 300w" sizes="auto, (max-width: 344px) 100vw, 344px" /></p>
<p>Bố thí là buông xả tâm tham.<br />
Trì giới là buông xả ác niệm.<br />
Nhẫn nhục là buông xả tâm sân nhuế, đố kỵ<br />
Tinh tấn là buông xả giải đãi, làm biếng.<br />
Thiền định là buông xả tán loạn.</p>
<p>Bát nhã Ba La Mật là nhìn thấu, tức là minh bạch, rõ ràng. Cho nên lục độ Ba La Mật quy nạp lại tức là 4 chữ: ‘Buông xả &amp; Nhìn thấu’.</p>
<p>Trong kinh Lăng Nghiêm và Kinh Hoa Nghiêm, thập hạnh được gọi là thập độ. Tóm tắt lại là các hạnh của lục độ Ba La Mật. Năm hạnh đầu tiên là buông xả. Năm hành cuối là nhìn thấu.</p>
<ol>
<li>Hạnh hoan hỉ là pháp môn bố thí của Bồ Tát tu.  chẳng những tự mình hoan hỉ, mà cũng khiến cho chúng sinh hoan hỉ.</li>
<li>Hạnh nhiêu ích là pháp môn trì giới của Bồ Tát tu, đều là lợi ích chúng sinh, khiến cho chúng sinh đắc được ấm no và đầy đủ.</li>
<li>Hạnh vô vi nghịch là pháp môn nhẫn nhục của Bồ Tát tu, chẳng trái ngược với mình, cũng chẳng trái ngược với chúng sinh.</li>
<li>Hạnh vô khuất nhiễu là pháp môn tinh tấn của Bồ Tát tu, cũng chẳng khiến cho mình khuất nhiễu, cũng chẳng khiến cho chúng sinh khuất nhiễu.</li>
<li>Hạnh vô si loạn là pháp môn thiền định của Bồ Tát tu, thân tâm chẳng điên đảo, vì có định lực, nên hạnh chẳng loạn.</li>
<li>Hạnh thiện hiện là pháp môn Bát Nhã của Bồ Tát tu, thấu rõ pháp thế gian là vô thường, khổ, không, vô ngã; và hiểu rõ pháp xuất thế là thường, lạc, ngã, tịnh.</li>
<li>Hạnh vô trước là pháp môn phương tiện của Bồ Tát tu, có cảnh giới sự lý chẳng trì trệ, dùng phương tiện khéo léo để độ chúng sinh.</li>
<li>Hạnh nan đắc là pháp môn nguyện của Bồ Tát tu, là đại nguyện đại hạnh, đại từ đại bi, độ khắp chúng sinh.</li>
<li>Hạnh thiện pháp là pháp môn lực của Bồ Tát tu, có trí huệ lực, mới thực hành tất cả pháp lành.</li>
<li>Hạnh chân thật là pháp môn trí của Bồ Tát tu, lời nói việc làm đều chẳng hư vọng, tất cả đều chân thật.</li>
</ol>
<p>Quy nạp thập hạnh lại cho gọn là 4 chữ: ‘Buông xả &amp; Nhìn thấu’</p>
<p>Muốn minh bạch hết tất cả sự vật và đạo lý trong pháp giới, thật không phải dễ dàng. Pháp quan trọng nhất của người tu đạo, là ý nghiệp thanh tịnh, tức cũng là buông xả các hành vi tam độc: tham sân si. Nên điều phục các tư tưởng cang cường. Đối với tất cả chúng sinh, quý vị đều hữu hảo thân thiện. Lìa khỏi được tất cả sự hí luận, thì chẳng tạo khẩu nghiệp. Vì chẳng có lỗi lầm, cho nên oai quang viên mãn, được tất cả chúng sinh khâm phục cung kính. Ðó là nhìn thấu và thấy rõ các Bồ Tát đạo tối thù thắng.</p>
<p style="text-align: center;"><strong><em>Ý nghiệp thanh tịnh cực điều thiện</em></strong><br />
<strong><em>Ly chư hí luận vô khẩu nghiệp</em></strong><br />
<strong><em>Uy quang viên mãn chúng sở khâm</em></strong><br />
<strong><em>Bỉ tối thắng giả hành tư đạo.</em></strong></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Thế Giới Thành Tựu</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/the-gioi-thanh-tuu/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 13 Sep 2019 20:57:46 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài Luận]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://langnghiem.com/?p=5896</guid>

					<description><![CDATA[‘’Thế‘’ tức là tam thế (ba đời). Tức đời quá khứ, đời hiện tại, đời...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="entry-content">
<p style="text-align: justify;"><strong><img loading="lazy" decoding="async" class="alignleft  wp-image-5897" src="http://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/09/universe.jpg" alt="" width="274" height="248" srcset="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/09/universe.jpg 353w, https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/09/universe-300x272.jpg 300w" sizes="auto, (max-width: 274px) 100vw, 274px" />‘’Thế‘’</strong> tức là tam thế (ba đời). Tức đời quá khứ, đời hiện tại, đời vị lai.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>‘’Giới‘’</strong> tức là phân giới, còn là phương giới. Vì có giới hạn, có phương hướng, có phân biệt.</p>
<p style="text-align: justify;">Thế giới thành tựu như thế nào ? Nói tổng quát thế giới có thành tựu thì có hủy diệt, đây là định luật tự nhiên. Tuổi thọ của thế giới chia làm bốn giai đoạn: Thành, Trụ, Hoại, Không</p>
<p style="text-align: justify;">Mỗi giai đoạn là hai mươi giai đoạn nhỏ. Như vậy thế giới của chúng ta phải trải qua 80 tiểu giai đoạn (4×20=80).</p>
<p style="text-align: justify;">Trong kinh Lăng Nghiêm có ghi rằng: lúc ban đầu, giai đoạn kiếp “Thành”, thì đại địa là nước, bị gió thổi, bị mặt trời làm nóng, mà thành sơn hà đại địa. Lúc đó mới có thực vật sinh ra, sau đó mới có động vật sinh sống, có con người sinh tồn. Trải qua bao nhiêu năm rồi, thì sinh ra các nước, có văn hóa, có nhân dân, hình thành quốc gia. Thời kỳ giai đoạn nầy được gọi là giai đoạn “Thành tựu, đại địa thanh tịnh, nhân dân hòa vui, chẳng có tham sân si, cũng chẳng có ích kỷ lợi mình, nhân loại đều từ bi, đại công vô tư.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong giai đoạn thứ nhì: kiếp &#8220;Trụ&#8221;, con người dần dần sinh ra tâm tham, tâm sân, tâm si, phát sinh ra hành vi: Sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, uống rượu, các điều ác, nhân dân tà kiến điên đảo, làm mười điều ác, do đó mà trời chẳng mưa, ngũ cốc chẳng sinh, phát sinh tai nạn đói khát, con người ăn rễ cây, hoặc đọt cây, vì chẳng còn vật thực để ăn, cho nên bệnh dịch phát sinh. Do đói khát và ôn dịch, dẫn đến binh đao kiếp nạn. Chiến loạn có ghi trong lịch sử, đều do nguyên nhân này mà phát sinh.</p>
<p style="text-align: justify;">Tam tai này đều có quan hệ với nhau, vì người lãnh tụ quốc gia khởi tâm tham, muốn xâm lược lãnh thổ của nước khác, nên phát sinh chiến tranh. Như chiến tranh thế giới thứ nhất, chiến tranh thế giới thứ hai, nguyên nhân không ngoài tham sân si. Bởi chiến tranh nhân dân chẳng biết nương vào đâu mà sống. Vì tai nạn đao binh, nên phát sinh nạn đói khát, vì đói khát, mà sinh ra ôn dịch, cho nên khi kiếp trụ cũng có thành, trụ, hoại, không, bốn thứ hiện tượng phát sinh.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi kiếp trụ qua rồi thì đến &#8220;Hoại&#8221; kiếp, sơn hà đại địa dần dần sẽ hủy diệt.</p>
<p style="text-align: justify;">Trải qua hai mươi tiểu kiếp, thì vũ trụ sẽ bùng nổ, tiếng Anh gọi là &#8220;Super Nova&#8221;. Các hành tinh trong tam thiên đại thiên thế giới nầy bị nổ, bể nát, hoàn toàn chẳng còn gì nữa, đó là kiếp không. Mỗi thế giới, phải trải qua thời gian dài như thế. Vậy tính theo năm ngày thì thời gian đó (bốn kiếp: thành trụ hoại không) là bao nhiêu năm ?</p>
<p style="text-align: justify;">Hiện nay chúng ta đang sống trong thời kiếp &#8220;Trụ&#8221;.  Trong kiếp trụ chia ra 20 giai đoạn. Và thời điểm bây giờ là thời điểm thứ 9 trong 20 giai đoạn. Nếu cách khác thì thế giới nầy phải trải qua 80 giai đoạn hay 80 tuổi thọ thì bây giờ thế giới nầy được 29 tuổi thọ.</p>
</div>
<p style="text-align: justify;">Để cho dễ hiểu, chúng ta sẽ lấy mạng sống hay năm tuổi của con người ra để tính toán con số. Hiện nay con người sống ở những nước có không có chiến tranh thì sống tới 75-85 tuổi. Những người sống bên Trung Đông thiếu thốn và sống trong thời chiến tranh, con trai sống chỉ trung bình từ 35-40 tuổi. Nếu tính trung bình trên toàn thế giới thì mạng sống của con người là 70 năm.</p>
<p style="text-align: justify;">Cứ 100 năm thì mạng con người bị giảm xuống 1 tuổi. Sau 6000 năm sau, hay khoảng năm 8019 thì mạng sống trung bình của con người chỉ còn 10 tuổi. Lúc đó số người sống trên trái đất rất ít. Trong một thành phố chỉ có khoảng vài người sinh sống. Lúc đó con người cảm thấy rất là cô đơn lạnh lẽo, cho nên con người bắt đầu tìm kiếm những người trong thành phố cận để làm bạn bè. Lúc đó con người bắt đầu đổi tính ít kỷ thành tánh tình thương bộc lẫn nhau. Lúc đó tuổi thọ con người bắt đầu tăng dần. Cứ 100 năm thì tuổi mạng con người lại tăng thêm một tuổi. Cho đến khi tuổi thọ trung bình của con người là 84000 năm.</p>
<p style="text-align: justify;">Cứ mỗi lần tuổi con người tăng lên 84000 năm và trở lại xuống 10 tuổi thì thời gian đó là một kiếp. Vậy một kiếp là:</p>
<p style="text-align: justify;">   ((84000 &#8211; 10) * 100) + ((84000 -10) * 100) = 16,798,000 năm</p>
<p style="text-align: justify;">Cứ 1000 kiếp như vậy là một tiểu kiếp:  16798000 * 1000 = 16,798,000,000 năm</p>
<p style="text-align: justify;">Cứ 1000 tiểu kiếp như vậy là một trung kiếp: 16,798,000,000 * 10 = 16,798,000,000,000 năm</p>
<p style="text-align: justify;">Cứ 1000 trung kiếp như vậy là một đại kiếp: 16,798,000,000,000 * 10 = 16,798,000,000,000,000 năm</p>
<p style="text-align: justify;">Trong 4 giai đoạn: Thành, Trụ, Hoại, Không. Mỗi giai đoạn chia ra 20 giai đoạn nhỏ. Vậy mỗi giai đoạn nhỏ là:</p>
<p style="text-align: justify;">  16,798,000,000,000,000 / 80 = 209,975,000,000,000 năm</p>
<p style="text-align: justify;">Hiện nay chúng ta đanh sinh sống trong giai đoạn thứ thứ 9 trong kiếp &#8220;Trụ&#8221; hay giai đoạn thứ 29. Vậy nếu tính ra thì tuổi của tam thiên đại thiên thế giới nầy là:</p>
<p style="text-align: justify;">  209,975,000,000,000 * 29 = 3,989,525,000,000,000 năm</p>
<p style="text-align: justify;">========</p>
<p style="text-align: justify;">Thời gian trong một đại kiếp là 16798 ngàn tỷ năm. Đức Phật đã tu hành và đắc quả vị Phật trong vô lượng đại kiếp trước, mà quý vị vẫn còn trong lục đạo. Vậy quý vị định luân hồi bao nhiêu tỷ năm nữa. Chỉ cần chúng ta hồi quang phản chiếu và bỏ ra một thời gian ngắn, chúng ta sẽ thoát khỏi luân hồi và có thể sống tới vô lượng đại kiếp.</p>
<p style="text-align: justify;">Hôm nay quý vị được bao nhiêu tuổi rồi? Thật ra nên hỏi rằng: Quý vị còn sống bao nhiêu năm nữa ?</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Phát Tâm Vô Thượng Bồ Đề</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/phat-tam-vo-thuong-bo-de/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 07 Sep 2019 02:35:13 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài Luận]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://langnghiem.com/?p=5870</guid>

					<description><![CDATA[Trong kinh Lăng Nghiêm, tâm này được gọi là tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><img loading="lazy" decoding="async" class="wp-image-5872 alignleft" src="http://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/09/bodhiLeave.jpg" alt="" width="307" height="308" srcset="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/09/bodhiLeave.jpg 400w, https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/09/bodhiLeave-150x150.jpg 150w, https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/09/bodhiLeave-300x300.jpg 300w" sizes="auto, (max-width: 307px) 100vw, 307px" /></p>
<p>Trong kinh Lăng Nghiêm, tâm này được gọi là tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác hay A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ-Đề tâm. Nói tóm tắc là Tâm Bồ Đề. Tại sao quý vị phải phát tâm Bồ Đề? Bởi vì nếu không pháp tâm Bồ Đề thì chúng ta sẽ bị nhiều thứ trên trần gian cám dỗ, và quý vị sẽ bị những tiền tài sắc đẹp trói buộc quý vị. Tất cả phàm phu vì ức tưởng phân biệt điên đảo chấp tướng nên có trói buộc. Vì động niệm hí luận nên có trói buộc. Vì thấy, nghe, hay, biết nên có trói buộc.</p>
<p>Khi đức Phật thuyết kinh Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội, các ma, ma dân và những người khác mang tâm ác, do vì sức oai thần của Thủ-lăng-nghiêm tam-muội nên đều bị trói buộc năm chỗ (2 tay, 2 chân và đầu). Lúc đó có một vị Bồ Tát tên Ma Giới Hạnh Bất Ô vì muốn độ các ma quỹ nên hiện thân tại cung ma và khuyên các ma hãy nên phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác thì sẽ được giải thoát sự trói buộc này.</p>
<p>Làm sao phát được Bồ Đề tâm? Tâm như thế nào mới gọi là Bồ Đề tâm?</p>
<p>Nói “phát Bồ Đề tâm” là nói tổng quát. Nếu nói tỉ mĩ ra thì gồm có mười thứ tâm. Mười thứ tâm nói ra ở đây đều là sự tướng cụ thể của Bồ Đề tâm.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Nhất giả: Ư chư chúng sanh, khởi ư đại từ, vô tổn hại tâm.</strong></p>
<p>(Một là đối với các chúng sanh, khởi tâm đại từ, không có tâm tổn hại)</p>
<p>Tâm từ bi được nêu lên đầu tiên. Phật pháp lấy từ bi làm gốc, phương tiện làm cửa. Hết thảy chư Phật, Bồ Tát tâm đều đại từ, đại bi, chẳng có tâm từ bi sẽ chẳng tương ứng. Vì thế, nhất định phải bồi dưỡng tâm từ bi của chính mình. Trong từ bi, tối trọng yếu là đối với hết thảy chúng sanh, nhất định chẳng có tâm tổn hại, chẳng được có ý niệm ấy. Nếu muốn làm tổn thương một chúng sanh thì lợi ích chân thật đối với chúng sanh ấy bị tổn hủy, chẳng còn có tâm từ bi nữa.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Nhị giả: Ư chư chúng sanh, khởi ư đại bi, vô bức não tâm.</strong></p>
<p>(Hai là đối với các chúng sanh, khởi lòng đại bi, không có tâm bức bách, làm khổ họ)</p>
<p>Chẳng nên áp bức chúng sanh, chẳng thể vì phân biệt ta người mà khởi lên phiền não. Nếu không, tâm bi của quý vị chẳng còn nữa. “Từ” là ban vui, “bi” là dẹp khổ. Phải giống như chư Phật Như Lai, thương xót hết thảy chúng sanh, thời thời khắc khắc, ở bất cứ nơi đâu, luôn mang lòng giúp đỡ chúng sanh phá mê, khai ngộ, lìa khổ, được vui! Những khổ gì? Khổ tam giới, khổ luân hồi. Thật sự giúp đỡ họ đoạn phiền não, mở mang trí huệ, niệm Phật vãng sanh, đó là cách thật sự thoát lìa luân hồi trong một đời này!</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Tam giả: Ư Phật chánh pháp, bất tích thân mạng, nhạo thủ hộ tâm.</strong></p>
<p>(Ba là đối với chánh pháp của Phật, chẳng tiếc thân mạng, tâm thích gìn giữ)</p>
<p>Đối với chánh pháp của đức Phật, hiện tại nếu quý vị tu học pháp môn Tịnh Độ, thì chánh pháp là năm kinh một luận, nhất định phải y giáo tu hành. Dẫu gặp bất cứ tai nạn nào, thậm chí tổn thất sanh mạng cũng chẳng hề tiếc, ta vẫn quyết định chẳng quay đầu, chẳng canh cải, vẫn giữ lòng tin kiên định như thế, cứ giữ chặt pháp môn này. Đối với người khác, cũng đem pháp môn này khuyên lơn, khích lệ, tự hành, dạy người sống trong chánh pháp.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Tứ giả: Ư nhất thiết pháp, phát sanh thắng nhẫn, vô chấp trước tâm.</strong></p>
<p>(Bốn là đối với hết thảy pháp, phát sanh tâm nhẫn thù thắng, không lòng chấp trước)</p>
<p>Tâm thứ ba trong phần trên là đối với sự chọn lựa tu tập của quý vị, giống như quý vị tu theo pháp môn Tịnh Độ thì tin tưởng vào pháp môn ấy, quyết định chẳng thay đổi. Nhưng đối với những bạn đồng học chẳng cùng một khoa hệ, tức là những người chẳng theo cùng một pháp môn, chẳng cùng tông phái, quý vị phải tôn kính, chẳng được phỉ báng đó nghe! Bởi thế, phải “phát sanh thắng nhẫn”. Thắng là thù thắng, Nhẫn là thừa nhận, chấp nhận, đồng ý. Pháp môn của họ cũng là pháp môn vô thượng, chẳng được ôm lòng chấp trước. Chấp pháp môn của mình là số một, pháp môn của người ta là số hai; mình thù thắng, người ta chẳng bằng mình, như vậy là quý vị “khen mình, chê người”.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Ngũ giả: Bất tham lợi dưỡng, cung kính, tôn trọng, tịnh ý lạc tâm.</strong></p>
<p>(Năm là chẳng tham lợi dưỡng, cung kính, tôn trọng, tâm giữ ý lạc thanh tịnh)</p>
<p>Chẳng tham lợi dưỡng là là một khuôn phép lớn lao đức Phật dạy răn chúng ta. Vừa nhiễm lợi dưỡng, tiền đồ bị hủy hoại ngay. Lợi dưỡng có vô lượng vô biên lỗi hại, chẳng được nhiễm. Bởi thế, người tu hành đời sống càng thanh bần càng tốt. Sống thanh bần sẽ chẳng lưu luyến thế giới này, tâm xuất ly thường sanh khởi.  Điều ấy rất tốt, đạo tâm tăng trưởng. Nếu tham chấp lợi dưỡng, A Di Đà Phật đến đón quý vị, quý vị vẫn chẳng bỏ được đâu! Ở đây, kinh dạy quý vị phải buông bỏ lợi dưỡng, phiền lắm! Cũng đừng tham chấp sự cung kính, tôn trọng tham chấp, quyết định chẳng được mong cầu, dù người khác rất cung kính, rất tôn trọng. Nếu quý vị có thể lìa bỏ lợi dưỡng, cung kính, tôn trọng, thủy chung gìn giữ pháp hỷ thanh tịnh, cái “ý lạc” hay sự vui thích nơi , ấy gọi là “pháp hỷ sung mãn”.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Lục giả: Cầu Phật chủng trí, ư nhất thiết thời, vô vong thất tâm.</strong></p>
<p>(Sáu là cầu Phật chủng trí, trong hết thảy thời, tâm chẳng quên mất)</p>
<p>Đây đúng thực là mục tiêu, phương hướng học Phật của chúng ta, mỗi thời, mỗi khắc đều chẳng sai lệch. Mục tiêu gì? “Cầu Phật chủng trí”. “Chủng trí” là A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề (Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác). Chúng ta học Phật vì lẽ gì? Chính là vì điều này, chứ chẳng vì cái gì khác. Chúng ta đạt đến Chánh Giác, tức là ngang với A La Hán; đạt đến Chánh Đẳng Chánh Giác chính là Bồ Tát, đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác là viên mãn thành Phật. Đấy là mục tiêu, phương hướng học Phật chánh xác, chẳng được sai lệch mảy may. Vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới cũng vì lẽ này. Bởi lẽ, trong thế giới này chướng ngại quá nhiều, hoàn cảnh tu học chẳng tốt, chẳng dễ gì thành tựu, nên đến Tây Phương Cực Lạc thế giới để thay đổi hoàn cảnh, vẫn chỉ vì việc này.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Thất giả: Ư chư chúng sanh, tôn trọng tu kính, vô hạ liệt tâm.</strong></p>
<p>(Bảy là đối với các chúng sanh tôn trọng, cung kính, không có tâm hèn kém)</p>
<p>Chúng ta dùng tâm tư, thái độ nào để đối xử với người khác, để đối đãi hết thảy chúng sanh? Chẳng phân biệt, phải dùng tâm thanh tịnh, bình đẳng để tu.</p>
<p>“Tôn trọng”: Dối với hết thảy chúng sanh đều tôn trọng, cung kính, đều chẳng được có “tâm hèn kém”. “Hèn kém” là khinh mạn, coi rẻ.</p>
<p>&#8220;Tu kính&#8221; thì kính là gì? Kính là tánh đức, quý vị thấy trong mười đại nguyện vương của Phổ Hiền Bồ Tát, nguyện thứ nhất là “lễ kính chư Phật”, đó là tu lễ kính chư Phật, tức là lễ kính chúng sanh hiểu theo nghĩa rộng. Hết thảy pháp đều do các duyên hòa hợp mà sanh. Thân thể của động vật và thân thể của chúng ta đều do các duyên hòa hợp mà sanh, thực vật cũng do các duyên hòa hợp mà sanh. Bàn, ghế tựa, ghế dài vẫn là các duyên hòa hợp mà sanh. Cho thấy: Đối với người, đối với vật, đối với sự đều phải tôn trọng, cung kính, đấy là học Phật!</p>
<p>Tâm ấy là tâm Bồ Đề, tâm giác ngộ. Tâm giác ngộ nhất định phải làm như thế, chẳng làm được như thế thì chính là mê hoặc, điên đảo, chưa giác ngộ. Người giác ngộ nhất định phải tôn trọng, cung kính người khác.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Bát giả: Bất trước thế luận, ư Bồ Đề phần, sanh quyết định tâm.</strong></p>
<p>(Tám là chẳng dính mắc thế luận, sanh tâm quyết định nơi Bồ Đề phần)</p>
<p>“Thế luận” là học thuật, ngôn luận thế gian. Ở đây, kinh dạy “chẳng dính mắc”, chẳng có nghĩa là chẳng được tiếp xúc, chẳng được xem đọc những thứ ấy; mà chỉ có nghĩa là “chớ có tham chấp”. Nếu tham chấp sẽ sanh lòng yêu thích những thứ ấy, rất phiền! Chẳng nên yêu thích, chỉ nên tùy duyên. Nếu tâm yêu thích, tham chấp thì gọi là “phan duyên”, phan duyên là hỏng rồi. Tùy duyên là tốt vì là tùy hỷ công đức vậy.</p>
<p>“Với Bồ Đề phần”, Bồ Đề là giác, chẳng mê! “Trước” là mê, tham trước là mê. Chẳng được mê đó nghe! Giác chẳng mê, đó là “sanh tâm quyết định”.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Cửu giả: Chủng chư thiện căn, vô hữu tạp nhiễm, thanh tịnh chi tâm.</strong></p>
<p>(Chín là trồng các căn lành, tâm thanh tịnh chẳng có tạp nhiễm)</p>
<p>&#8220;Thiện căn&#8221; theo pháp thế gian gồm có ba điều: vô tham, vô sân, vô si, đó gọi là ba thiện căn. Hết thảy thiện pháp thế gian xuất sanh từ đấy, bởi thế gọi là “ba thiện căn”. Đại pháp xuất thế gian, ta thường gọi là thiện căn của Bồ Tát. Thiện căn của Bồ Tát chỉ gồm một điều: Tinh Tấn. Các vị nhất định phải nhớ kỹ chữ “tinh tấn”: Tinh là thuần nhất không tạp. Chúng ta học Phật, tu Tịnh Độ, đối với năm kinh một luận, đọc tụng, thọ trì, vì người khác diễn nói là tinh tấn.</p>
<p>&#8220;Vô hữu tạp nhiễm&#8221; là chẳng có xen tạp những thứ thuộc tông phái khác vào để siêng tu,đó gọi là loạn tấn, tạp tấn, chứ chẳng phải là tinh tấn. Bởi lẽ, tinh tấn là thiện căn của Bồ Tát, nên nhất định có thành tựu. Điều này cho thấy thâm nhập một môn rất trọng yếu, thâm nhập một môn gọi là tinh tấn</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Thập giả: Ư chư Như Lai xả ly chư tướng, khởi tùy niệm tâm.</strong></p>
<p>(Mười là đối với các Như Lai bỏ lìa các tướng, khởi tâm tùy niệm)</p>
<p>Câu cuối cùng này là đạt đến cứu cánh viên mãn. Chẳng những phải xa lìa các tướng, mà ngay cả Phật tướng cũng phải lìa thì tâm mới rỗng sạch. Lúc quý vị làm được như thế, quý vị mới có thể niệm đến Lý Nhất Tâm Bất Loạn; chẳng làm được điều này, chỉ có chín điều trước, thì quý vị có thể niệm đến Sự Nhất Tâm Bất Loạn. Điều này chính là như kinh Kim Cang nói:</p>
<p>“Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng”<br />
(Phàm cái gì có tướng đều là hư vọng).</p>
<p>Tướng của Tây Phương Cực Lạc thế giới cũng là hư vọng, cũng chớ nên chấp trước.</p>
<p>“Pháp còn nên xả, huống hồ là phi pháp”.</p>
<p>Chữ “xả” có nghĩa là bỏ ý niệm chấp trước, bỏ cái tâm chấp trước. Đừng nói chúng ta phải ly pháp, ngay cả Đẳng Giác Bồ Tát vẫn còn y pháp cơ mà! Lià tướng là nói tâm lià tướng, không có chấp vào tướng</p>
<p style="text-align: center;">=======</p>
<p>Nay quý vị đã hiểu rõ ý nghiã của &#8220;Tâm Bồ Đề&#8221;, hãy pháp tâm bồ đề, vì tâm Bồ Đề là việc đầu tiên cho việc tu hành Bồ Tát đạo. Trong kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Vào Pháp Giới, khi Thiện tài đồng tử đi đến gặp 53 vị Bồ Tát, câu đầu tiên ngài bạch rằng: &#8220;Bạch đức Thánh ! Con đã phát tâm Vô thượng Bồ Đề, mà chưa biết Bồ Tát thế nào học Bồ Tát hạnh, thế nào tu Bồ Tát đạo ?&#8221;</p>
<p>Đó cho chúng ta thấy, muốn tu hành Bồ Tát đạo, thì việc đầu tiên là phát tâm Vô thượng Bồ Đề. Cho nên chúng tôi vì trăm vạn A tăng kỳ hạnh phương tiện như vậy, mà phát tâm đại bồ đề. Bồ Tát hạnh vào khắp tất cả pháp, vì đều chứng đắc thật tướng các pháp. Bồ Tát hạnh vào khắp tất cả cõi, vì nghiêm tịnh cõi nước chư Phật thanh tịnh. Nghiêm tịnh hết tất cả thế giới, thì nguyện của chúng tôi mới hết, cho đến diệt trừ hết phiền não tập khí của tất cả chúng sinh, thì nguyện của chúng tôi mới viên mãn. Đó là pháp môn chẳng thối tâm bồ đề, cũng là bất thối trụ, trong thập trụ</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Thị Hành Thất Bộ</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/phatbaybuoc/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 03 May 2019 14:40:23 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài Luận]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://langnghiem.com/?p=5701</guid>

					<description><![CDATA[Khi đức Phật sanh ra đời, đức Phật thị hành thất bộ (đi bảy bước)....]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><img loading="lazy" decoding="async" class="alignleft wp-image-5705" src="http://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/05/sevenstep.png" alt="" width="289" height="176" srcset="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/05/sevenstep.png 591w, https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/05/sevenstep-300x183.png 300w" sizes="auto, (max-width: 289px) 100vw, 289px" />Khi đức Phật sanh ra đời, đức Phật thị hành thất bộ (đi bảy bước). Khi bước đến bước thứ bảy, ngài chỉ tay lên trời và nói:</p>
<p style="text-align: justify;">“Thiên thượng thiên hạ<br />
Duy ngã độc tôn”.</p>
<p style="text-align: justify;">Bài viết hôm nay chúng ta sẽ luận về ý nghiã của câu nói trên và ý nghiã của bảy bước đi.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>1. “<span style="color: #993300;">Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn</span>”</strong>.</p>
<p style="text-align: justify;">Tất cả chúng sinh luân hồi trong 6 cõi. Còn các vị đắc đạo thì thoát ra sáu nẽo luân hồi và an vị trong 4 cõi còn lại  6 cõi + 4 cõi = 10 cõi.  Mười cõi đó là cõi:</p>
<p style="text-align: justify;">  Phật, Bồ Tát, Độc Giác, Thanh Văn, Trời, A Tu La, <strong>Người</strong>, Súc Sanh, Ngạ quỹ và Địa ngục.</p>
<p style="text-align: justify;">&#8220;<strong>Thiên thượng</strong>&#8221; &#8211; Đức Phật giơ tay phải lên trời có nghĩa là tức cả chúng sanh cư ngụ ở trên cõi người. Sáu cõi nằm phía trên cõi người là cõi Phật, Bồ Tát, Độc Giác, Thanh Văn, Trời, A Tu La. </p>
<p style="text-align: justify;">&#8220;<strong>Thiên hạ</strong>&#8221; &#8211; Cánh tay trái của đức Phật chỉ xuống dưới đất có nghĩa là tức cả chúng sanh cư ngụ ở phần dưới cõi thiên. Bốn cõi nằm phía dưới cõi thiên là cõi Người, Súc Sanh, Ngạ quỹ và Địa ngục. </p>
<p style="text-align: justify;">&#8220;<strong>Duy ngã</strong>&#8221; &#8211; dịch là chỉ có cái ngã . Chữ &#8220;ngã&#8221; có rất nhiều ý nghĩa, tùy theo người sử dụng.</p>
<p style="text-align: justify;">&#8211; Đối với những người trong sáu nẽo luân hồi, chữ &#8220;ngã&#8221; nầy dịch là &#8220;tôi&#8221;. Chúng sanh đầy tham sân si, cho nên mọi thứ đều muốn dành riêng cho mình, cho nên lấy cái tôi làm trọng. Suốt ngày âu yếm và trang hoàng cái thân hôi hám. Duy ngã đối với họ là chỉ một mình tôi thôi, không còn ai nữa.</p>
<p style="text-align: justify;">&#8211; Đối với các bậc Thanh Văn, Độc Giác. Họ đã tu hành, đắc đạo, có thể biến hóa một cái thân khác khi già. Họ không còn bám liếu cái thân ô nhiễm này nữa. Đối với các bậc trong hai cõi này, chữ ngã đã trở thành vô ngã. Duy ngã dịch là Vô ngã</p>
<p style="text-align: justify;">&#8211; Còn các bậc tu hành theo đại thừa, những bậc trong cõi Bồ Tát. Họ không chấp vào cái tôi, và cũng không chấp và không phải của tôi. Họ sống với cái tâm chân thật. Đối với những bậc tu hành nầy, chữ &#8220;duy ngã&#8221; có nghĩa là chỉ có cái chân tâm thường trụ không sanh không diệt</p>
<p style="text-align: justify;">&#8220;<strong>Độc tôn</strong>&#8221; &#8211; dịch là tôn quý nhất</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu quý vị sống với cái ngã, cái tôi, lòng tham không đái. Câu &#8220;duy ngã độc tôn&#8221; sẽ trở thành chỉ một mình tôi thôi, chẳng lẻ trên thế gian có ai lại tôn quý hơn tôi. Không có ai hết, cho nên tôi muốn có mọi thứ: tiền tài, nhan sắc, phú quý.  Nếu quý vị tu hành theo tiểu thừa, cái ngã đã trở thành vô ngã. Cho nên câu &#8220;duy ngã độc tôn&#8221; sẽ trở thành vô ngã. Mà vô ngã thì đâu có đi với chữ độc tôn. Cho nên các vị sẽ cho rằng trên thế gian nầy không có cái gì tôn quý hết. Những vị đó sẽ không hiểu được trong cái không lại có cái bất không. Trong cái vô ngã lại có cái chân ngã.</p>
<p style="text-align: justify;">&#8220;<strong>Thiên thượng thiên hạ, Duy ngã độc tôn</strong>” có nghĩa là tất cả chúng sanh trong mười cõi đều có cái tâm thường trụ không sanh không diệt, cái tâm Phật. Và cái tâm Phật đó là cái tôn quý nhất. Mười phương chư Phật, Phật Phật đồng nhau, bình đẳng. Chẳng phải nói ta là độc nhất vô nhị, cũng chẳng chuyên chế độc đoán. Ai ai cũng có thể thành Phật. Chẳng riêng gì một mình Ðức Phật Thích Ca là Phật, còn những chúng sinh khác thì chẳng cho thành Phật.  Hiện tại, chẳng phải chỉ có Phật mới có tri kiến của Phật. Mà tất cả chúng sinh đều có tri kiến của Phật. Chỉ tạm thời chúng sinh chẳng minh bạch đạo lý nầy, chẳng đắc được sức lực nầy. Cho nên, Phật vì chỉ thị cho tất cả chúng sinh tri kiến của Phật, mà giáng sanh tại thế giới Ta Bà nầy.</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Phật nói ra vì muốn khiến cho chúng sinh ngộ tri kiến của Phật. Nói về lý thì tức nhiên minh bạch, nhưng chính mình cũng phải giác ngộ. Mình chẳng giác ngộ, chỉ cầu nghe thì trong tâm chẳng lãnh thọ chân chánh. Phật muốn khiến cho tất cả chúng sinh giác ngộ tri kiến Phật mà mình vốn có, cho nên hiện ra nơi đời. Đức Phật muốn chúng sinh hiểu được ai ai  cũng chân chánh giác ngộ, nhưng chưa chứng đắc cho nên hiện tại Phật khiến cho tất cả chúng sinh vào tri kiến của Phật. Vào tức là chứng quả, chứng được cảnh giới của Phật, do đó đại sự nhân duyên của Phật, tức là muốn khiến cho chúng sinh: khai, thị, ngộ, nhập, tri kiến của Phật, liễu sinh thoát tử, một khi liễu sinh tử, thì đại sự sẽ hoàn tất. Ðại sự hoàn tất, thì chẳng còn việc làm. Cho nên Phật nói đạo lý nầy xong rồi thì muốn vào Niết Bàn.</p>
<p style="text-align: justify;">Như Lai chỉ dùng một Phật thừa. Mười phương chư Phật Như Lai cũng chỉ dùng một Phật thừa duy nhất, để giáo hóa chúng sinh. Vì chúng sinh mà nói pháp, chẳng có đại thừa hoặc tiểu thừa. Hai hoặc ba tức là đại thừa, tiểu thừa, Thanh Văn thừa, Duyên Giác thừa và Bồ Tát thừa. Chẳng có các thừa ấy, cũng chẳng có thừa nào khác. Chẳng có đại thừa, chẳng có tiểu thừa, cũng chẳng có Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát thừa vậy. Những thừa đó chỉ là phương tiện dẫn dắt chúng sanh đi tới con đường giác ngộ. Vậy đó là thừa nào? Tức là duy nhất một, Phật thừa.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #993300;">2. &#8220;<strong>Thị hành thất bộ</strong>&#8220;</span> &#8211; có nghiã là thị hiện đi bảy bước. Tất cả các vị Bồ Tát Ma Ha Tát ở trời Ðâu Suất khi giáng trần để tu hành thành Phật quả, đều thị hiện bảy bước lúc sơ sinh. Trong tương lai, đức Di Lặc Bồ Tát cũng thị hiện như vậy. Tại sao các ngài thị hiện như vậy. Trong kinh Hoa Nghiêm, phẩm Ly Thế Gian, Bồ Tát Phổ Hiền trả lời Bồ Tát Phổ Huệ về các pháp quả dụng viên mãn, bậc diệu giác. Trong những câu hỏi, có một câu mà Bồ Tát Phổ Huệ hỏi Bồ Tát Phổ Hiền:</p>
<p style="text-align: justify;"><strong> Kinh Văn:  &#8220;Hà cố thị hành thất bộ?&#8221;</strong></p>
<p style="text-align: justify;">  Nghiã là: Cớ gì hiện đi bảy bước ?</p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Bồ Tát Phổ Hiền trả lời như sau:</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Kinh Văn: &#8220;Phật tử! Bồ-Tát Ma-ha-tát dĩ thập sự cố, thị hành thất bộ. Hà đẳng vi thập? sở vị:</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Giảng:</strong> Các vị đệ tử của Phật ! Đại Bồ Tát do mười việc, mà thị hiện đi bảy bước. Một tay chỉ trời, một tay chỉ đất, nói rằng : Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn. Đó là thị hiện cảnh giới lúc Bồ Tát sơ sinh. Những gì là mười ? Đó là :</p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Kinh Văn: Hiện Bồ Tát lực cố, thị hành thất bộ</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Giảng:</strong> 1. Vì hiện sức lực của Bồ Tát, mà thị hiện đi bảy bước.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Kinh Văn: Hiện thí thất tài cố, thị hành thất bộ</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Giảng:</strong> 2. Vì hiện bố thí bảy Thánh tài, mà thị hiện đi bảy bước. Bảy Thánh tài là :</p>
<ol style="text-align: justify;">
<li>Tín tài</li>
<li>Tấn tài</li>
<li>Giới tài</li>
<li>Tàm tài</li>
<li>Văn tài</li>
<li>Xả tài</li>
<li>Định tài.</li>
</ol>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Kinh Văn: Mãn địa thần nguyện cố, thị hành thất bộ</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Giảng:</strong> 3. Vì viên mãn nguyện của địa thần, mà thị hiện đi bảy bước.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Kinh Văn: Hiện siêu tam giới tướng cố, thị hành thất bộ</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Giảng:</strong> 4. Vì hiện vượt khỏi ba cõi mà thị hiện đi bảy bước. Ba cõi đó là cõi dục, cõi sắc &amp; cõi vô sắc</p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Kinh Văn: Hiện Bồ Tát tối thắng hành siêu quá Tượng Vương, ngưu vương, Sư tử Vương hành cố, thị hành thất bộ</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Giảng:</strong> 5. Vì hiện hạnh tối thù thắng của Bồ Tát, vượt qua hạnh voi chúa, trâu chúa, sư tử chúa, mà thị hiện đi bảy bước.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Kinh Văn: Hiện Kim cương địa tướng cố, thị hành thất bộ</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Giảng:</strong> 6. Vì hiện tướng bậc kim cang, mà thị hiện đi bảy bước.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Kinh Văn: Hiện dục dữ chúng sanh dũng mãnh lực cố, thị hành thất bộ</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Giảng:</strong> 7. Vì hiện muốn ban cho chúng sinh sức dũng mãnh, mà thị hiện đi bảy bước.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Kinh Văn: Hiện tu hành thất giác bảo cố, thị hành thất bộ</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Giảng:</strong> 8. Vì hiện tu hành đạo bảy giác bảo, mà thị hiện đi bảy bước. Bảy giác bảo đó là Trạch pháp giác, Niệm giác, Tinh tấn giác, Hỷ giác, Khinh an giác, Ðịnh giác và Xả giác.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Kinh Văn: Hiện sở đắc Pháp bất do tha giáo cố, thị hành thất bộ</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Giảng:</strong> 9. Vì hiện đắc pháp không do người khác dạy, mà thị hiện đi bảy bước.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Kinh Văn: Hiện ư thế gian tối thắng vô bỉ cố, thị hành thất bộ.</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Giảng:</strong> 10. Vì hiện nơi thế gian tối thắng không ai sánh bằng, mà thị hiện đi bảy bước.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Kinh Văn: Thị vi thập. Phật tử! Bồ Tát vi điều phục chúng sanh cố, như thị thị hiện.</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Giảng:</strong> Đó là mười pháp đi bảy bước của Bồ Tát. Các vị Phật tử ! Bồ Tát vì điều phục tất cả chúng sinh, nên mới thị hiện cảnh giới đi bảy bước như vậy.</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Pháp Hoa Tam Muội</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/phap-hoa-tam-muoi/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 29 Apr 2019 18:50:59 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Tam Muội]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://langnghiem.com/?p=5335</guid>

					<description><![CDATA[Pháp là Phật Pháp cũng là Diệu Pháp. &#8220;Diệu Pháp&#8221; tức là pháp huyền diệu,...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><span style="color: #993300;"><strong>Pháp</strong> </span>là Phật Pháp cũng là Diệu Pháp. &#8220;Diệu Pháp&#8221; tức là pháp huyền diệu, vi diệu, thâm áo không thể dò.</p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #993300;"><strong>Hoa</strong> </span>là Liên Hoa hay là hoa sen để làm ví dụ. Có nghĩa là dùng diệu pháp chi phối liên hoa, làm đề mục cho tam muội nầy</p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #993300;"><strong>Tam muội</strong></span> có nghĩa là bất động hay là định</p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="color: #993300;">Pháp Hoa Tam Muội</span></strong> là một trong những tam muội trong bộ kinh Pháp Hoa. Tam muội nầy dùng Diệu Pháp Liên Hoa làm tên. Diệu Pháp là pháp, Liên Hoa là ví dụ. Tam muội này rất là vi diệu thâm sâu, một số người không dễ gì hiểu nổi, cho nên dùng hoa để ví dụ, do đó tam muội nầy lấy pháp và dụ làm tên.</p>
<p style="text-align: justify;">Hoa có nhiều loại khác nhau, có loại “hoa dại không có quả”, chỉ có hoa mà chẳng có quả, là ví dụ những người buông lung, cứ nói dối, chỉ nói mà không làm, cũng là ví dụ cho ngoại đạo. Vì những bàng môn tả đạo, mặt ngoài trông có vẻ rất là thần thánh, họ cũng rất dụng công tu hành, tu đủ thứ sự khổ hạnh, nhưng chẳng kết quả, cuối cùng chẳng thành công, đó cũng như hoa dại chẳng có quả.</p>
<p style="text-align: justify;"><img loading="lazy" decoding="async" class="alignleft  wp-image-5360" src="http://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/04/blackberry2.jpg" alt="" width="99" height="80" />Có thứ “hoa có rất nhiều quả”, đó là ví dụ phàm phu cúng dường cho cha mẹ, sư trưởng, đủ thứ hành vi hiếu thuận. Vì cúng dường cha mẹ, cho nên được rất nhiều công. Những công này, tương lai cũng sẽ kết rất nhiều quả, hoặc là sinh về cõi trời, hoặc là sinh vào cõi người làm người giàu có, đó thật là một hoa có nhiều quả.</p>
<p style="text-align: justify;">Lại có, “một hoa kết một quả”, đó là biểu thị Duyên Giác. Duyên Giác tu hạnh viễn ly, tu pháp môn này, thì vào trong rừng sâu núi thẳm, cũng chỉ đắc được quả vị Duyên Giác.</p>
<p style="text-align: justify;"><img loading="lazy" decoding="async" class="alignleft  wp-image-5357" src="http://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/04/fig.jpg" alt="" width="79" height="63" />Lại có, “trước quả sau hoa”, như Tu Ðà Hoàn, họ đã chứng quả Tu Ðà Hoàn, nhưng về sau họ vẫn cần tiếp tục tu hành.</p>
<p style="text-align: justify;"> </p>
<p style="text-align: justify;">Lại có, “trước hoa sau quả”, đây là biểu thị Bồ Tát thừa, Bồ Tát thì trước phải tu hành, về sau mới đắc được quả vị Bồ Tát. Song, những thứ hoa đã nói ở trên, không thể ví dụ với diệu pháp được, cũng không thể sánh với diệu pháp, chỉ có hoa sen mới thật sự có thể ví dụ cho diệu pháp, vì hoa sen là hoa quả cùng lúc, biểu thị tức quyền tức thật.</p>
<p style="text-align: justify;"><img loading="lazy" decoding="async" class="alignleft  wp-image-5328" src="http://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/04/lotus.jpg" alt="" width="104" height="76" srcset="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/04/lotus.jpg 306w, https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/04/lotus-300x221.jpg 300w" sizes="auto, (max-width: 104px) 100vw, 104px" />Hoa quả cùng lúc vừa nói ở trên, mới biểu thị khai quyền hiển thật, vừa có hoa lại có quả, quyền là hoa, thật là quả, song, duy thật thí quyền, sao lại có hoa? Hoa là vì chấp quả mà có. Khi Phật nói Kinh Hoa Nghiêm, A Hàm, Phương Ðẳng, Bát Nhã đều vì nói Kinh Pháp Hoa, mới nói những Kinh điển đó. Pháp được nói ra trước là quyền pháp (pháp phương tiện), chứ chẳng phải là thật pháp, đến hội Pháp Hoa mới là thật pháp, thật giáo. Ðem quyền giáo triển khai, để hiện thị ra nhất thừa thật pháp,</p>
<p style="text-align: justify;">Loài hoa tượng trưng trong Pháp Hoa Tam Muội là hoa sen. Bởi vì hoa nở sen hiện, cũng gọi là khai quyền hiển thật. Hoa rụng sen thành, tức gọi là bỏ quyền lợi thật, xả bỏ quyền pháp, tuyên lưu ra diệu pháp chân thật. Thật giáo thượng thừa tức là viên đốn nhất thừa.</p>
<p style="text-align: justify;">Hoa sen là một thứ hoa hy hữu nhất. Thứ hoa này, thuộc về: hoa quả cùng lúc ; hoa nở thì sen hiện, hoa rụng thì sen thành. Rễ của hoa sen ở dưới bùn, cọng thì ở trong nước, còn hoa thì vượt lên khỏi mặt nước. Rễ ở trong bùn là biểu thị phàm phu, cọng ở trong nước là biểu thị hàng nhị thừa. Phàm phu chấp về có, ở trong bùn là ví dụ có ; nhị thừa thì chấp không, cọng hoa ở trong nước là biểu thị không. Hoa sen ở trên mặt nước là vượt ra không, có ; là biểu thị trung đạo và liễu nghĩa. Tức chẳng rơi về không, cũng chẳng rơi về có. Không, có gọi là hai bên, chẳng chấp vào hai bên, là trung đạo liễu nghĩa.</p>
<p style="text-align: justify;">Sao lại nói hoa sen là biểu thị sự trung đạo liễu nghĩa, đại giáo viên đốn? Vì một khi hoa sen nở, thì có sen, đó gọi là biểu thị nhân quả không hai ; nhân là quả, quả cũng là nhân, như trồng nhân Phật thì kết quả Phật. Mà hoa quả cùng lúc, cũng là biểu thị khai quyền hiển thật. Hoa sen nở thì biểu thị khai quyền, pháp quyền xảo phương tiện, sen hiện ra là biểu thị thật pháp; là chân thật không hư, dùng pháp thật tướng làm thể.</p>
<p style="text-align: justify;">Quý vị muốn tu hành Pháp hoa tam muội thì phải hiểu rằng nhân quả không hai. Nhân tức là quả, quả tức là nhân. Nhân quả cùng lúc, cho nên ví như hoa sen. Hoa sen là hoa nở sen hiện, hoa tàn thì sen thành. Tức là quyền thật không hai. Quyền là quyền xảo phương tiện, thật là chân thật bất hư, vì thật thí quyền, vì thật pháp mới dùng pháp quyền xảo phương tiện. Khai quyền hiển thật, khai mở quyền rồi, thì hiện ra thật. Tức là bổn tích không hai. Bổn là sự lý rất lâu xa về trước, tích là thật hiện sinh. Vì nhân quả không hai, quyền thực không hai, bổn tích không hai, cho nên gọi là Pháp hoa tam muội.</p>
<p style="text-align: justify;">Hoa sen nở và mang quả đồng thời cũng đại diện cho &#8220;sự mở ra tạm thời để biểu lộ sự thật. Sự nở hoa của hoa sen tượng trưng cho sự&#8221; mở ra &#8220;của pháp tạm thời. Pháp tạm thời đề cập đến các thiết bị hiện có và Pháp thực là Pháp chân chính, &#8220;không giả&#8221;, chân lý của dấu ấn chân thật.</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Kinh Phật &#8211; Mantra &#038; Sutra</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/thu-bai-moi/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 06 Apr 2019 16:45:26 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài Luận]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://langnghiem.com/?p=4793</guid>

					<description><![CDATA[Ngũ thập tri thiên mệnh có nghiã là 50 tuổi mới thấu hiểu được số...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><img loading="lazy" decoding="async" class="alignleft  wp-image-4830" src="http://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/04/translation.jpg" alt="" width="206" height="169" />Ngũ thập tri thiên mệnh có nghiã là 50 tuổi mới thấu hiểu được số mệnh của trời ban cho. Vậy thiên mệnh của chúng tôi là gì? Đó là mang Phật Pháp tới mọi người trên toàn thế giới. Trong những năm kế tiếp, chúng tôi sẽ bắt đầu dịch những kinh từ Việt Văn sang Anh Văn.</p>
<p>Phần Việt Văn trên website nầy cũng khá đầy đủ để cho quý vị tham khảo để tu bổ thêm trên con đường tu hành. Nếu quý vị mỗi ngày đọc 20 trang kinh trên đây, quý vị cũng phải tốn kém ít nhất là 10 năm mới đọc hết những trang kinh mà chúng tôi đã đưa lên. Và trong khi đợi quý vị đọc hết phần Việt Văn trên website nầy, chúng tôi sẽ dùng thời gian đó để dịch những cuốn kinh sang tiếng Anh. Công việc dịch kinh không phải là một chuyện nhỏ,  không thể làm xong trong vài ngày, nhưng đó là tâm nguyện và cũng là con đường hành trì tinh tấn ba la mật.</p>
<p>Quý vị đọc kinh, chúng tôi dịch kinh đánh máy. Mọi người tu hành và hành trì tinh tấn ba la mật. Hãy cố gắng tu hành.</p>
<p>Nam Mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật.</p>
<p style="text-align: center;">==</p>
<p style="text-align: center;"><em><span style="font-size: 24px; color: #ff6600;">Have fun doing it and you&#8217;ll make fast progress !!!</span></em></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Thế Giới Hải Hoa Tạng</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/the-gioi-hai-hoa-tang/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 20 Mar 2019 16:45:01 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài Luận]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://langnghiem.com/?p=4772</guid>

					<description><![CDATA[Cửu hành tinh (Trái đất + 8 hành tinh) quay tròn chung quang mặt trời...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><a href="http://kinhduong.com/wordpress/wp-content/uploads/2016/04/earth.jpg" rel="attachment wp-att-356"><img loading="lazy" decoding="async" class="size-medium wp-image-356 alignleft" src="http://kinhduong.com/wordpress/wp-content/uploads/2016/04/earth-300x148.jpg" alt="earth" width="300" height="148" /></a>Cửu hành tinh (Trái đất + 8 hành tinh) quay tròn chung quang mặt trời làm thành một thế giới. Nhiều thế giới tụ hợp lại thành một tiểu thế giới.</p>
<p>1000 tiểu thế giới như vậy quay tròn chung quang núi Tu Di làm thành một trung thế giới.</p>
<p><a href="http://kinhduong.com/wordpress/wp-content/uploads/2016/04/milkyWay.jpg" rel="attachment wp-att-357"><img loading="lazy" decoding="async" class="size-medium wp-image-357 alignright" src="http://kinhduong.com/wordpress/wp-content/uploads/2016/04/milkyWay-300x149.jpg" alt="milkyWay" width="300" height="149" /></a>1000 trung thế giới quay tròn làm thành một đại thiên thế giới. Được gọi là tam thiên đại thiên thế giới. Thế giới nầy được gọi là thế giới Ta Ba và có vị Phật làm giáo chủ tức là Thanh Tịnh Pháp Thân Tỳ Lô Giá Na Phật Thế Tôn, đang giáo hóa chúng sinh.</p>
<p>Những thế giới khác gần chúng ta nhất gồm có 19 thế giới. 7 thế giới nằm phía trên thế giới Ta Bà. 12 thế giới nằm phiá dưới thế giới Ta Bà. Tổng cộng là 20 thế giới, và mỗi thế giới có một vị Phật giáo hoá chúng sinh</p>
<p><center><span style="color: #ff6600;"><strong>20 &#8211; Thế giới: Diệu Bảo Diễm</strong></span><br />
Phật &#8211; Phước Ðức Tướng Quang Minh<br />
<span style="color: #ff6600;">19 &#8211; <strong>Thế giới: Thanh Tịnh Quang Phổ Chiếu</strong></span><br />
Phật &#8211; Phổ Chiếu Pháp Giới Hư Không Quang<br />
<span style="color: #ff6600;"><strong>18- Thế giới: Ly Trần</strong></span><br />
Phật &#8211; Vô Lượng Phương Tiện Tối Thắng Tràng<br />
<span style="color: #ff6600;"><strong>17- Thế giới: Bảo Trang Nghiêm Tạng</strong></span><br />
Phật &#8211; Vô Ngại Trí Quang Minh Biến Chiếu Thập Phương<br />
<span style="color: #ff6600;"><strong>16 &#8211; Thế giới: Thanh Tịnh Quang Biến Chiếu</strong></span><br />
Phật &#8211; Thanh Tịnh Nhật Công Ðức Nhãn<br />
<span style="color: #ff6600;"><strong>15 &#8211; Thế giới: Chúng Diệu Quang Ðăng</strong></span><br />
Phật &#8211; Bất Khả Tồi Phục Lực Phổ Chiếu Tràng<br />
<span style="color: #ff6600;"><strong>14 &#8211; Thế giới: Tịch Tĩnh Ly Trần Quang</strong></span><br />
Phật &#8211; Biến Pháp Giới Thắng Âm<br />
<span style="color: #ff0000;"><strong>13 &#8211; Thế giới: Ta Bà</strong><br />
<span style="color: #000000;">Thích Ca Mâu Ni Phật &#8211; Thanh Tịnh Pháp Thân Tỳ Lô Giá Na</span></span><br />
<center><span style="color: #ff6600;"><strong>12 &#8211; Thế giới: Quang Minh Chiếu Diệu</strong></span><br />
Phật &#8211; Siêu Thích Phạm<br />
<span style="color: #ff6600;"><strong>11 &#8211; Thế giới: Hằng Xuất Hiện Ðế Thanh Bảo Quang Minh</strong></span><br />
Phật &#8211; Vô Lượng Công Ðức Pháp<br />
<span style="color: #ff6600;"><strong>10 &#8211; Thế giới: Kim Cang Tràng</strong></span><br />
Phật &#8211; Nhất Thiết Pháp Hải Tối Thắng Vương<br />
<span style="color: #ff6600;"><strong>9 &#8211; Thế giới: Xuất Diệu Âm Thanh</strong></span><br />
Phật &#8211; Thanh Tịnh Nguyệt Quang Minh Tướng Vô Năng Tồi Phục<br />
<span style="color: #ff6600;"><strong>8 &#8211; Thế giới: Xuất Sinh Oai Lực Ðịa</strong></span><br />
Phật &#8211; Quảng Ðại Danh Xưng Trí Hải Tràng<br />
<span style="color: #ff6600;"><strong>7 &#8211; Thế giới: Chúng Hoa Diễm Trang Nghiêm</strong></span><br />
Phật &#8211; Hoan Hỷ Hải Công Ðức Danh Xưng Tự Tại Quang<br />
<span style="color: #ff6600;"><strong>6 &#8211; Thế giới: Tịnh Diệu Quang Minh</strong></span><br />
Phật &#8211; Phổ Quang Tự Tại Tràng<br />
<span style="color: #ff6600;"><strong>5 &#8211; Thế giới: Phổ Phóng Diệu Hoa Quang</strong></span><br />
Phật &#8211; Hương Quang Thiện Lực Hải<br />
<span style="color: #ff6600;"><strong>4 &#8211; Thế giới: Chủng Chủng Quang Minh Hoa Trang Nghiêm</strong></span><br />
Phật &#8211; Kim Cang Quang Minh Vô Lượng Tinh Tấn Lực<br />
<span style="color: #ff6600;"><strong>3 &#8211; Thế giới: Nhất Thiết Bảo Trang Nghiêm Phổ Chiếu Quang</strong></span><br />
Phật &#8211; Tịnh Quang Trí Thắng Tràng<br />
<span style="color: #ff6600;"><strong>2- Thế giới: Chủng Chủng Hương Liên Hoa Diệu Trang Nghiêm</strong></span><br />
Phật &#8211; Sư Tử Quang Biến Chiếu<br />
<span style="color: #ff6600;"><strong>1 &#8211; Thế giới: Tối Thắng Quang Biến Chiếu</strong></span><br />
Phật &#8211; Tịnh Nhãn Ly Cấu Ðăng</center></center>&nbsp;</p>
<p><a href="http://kinhduong.com/wordpress/wp-content/uploads/2016/04/hoaSen.jpg" rel="attachment wp-att-351"><img loading="lazy" decoding="async" class="size-full wp-image-351 alignleft" src="http://kinhduong.com/wordpress/wp-content/uploads/2016/04/hoaSen.jpg" alt="hoaSen" width="288" height="133" /></a>20 tầng thế giới trên nằm trên một thế giới tên là Phổ Chiếu Thập Phương Sí Nhiên Bảo Quang Minh. Và thế giới được trụ trên một đóa hoa sen tên là Nhất Thiết Hương Ma Ni Vương Trang Nghiêm</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Hoa sen Nhất Thiết Hương Ma Ni Vương Trang Nghiêm trụ <a href="http://kinhduong.com/wordpress/wp-content/uploads/2016/04/bienHuongThuy_Small.jpg" rel="attachment wp-att-348"><img loading="lazy" decoding="async" class="size-full wp-image-348 alignright" src="http://kinhduong.com/wordpress/wp-content/uploads/2016/04/bienHuongThuy_Small.jpg" alt="bienHuongThuy_Small" width="161" height="115" /></a>ở chính giữa biển Hương Thủy, tên là Vô Biên Diệu Hoa Quang. Thế giới Ta Bà của chúng ta nằm trong thế giới hay biển Vô Biên Diệu Hoa Quang nầy.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><a href="http://kinhduong.com/wordpress/wp-content/uploads/2016/04/theGioiHoaTang.jpg" rel="attachment wp-att-352"><img loading="lazy" decoding="async" class="size-medium wp-image-352 alignleft" src="http://kinhduong.com/wordpress/wp-content/uploads/2016/04/theGioiHoaTang-300x152.jpg" alt="theGioiHoaTang" width="300" height="152" /></a>Trong quanh biển hương thủy, Vô Biên Diệu Hoa Quang, lại có rất nhiều biển hương thủy khác. Phía đông biển hương thủy Vô Biên Diệu Hoa Quang đó, lại có biển hương thủy tên là Ly Cấu Diễm Tạng, và những biển như sau:</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>1). Biển Ly Cấu Diễm Tạng.<br />
2). Biển Vô Tận Quang Minh Luân.<br />
3). Biển Kim Cang Bảo Diễm.<br />
4). Biển Ðế Thanh Bảo Trang Nghiêm.<br />
5). Biển Kim Cang Luân Trang Nghiêm Ðể.<br />
6). Biển Liên Hoa Nhân Ðà La Võng.<br />
7). Biển Tích Tập Bảo Hương Tạng.<br />
8). Biển Bảo Trang Nghiêm.<br />
9). Biển Kim Cang Bảo Tụ.<br />
10). Biển Thiên Thành Bảo Ðiệp.</p>
<p>Thế giới Hoa Tạng có hai mươi tầng, giống như một tòa cao ốc có hai mươi tầng. Đó là nói theo chiều dọc, nói theo chiều ngang thì rộng lớn vô biên. Thế giới Ta Bà và Tây Phương Cực Lạc thế giới đều ở tầng thứ mười ba, một cõi ở phía Đông, một cõi ở phía Tây, có thể thấy là thế giới quá rộng lớn!</p>
<p>Dùng một đại thế giới làm đơn vị, <i>“đại thế giới”</i> ở đây chẳng phải là một tam thiên đại thiên thế giới. Chư vị phải hiểu: Tam thiên đại thiên thế giới quá nhỏ bé, quý vị thấy trong tầng thứ mười ba, thế giới Ta Bà và Tây Phương Cực Lạc thế giới ở trong cùng một bình diện (plane, mặt phẳng).</p>
<p>Mười vạn ức cõi Phật, chính là mười vạn ức đại thiên thế giới trong một tầng. Hai mươi tầng, mỗi tầng không chỉ có mười vạn ức [cõi nước]. <i>“Mười vạn ức” </i>là nói tới khoảng cách giữa thế giới này và thế giới của A Di Đà Phật. Đi theo phía Tây của thế giới A Di Đà Phật còn có những thế giới khác, theo hướng Đông của thế giới Ta Bà còn có những thế giới chư Phật khác nữa, quý vị mới biết thế giới này đúng là rộng lớn vô biên. Một đại đơn vị ấy được gọi là <i>“thế giới chủng”</i>. Trong thái hư không có vô lượng vô biên thế giới chủng giống như vậy.</p>
<p>Hòa Thượng Thích Quảng Độ khi còn trẻ, ngài có viết một bài thơ như sau:</p>
<p style="padding-left: 30px;">TÂM CỰC LẠC</p>
<p style="padding-left: 30px;">Tây phương Lạc quốc với Sa bà<br />
Đường về khoảng cách độ bao xa ?<br />
Không gian cõi Phật mười muôn ức<br />
Nhưng là khoảnh khắc tại tâm ta</p>
<p style="padding-left: 30px;">Thời gian khoảnh khắc tại tâm ta<br />
Gió thổi vi vu khúc nhạc hòa<br />
Chim hót vang rền tuyên diệu pháp<br />
Lưng trời đổ xuống trận mưa hoa</p>
<p style="padding-left: 30px;">Thời gian khoảnh khắc tại tâm ta<br />
Phật phóng hào quang chói sáng lòa<br />
Chín phẩm sen hồng hương ngát tỏa<br />
Thánh hiền tụ hội số hằng sa.</p>
<p style="padding-left: 30px;">Thời gian khoảnh khắc tại tâm ta<br />
Sen nở vừa xong thấy Phật đà<br />
Cực lạc đây rồi, tâm ta đó<br />
Rời tâm tìm kiếm lại càng xa.</p>
<p style="padding-left: 30px;">Thời gian khoảnh khắc tại tâm ta<br />
Trở lại sinh trong cảnh ác tà<br />
Lăn lộn nổi chìm đời ngũ trược<br />
Nhưng mà ta vẫn lại là ta.</p>
<p>(Mười muôn ức cõi Phật là một trăm vạn triệu cõi Phật; mỗi cõi Phật là một nghìn triệu thế giới, mỗi thế giới gồm một quả đất, một mặt trời, một mặt trăng. Như vậy cách nhau xa lắm. Nhưng đối với Phật pháp vô biên thì có gì là xa, vì vô biên thì không có trung tâm điểm mà chỗ nào cũng là trung tâm cả, thành ra không có xa, không có gần.)</p>
<p style="text-align: center;">====</p>
<p>Trên đây là nói theo &#8220;Sự pháp giới là sự tướng. Sự tướng vô lượng vô biên.&#8221;. Nhưng khi chúng ta nói theo: &#8220;Lý pháp giới, Lý là nhất tâm, đều do một lý biến hiện. &#8221;</p>
<p>Kinh Lăng Nghiêm: “Thập phương hư không giai nhữ tâm nội”<br />
Dịch là: “Mười phương hư không đều ở trong tâm”</p>
<p>Chân tâm chẳng có ngằn mé, tâm bao pháp giới, chẳng phải là pháp giới bao tâm. Do vậy, thế giới trùng trùng, vô lượng vô biên thế giới, <i>“bất xuất nhất tâm”</i> (chẳng ra ngoài nhất tâm). Ta Bà là tự tâm uế, tức là cảnh giới được biến hiện bởi sự ô nhiễm trong tự tâm. Tây Phương Cực Lạc thế giới là cảnh giới được biến hiện bởi tự tâm tịnh. Tâm tịnh ắt cõi tịnh, tâm ô nhiễm ắt cõi nước ô nhiễm, là chuyện như thế đó. Đều chỉ là do thức làm chủ, biến ở trong ấy, biến ra tướng ấy. Tâm tánh hiện tướng, bất luận nó biến như thế nào, chỉ là hiện tướng mà thôi. Tướng ấy biến hóa như thế nào, đều do thức làm chủ.</p>
<p><i>“Thị tri Cực Lạc chi sanh, sanh hồ tự tâm”</i><br />
(Do vậy biết sanh về Cực Lạc là sanh trong tự tâm)</p>
<p>Chúng ta sanh vào các cõi Phật khác cũng là sanh trong tự tâm. Dẫu chúng ta luân chuyển trong lục đạo, biến thành ngạ quỷ, biến thành súc sanh, hay biến thành địa ngục, cũng là sanh trong tự tâm! Lìa ngoài tự tâm, chẳng có một pháp nào khác để có thể được! Đó là nói theo Lý, nói theo chân tướng sự thật.</p>
<p>Quý vị có thể tìm hiểu thêm về Hoa Tạng Trang Nghiêm Thế Giới Hải nầy qua kinh Hoa Nghiêm, phẩm Thế Giới Hoa Tạng.</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Thập Tâm của Chú Đại Bi</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/thap-tam-cua-chu-dai-bi/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 13 Mar 2019 18:30:13 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài Luận]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://langnghiem.com/?p=4756</guid>

					<description><![CDATA[Chú đại bi &#8211; được gọi là đại từ đại bi tâm đà la ni....]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p>Chú đại bi &#8211; được gọi là đại từ đại bi tâm đà la ni. Đại từ bi tâm là cái tâm đầu tiên trong thập tâm của chú đại vi. Thập tâm đó là:<img loading="lazy" decoding="async" class="wp-image-4768 alignleft" src="http://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/03/thaptam.jpg" alt="" width="407" height="296" srcset="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/03/thaptam.jpg 459w, https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/03/thaptam-300x218.jpg 300w" sizes="auto, (max-width: 407px) 100vw, 407px" /></p>
<ol>
<li>Tâm Đại Từ Bi</li>
<li>Bình Đẳng Tâm</li>
<li>Vô Vi Tâm</li>
<li>Vô nhiễm trước tâm</li>
<li>Quán tâm không</li>
<li>Tâm cung kính</li>
<li>Ty hạ tâm</li>
<li>Vô tạp loạn tâm</li>
<li>Vô kiến thủ tâm</li>
<li>Tâm Vô Thượng Bồ Đề</li>
</ol>
<p>&nbsp;</p>
<p>Ðà la ni dịch là tổng trì, tức là tổng tất cả các pháp, trì vô lượng nghĩa, cũng có thể nói là nhiếp ba nghiệp (thân khẩu ý) thanh tịnh, giữ sáu căn (mắt tai mũi lưỡi thân ý). Nhiếp tâm là nhiếp tâm giữ thân. Nhiếp tâm thì có thể đắc được tam muội, đại định. Giữ thân tâm thì có thể đắc được Ðà la ni.</p>
<p>Làm thế nào có thể nhiếp thân khẩu ý ba nghiệp thanh tịnh ? Tức là thân chẳng phạm giới sát, trộm, dâm ba điều ác, miệng chẳng phạm nói dối, nói thêu dệt, nói hai lưỡi và chưởi mắng bốn điều ác, ý chẳng phạm tham sân si ba điều ác. Chẳng phạm mười điều ác này, mà thực hành mười điều thiện, thì ba nghiệp sẽ thanh tịnh.</p>
<p>Làm thế nào giữ mắt tai mũi lưỡi thân ý sáu căn tự tại diệu dụng ? Nếu ba nghiệp thanh tịnh, thì sáu căn tự nhiên sẽ được thanh tịnh. Thanh tịnh rồi thì tự nhiên thì sẽ đắc được cảnh giới sáu căn dụng với nhau.</p>
<p>Ðà la ni còn dịch là chú. Chú hay sinh thiện diệt ác, bảo hộ hành giả được cát tường như ý. Chú cũng giống như chiếu chỉ của hoàng đế, quan dân nhất định phải tuân lệnh. Lại giống như khẩu lệnh ở trong quân đội, người trong quân đội đều biết rõ, nếu không thì sẽ bị xử phạt, hoặc có sự nguy hiểm đến tính mạng.</p>
<p>Bài viết hôm nay, chúng ta sẽ nói rõ về thập tâm trong chú Đại Bi.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="color: #ff6600;"><strong>Tâm Đại Từ Đại Bi</strong></span>: Lòng Từ thường đem lại niềm vui cho chúng sinh. Bi có công năng làm cho mọi khổ nạn của chúng sinh được tiêu trừ. Cho nên được gọi là &#8220;Từ năng dữ lạc, Bi năng bạt khổ. Đây là cái tâm đầu tiên cho nên khi chúng ta tụng chú Đại Bi, chúng ta trì cúi đầu đảnh lễ các chư Phật, Bồ Tát và các vị thánh hiền, chúng ta đảnh lễ chú đại bi qua câu &#8220;Ma ha ca lô ni ca da&#8221;</p>
<p>Ma Ha có 3 nghĩa: lớn, nhiều và thù thắng.<br />
Ca lô &#8211; Hán dịch là “Bi”<br />
Ni ca &#8211; nghĩa là “Tâm”<br />
Da &#8211; nghĩa là đảnh lễ</p>
<p>Toàn câu chú Ma ha ca lô ni ca da có nghĩa là: “Cúi đầu đảnh lễ thần chú Đại bi tâm Đà la ni.</p>
<p>Người tu hành phát tâm đại thừa thì trước tiên phải phát tâm đại từ đại bi, có nghĩa là phải có cái tình thương yêu. Trong ý niệm lòng Từ Bi bảo hộ, che chở cho mọi loài. Thế nên lòng từ bi của bậc Hiền giả, Bồ tát thường đem đến sự bao bọc, che chở cho mọi loài chúng sinh.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="color: #ff6600;"><strong>Bình Đẳng Tâm</strong></span>: là cái tâm thứ hai trong thập tâm. Trong chú đại bi đây là câu &#8220;Tát bà&#8221;, có nghiã là tất cả cũng có nghiã là bình đẳng.</p>
<p>Tát bà tát bà. Hán dịch là “nhất thiết lợi lạc”. Câu chú này bao hàm cả Bảo thủ nhãn ấn pháp, nghĩa là mang đến mọi thứ lợi lạc cho mọi người. Phàm phu chúng ta luôn luôn mang tất cả lợi lạc về cho riêng mình. Các vị Phật và Bồ Tát thì mang tất cả lợi lạc cho tất cả chúng sanh. Tâm của các vị lúc nào cũng muốn phát tâm bình đẳng. Ngay cả các vị thánh hiền trong kinh chúa trời cũng dạy chúng ta thương yêu người hàng xóm cũng như yêu thương chính mình (Love your neighbor as yourself).</p>
<p>Tâm bình đẳng còn được gọi là bình đẳng tánh trí, có nghiã là trong tâm quý vị không có sự khác biệt giữa ta và vật đối tượng. Đó là tâm không còn sự ràng buộc của chủ thể và đối tượng.</p>
<p>Nên Tát bà biểu tượng cho ý thứ hai trong mười tâm, là “bình đẳng tâm”.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong><span style="color: #ff6600;">Vô Vi Tâm</span></strong> là cái tâm thứ ba trong thập tâm. Trong chú đại bi là câu &#8220;tát bà a tha đậu&#8221;. Tát bà là bình đẳng tâm. A tha đậu là vô vi tâm.</p>
<p>A tha đậu dịch nghĩa là “phú lạc vô bần” giàu có, an lạc, không nghèo nàn về tâm linh, đạo lý, Phật pháp. Còn dịch nghĩa là “như ý bất diệt”.</p>
<p>“Như ý” nghĩa là ước nguyện điều gì cũng đều được thành tựu.<br />
“Bất diệt” nghĩa là sự thành tựu do nguyện ấy vĩnh viễn không tiêu mất.</p>
<p>Trong mười loại tâm thì đây là “vô vi tâm” nghĩa là “phú lạc vô bần” và “như ý bất diệt”.</p>
<p><strong><span style="color: #ff6600;"> </span></strong></p>
<p><span style="color: #ff6600;"><strong>Vô nhiễm trước tâm</strong></span> là tâm chảng bị nhiễm trước lục trần. Tâm này giúp cho quí vị duy trì bản tâm thanh tịnh của chính mình. Khi quí vị khởi tâm niệm tham, sân, si, mạn, nghi… thì tâm quí vị liền bị ô nhiễm, không còn thanh tịnh nữa. Khi tâm quí vị không mong khởi những niệm ô nhiễm ấy, thì tâm quí vị được thanh tịnh.</p>
<p>Trong chú đại bi là câu &#8220;Hê rị ma ha bàn đa sa mế&#8221;.<br />
Hê rị có nghĩa là vô nhiễm trước tâm. Khi tâm không bị ô nhiễm thì ánh sáng đại quang minh được tỏa sáng. Cho nên vô nhiễm trước tâm đi trước với tâm đại quang minh.</p>
<p>Ma Ha có nghiã là đại. Bàn đa sa mế dịch nghĩa là “đại quang minh” hay là “Trường chiếu mệnh” nghĩa là ánh sáng thường chiếu soi rộng khắp mọi nơi.</p>
<p>Toàn câu chú &#8220;Hê rị ma ha bàn đa sa mế&#8221; có nghiã là “Tâm đại quang minh”. Nghĩa là khi tâm của quý vị không còn bị ô nhiễm thì ánh sáng của tâm lực, quang minh của tâm lực thường chiếu rộng khắp, mãi mãi siêu việt cả không gian vô cùng, thời gian vô tận. Từ một vi trần cho đến vô cùng vô tận thế giới đều có sự hiện hữu của ánh sáng ấy.</p>
<p>Vậy tu hành như thế nào mới có được tâm đại quang minh? Đó là tu hành qua tâm thứ 5</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="color: #ff6600;"><strong>Quán tâm không</strong></span> &#8211; Tâm Không Quán &#8211; có nghiã là phải hồi quang phản chiếu. Soay ngược lại. Đừng dùng thức để tu hành, vì dùng thức sẽ mang tới cái tâm phân biệt, cái tâm điên đảo. Nhìn sâu vào chính mình thì mới biết được trên thân thể của chúng ta không có cái vật gì gọi là tâm, không có cái gì gọi là ngã. Mọi thứ trên thế gian đều do cái vô minh, cái ngu si.</p>
<p>Bàn đà sa mế dịch nghĩa là “đại quang minh” hay “trường chiếu minh”, tiêu biểu cho nghĩa thứ năm trong mười nghĩa của tâm, đó là “quán tâm không”. Thông qua “quán tâm không”, hành giả mới có được trí tuệ. Với trí tuệ, hành giả mới có được quang minh. Có được quang minh, mới tỏa chiếu, soi sáng khắp mọi pháp giới được. Tức là không còn tối tăm, mê muội, tức là không còn vô minh.</p>
<p>Sao gọi là “vô minh”, vì tâm của quí vị không có được sự tỏa chiếu soi sáng khắp mọi pháp giới, do vì quí vị không có được “đại quang minh”. Nếu quí vị có được “đại quang minh” thì tâm quí vị liền có được sự tỏa chiếu soi sáng khắp mọi pháp giới, có nghĩa là quí vị đã chuyển hóa được vô minh. Một khi vô minh đã bị chuyển hóa sạch rồi, thì pháp tánh hiển hiện, đây chính là trí tuệ chân thật của quí vị.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong><span style="color: #ff6600;">Tâm Cung Kính</span></strong> &#8211; là tâm kính lễ chư Phật: Hạnh nguyện thứ nhất của ngài Phổ Hiền Bồ Tát là kính lễ chư Phật. Lễ chính là có lễ phép, có lễ độ. Lễ là một hình thức biểu hiện sự cung kính của người này đối với người kia. Quý vị đối với người có lễ phép, người khác đối lại quý vị cũng sẽ có lễ phép. Lễ là một trong Ngũ Thường: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín.</p>
<p>Con người sở dĩ khác với loài cầm thú là vì có lễ. Nếu con người mà không có lễ thì cũng chẳng khác gì loài cầm thú. Vì sao phải lễ phép? Vì chúng ta có tâm cung kính đối với những người chung quanh, nên mới hành lễ. Chúng ta cung kính một người hẳn phải được biểu hiện thành lễ. Đối với Chư Phật, chúng ta càng phải thể hiện sự lễ phép cung kính.</p>
<p>Tại sao chúng ta phải có tâm cung kính? Bởi vì càng cung kính thì càng dễ rời bỏ cái ngã mạn. Khi chúng ta không sanh tâm cung kính khi lễ bái Phật thì đó gọi là sanh mạn lễ. Ngã mạn lễ là thấy người khác lễ bái, mình cũng lễ, nhưng tướng ngã hoàn toàn chưa bỏ, lạy Phật mà chẳng chút tự nhiên, và luôn tự hỏi: Tôi lạy Phật để làm gì? Tôi đâu cần phải lạy ông ta? Do vậy nên lạy một cách không hoan hỷ, rất miễn cưỡng. Hoặc có người thấy người khác lễ Phật, ai cũng lạy mà mình không lạy thì mình nổi bật quá, cảm thấy ngượng nên lạy theo. Tuy lễ Phật nhưng tướng ngã không mất, ngã mạn vẫn còn.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="color: #ff6600;"><strong>Ty hạ tâm</strong></span> &#8211; Tâm khiêm nhường là tâm rất cung kính và tùy thuận bất kỳ người nào mình gặp. Trong chú đại vi là câu &#8220;A thệ dựng&#8221;.</p>
<p>A thệ dựng la tiếng Phạn, dịch nghĩa “vô tỷ pháp”. Không có pháp nào có thể so sánh được với pháp này. Còn có nghĩa là “vô tỷ giáo” nghĩa là không có đạo giáo nào có thể so sánh được.</p>
<p>Câu chú này biểu tượng cho tâm thứ bảy, được gọi là “ty hạ tâm”, là tâm rất cung kính và tùy thuận bất kỳ người nào mình gặp.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong><span style="color: #ff6600;">Vô tạp loạn tâm</span></strong> là tâm không bị tạp loạn, cấu nhiễm. Câu chú này còn biểu tượng cho tâm thứ tám, gọi là “vô tạp loạn tâm”. Đây chính là pháp thanh tịnh, không chút cấu nhiễm, chính là pháp bát nhã tâm của Quán Thế Âm Bồ – tát.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong><span style="color: #ff6600;">Vô kiến thủ tâm</span></strong> là tâm không khấp giữ &#8211; Trong chú đại vi là 2 chữ &#8220;Du bằng&#8221; trong câu &#8220;Tát bà a tha đậu du bằng.&#8221;</p>
<p>Du bằng dịch là “nghiêm tịnh vô ưu”, là thanh tịnh và trang nghiêm. Trang nghiêm lại thêm thanh tịnh, cho nên không có sự lo phiền, ưu não. Câu chú này biểu tượng cho tâm thứ chín “Vô kiến thủ tâm”. Kiến thủ là một trong năm món “ngũ lợi sử”. Nghĩa là khi quí vị vừa trông thấy một vật gì, tâm liền khởi niệm muốn chiếm đoạt, giữ lấy.</p>
<p>Nên với tâm thứ chín – vô kiến thủ tâm là trạng thái không có mảy may vọng động về sự chấp thủ đối với pháp và ngã; đối với chủ thể cũng như khách thể; đối với ngoại cảnh cũng như dòng chuyển biến của thức tâm.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="color: #ff6600;"><strong>Tâm Vô Thượng Bồ Đề</strong></span> &#8211; phát nguyện tâm. Trong chú đại bi là câu &#8220;Ma Ha bồ đề tát đỏa&#8221;, nghĩa là quí vị tự phát nguyện. Con nhất quyết thực hành theo hạnh nguyện của Bồ tát Quán Thế Âm, sẽ giáo hoá cho tất cả chúng sanh. Con nguyện nương theo giáo pháp Ngài đã dạy mà tu hành</p>
<p>Không những phát tâm mà còn “Y giáo phụng hành”. Nương theo lời dạy của Bồ tát Quán Thế Âm cũng như Quán Thế Âm của tự tâm để thực sự tu trì.</p>
<p>Ma ha có nghĩa là phát “đại” nguyện, tâm vô thượng</p>
<p>Bồ đề có nghĩa là “giác đạo”, là giác ngộ được đạo lý chân chính.</p>
<p>Tát đoả. Hán dịch là “đại dũng mãnh giả”. Câu này có nghĩa chư vị Bồ tát là người phát tâm đại bồ đề rất dũng mãnh và phát tâm tu hạnh Bồ đề.</p>
<p>Phát bồ đề tâm nghĩa là gieo trồng nhân giác ngộ, tu bồ đề hạnh là vun trồng, tưới tẩm cho hạt giống bồ đề đã gieo được nảy mầm, rồi mới mong gặt được quả giác ngộ, tức là quả vị Vô thượng bồ đề.</p>
<p style="text-align: center;">===========</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Thập tâm là tướng của Đà la ni. Năng lực của thần chú có thể chữa lành tất cả mọi tật bệnh và làm cho đài gương chiếu tội sáng ngời ngời.</p>
<p>Không những hằng ngày trì tụng chú đại bi, mà phải phát thập tâm. Chúng ta phải đem những đạo lý này hành trì không xao nhãng và không gián đoạn. Chúng ta tu tập theo tinh thần của kinh Đại bi tâm Đà la ni thì chắc chắn sẽ thành tựu đạo nghiệp, đắc thành chánh quả.</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Như Thật Tướng</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/nhu-that-tuong/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 07 Dec 2018 18:54:44 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài Luận]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://langnghiem.com/?p=4650</guid>

					<description><![CDATA[Như thật tướng là không điên đảo tức là giữ trung đạo. Phàm phu có...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><img loading="lazy" decoding="async" class="alignleft  wp-image-4651" src="http://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/12/thatTuong.jpg" alt="" width="455" height="286" srcset="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/12/thatTuong.jpg 713w, https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/12/thatTuong-300x188.jpg 300w" sizes="auto, (max-width: 455px) 100vw, 455px" />Như thật tướng là không điên đảo tức là giữ trung đạo. Phàm phu có bốn thứ điên đảo :</p>
<ol>
<li>Chẳng phải thường mà cho là thường.</li>
<li>Chẳng phải vui mà cho là vui.</li>
<li>Chẳng phải ngã mà cho là ngã.</li>
<li>Chẳng phải tịnh mà cho là tịnh.</li>
</ol>
<p>Bốn thứ điên đảo của hàng nhị thừa.</p>
<ol>
<li>Cái thường mà cho là chẳng thường.</li>
<li>Cái vui mà cho là chẳng vui.</li>
<li>Cái ngã mà cho là chẳng ngã.</li>
<li>Cái tịnh mà cho là chẳng tịnh.</li>
</ol>
<p>Bồ Tát cũng có điên đảo, chỉ có Phật là bậc đại giác. Cho nên, chín pháp giới chúng sinh đều sinh tồn ở trong điên đảo, niệm niệm thay đổi, có lúc cảm thấy tốt, có khi cảm thấy chẳng tốt. Kỳ thật chẳng có phân chia tốt và không tốt, tất cả đều từ nghĩ điên đảo mà ra. Nếu hay giữ trung đạo thì chẳng điên đảo. Học tập Phật pháp tức là muốn không điên đảo, chẳng học tập Phật pháp thì điên đảo. Giữ quy cụ thì chẳng điên đảo, không giữ quy cụ là điên đảo. Chúng ta nên tự phản tỉnh, nếu làm những chuyện điên đảo thì hãy mau sửa đổi !</p>
<p>Bài viết hôm nay sẽ thảo luận về câu &#8220;Như Thật Tướng&#8221;.</p>
<p>&#8220;<span style="color: #ff6600;"><strong>Như</strong></span>&#8221; tức là chẳng rơi vào không, chẳng rơi vào có, ‘’Không‘’, ‘’Giả‘’, ‘’Trung‘’ ba đế như một. Không tức giả, giả tức trung; một giả thì tất cả đều giả, một không thì tất cả đều không, một trung thì tất cả đều trung. Ba đế như một là ‘’Như‘’.</p>
<p>&#8220;<span style="color: #ff6600;"><strong>Thật</strong></span>&#8221; tức chẳng phải bảy phương tiện. Bảy phương tiện tức bảy hiền vị của Thanh Văn. 3 hiền + 4 thiện căn = 7 phương tiện</p>
<p>&#8211; &#8220;<strong>3 hiền</strong>&#8221; là: Ngũ đình tâm quán, Biệt tướng niệm xứ và Tổng tướng niệm xứ</p>
<ul>
<li>Ngũ đình tâm quán là năm phép quán dừng tâm, tức là dùng năm phép quán niệm để đình chỉ năm lỗi của tâm</li>
<li>Biệt tướng niệm xứ là quán niệm từ lãnh vực riêng, tức là tu tập bốn lãnh lãnh vực quán niệm, mỗi lẫn chỉ quán niệm về một lãnh vực</li>
<li>Tổng tướng niệm xứ là quán niệm chung các lãnh vực, tức là tu tập bốn lãnh vực quán niệm, mỗi khi quán niệm về một lãnh vực, cùng lúc cũng quán niệm cả ba lãnh vực kia (vô thường, vô ngã, khổ)</li>
</ul>
<p>&#8211; <strong>4 thiện căn</strong> là: Noãn, Đảnh, Nhẫn và Thế đệ nhất pháp. Được gọi là phép quán về bốn sự thật trí trong các pháp hữu lậu của thế gian.</p>
<p>Vị tu hành Thanh Văn trải qua 7 phương tiện và đạt được tứ thánh quả: Dự lưu, Nhất lai, Bất hoàn và A La Hán. Khi đạt được quả vị tứ quả A La Hán thì chấm dứt phần đoạn sinh tử. Tuy không còn phải tái sinh và trải qua 6 cõi luân hồi, nhưng vọng tưởng niệm niệm vi tế khởi lên chưa đoạn sạch, cho nên gọi là hữu lậu. Chỉ có Phật mới đoạn hết vọng tưởng, cho nên gọi là vô lậu. Thật trong Như Thật Tướng là thật trí trong pháp vô lậu.</p>
<p>Sinh tử có hai thứ : Phần đoạn sinh tử và biến dịch sinh tử. Bảy phương tiện trên là điạ vị của các bậc Thanh Văn tu hành để đoạn sinh tử, song vẫn còn biến dịch sinh tử. Thanh Văn đã dứt phần đoạn sinh tử, Bồ Tát đã dứt biến dịch sinh tử.</p>
<p>&#8220;Thật&#8221; tức là vượt qua quả vị của bảy phương tiện, không còn điên đảo, tức là vọng tưởng niệm niệm vi tế khởi lên được đoạn sạch. Trong kinh Pháp Hoa viết cách tu hành qua quán sát nhất thiết pháp không &#8220;Như Thật Tướng&#8221;.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Đại sư Trí Giả một đời lễ bái Kinh Pháp Hoa. Lúc Đại sư Trí Giả mười mấy tuổi nghe một vị Pháp sư tụng Phẩm Phổ Môn, Ngài vừa nghe qua liền nhớ hết, giống như kiếp trước Ngài đã từng tụng kinh này. Đến lúc Ngài gặp Đại sư Nam Nhạc, Đại sư dạy Ngài đọc tụng Kinh Pháp Hoa, lễ bái Kinh Pháp Hoa, Khi Ngài lễ bái đến Phẩm Dược Vương Bồ Tát Bổn Sự, thì chợt khai ngộ. Đại sư Nam Nhạc liền ấn chứng cho Ngài đã đạt được cảnh giới tiền phương tiện của Pháp Hoa Tam Muội –Triền Đà La Ni.</p>
<p>Trong Kinh Pháp Hoa có đề cập đến ‘’Tất cả pháp không‘’ là tổng tướng, &#8220;Như thật tướng&#8221; đến &#8220;không chướng&#8221; mười tám pháp không là biệt tướng, tất cả tướng nhờ nhân duyên có, từ điên đảo sinh, cho nên thường thích quán các thứ pháp tướng, xem tất cả đều không.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #ff6600;"><strong>18 pháp không đó là</strong></span></p>
<p>&#8220;<strong>Như thật tướng, bất điên đảo, bất động, bất thoái, bất chuyển, như hư không, vô sở hữu tánh. Nhất thiết ngữ ngôn đạo đoạn, bất sanh, bất xuất, bất khởi, vô danh, vô tướng, thật vô sở hữu, vô lượng, vô biên, vô ngại, Vô chướng</strong>&#8220;</p>
<ol>
<li value="1">&#8220;<strong>Như Thật Tướng</strong>&#8221; là không thứ nhất, đã giải thích ở phần trên</li>
</ol>
<ol>
<li value="2">&#8220;<strong>Bất Ðiên đảo</strong>&#8220;: Thường cho là vô thường, vui cho là khổ, ngã cho là chẳng phải ngã, tịnh cho là chẳng phải tịnh; ở trên là điên đảo của hàng nhị thừa. Bồ Tát cũng có điên đảo, chỉ có Phật là bậc đại giác. Cho nên, chín pháp giới chúng sinh đều sinh tồn ở trong điên đảo, niệm niệm thay đổi, có lúc cảm thấy tốt, có khi cảm thấy chẳng tốt. Kỳ thật chẳng có phân chia tốt và không tốt, tất cả đều từ nghĩ điên đảo mà ra. Nếu hay giữ trung đạo thì chẳng điên đảo. Học tập Phật pháp tức là muốn không điên đảo, chẳng học tập Phật pháp thì điên đảo. Giữ quy cụ thì chẳng điên đảo, không giữ quy cụ là điên đảo. Chúng ta nên tự phản tỉnh, nếu làm những chuyện điên đảo thì hãy mau sửa đổi!  Không điên đảo là nội không. Nội không (bên trong) không có sáu nhập: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, đều không, cho đến vô ngã.</li>
</ol>
<ol>
<li value="3">&#8220;<strong>Bất động</strong>&#8221; là định, chẳng sợ gì; ngồi thiền mà được như như bất động, thì chẳng bị cảnh giới chuyển. Ngồi thiền thì dù gặp cọp cũng chẳng sinh tâm sợ sệt, gát việc sinh tử ra ngoài, xem sinh tử nhất như. Có người nói : ‘’Tôi chẳng sợ chết, cho nên chẳng cần học Phật pháp để dứt sinh tử, mà tôi thì chẳng sợ sinh tử, cho nên chẳng cần học Phật pháp.’’ Bạn không sợ sinh tử, chẳng học Phật pháp, sinh tử chẳng dứt, cho nên chẳng bao giờ chấm dứt được. Khi ngồi thiền chẳng vì sinh tử làm lay động, tức là định lực. Không có ngã chấp là bất động. Bất động là ngoại không; ngoại không (bên ngoài) chẳng có sáu trần, không bị sáu trần làm giao động.</li>
</ol>
<ol>
<li value="4">&#8220;<strong>Bất thối</strong>&#8221; trí bi chẳng thối chuyển, thân tâm tịch diệt chẳng có vọng tưởng, cho nên có đại trí đại huệ. Tức cũng là liễu tính bình đẳng, chẳng sinh thối lùi. Không thối lùi là nội ngoại không. Chẳng thối chuyển làm phàm phu, chẳng thối chuyển làm hàng nhị thừa.</li>
</ol>
<ol>
<li value="5">&#8220;<strong>Bất chuyển</strong>&#8221; chẳng thọ luân hồi sở chuyển, chẳng lưu chuyển ở trong sinh tử của phàm phu, cũng chẳng ở trong nhị thừa chuyển phàm làm Thánh. Không chuyển là không không, không hay phá tất cả pháp, tức chẳng có ngã chấp (chấp cái ta), chẳng có pháp chấp, tức là pháp không, quét tất cả pháp, lìa tất cả tướng, cho nên không chuyển.</li>
</ol>
<ol>
<li value="6">&#8220;<strong>Như hư không</strong>&#8221; giống như hư không, Kinh Hoa Nghiêm có nói :‘’Nếu ai muốn biết cảnh giới của Phật, Hãy tịnh ý mình như hư không‘’. Chẳng có một vật gì tức là ‘’hư không‘’, hết thảy mọi vật đều bị hư không bao hàm. ‘’Như hư không’’ là đại biểu cho danh từ, tuy có danh từ, song chẳng có tự tánh, đừng có đầu lại thêm đầu, đi khắp nơi tìm hư không. ’Như hư không là thái không.</li>
</ol>
<ol>
<li value="7">&#8220;<strong>Vô sở hữu tánh&#8221;</strong> là chẳng có tự tánh’, chẳng có tha tánh, chẳng có cộng tánh, chẳng có nhân tánh cũng chẳng có quả tánh, tất cả đều không, Vô sở hửu tánh’ tức là tất kính không</li>
</ol>
<ol>
<li value="8">&#8220;<strong>Nhất thiết ngữ ngôn đạo đoạn&#8221;</strong> là ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt. Do đó, có câu: &#8220;Miệng muốn nói mà lời đã hết, Tâm muốn duyên mà suy nghĩ chẳng còn nữa&#8221;.<br />
Ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt. Do đó :<br />
‘’Tất cả pháp hữu vi<br />
Như mộng huyễn bọt bóng<br />
Như sương cũng như điện<br />
Hãy quán chiếu như thế.’’</li>
</ol>
<ol>
<li value="9">&#8220;<strong>Bất sanh&#8221; </strong>chẳng sinh vô minh, chẳng sinh trí huệ, tức chẳng sinh vô minh, cũng chẳng sinh trí huệ, tức là vào cảnh giới : ‘’Không nghĩ thiện, không nghĩ ác.’’ Chẳng có vô minh, chẳng có trí huệ, là bổn lai tự tánh đại quang minh tạng, cho nên chẳng có chỗ phá, cũng chẳng có chỗ năng phá, đó là lý thể ‘’Không sinh‘’. Trong cảnh giới nầy : Hành, vị, nhân, quả, thảy đều chẳng sinh. Không sinh là hữu vi không, pháp hữu vi do nhân duyên hòa hợp mà sinh, không hòa hợp thì không sinh, cho nên gọi là hữu vi không.</li>
</ol>
<ol>
<li value="10">&#8220;<strong>Bất xuất</strong>&#8221; tức là không nhập, chẳng xuất chẳng nhập, chẳng ra chẳng vào. Bổn thể của Như Lai tu là, đạt đến chỗ cứu kính, cho nên chẳng xuất chẳng nhập, chẳng có vô minh cũng chẳng có trí huệ đáng nói.  Bất xuất là vô vi không, ‘’vô vi vô khởi diệt, chẳng thật như không hoa‘’, vô vi tức là xuất ly, xuất ly tất cả pháp, xuất ly đã không, cho nên ‘’không xuất‘’.</li>
</ol>
<ol>
<li value="11">&#8220;<strong>Bất khởi</strong>&#8221; là vô thủy không, trong Kinh Ðại Bát Nhã có đề cập đến vô thủy không, vì ‘’khai thủy‘’ bất khả đắc, cho nên gọi là vô thủy không, chứng được lý thể như thế, thì khiến cho tất cả phương tiện quyền pháp đều vắng lặng.</li>
</ol>
<ol>
<li value="12">&#8220;<strong>Vô danh</strong>&#8221; chẳng có một tên gọi để đại biểu đạo lý nầy. Từ không điên đảo, đến không khởi, chẳng có một cái tên nào để gọi, đó là tánh không.</li>
</ol>
<ol>
<li value="13">&#8220;<strong>Vô tướng</strong>&#8221; là tướng không. Không tên không tướng, cũng có thể giải thích là thật vô sở hữu (chẳng có gì cả). Vô Tướng là chẳng có bất cứ tướng nào, có thể làm cho nó biểu hiện ra. Từ điên đảo đến chẳng khởi, chẳng có bất cứ hình tướng nào có thể hình dung, đó là tướng không.</li>
</ol>
<ol>
<li value="14">&#8220;<strong>Thật vô sở hữu</strong>&#8221; là chẳng thể được không, quán thể khen ngợi trung đạo, chẳng rơi vào không, chẳng rơi vào có, chẳng có một vật.</li>
</ol>
<ol>
<li value="15">&#8220;<strong>Vô lượng</strong>&#8221; là có pháp không, có lượng tức có pháp, có lượng không tức có pháp không. Vô lượng tức là pháp vô số lượng. Pháp có số lượng như là năm ấm : Sắc, thọ, tưởng, hành, thức; sáu căn, sáu trần, hợp lại gọi là mười hai nhập (còn gọi là mười hai xứ), thêm vào sáu thức là mười tám giới. Ở trên đây đều là pháp có số mục. Quán trung đạo là vô số lượng, tức là toàn số mục, là không thiếu không thừa.</li>
</ol>
<ol>
<li value="16">&#8220;<strong>Vô biên</strong>&#8221; là chẳng có pháp không, pháp là biên, chẳng có pháp tức vô biên. Vô biên là không bờ không bến. Tất cả các pháp trong tiểu thừa đều có nhất định, cho nên có biên tế. Chẳng có pháp nhất định mới là vô bờ vô bến.</li>
</ol>
<ol>
<li value="17">&#8220;<strong>Vô ngại</strong>&#8221; là hữu pháp vô pháp không, hữu pháp không không, đều rõ bất khả đắc, cho nên là vô ngại, cũng là trung đạo quán trí vào khắp tất cả các pháp, mà chẳng có chướng ngại.</li>
</ol>
<ol>
<li value="18">&#8220;<strong>Vô chướng</strong>&#8220;, tức giáo không, phương ngại giá chướng đều bất khả đắc, cho nên không chướng. Chẳng có một pháp nào có thể che đậy chướng ngại trung đạo quán trí.</li>
</ol>
<p>&#8220;<strong>Đãn dĩ nhân duyên hữu</strong>&#8221; &#8211; có nghiã là tất cả pháp chỉ nhờ nhân duyên mà có, từ điên đảo mà sinh ra. Ðạo lý bên trong là vô cùng vô tận, giảng kinh chỉ là lược thuật đại khái mà thôi. ‘’Quán tất cả pháp không‘’, mười tám câu kinh văn sau, có thể y chiếu mười tám (cái) không của Kinh Ðại Bát Nhã để giải thích; lại có thể dùng tất cả pháp để giải thích. Tất cả pháp như thật tướng, tất cả pháp không điên đảo, tất cả pháp bất động, tất cả pháp không thối lùi, tất cả pháp không chuyển, tất cả pháp như hư không, tất cả pháp vô sở hữu, tất cả pháp ngữ ngôn đạo đoạn, tất cả pháp không sinh, tất cả pháp không xuất, tất cả pháp không khởi, tất cả pháp không tên, tất cả pháp không tướng, tất cả pháp thật vô sở hữu, tất cả pháp vô lượng, tất cả pháp vô biên, tất cả pháp không ngại, tất cả pháp không chướng.</p>
<p>Ðừng điên đảo, thêm vào sự phân biệt có không của các pháp, đây là pháp thật, kia là pháp giả, đây là có sinh, kia là chẳng sinh. Nên ở chỗ vắng vẻ tu nhiếp tâm mình, an trụ bất động, đứng vững bất động như núi Tu Di. Yên lặng quán tất cả các pháp đều chẳng có, giống như hư không, chẳng có tự thể, cho nên chẳng kiên cố. ‘’Không sinh không xuất‘’, ‘’không động không lùi‘’, ‘’thường trụ một tướng‘’, thường trụ ở tướng chẳng có chẳng không, đó gọi là chỗ tu hành của Bồ Tát.</p>
<p>Nếu quý vị thường xuyên tụng kinh Pháp Hoa, thì nên thiền quán 18 pháp không, trong phẩm An Lạc. Quý vị sẽ sớm ngày đắc được Pháp Hoa Tam Muội</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Phương Pháp Trị Bệnh</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/phuong-phap-tri-benh/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 06 Dec 2018 22:24:24 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài Luận]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://langnghiem.com/?p=4636</guid>

					<description><![CDATA[Hành giả phải biết bị bệnh có ba thứ khác nhau: 1. Một là bệnh...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><img loading="lazy" decoding="async" class="alignleft  wp-image-4637" src="http://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/12/sick.jpg" alt="" width="335" height="230" srcset="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/12/sick.jpg 597w, https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/12/sick-300x206.jpg 300w" sizes="auto, (max-width: 335px) 100vw, 335px" />Hành giả phải biết bị bệnh có ba thứ khác nhau:<br />
1. Một là bệnh ngũ căn thêm bớt. Ngũ căn đó là thân, lưỡi, mũi, tai và mắt<br />
2. Hai là bệnh do các quỉ thần làm, và do việc ma xúc não mà bị bệnh;<br />
3. Ba là nghiệp báo gây bệnh.</p>
<p>Các bệnh như thế khi mới bệnh thì phải trị ngay thì rất dễ lành. Nếu để lâu thì bệnh thành, thân gầy ốm, trị khó hết<br />
Về phương pháp trị bệnh, đã biết rõ bệnh từ nguồn gốc nào phát khởi thì phải làm theo cách thức mà trị.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>1. Một là bệnh ngũ căn thêm bớt.</strong></p>
<p>Thân bệnh, là thân thể đau ngứa, ghẻ nhọt, nhức mỏi&#8230;<br />
Lưỡi bệnh, là lưỡi sưng lở, đau rát ăn uống mất vị.<br />
Mũi bệnh, là mũi nghẹt, sổ mũi, sưng đau, v.v&#8230;<br />
Tai bệnh, là tai ù, điếc, hoặc kêu o o&#8230;<br />
Mắt bệnh là ma ét mờ đau xốn, sưng chảy ghèn, nước mắt v.v&#8230;</p>
<p>Cách trị bệnh có nhiều. Một là khí tức trị bệnh, đó là sáu cách thở và mười hai tưởng trong tâm . Thế nào là sáu cách:</p>
<p style="padding-left: 30px;">1. Xuy (thổi) &#8211; để đuổi lạnh<br />
2. Hô (thở ra hét) &#8211; để đuổi nóng<br />
3. Hy (cười hy hy) &#8211; để đuổi đau và dùng để trị phong.<br />
4. Ha (là hơi) &#8211; để đuổi phiền và để hạ khí<br />
5. Hư (hà hơi) &#8211; để tan đàm, lại để tiêu mãn.<br />
6. Thẩn (thở dài) &#8211; để bổ lao.</p>
<p>Sáu hơi thở này đều ở trong mỗi phương tiện chuyển trắc (đổi cách) mà làm. Nếu trị năm tạng:</p>
<ul>
<li>Xuy và Hô có thể trị tim.</li>
<li>Hư để trị gan</li>
<li>Ha để trị phổi</li>
<li>Hy để trị tỳ</li>
<li>Thẩn để trị thận.</li>
</ul>
<p>Lại nữa, có mười hai tức để trị được các bệnh:</p>
<ul>
<li>Một là thượng tức &#8211; trị trầm nặng</li>
<li>Hai là hạ tức &#8211; trị hư huyền</li>
<li>Ba là mãn tức &#8211; trị gầy khô</li>
<li>Bốn là tiêu tức &#8211; trị thủng mãn</li>
<li>Năm là tăng trưởng tức &#8211; trị tổn</li>
<li>Sáu là diệt hoại tức &#8211; trị tăng</li>
<li>Bảy là noãn tức &#8211; trị lạnh</li>
<li>Tám là lãnh tức &#8211; trị nóng</li>
<li>Chín là xung tức &#8211; trị ủng kết chẳng thông</li>
<li>Mười là trì tức &#8211; trị rung động</li>
<li>Mười một là hòa tức &#8211; trị bốn căn chẳng hòa</li>
<li>Mười hai là bổ tức &#8211; giúp bồi bổ bốn căn</li>
</ul>
<p>Mười hai thứ tức này đều tưởng trong tâm mà dùng, để đối trị các bệnh.</p>
<p>Khéo dùng tức này có thể trị khắp các bệnh. Dùng sai chỗ đều sinh ra các bệnh. Hãy suy ra mà biết. Các Sư dùng tức trị bệnh có rất nhiều phương pháp, v.v&#8230; chẳng thể nói hết. Nay lược bày một, hai điều để biết đại ý.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>2. Hai là bệnh do các quỉ thần làm, và do việc ma xúc não mà bị bệnh</strong></p>
<p>Ma Quỷ có bốn thứ: Một là ma phiền não. Hai là ma Ấm nhập giới. Ba là ma chết. Bốn là ma Thiên tử cõi Dục.</p>
<p>1. Ma phiền não, tức là ba độc, chín mươi tám sử, thủ hữu lưu ách phược cái, triền não kiết, v.v&#8230; đều phá hoại việc tu đạo</p>
<p>2. Hai là ma Ấm giới nhập là năm Ấm, mười hai nhập, mười tám giới tất cả gọi là sắc hệ phược chúng sinh. Ấm ngăn che gốc lành thanh tịnh công đức trí tuệ của hành giả, làm cho không lớn lên được nên gọi là Ma. Ðó là Ấm nhập cõi dục cho đến Ấm giới nhập Sắc và Vô Sắc cũng giống như thế. Nếu hành giả tâm không dứt thọ trước thì đều gọi là Ma. Nếu chẳng thọ chẳng đắm, quán như hư không thì chẳng bị che chướng, tức là phá nghiệp ma.</p>
<p>3. Ba là ma chết, là tất cả sinh tử nghiệp báo trôi lăn chẳng dứt đều gọi là Ma. Lại nữa, nếu hành giả muốn phát tâm tu đạo liền bị bệnh mà chết, hoặc bị người khác hại, chẳng thể tu đạo, liền bị bỏ phế. Nay tu tập Thánh đạo cho đến đời sau, nhân duyên chuyển khác, quên mất bản tâm đều gọi là việc ma. Lại nữa, khi hành giả phải tu đạo thì lo chết chẳng sống liền yêu đắm thân ấy mà chẳng tu đạo, cũng thuộc về ma chết.</p>
<p>4. Bốn là ma trời, tức là Ba-tuần. Ma này là kẻ thù của Phật pháp, thường sợ hành giả ra khỏi cõi ma nên sai các quỉ thần quyến thuộc làm các thứ não loạn phá hoại gốc lành của hành giả, đó là ma trời Tha Hóa Tự Tại.</p>
<p>4 loại ma quỷ nầy thường tới phá các vị tu hành. Nếu quý vị muốn biết thêm chi tiết thì nên đọc quyển thứ 9 và 10 trong kinh Lăng Nghiêm. 2 quyển nầy nói rõ về 50 ma cảnh.</p>
<p>Phương pháp trị bệnh là dùng chú thuật trị bệnh. Muôn pháp đều có đối trị, dùng tướng mà nhàm chán, khéo biết pháp thuật ấy mà dùng, đều lành bệnh cả. Chú pháp ấy từ các kinh trong Mật Tông. Thuật pháp thì các Sư dấu kín, phần nhiều chẳng truyền bừa. Trong đại tạng kinh thì có Chú Lăng Nghiêm, Thập Chú, Chú Đại Bi và các bài chú trong Kinh Pháp Hoa, Kinh Hoa Nghiêm, v.v..</p>
<p>Nếu không học mật chú thì phải dùng ba pháp thiền định để trừ bỏ ma nghiệp.</p>
<ul>
<li>Một là phải biết chỗ thấy, nghe, hay, biết là không thật có, chẳng thọ nhận, chẳng mê đắm, cũng chẳng lo sợ, cũng chẳng phân biệt thì nó liền không hiện.</li>
<li>Hai là chỉ quán trở lại tâm thấy, nghe, hay, biết kia chẳng thấy có chỗ sinh, làm sao não loạn được. Khi quán như thế thì chẳng thọ, chẳng phân biệt, chúng liền tự tan biến</li>
<li>Ba là nếu thực hành quán này chẳng bỏ đi ngay, chỉ nên chánh niệm chớ sợ hãi, chẳng mê đắm, thân mạng, chánh tâm bất động, biết ma giới Như thì Phật giới Như, Ma giới Như thì Phật giới Như, một Như không hai Như. Không bỏ Ma giới, không theo ma giới, tức Phật pháp hiện tiền, Ma tự tan biến. Ðã chẳng thấy đến đi, cũng chẳng lo mừng. Nếu ma quỷ hiện hình thành hổ báo đến ăn thịt quý vị, phải biết đó việc đó là không thật, phải biết đó là giả dối. Biết như thế thì tâm không còn sợ hãi.</li>
</ul>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>3. Ba là nghiệp báo gây bệnh.</strong></p>
<p>Nếu là nghiệp bệnh thì phải nhờ tu phước sám hối chuyển đọc tụng thì bệnh sẽ tự hết. Hai là dụng tâm chủ cảnh mà trị bệnh. Tâm phụ trách quả báo trong một thời kỳ, ví như vua đến chỗ nào thì giặc phải tan. Tâm vương cũng thế, hễ chỗ nào có bệnh sinh trụ tâm trong ấy trải lâu chẳng tan thì bệnh liền dứt hết. Lại có thầy nói dụng tâm trụ vào Ưu-đà-na, Hán dịch là Ðan điền, cách rún 2,5 tấc về phía dưới (2,5 lóng tay) thì trị được nhiều bệnh. Dụng tâm trong ngồi thiền để trị bệnh thì phải có đủ mười pháp thì đều có ích lợi. Mười pháp đó là:</p>
<p>Một là tin. Hai là dụng. Ba là siêng năng. Bốn là thường trụ trong duyên. Năm là biết do đây mà khởi. Sáu là phương tiện. Bảy là làm lâu. Tám là biết lấy bỏ. Chín là khéo giữ gìn. Mười là biết ngăn che.</p>
<p>1. Tin, nghĩa là tin pháp này có thể trị bệnh</p>
<p>2. Dụng, tức là lúc nào cũng dùng</p>
<p>3. Siêng, là chuyên tinh dùng chẳng thôi, lấy hạn được làm mức</p>
<p>4. Thường trụ trong duyên, là tế tâm niệm niệm, y pháp chẳng ta tán loạn</p>
<p>5. Riêng biết bệnh do đâu khởi lên, là biết nguyên nhân bệnh khởi như trên nói</p>
<p>6. Phương tiện, là lấy bỏ duyên tưởng vận tâm khéo léo thành tựu, chẳng thất nghi</p>
<p>7. Làm lâu, nếu dụng mà chưa có ích ngay thì chẳng kể ngày tháng thường thực hành chẳng bỏ</p>
<p>8. Biết lấy bỏ, nghĩa là biết có ích thì siêng làm, dùng có lại thì bỏ đi, dần dần chuyển tâm mà trị</p>
<p>9. Biết giữ gìn, nghĩa là khéo biết duyên lạ phạm xúc</p>
<p>10. Ngăn che, nghĩa là được lợi ích thì chẳng nói ra ngoài, chưa được và tổn hại thì chẳng chê bai nghi ngờ.</p>
<p>Nếu y theo mười pháp này mà trị thì chắc chắn có công hiệu.</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Quà lễ trong mùa Giáng Sinh</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/qua-le-trong-mua-giang-sinh/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 03 Dec 2018 19:33:02 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài Luận]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://langnghiem.com/?p=4617</guid>

					<description><![CDATA[Lễ Giáng Sinh, còn được gọi là ngày Noel hay Christmas là một ngày lễ...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><img loading="lazy" decoding="async" class="alignleft  wp-image-4620" src="http://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/12/christmasPresents.jpg" alt="" width="308" height="197" srcset="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/12/christmasPresents.jpg 729w, https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/12/christmasPresents-300x192.jpg 300w" sizes="auto, (max-width: 308px) 100vw, 308px" />Lễ Giáng Sinh, còn được gọi là ngày Noel hay Christmas là một ngày lễ kỷ niệm Chúa Giêsu sinh ra đời. Theo truyền thống, Giáng sinh trước hết là một dịp đoàn tụ gia đình, để mỗi người nói lên tình yêu và tỏ sự quan tâm tới những người thân trong gia đình, họ hàng và với bạn bè, hàng xóm. Những người con học hay đi làm xa về nhà thăm gia đình.</p>
<p>Ngày lễ giáng sinh thường được ăn mừng vào tối ngày 24 tháng 12 và được cử hành chính thức vào ngày 25 tháng 12. Sau buổi thánh lễ vào chiều ngày 24 tháng 12, thường được nối tiếp là một bữa ăn tối chung trong gia đình. Sáng sớm ngày 25 tháng 12, cả gia đình thức dậy trao và mở quà tặng. Giáng Sinh là ngày lễ lớn nhất ở Hoa Kỳ, tương tự với Tết Nguyên Đán ở Việt Nam, đều nhấn mạnh đến ý nghĩa sum họp gia đình.</p>
<p>Ngày nay, ở Việt Nam, dù không phải là ngày nghỉ chính thức nhưng Giáng sinh dần dần được coi như một ngày lễ chung, thường được tổ chức vào tối 24 và kéo sang ngày 25 tháng 12. Một số công ty, tổ chức tư nhân cũng bắt đầu cho nhân viên nghỉ trong ngày Giáng sinh. Lễ Giáng sinh ở Việt Nam là một dịp sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Trong đêm Giáng Sinh, những đôi tình nhân âu yếm tặng quà cho nhau, trẻ em háo hức chờ sự xuất hiện của ông già Noel, gia đình bè bạn rủ nhau hội hè, yến tiệc, &#8230; và đặc biệt là những người Công giáo thì chuẩn bị tham dự thánh lễ tại thánh đường giáo xứ hoặc giáo họ.</p>
<p>Sáng ngày 25 tháng 12, mọi người trao quà tặng cho nhau. Những món quà có giá trị tùy theo túi tiền và tấm lòng của người tặng. Giá trị món quà tùy theo sự cảm ứng của người nhận. Thí dụ như một sợi dây chuyền vàng kim cương của một đại gia tặng để lấy lòng người đẹp thì làm sao so sánh với một bài thơ của một người con tặng cho mẹ trong ngày Giáng Sinh. Suốt năm vừa qua, người con nhỏng nhẻo và đòi mẹ cưng chìu mọi thứ. Đó là tánh ích kỷ của người con đối với mẹ. Tới gần ngày Giáng Sinh, người con hồi quang phản chiếu và càng thấy thương mẹ mình nhiều hơn. Với tấm lòng đó, người con làm một bài thơ tặng mẹ và tặng mẹ một ngày yên tỉnh nghĩ ngơi, không nấu ăn dọn dẹp. Một món quà Giáng Sinh đầy ý nghiã.</p>
<p>Ý nghiã món quà không phải là món quà tặng cho (giving to) mà là món quà buông thả (giving up). Buông thả cái gì? Đó là buông thả tánh tình ích kỷ, tham lam, tự lợi tự tha trong mùa lễ Giáng Sinh. Cho nên trong mùa lễ Giáng Sinh, trước khi chạy ra tiệm mua quà tặng cho người thân, hãy hít một hơi thở thanh tịnh và hồi quang phản chiếu lại cái tánh tham của mình trong năm vừa qua. Khi quý vị nhận ra cái tánh tham như tham ăn, tham ngủ, tham tài, &#8230; , quý vị sẽ nhận ra những tánh tham đó mang lại những thiệt thòi gì, đối với người thân của quý vị. Quý vị sẽ hiểu được món quà gì, xứng đáng nhất, để tặng cho người thân của quý vị.</p>
<p>Trong buổi sáng Giáng Sinh năm nay, đừng làm người mở quà và nói câu cám ơn. Hãy làm người nói câu cám ơn khi trao tặng quà.</p>
<p>&nbsp;</p>
<h2 style="text-align: center;"><em><span style="color: #ff0000;">Thanks for Giving</span></em></h2>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Lăng Nghiêm Tự</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/lang-nghiem-tu/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 29 Nov 2018 19:09:31 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Lăng Nghiêm]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://langnghiem.com/?p=4604</guid>

					<description><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự không phải là một ngôi chùa hay một nơi, một chổ. Vậy...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><img loading="lazy" decoding="async" class="alignleft  wp-image-4609" src="http://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/11/langNghiemTu.jpg" alt="" width="218" height="161" srcset="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/11/langNghiemTu.jpg 501w, https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/11/langNghiemTu-300x222.jpg 300w" sizes="auto, (max-width: 218px) 100vw, 218px" />Lăng Nghiêm Tự không phải là một ngôi chùa hay một nơi, một chổ. Vậy Lăng Nghiêm Tự ở đâu, và các vị tu hành tu hành nơi đâu? Câu trả lời đó nằm tại trong ý nghiã của chữ &#8220;Lăng Nghiêm Tự&#8221;.</p>
<p>Lăng Nghiêm (Śūraṃgama) là tiếng Sanskrit, có nghĩa là bền chắc nhất trong tất cả mọi thứ. Tất cả mọi thứ, mọi vật thể, như núi, sông, đất đai, nhà cửa, người, vật, các loài sinh từ bào thai, từ trứng, từ nơi ẩm thấp hoặc loài hóa sinh. Tất cả những thứ đều phải được thể nghiệm qua chiều sâu và tính vững chãi mới có thể đạt được bản thể của định, bản thể của “mật nhơn.”. Khi hành giả đạt được “đại định” của “mật nhơn”, người ấy là một bằng chứng của “liễu nghĩa.”. Khi một hành giả đã đạt được liễu nghĩa, nghĩa là hành giả ấy đã tu tập lục độ vạn hạnh của bồ-tát, đã chứng được “đại hạnh.”. Chứng được “đại hạnh” rồi sau đó mới thành tựu được loại định cứu cánh kiên cố nhất trong các hiện tượng, đó là “đại quả”, kết quả lớn nhất trong tất cả các kết quả. Đó là quả vị Lăng Nghiêm Đại Định.</p>
<p>&#8220;Tự&#8221; là gì? Chữ Tự có nghiã là chùa, tiếng Anh là Temple. Ngài Đạt La Ma (Dalai Lama) giảng giải ý nghiã chữ Temple như sau:</p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="size-medium wp-image-4600 alignright" src="http://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/11/dalaiLama-300x193.jpg" alt="" width="300" height="193" srcset="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/11/dalaiLama-300x193.jpg 300w, https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/11/dalaiLama.jpg 640w" sizes="auto, (max-width: 300px) 100vw, 300px" /></p>
<p>Tâm là chùa, chùa là tâm. Chùa nằm tại tâm. Trong tâm có chùa. Vậy Lăng Nghiêm Tự đó là gì? Đó là chân tâm, vốn không thể thấy được. Tâm nằm trong lồng ngực mà quý vị có thể trông thấy được, đó chỉ là trái tim, nhiệm vụ nó là để giúp cho quý vị sống còn. Đó không phải là chân tâm. Trái tim ấy chắc chắn không thể nào dẫn quý vị đến sự hiểu biết chân chính. Nếu trái tim trong lồng ngực quý vị là chân tâm, thì lẽ ra nó phải cùng đồng hành với quý vị khi chết đi. Vậy mà sau khi chết thân xác quý vị còn đó mà trái tim vẫn nằm yên trong thân. Thế nên trái tim thịt ấy không phải là chân tâm.</p>
<p>Các ngôi chùa mà quý vị đã đi hành hương viếng thăm là những ngôi nhà che mưa che nắng để quý vị tu hành. Những nơi đó cũng như trái tim của quý vị, nhiệm vụ nó là để giúp cho quý vị sống. Các ngôi chùa đó thường phải tu bổ chăm sóc, nó không giống như Lăng Nghiêm Tự, kiên cố bất sanh bất diệt. Lăng Nghiêm Tự là tâm chân thật và Tâm chân thật của quý vị chính là Phật tánh. “Thế Phật tánh ở nơi đâu?”</p>
<p>Phật tánh chẳng ở trong, chẳng ở ngoài, chẳng ở giữa. Kinh văn sẽ giải thích đạo lý này rất chi tiết. Trong kinh cũng sẽ giải thích “Thập phiên hiển kiến” (mười lần chỉ bày tánh thấy), đó là “chân tâm.” Đây là nguyên nhân thứ ba khiến Đức Phật tuyên thuyết bộ kinh này, là để chỉ bày rõ cho chúng sinh Thường Trụ Chân Tâm Tánh Tịnh Minh Thể (thể tánh thanh tịnh sáng suốt thường trụ của chân tâm). Chơn tâm này vốn không đi, không đến, không biến đổi, không dao động. Chơn tâm ấy là bản thể, không bị nhiễm ô. Bản chất của chân tâm hoàn toàn thanh tịnh. Thể tánh của chân tâm hoàn toàn sáng suốt.</p>
<p>Vậy quý vị có nên rời bỏ chùa để lên núi vào hang đá tu hành hay không? Dĩ nhiên là không. Hang động cũng là nơi che mưa che gió. Hang động cũng là tướng, vẫn trải qua sanh trụ hoại không. Đó là tu hành với tâm phân biệt và vọng tưởng. Đem tâm phân biệt (thức) và vọng tưởng mà tu học Phật pháp cũng giống như nấu cát mà mong thành cơm, không thể nào thành tựu được, dù quý vị có tu hành như thế trải qua vô số kiếp, cũng không thể nào thoát khỏi vòng luân hồi, chẳng thể nào thành Phật được.</p>
<p>Yếu chỉ tu hành tại Lăng Nghiêm Tự là phá hủy và làm tiêu tan những vọng tưởng điên đảo này và phá trừ những mê lầm rất vi tế nhỏ nhiệm từ tâm thức. Giáo thể của Lăng Nghiêm Tự cũng căn cứ vào duy thức môn và khi quy về Như Lai Tạng. Tánh quy về chân như, thì không liên quan đến hiện tượng nữa mà nói thẳng đến bản thể nên gọi là quy tánh môn. Quy tánh môn là hoàn toàn viên dung không ngăn ngại, vì thức tâm có thể tánh nhất định, nên tất cả đều quy về chơn tánh. Vậy quy tánh là giáo thể Lăng Nghiêm Tự. Quy tánh môn là quay về với thể tánh của chúng sinh. Khi các môn dung nhiếp với nhau không ngăn ngại, sự lý vô ngại chính là giáo thể của Lăng Nghiêm Tự.</p>
<p>Tu hành tại Lăng Nghiêm Tự không phải tu hành theo Nhị Thừa (Thanh văn, Duyên giác), cũng không phải quyền thừa, mà là Thật Thừa. Thật Thừa là gì? Đó là nhất thừa thật pháp, đó tức là: hoa nở sen hiện, cũng gọi là khai quyền hiển thật. Hoa rụng sen thành, tức gọi là bỏ quyền lợi thật, xả bỏ quyền pháp, tuyên lưu ra diệu pháp chân thật. <strong>Thật</strong> giáo thượng thừa tức là viên đốn nhất <strong>Thừa</strong>, cho nên gọi là Thật Thừa, một giáo lý bất biến, hằng vĩnh.</p>
<p>Lăng Nghiêm Tự là ngôi chùa không có tướng thì làm sao mà suy hoại, làm sao mà phá vỡ. Người đời bên ngoài chấp <em>tướng</em>, bên trong chấp <em>không</em>. Nếu có thể nơi tướng ly khai tướng, nơi không rời không, đó chính là không chấp nơi không, không chấp nơi có. Cũng chính là trong ngoài không mê, không mê sẽ không chấp trước, không chấp trước thì không có mê. Nếu có thể hiểu rõ diệu pháp này thì trong một niệm tâm có thể sáng suốt khai ngộ</p>
<p>Cho nên chỗ nào quý vị đi đến, thì chỗ đó là Lăng Nghiêm Tự. Ngay cả trên mạng, trên website nầy, Lăng Nghiêm Tự tại đây đâu có hình thể để quý vị nắm lấy, nhưng nó đang hiện hữu trước mặt quý vị. Chỉ cần quý vị đón nhận nó, thì bạn không cần tốn kiếm một đồng xu, mà quý vị cũng có một Lăng Nghiêm Tự để quý vị tu hành.</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Hạnh Hoan Hỉ trong Thập Hạnh</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/hanh-hoan-hi-trong-thap-hanh/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 28 Nov 2018 18:38:12 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài Luận]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://langnghiem.com/?p=4586</guid>

					<description><![CDATA[Người tu đạo, phải y theo Phật trí để tu hành, đây là năng y....]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p>Người tu đạo, phải y theo Phật trí để tu hành, đây là năng y. Thập hạnh là sở y, sở y chiếu mười hạnh môn để tu hành. Thập hạnh tức là thập độ. Bồ Tát phải tu hành thập độ (pháp môn Ba La Mật), khi công đức viên mãn, thì mới chứng nhập ba bậc Hiền (thập trụ, thập hạnh, thập hồi hướng), sau đó chứng nhập mười bậc Thánh (thập địa). Những gì là thập hạnh ?<img loading="lazy" decoding="async" class="wp-image-4591 alignleft" src="http://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/11/giving.jpg" alt="" width="344" height="278" srcset="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/11/giving.jpg 470w, https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/11/giving-300x243.jpg 300w" sizes="auto, (max-width: 344px) 100vw, 344px" /></p>
<ol>
<li>Hạnh hoan hỉ là pháp môn bố thí của Bồ Tát tu, chẳng những tự mình hoan hỉ, mà cũng khiến cho chúng sinh hoan hỉ.</li>
<li>Hạnh nhiêu ích là pháp môn trì giới của Bồ Tát tu, đều là lợi ích chúng sinh, khiến cho chúng sinh đắc được ấm no và đầy đủ.</li>
<li>Hạnh vô vi nghịch là pháp môn nhẫn nhục của Bồ Tát tu, chẳng trái ngược với mình, cũng chẳng trái ngược với chúng sinh.</li>
<li>Hạnh vô khuất nhiễu là pháp môn tinh tấn của Bồ Tát tu, cũng chẳng khiến cho mình khuất nhiễu, cũng chẳng khiến cho chúng sinh khuất nhiễu.</li>
<li>Hạnh vô si loạn là pháp môn thiền định của Bồ Tát tu, thân tâm chẳng điên đảo, vì có định lực, nên hạnh chẳng loạn.</li>
<li>Hạnh thiện hiện là pháp môn Bát Nhã của Bồ Tát tu, thấu rõ pháp thế gian là vô thường, khổ, không, vô ngã; và hiểu rõ pháp xuất thế là thường, lạc, ngã, tịnh.</li>
<li>Hạnh vô trước là pháp môn phương tiện của Bồ Tát tu, có cảnh giới sự lý chẳng trì trệ, dùng phương tiện khéo léo để độ chúng sinh.</li>
<li>Hạnh nan đắc là pháp môn nguyện của Bồ Tát tu, là đại nguyện đại hạnh, đại từ đại bi, độ khắp chúng sinh.</li>
<li>Hạnh thiện pháp là pháp môn lực của Bồ Tát tu, có trí huệ lực, mới thực hành tất cả pháp lành, có lực ngu si thì muốn làm tất cả pháp ác.</li>
<li>Hạnh chân thật là pháp môn trí của Bồ Tát tu, lời nói việc làm đều chẳng hư vọng, tất cả đều chân thật.</li>
</ol>
<p>Ðây là mười hạnh môn của Bồ Tát tu, cũng là mười pháp tiêu chuẩn của người tu đạo, mọi người thực hành, thì mọi người đều là Bồ Tát.</p>
<p>Bài viết hôm nay sẽ thảo luận về bậc cấp đầu tiên của Thập Hạnh, đó là Hạnh Hoan Hỉ. Trong kinh đức Phật nói: &#8220;A-nan! Thị Thiện nam tử, thành Phật tử dĩ. Cụ túc vô lượng, Như Lai diệu đức. Thập phương tùy thuận, danh Hoan Hỉ Hạnh. &#8220;</p>
<p><strong>Giảng</strong>: A Nan! Thiện Nam tử ấy, đã thành con Phật, đầy đủ vô lượng diệu của đức Như Lai, tùy thuận mười phương chúng sanh, phương tiện tiếp dẫn, gọi là Hoan Hỉ Hạnh.</p>
<p>&#8220;<strong>Tùy thuận mười phương chúng sanh</strong>&#8221; là tu hành phải lợi ích cho tất cả mọi người, đây gọi là lập công. Ðức tức là âm chất, nghĩa là lợi ích cho người, mà không mong người biết. Do đó : “Âm chất đức hạnh”. Trước hết phải lập công, công hạnh viên mãn, thì mới có đức hạnh. Có đức hạnh rồi thì mới dám nhận cúng dường. Phàm là Bồ Tát tu hạnh hoan hỉ, phải làm một vị đại thí chủ, đem tất cả của cải tài vật của mình, bố thí hết cho những chúng sinh cần. Bất cứ là ngoại tài hoặc nội tài, Ngài đều bố thí không sẻn tiếc, Do đó : “Tam luân thể không”. Nghĩa là chẳng có người bố thí, chẳng có người nhận, cũng chẳng có vật thí, tư tưởng như vậy mới là chân bố thí. Bố thí có 3 loại:</p>
<ol>
<li>Bố thí tài (tu phước) &#8211; giving of wealth.</li>
<li>Bố thí pháp (tu huệ) &#8211; giving of Dharma.</li>
<li>Bố thí vô uý (tu giới) &#8211; giving of fearlessness</li>
</ol>
<p>Có rất nhiều vị tu hành trước khi xuất gia đều tu hành cả 3 loại bố thí trên. Nhưng sau khi xuất gia, đọc kinh và nghe nói bố thí pháp là cao cả trên hết. Không hiểu toàn ý của kinh, lấy bố thí pháp làm trọng và không còn tu 2 loại bố thí kia,: bố thí tài và bố thí vô uý.<br />
“Siêng tu giới định huệ, Diệt trừ tham sân si”</p>
<p>Nếu chỉ tu huệ thì chỉ có thể diệt trừ si. Còn tham và sân thì chừng nào tu hành. Cho nên nhiều khi càng tu hành thì càng mê Tướng. Mê có chùa đẹp có chùa to lớn. Cho rằng chùa càng lớn thì độ càng nhiều người. Họ quên rằng tu pháp là tu huệ, dùng Phật pháp độ người. Đâu có kinh nào nói rằng dùng tướng để độ người. <span class="st">Người chân chánh học <em>Phật</em> pháp <em>thì</em> phải lìa <em>tướng</em>, lìa <em>tướng</em> tức là bồ đề. </span>Trong 55 địa vị tu hành Bồ Tát: Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Tứ Gia Hạnh, Thập Địa, Đẳng Giác. Đâu có địa vị hay giai cấp nào là Thập Tướng &#8211; Chùa To</p>
<p>Nếu các vị hỏi các Phật Tử lý do Phật Tử cúng dường. Các Phật Tử sẽ trả lời là lúc ban đầu cầu Phước, sau là mong các tăng ni có chổ tu hành. Có nhiều vị tu hành xây chùa để cho các tăng ni ở thì đó là đều tốt. Nhưng khi đã có nơi tu hành rồi lại càng muốn xây cho to cho đẹp. Có nhiều chùa xây dựng trên 30 năm mà vẫn còn tổ chức gây quỹ. Xây dựng chùa nữa chừng thì dừng không được, xây tiếp cũng không xông. Chùa càng lớn, nợ càng nhiều.</p>
<p>Nếu quý vị tu hành nghĩ rằng, quý vị tu hành tại ngôi chùa to lớn thì sẽ có nhiều Phật Tử. Quý vị mê lầm rồi. Không tin cuối tuần nay, chuà quý vị tổ chức 3 buổi lễ.</p>
<ul>
<li>Một nơi là tại ngôi chùa. Một vị ngồi trên ghế thuyết pháp</li>
<li>Một nơi là tại ngôi chùa lớn.</li>
<li>Một nơi là tại một công viên lớn. Một vị ngồi dưới góc cây ngồi thiền, hay niệm Phật</li>
</ul>
<p>Sau 2 ngày Thứ Bảy và Chủ Nhật, quý vị đếm coi có bao nhiêu Phật Tử ghé thăm tại 3 chỗ. Qua số người ghé qua, quý vị sẽ hiểu rõ Phật Tử nơi thành phố của quý vị. Và trong tương lai quý vị sẽ dùng đúng phương tiện để tu hành và làm đúng theo Hoan Hỉ Hạnh. Đó là &#8220;Tùy thuận mười phương chúng sanh&#8221;.</p>
<p>Không hoàn thành Hoan Hỉ Hạnh mà lại mang nợ của chúng sanh. Vì sao mang nợ chúng sanh? Tại vì chúng sanh bố thí tài là những phàm phu, luôn luôn mê đắm tiền tài, tuy tụng kinh Bát Nhã, nhưng không thể áp dụng Kinh Bát Nhã. Có nghĩ là họ vẫn còn luống tiết số tiền đã cúng dường, vẫn thấy mình cúng dường, vẫn thấy các tăng ni thọ nhận, vẫn cầu phước thọ. Người cho không thật tâm hoan hỷ thì việc bố thí đó sẽ trở thành nhân quả nợ nần. Các vị có bao giờ nghĩ rằng, thọ nhận cúng dường từ những Phật Tử đó thì kiếp sau quý vị sẽ làm trâu làm bò để trả nợ hay không?</p>
<p>Vậy các chùa cũ đã xây dựng lên do tiền và sức lực của các Phật Tử có cần phải trả ân thí chủ hay không? Câu trả lời nầy tùy vị chủ trì nào đứng ra tạo dựng công việc xây cất. Nếu là một vị Ðại Bồ-tát thì không cần phải trả ân thí chủ. Vì sao?</p>
<p>Vì đã trả đủ rồi. Vì Ðại Bồ-tát là vị đại thí chủ bố thí các thiện pháp cho chúng hữu tình. Nghĩa là bố thí cho chúng hữu tình mười nẻo nghiệp thiện, năm giới Cận sự, tám giới Cận trụ, bốn Tĩnh lự, bốn Vô lượng, bốn Ðịnh vô sắc, bốn trí Thánh đế, bốn Niệm trụ, bốn Chánh đoạn, bốn Thần túc, năm Căn, năm Lực, bảy chi Ðẳng giác, tám chi Thánh đạo, sáu pháp Ba-la-mật-đa, mười tám pháp không, mười lực của Phật, bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại Từ, đại Bi, đại Hỷ, đại Xả, mười tám pháp Phật bất cộng, trí Nhất thiết, trí Ðạo tướng, trí Nhất thiết tướng. Vì Bồ-tát bố thí cho các hữu tình vô lượng, vô số, vô biên thiện pháp như vậy nên gọi là đại thí chủ. Do đó đã trả ân cho thí chủ, phước điền chân thật thanh tịnh sinh vô lượng phước.Vì vậy khi các chúng sanh có duyên kiếp này gặp lại vị đại Bồ Tát đó, họ đều hoan hỷ cúng dường xây dựng chùa và tượng Phật.</p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" width="300" height="190" class="size-medium wp-image-4595 alignleft" src="http://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/11/toGive-300x190.jpg" srcset="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/11/toGive-300x190.jpg 300w, https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/11/toGive.jpg 640w" sizes="auto, (max-width: 300px) 100vw, 300px" /></p>
<p>Muốn chúng sanh hoan hỷ thì trước nhất là quý vị phải hành hạnh hoan hỷ. Kinh Kim Cang nói rằng: &#8220;Sắc, thọ tưởng rồi mới hành&#8221;. Sắc là lià bỏ cái mê sắc mê tướng. Thọ là không còn thọ hưởng ái lạc tiền tài phú quý. Tưởng là không còn mơ tưởng chùa to tài sắc. Tưởng là không còn mơ mộng trong cuộc sống hằng ngày và ngay cả trong mơ mộng khi ngủ. Lúc đó thì quý vị mới bước tới &#8220;Hành&#8221; trong sắc thọ tưởng hành. Hành là hành động trong buông bỏ cái ngã cái tôi cái lợi ích riêng tư. Chỉ còn để lại những hành động hoan hỷ cứu độ tất cả chúng sanh.</p>
<p>Không muốn lợi ích cho chính mình, căn bản là chẳng có sự mong cầu, vì rằng đạt đến vô cầu phẩm tự cao, đương nhiên cũng không lo, tại sao chúng ta sầu lo? Vì có sự tham cầu, có tham cầu thì có sầu lo. Quý vị không tham cầu danh văn lợi dưỡng, cũng không tham cầu năm dục – tài, sắc, danh, ăn, ngủ. Quý vị đối với những thứ nầy đều giải thoát, càng không tham sự cúng dường. Chỉ chuyên bố thí cho tất cả chúng sinh, vì quý vị chuyên nhất tu bố thí, bất luận cúng dường gì, quý vị đều đem cho hết thảy chúng sinh.</p>
<p>Quý vị phải phát đại tâm nguyện, đại từ, đại bi, đại bố thí, là vì cứu độ tất cả chúng sinh, khiến cho được lìa khổ, ái hộ tất cả chúng sinh, khiến cho chúng sinh được an vui. Do đó, quý vị lại cầu thêm một bước nữa, làm thế nào tại thế gian lợi ích chúng sinh, lại làm thế nào lợi ích chúng sinh xuất thế gian. Luôn luôn tu hạnh Bồ Tát nầy, chưa từng sinh tâm nhàm mỏi, như vậy lâu dần sẽ thành tựu tâm rất tự nhiên chẳng có sự nhàm mỏi.</p>
<p>Đắc được tâm không nhàm mỏi rồi, thì gieo xuống sức tinh tấn không giải đãi, đối với tất cả Kinh điển luận thuyết đại thừa, càng không có tâm sợ hãi khiếp nhược làm chướng ngại, cũng chẳng sợ Phật pháp như biển cả, không dám đi nhiếp thọ. Phàm là Kinh điển của Phật nói, một khi thấy thì mắt sẽ tỏ rõ, chiếu thấu thật tướng các pháp, vào sâu tạng Kinh, trí huệ như biển, thành tựu trí huệ nghiên cứu tất cả Kinh luận.</p>
<p>Quý vị đắc được trí huệ vào sâu tạng Kinh, trí huệ như biển rồi, đối với tất cả sự lý, kế hoạch đều rất tỉ mỉ, nghĩ việc gì đáng làm, việc gì không đáng làm, đều phân biệt nhận thức được rõ ràng. Gặp chúng sinh thượng căn thượng trí, chúng sinh trung căn trung trí, hạ căn ngu si, quý vị đều tuỳ theo sức của mình, hiểu rõ ưa thích chán ghét tập tánh của chúng sinh, nên dùng phương pháp và thân phận gì mới có thể độ được họ, đều tuỳ thuận giáo hoá chúng sinh. Vì quý vị đã thành tựu trí huệ thế gian pháp.</p>
<p>Quý vị thành tựu trí huệ thế gian rồi, có lực quyết định “biết thời biết lượng”, biết rõ cơ duyên của tất cả chúng sinh đã thành thục chưa, những chúng sinh đó đáng được độ trước, nên dùng pháp gì, những chúng sinh cơ duyên chưa thành thục, thì chưa nên độ. Tuỳ thời quý vị đều cảnh sách chính mình, phát tâm hổ thẹn, dùng “sự hổ thẹn” để “trang nghiêm” chính mình, tu phước tu huệ, tích tụ phước đức.</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Người &#8211; Thịt</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/nhan-thit/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 22 Nov 2018 22:02:04 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài Luận]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://langnghiem.com/?p=4495</guid>

					<description><![CDATA[“Trong chữ thịt có hai người Bên trong chiếu người bên ngoài Chúng sinh còn...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><img loading="lazy" decoding="async" class="alignleft  wp-image-4500" src="http://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/11/nhanThit.jpg" alt="" width="340" height="195" srcset="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/11/nhanThit.jpg 412w, https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/11/nhanThit-300x172.jpg 300w" sizes="auto, (max-width: 340px) 100vw, 340px" />“Trong chữ thịt có hai người<br />
Bên trong chiếu người bên ngoài<br />
Chúng sinh còn ăn thịt chúng sinh<br />
Suy gẫm kỹ thì người ăn người”.</p>
<p>Trong chữ thịt có hai người, một là người ăn thịt, một là người bị ăn. Người ăn thịt thì đầu ở ngoài thịt; người bị ăn thì đầu ở trong thịt. Đời này bạn ăn thịt tôi, đời sau tôi sẽ ăn thịt bạn, đó là nhân quả trả vay.</p>
<p>Cho nên thế giới không có ngày nào hoà bình, khi nào oán cừu đến thì sẽ xảy ra chiến tranh; nhân cơ hội đó, chúng sinh tàn sát lẫn nhau, đó đây vay trả lẫn nhau, chẳng phải vay nợ, thì là trả nợ. Đây là nhân quả báo ứng, tơ hào không sai.</p>
<p>Người bên ngoài chữ thịt, thì ăn người bên trong chữ thịt. Người nầy cũng có thể là bạn bè của bạn trong đời trước, đời này đã thay hình đổi dạng, bạn ăn thịt của nó, liền kết thêm oán cừu. Tương lai, nó sẽ phục thù, chắc chắn sẽ đến ăn thịt của bạn, thì mới hả giận. Do đó có câu: “Oán oán tương báo”, vĩnh viễn không khi nào chấm dứt. Nếu bạn không ăn thịt, thì tất cả mọi oán cừu sẽ được hoá giải, hoá địch thành bạn.</p>
<p>Người ở trong thịt, cũng có thể là người thân của bạn trong quá khứ, hoặc là anh em chị em không chừng, hoặc là cha mẹ con cái. Tóm lại, có thể là người thân cốt nhục. Họ đã thay mắt đổi mày, bạn có thể nhẫn tâm ăn thịt của họ chăng?</p>
<p>Cho nên Phật giáo đề xướng bình đẳng, từ bi, không nhẫn tâm ăn thịt chúng sinh. Vậy, làm thế nào để trở thành tập quán không ăn thịt? Phương pháp rất là đơn giản, khi nào bạn muốn ăn thịt, thì liền quán tưởng hình chữ trên và nghĩ rằng: “Đây là thịt tử thi, hôi quá không thể ngửi”. Quán tưởng như thế, thì ba ngày sau làm gì mà còn tâm hồn ăn thịt nữa! Người thích ăn thịt, đừng ngại hãy thử xem biện pháp nầy.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" width="816" height="438" class="size-medium wp-image-4496 aligncenter" src="http://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/11/nguoiMeat.jpg" srcset="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/11/nguoiMeat.jpg 816w, https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/11/nguoiMeat-300x161.jpg 300w, https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/11/nguoiMeat-768x412.jpg 768w" sizes="auto, (max-width: 816px) 100vw, 816px" /></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>108 Hạt trong chuỗi niệm Phật</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/108-hat-trong-chuoi-niem-phat/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 28 Sep 2018 20:55:27 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài Luận]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://langnghiem.com/?p=4403</guid>

					<description><![CDATA[Phần đông quý vị niệm Phật qua câu &#8220;Nam Mô Phật&#8221;. Ba danh hiệu mà...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: left;"><img loading="lazy" decoding="async" class="alignleft  wp-image-4404" src="http://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/09/108balls.jpg" alt="" width="351" height="197" srcset="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/09/108balls.jpg 500w, https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/09/108balls-300x169.jpg 300w" sizes="auto, (max-width: 351px) 100vw, 351px" />Phần đông quý vị niệm Phật qua câu &#8220;Nam Mô Phật&#8221;. Ba danh hiệu mà các Phật Tử hầu như có nghe qua là: &#8220;Phật, Như Lai, Thế Tôn.&#8221; Có vài kinh viết ra 10 danh hiệu: &#8220;Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế gian giải, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật và Thế Tôn&#8221;</p>
<p>Nếu nói ra hết thì gồm có 108 danh hiệu, được gọi là Phật Nhất Bách Bát Danh. Khi quý vị dùng chuỗi niệm Phật thì quý vị có thể niệm hồng danh của đức Phật A Di Đà 108 lần hay niệm 108 danh hiệu Phật (phần dưới đây)</p>
<p>Phần đông các Phật Tử chưa nghe qua 108 danh Phật, cho nên con số 108 hạt trong chuỗi niệm Phật trở thành những bài toán học. Như bài toán  36&#215;3=108.  Hay Lục căn + lục Thức + lục Trần = 18</p>
<p>Chuỗi niệm Phật là để niệm Phật, đừng dùng tâm phân biệt, tâm toán số lý lẽ để niệm Phật. Chỉ nhất tâm niệm Phật, niệm 108 danh xưng của đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Mỗi  hạt một danh xưng. Sau đây là một bài kinh niệm Phật mà chúng tôi sử dụng cùng với 108 chuỗi hạt</p>
<p style="text-align: center;">==========</p>
<p>Quy mạng Nhất Thiết Trí<br />
Thầy hết thảy thế gian<br />
Vua pháp lớn Mâu-ni<br />
Một trăm tám danh hiệu (108)</p>
<p>Biển công đức vô biên<br />
Ðầy đủ mọi an lành<br />
Hay trừ các phiền não<br />
Tội nghiệp chúng hữu tình</p>
<p>Con nay quy mạng lễ<br />
Hết thảy Ðại Kiết Tường<br />
Cứu độ các quần sanh<br />
Khiến được an vui lớn</p>
<p>Con nay quy mạng lễ<br />
Ðấng Nhị túc bi mẫn<br />
Viên mãn khắp chúng sanh<br />
Hết thảy việc tốt lành</p>
<p>Con nay quy mạng lễ<br />
Ðấng Vô thượng Vô tướng<br />
Thành tựu Trời trong Trời<br />
Nghĩa bí mật sáng tỏ</p>
<p>Như Lai, Chánh đẳng giác<br />
Lợi lạc chốn thế gian<br />
Trăm tám tên tối thượng<br />
Con nay nhóm lại nói</p>
<ol>
<li>Nam mô Nhất Thiết Nghĩa Thành Tựu.</li>
<li>Nam mô Chánh Ðẳng Giác.</li>
<li>Nam mô Nhất Thiết Trí.</li>
<li>Nam mô Ðại Thích Tử.</li>
<li>Nam mô Nhất Thiết Pháp Tự Tại Vô Úy.</li>
<li>Nam mô Ðại Kim Tiên.</li>
<li>Nam mô Công Ðức Hải.</li>
<li>Nam mô Như Lai.</li>
<li>Nam mô Ứng Cúng.</li>
<li>Nam mô Thiện Thệ.</li>
<li>Nam mô Thế Tôn.</li>
<li>Nam mô Nhất Thiết Thế Gian Giải.</li>
<li>Nam mô Ly Nhất Thiết Cấu Nhiễm.</li>
<li>Nam mô Tối Thượng Pháp Ðăng.</li>
<li>Nam mô Vô Uý Tịnh Phạn Vương Tử.</li>
<li>Nam mô Cam Giá Vương Chủng.</li>
<li>Nam mô Cù Ðàm.</li>
<li>Nam mô Nhật Tộc.</li>
<li>Nam mô Kiết Tường Ðại mâu Ni.</li>
<li>Nam mô Lãm Nghĩ La Sa Tộc.</li>
<li>Nam mô Thiên Nhơn Sư.</li>
<li>Nam mô Thập Lực Hàng Ma Quân.</li>
<li>Nam mô Ly Quá Trừ Ðộc.</li>
<li>Nam mô Ðiều Ngự Trượng Phu.</li>
<li>Nam mô Diệu Giải Thoát.</li>
<li>Nam mô Trừ Chướng Ám.</li>
<li>Nam mô Chỉ Tức Hàng Chư Căn.</li>
<li>Nam mô Thanh Tịnh Giới.</li>
<li>Nam mô Vô Cấu Vương.</li>
<li>Nam mô Diệt Tội Vô Ngã Tướng.</li>
<li>Nam mô Vô Kinh Vô Bố Uý.</li>
<li>Nam mô Ðệ Nhất Pháp Viên Mãn.</li>
<li>Nam Mô Vô Biên Vô Khả Dụ.</li>
<li>Nam mô Ðại Luận Sư.</li>
<li>Nam mô Hy Hữu Bất Tư Nghị Tịnh Tấn.</li>
<li>Nam mô Tam Giới Thân Từ Phụ.</li>
<li>Nam mô Tam Minh Tri Tam Thế.</li>
<li>Nam mô Diệt Tam Ðộc.</li>
<li>Nam mô Cụ Túc Tam Biến Thông.</li>
<li>Nam mô Thuyết Tam Thừa Bồ Ðề.</li>
<li>Nam mô Vô Tướng Diệt Vô Lão.</li>
<li>Nam mô Vô Ngã Vô Nhị Chấp.</li>
<li>Nam mô Vô Oán Vô Hý Luận.</li>
<li>Nam mô Vô Nghiệp Vô Bố.</li>
<li>Nam mô Thí Nguyện Vô Uý.</li>
<li>Nam mô Pháp Sư Tử Nhị Túc Tôn.</li>
<li>Nam mô Ðiều Phục Trừ Phiền Não.</li>
<li>Nam mô Tối Thượng Ý Thanh Tịnh.</li>
<li>Nam mô Minh Hạnh Túc.</li>
<li>Nam mô Tự Tại Biến Hoá Vương.</li>
<li>Nam mô Ðiều Phục Tâm Thanh Tịnh.</li>
<li>Nam mô Ly Trần Vô Thượng Sĩ.</li>
<li>Nam mô Chỉ Tức Nhất Thiết Tội.</li>
<li>Nam mô Ðắc Thanh Lương.</li>
<li>Nam mô Ðắc Tịch Tịnh.</li>
<li>Nam mô Cứu Ðộ Thế Gian Sư.</li>
<li>Nam mô Dõng Mãnh Ðại Thanh Tịnh Trí.</li>
<li>Nam mô Viên Mãn Kiết Tường Tướng.</li>
<li>Nam mô Năng Trừ Oán.</li>
<li>Nam mô Sa Môn Nguyệt.</li>
<li>Nam mô Thích Sư Tử.</li>
<li>Nam mô Tác Thiện Thanh Tịnh Nghiệp.</li>
<li>Nam mô Lục Phật Pháp Trang Nghiêm.</li>
<li>Nam mô Lục Căn Thanh Tịnh Nhãn.</li>
<li>Nam mô Ðệ Nhất Lục Thần Thông.</li>
<li>Nam mô Lục Thú Hải Ðáo Bỉ Ngạn.</li>
<li>Nam mô Vô Sư Tự Nhiên Giác.</li>
<li>Nam mô Thiện Thệ Ðức Thành Tựu.</li>
<li>Nam mô Nhất Thiết Thế Gian Vi Ái Lạc.</li>
<li>Nam mô Vô Ðẳng Ðại Trí Tuệ.</li>
<li>Nam mô Hằng Nhập Tam Ma Ðịa.</li>
<li>Nam mô Nhất Thiết Hữu Tình Lợi Ích Chủ.</li>
<li>Nam mô Chơn Thật Hàng Chư Căn.</li>
<li>Nam mô Nhất Thiết Thế Gian Tôn.</li>
<li>Nam mô Phổ Biến Hữu Tình Tinh Tấn Giả.</li>
<li>Nam mô Vĩnh Quá Luân Hồi Khổ.</li>
<li>Nam mô Viên Mãn Chư Sở Cầu.</li>
<li>Nam mô Hàng Phục Ðắc Tối Thắng Thuyết Tứ Ðế.</li>
<li>Nam mô Ðáo Bỉ Ngạn Ðộ Tha Ðại Long Vương.</li>
<li>Nam mô Ðắc Tối Thượng Niết Bàn.</li>
<li>Nam mô Tôn Sư Ðại Phạm Hạnh.</li>
<li>Nam mô Ðệ Nhất Tịch Tịnh Lạc.</li>
<li>Nam mô Bí Mật Tối Thắng Ðại Trượng Phu.</li>
<li>Nam mô Ðiều Phục Thinh Văn Giả.</li>
<li>Nam mô Lợi ích Chư Hữu Tình.</li>
<li>Nam mô Thế gian Cúng Dường Xuất Thế Trí.</li>
<li>Nam mô Thánh Trí Chiếu Thế Gian.</li>
<li>Nam mô Ly Thế Pháp Lợi Dưỡng.</li>
<li>Nam mô Xuất Thế Vi Như Lai.</li>
<li>Nam mô Ðại Pháp Chủ.</li>
<li>Nam mô Ðại Pháp Vương.</li>
<li>Nam mô Ðiều Ngự Minh.</li>
<li>Nam mô Cứu Ðộ Ðệ Nhất Nhị Túc Tôn.</li>
<li>Nam mô Hành Nhẫn Nhục.</li>
<li>Nam mô Thiện Ý Ðoan Nghiêm Tướng.</li>
<li>Nam mô Thiện Trì Thiện Giới Tướng.</li>
<li>Nam mô Kim Sắc Quang Thiện Thệ.</li>
<li>Nam mô Thiện Du Ái Tôn Trọng.</li>
<li>Nam mô Nhơn Sư Tử Kiết Tường Vân.</li>
<li>Nam mô Phật Ðà.</li>
<li>Nam mô Vô Uý Ðộc Trừ Ám.</li>
<li>Nam mô Vô Biên Lợi Thế Gian.</li>
<li>Nam mô Vô Ðẳng Tam Hữu Sư.</li>
<li>Nam mô Năng Ðoạn Chư Kiết Phược.</li>
<li>Nam mô Vô Ngã Tối Ðệ nhất.</li>
<li>Nam mô Phổ Chiếu Nhất Thiết Nhãn.</li>
<li>Nam mô Chứng Lý Tịnh Tuệ Nhãn.</li>
<li>Nam mô Tam Tuệ Chơn Thật Nhãn</li>
</ol>
<p>&nbsp;</p>
<p>Ðây tên công đức Ðấng Mâu-Ni<br />
Con nay đọc tụng và lễ niệm<br />
Rộng đem hồi thí khắp quần sanh<br />
Cùng được chứng thành quả Bồ-Ðề.</p>
<p style="text-align: center;">HẾT</p>
<p style="text-align: center;">&#8212; o0o &#8212;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Một trăm lẽ tám (108) danh hiệu như thế, nếu như có người đối với danh hiệu đó sớm hôm, phát tâm chí thành, hoặc đọc tụng, hoặc lễ niệm, hoặc nhớ nghĩ, trì niệm, hoặc lắng nghe, thì sẽ gặt hái được phước đức kiết tường tối thượng. Hết thảy phiền não đã có và các tội nghiệp sẽ mau được thanh tịnh. Không thọ luân hồi, sẽ được giải thoát, cho đến thành Phật.</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Tam Nhu Thuận Nhẫn</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/tam-nhu-thuan-nhan/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 18 Sep 2018 16:26:17 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài Luận]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://langnghiem.com/?p=4325</guid>

					<description><![CDATA[Bồ-tát muốn học Thủ-lăng-nghiêm tam-muội trước hết phải học ái nhạo tâm; học ái nhạo...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><img loading="lazy" decoding="async" class="alignleft  wp-image-4326" src="http://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/09/patience.jpg" alt="" width="279" height="209" srcset="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/09/patience.jpg 320w, https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/09/patience-300x225.jpg 300w" sizes="auto, (max-width: 279px) 100vw, 279px" />Bồ-tát muốn học Thủ-lăng-nghiêm tam-muội trước hết phải học ái nhạo tâm; học ái nhạo tâm rồi phải học thâm tâm; học thâm tâm rồi phải học đại từ; học đại từ rồi phải học đại bi; học đại bi rồi phải học phạm hạnh của tứ thánh, đó là từ, bi, hỷ, xả; học phạm hạnh của tứ thánh rồi phải học quả báo được ngũ thông tối thượng thường tự tùy thân. Học ngũ thông rồi, lúc ấy mới có thể thành tựu sáu ba-la-mật; thành tựu sáu ba-la-mật rồi mới có thể thông đạt phương tiện; thông đạt phương tiện rồi được trụ đệ <strong>Tam Nhu Thuận Nhẫn</strong>, trụ Nhu thuận nhẫn rồi thì đắc Vô sinh pháp nhẫn, đắc Vô sinh pháp nhẫn rồi thì được chư Phật thọ ký</p>
<p>Tam nhu thuận nhẫn là ba nhẫn gì?  Ba thứ nhẫn đó là:</p>
<ol>
<li>Âm hưởng nhẫn</li>
<li>Nhu thuận pháp nhẫn,</li>
<li>Vô sanh pháp nhẫn.</li>
</ol>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong><span style="color: #993300;">Thế nào là Âm hưởng nhẫn?</span></strong> &#8211; Tất cả chúng sanh hoặc chửi, hoặc đánh, hoặc giết, mọi việc ác mà tâm không động chuyển, không giận, không ghét. Chẳng những nhẫn chịu sự đau khổ đó, mà lại khởi lòng thương xót các chúng sanh này, cầu việc tốt, mong cho họ được tất cả, tâm không bỏ họ. Khi ấy dần dần được hiểu rõ thật tướng của các pháp, như hơi xông thấm. Ví như mẹ hiền thương con đỏ, cho bú xú nuôi nấng, mọi sự nhơ nhớp không nhờm gớm, càng thêm thương xót muốn cho con được vui vẻ. Hành giả cũng như vậy, tất cả chúng sanh làm mọi việc ác, làm tịnh, làm bất tịnh, tâm cũng không chán ghét, không thối, không chuyển. Lại nữa, chúng sanh khắp mười phương một mình ta phải độ hết khiến cả thảy đều được Phật đạo. Tâm nhẫn không thối, không hối, không bỏ, không lười, không chán, không sợ, không thấy khó. Trong pháp sanh nhẫn này nhất tâm buộc niệm suy nghĩ ba việc trên, không cho tâm nghĩ gì khác, có nghĩ các việc khác liền thu nhiếp trở về.</p>
<p>Bất cứ là âm thanh tốt, hoặc âm thanh không tốt; âm thanh chánh đáng, hoặc âm thanh không chánh đáng; âm thanh thanh tịnh, hoặc âm thanh không thanh tịnh. Phàm là thuộc về tất cả âm thanh, đều phải nhẫn thọ, thậm chí khiến cho bạn thọ không được cũng phải nhẫn. Nhẫn không được mới phải nhẫn, thọ không được mới phải thọ. Nếu thọ được, hà tất phải nhẫn ? Giống như ở chợ náo nhiệt, tất cả tiếng nói khiến cho bạn tâm phiền ý loạn, lúc đó, bạn nghe mà không nghe, không bị chi phối, thì mới có định lực. Do đó: &#8220;Giữa chợ náo nhiệt mà tu hành&#8221;, trải qua sự khảo nghiệm, mới có thể tăng tấn đạo nghiệp.</p>
<p>Âm hưởng nhẫn còn được gọi là Âm Thanh Nhẫn. Đó là nghe pháp của chư Phật nói, chẳng kinh, chẳng sợ, chẳng hãi. Tin sâu ngộ hiểu, ưa thích hướng đến, chuyên tâm nghĩ nhớ, tu tập an trụ. Tức là nghe được pháp của mười phương chư Phật nói, không kinh hãi, không sợ sệt. Tin sâu pháp của chư Phật nói, giác ngộ thấu hiểu pháp của chư Phật nói. Ưa thích Phật pháp, hướng về Phật pháp, chuyên tâm nhất chí để nghĩ nhớ.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong><span style="color: #993300;">Thế nào là Nhu thuận pháp nhẫn?</span></strong> Đó là đối với các pháp, tư duy quán sát, bình đẳng không trái, tuỳ thuận biết rõ, khiến cho tâm thanh tịnh, chánh trụ tu tập, hướng nhập thành tựu. Tức là nói đối với tất cả các pháp, phải tư duy, phải quán sát. Phải bình đẳng để tư duy và quán sát, không thể trái với tất cả Phật pháp, phải tuỳ thuận tất cả Phật pháp, phải biết rõ tất cả Phật pháp. Bất cứ học Phật pháp gì, đều phải khiến cho tâm thanh tịnh, không tạp nhiễm, không có ý niệm không chánh đáng. Chánh trụ nơi Phật pháp, tu tập Phật pháp. Như vậy thì sẽ hướng nhập Phật pháp, thành tựu Phật pháp.</p>
<p>Như thế, không sanh, không diệt, không phải không sanh, không phải không diệt, không phải có, không phải không, không thọ, không trước, bặt sự nói năng, dứt đường tâm nghĩ, như pháp Niết-bàn là pháp thật tướng. Ở trong pháp này tín tâm thanh tịnh, không ngăn, không ngại, hiểu biết mềm dẻo, lòng tin mềm dẻo, tinh tấn mềm dẻo, ấy gọi là Nhu thuận pháp nhẫn.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong><span style="color: #993300;">Thế nào là Vô sanh pháp nhẫn? </span></strong>Đó là chẳng thấy có chút pháp sanh ra, cũng chẳng thấy có chút pháp tiêu diệt đi. Không sanh không diệt, nhẫn thọ nơi tâm. Lý do tại sao?</p>
<ul>
<li>Vì nếu như không có sanh thì không có diệt,</li>
<li>Nếu không có diệt thì không cùng tận.</li>
<li>Nếu không cùng tận thì lìa khỏi tất cả nhiễm ô cấu bẩn.</li>
<li>Nếu lìa khỏi tất cả trần cấu thì không có sự phân biệt.</li>
<li>Nếu không có sự phân biệt, thì không có một xứ sở nào.</li>
<li>Nếu không có một xứ sở nào thì rốt ráo tịch tĩnh.</li>
<li>Nếu rốt ráo tịch tĩnh thì lìa khỏi tài, sắc, danh, ăn, ngủ, năm dục niệm.</li>
<li>Nếu lìa khỏi tất cả dục niệm thì chẳng có tạo tác.</li>
<li>Nếu chẳng có tạo tác thì chẳng có nguyện.</li>
<li>Nếu chẳng có nguyện thì chẳng có chỗ trụ.</li>
<li>Nếu không có chỗ trụ thì không đến không đi.</li>
</ul>
<p>&nbsp;</p>
<p>Tam Nhu Thuận Nhẫn cũng là một trong 48 đại nguyện của đức Phật A Di Đà</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Tướng và Tánh</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/tuong-va-tanh/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 24 Aug 2018 20:11:27 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài Luận]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://langnghiem.com/?p=4239</guid>

					<description><![CDATA[Suốt cuộc đời, đức Phật thuyết pháp trong nhiều bộ kinh, và mỗi bộ kinh...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p>Suốt cuộc đời, đức Phật thuyết pháp trong nhiều bộ kinh, và mỗi bộ kinh đức Phật giảng một phương pháp tu hành khác biệt cho tám mươi bốn ngàn phiền não. Nếu phương pháp tu hành hoàn toàn giống nhau, cần gì phải giảng hai thứ? Tuy phương pháp khác nhau nhưng mục đích vẫn là dẫn dắt chúng ta ra khỏi vòng luân hồi sanh tử và từ từ đắc quả vị Phật. Vì vậy phương pháp tu hành được nói trong hết thảy các kinh khác nhau, nhưng thể tánh của hết thảy các kinh giống nhau.</p>
<p>Phần đông Phật Tử Việt Nam có duyên với Thiền Tông và Tịnh Độ Tông. “Tông” là phương pháp tu hành. Thiền Tông là dốc sức tu tập từ Vô Tướng, đi theo Không môn. Cũng có nghĩa là nói “phải lìa hết thảy tướng”, giống như kinh Kim Cang đã nói “vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sanh tướng, vô thọ giả tướng”, “vô pháp tướng, diệc vô phi pháp tướng”. Tức là chẳng có pháp tướng, mà cũng chẳng phải là không có pháp tướng, họ nhập môn từ chỗ này.</p>
<p>Theo pháp môn Tịnh Đô, Kinh A Di Đà dạy chúng ta phương pháp cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, hoàn toàn khác kinh Kim Cang. Kinh Kim Cang dạy quý vị trong tâm một niệm chẳng sanh, dùng phương pháp ấy. Kinh A Di Đà mong mỏi chúng ta phát tâm cầu sanh Tây Phương Tịnh Độ. Kinh Kim Cang từ Tánh môn mà nhập, kinh Di Đà theo Tướng môn mà vào.  Nay chúng ta sẽ luận thêm 2 chữ Tánh và Tướng để thấu hiểu rõ sự khác nhau và giống nhau giữa hai Tông. Trước tiên chúng ta luận tiếp về cái khác nhau trong phương pháp tu hành.</p>
<p>&nbsp;</p>
<h2 style="text-align: center;"><span style="color: #ff6600;"><strong>Khác Nhau</strong></span></h2>
<p>Nói tới tông thú khác nhau! Kinh A Di Đà này dạy chúng ta phương pháp cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Kinh Kim Cang dạy quý vị trong tâm một niệm chẳng sanh, dùng phương pháp ấy. Kinh A Di Đà mong mỏi chúng ta phát tâm cầu sanh Tây Phương Tịnh Độ, nên đối với y báo và chánh báo trang nghiêm trong Tây Phương Cực Lạc. Chẳng hạn như Kinh A Di Đà nói đến lan can, lưới mành, hàng cây, ao báu, lầu gác, hoa sen, thiên nhạc, mưa hoa, cho đến A Di Đà Phật hóa thành các loài chim, thọ mạng, quang minh, y báo, chánh báo, giảng cặn kẽ, rõ ràng, nói những chuyện ấy để làm gì? Nói những chuyện ấy nhằm mong mỏi chúng ta sẽ dấy lòng ưa chuộng, hâm mộ, nên Kinh A Di Đà khác kinh Kim Cang. Kinh Kim Cang buộc quý vị phải rỗng không tất cả ý niệm trong tâm; Kinh A Di Đà chẳng vậy. Kinh A Di Đà khiến cho quý vị dấy lòng mong mỏi, tâm chẳng rỗng không. Do vậy, có thể biết: Thiền Tông là từ Không mà vào, còn Tịnh Tông từ Hữu mà vào, khác nhau!</p>
<p>Kinh Kim Cang nói: “Dĩ tam thập nhị tướng kiến Như Lai” (Dùng ba mươi hai tướng để thấy Như Lai), lại nói: “Ư pháp bất thuyết đoạn diệt tướng” (Đối với pháp, chẳng nói đến tướng đoạn diệt), có ý nghĩa ấy, bảo quý vị hãy lìa tướng từ ngay nơi tướng.</p>
<p>Trên thực tế, có thể lìa tướng hay không? Chắc chắn chẳng thể lìa tướng! Bảo quý vị “lìa tướng” chính là bảo quý vị đừng chấp tướng, “không chấp” là gì? Trong tâm đừng nghĩ tới nó, chớ nên chấp trước nó, đó là “lìa tướng”</p>
<p>Lục Tổ nói “vốn chẳng có một vật”, chẳng phải là bên ngoài vốn chẳng có một vật, bên ngoài thứ gì cũng có, nhưng trong tâm chẳng có. Chư vị phải biết: “Lìa tướng” là tâm lìa tướng, chẳng phải là thân lìa tướng, thân chẳng lìa được! Ví như cái thân, ta lìa tướng bèn vào chốn núi thẳm, tìm một cái hang để tu hành trong ấy. Quả núi đó vẫn là tướng, hang vẫn là tướng, quý vị vẫn chẳng có cách nào rời lìa! Tuyệt đối chẳng phải là vào núi thẳm tu hành lìa tướng! “Lìa” là tâm lìa!</p>
<p>Có những kẻ nói: “Rất hâm mộ người nào đó, phước khí thật to, có thể vào núi thẳm tu hành”. Tu mấy chục năm trong non sâu, nhưng nếu đến đô thị một chuyến, hết thảy đều trắng tay! Vì chẳng trải qua khảo nghiệm! Thật sự tu hành thì tu hành ở nơi đâu là tốt nhất?</p>
<p>1. Tu trong nghịch cảnh, điều gì cũng đều chẳng vừa lòng, điều gì cũng trái ý. Nói cách khác, phiền não nặng nhất là sân khuể, hãy đoạn nó trước hết. Đến khi chính mình thật sự chẳng có tâm sân khuể. Tôn giả Ca Diếp đại biểu khổ hạnh, nghịch cảnh. Ngài là một vị đại phú trưởng giả, là con em nhà giàu có xuất gia, suốt đời tu khổ hạnh, tu trong nghịch cảnh</p>
<p>2. Tu trong thuận cảnh, cảnh giới thứ hai là trừ khử tâm tham, đó là thuận cảnh. Kinh Hoa Nghiêm đại biểu tu trong thuận cảnh. Năm mươi ba lần tham học của Thiện Tài đồng tử trong kinh Hoa Nghiêm, năm mươi ba vị đều là đại thiện tri thức. Chỉ có sáu vị xuất gia, những vị khác đều là tại gia, nam, nữ, già, trẻ, các ngành các nghề đều có! Họ đều là Phật, Bồ Tát.</p>
<p>Trong thuận cảnh, đoạn tâm tham.<br />
Trong nghịch cảnh, đoạn tâm sân khuể.</p>
<p>Tâm thanh tịnh, chẳng nhiễm, chẳng chấp hết thảy các pháp. Nếu nói rõ hơn một chút là chẳng khởi tâm, chẳng động niệm, chẳng phân biệt, chẳng chấp trước hết thảy các pháp! Đó là “lìa” tướng để thấy tánh. Đó là vài cái khác nhau trong phương pháp tu hành. Bây giờ luận về cái giống nhau trong các tông.</p>
<p>Kinh Kim Cang từ Tánh môn mà nhập, kinh Di Đà theo Tướng môn mà vào. Tánh và tướng giống nhau chỗ nào?</p>
<p>&nbsp;</p>
<h2 style="text-align: center;"><strong><span style="color: #ff6600;">Giống Nhau</span> </strong></h2>
<p>Tánh là tánh của tướng, tướng là tướng của tánh. Tuyệt đối chẳng phải là nói phải từ bỏ tướng, giữ lấy kiến tánh. Chẳng có đạo lý ấy! Tướng là tánh. Hảo tướng là tánh, ác tướng cũng là tánh, thuận cảnh là tánh, nghịch cảnh vẫn là tánh. Thiên đường do Chân Như bổn tánh biến hiện, A Tỳ địa ngục vẫn do Chân Như bổn tánh biến hiện. Tướng tuy khác nhau, tánh giống hệt. Quý vị kiến tánh, cũng có nghĩa là nói tâm quý vị thật sự bình đẳng, Bình Đẳng Tánh Trí! Tâm bất bình bèn chẳng kiến tánh; tâm thật sự bình đẳng liền kiến tánh.</p>
<p>Tịnh độ tông theo tướng mà vào, khuyên dạy Phật tử thật thà niệm một câu A Di Đà Phật đến cùng. Vì sao? Bởi vì tướng là tướng của tánh. Trong Chân Như bổn tánh vốn sẵn trọn đủ, hiện thời còn thiếu cái duyên thành Phật. Chẳng phải là nói rời khỏi tánh có riêng một tướng, chẳng có đạo lý ấy! Tướng là tướng của chính ngay tánh, tánh là tánh của chính cái tướng ấy, là một mà hai, tuy hai mà một. Cho nên kinh Lăng Nghiêm nói: Thân ta nằm trong vũ trụ và vũ trụ nằm trong tâm ta.</p>
<p>Thật tắc tướng bổn tự không, duy tâm, duy thức &#8211; Thật ra, tướng vốn là không, duy tâm, duy thức. Theo lý luận và sự thật, không chỉ nói Tây Phương Cực Lạc thế giới, hoặc cảnh giới trước mắt chúng ta là như vậy, mà có thể nói là thế gian trước mắt, xuất thế gian, các cõi Phật đều chẳng ra ngoài lệ ấy, toàn là tự tâm biến hiện, “duy tâm sở hiện, duy thức sở biến”.</p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="alignleft  wp-image-4240" src="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/08/rock-e1671299134301.jpg" alt="" width="302" height="201" srcset="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/08/rock-e1671299134301.jpg 756w, https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/08/rock-e1671299134301-300x200.jpg 300w" sizes="auto, (max-width: 302px) 100vw, 302px" />Nhìn qua tấm hình đá trong bài nầy, quý vị thấy những viên đá lớn nhỏ, ước khô, nằm hay đứng. Những viên đá nầy chồng nhau thành một hòn núi nhỏ. Khi xưa, núi nhỏ thì không có hiện hữu. Khi chúng tôi đi qua khu bãi biển nầy, chúng tôi khởi tâm và dựng đá thành núi nhỏ. Đó là duy tâm sở hiện. Sau vài tiếng đồng hồ, khi biển nước lên cao, một luồng sống lớn đập vào và cái núi nhỏ nầy sập đổ. Khi mắt thấy những viên đá ngã rớt xuống, nhãn thức cho rằng hòn núi đã biến mất. Đó là duy thức sở biến.</p>
<p>Khi những viên đá chồng chất lên nhau nó trở thành một hồn núi nhỏ. Núi là tướng và đá là tánh. Cho nên nói rằng đá là đá của núi, và núi là núi của đá. Trước khi chúng tôi tới bãi biển, hòn núi (tướng) đó không có. Và sau khi sống biển xô ngã những viên đá, cái núi nhỏ cũng không còn. Núi nhỏ dựng lên rồi sập xuống, nhưng những viên đá vẫn là những viên đá. Cái tướng núi không còn, nhưng cái tánh núi vẫn còn đó.</p>
<p>Mọi người trên trái đất nầy cũng vậy, có người tốt người xấu, cao thấp, giàu nghèo, xấu đẹp, nhưng mọi người vẫn là người. Ai ai cũng có bổn tánh là Phật. Đừng nhìn người mà khen chê, quý vị lìa tướng thì sẽ thấy cái chân tâm Phật tánh của mọi người. Trong Kinh Kim Cang nói khi tâm lià tướng thì sẽ thấy tánh. Kinh A Di Đà khuyên ta lúc ban đầu có thể mượn cái tướng để thấy cái tánh. Mượn cái tướng hay câu niệm &#8220;Nam Mô A Di Đà Phật&#8221; để nhiếp cái tâm, Nhất Tâm Niệm Phật, và từ đó đi tới Vô Tâm Niệm Phật, tức là lià tướng để thấy tánh. Và cuối cùng đi đến &#8220;Ly Tâm Niệm Phật&#8221;, đó là Tâm có khả năng tạo tác bị tiêu trừ, và cảnh giới do tâm ấy làm cho trở thành không cũng tiêu trừ luôn, đến mức cũng chẳng còn cái không. Ly Tâm đó là ý niệm núi dựng núi sập, núi sanh núi diệt cũng không còn. Không còn sở, không còn diệt, chứng đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn.</p>
<p>Vì thế, thiền tông nói tướng là rỗng không, tướng là giả hữu, nó được gọi là Diệu Hữu, chẳng thật! <span lang="EN">Trước nói được không, vô trước, vô sanh là triệt ngộ pháp ấy, nay do giải khởi tu, do tu đến chứng. Lòng ôm pháp niệm, thảy được tan hoang, không dính tất cả hý luận phân biệt, mà an trụ vô sanh pháp tánh, ấn khế chơn như, bặt vọng cảnh khi mê dao động. Cốt là: chánh quán chẳng lìa chánh định, cho nên gọi trí. Chánh định chẳng lìa chánh quán, cho nên gọi nhẫn. Chỉ quán không hai, tịch chiếu đều tròn, ấy gọi là vô sanh pháp nhẫn, cũng có thể gọi vô sanh pháp trí. </span></p>
<p>Sau khi chư vị đọc đoạn luận văn này, nếu có thể thấu hiểu sâu xa trạng huống của cuộc sống trước mắt, sáu căn tiếp xúc cảnh giới sáu trần trước mắt cũng giống như thế, quý vị mới có thể đạt được thụ dụng. Quý vị biết hết thảy tướng chúng ta trông thấy trước mắt là tướng của tánh, tánh gì vậy? Tự tánh của chính mình, hết thảy các tướng ấy là Tướng Phần trong tự tánh của ta. Tự tánh của ta có thể hiện, có thể biến, cái được hiện, được biến là cảnh giới sáu trần mà sáu căn đang tiếp xúc.</p>
<p>Lìa khỏi tự tánh, chẳng có pháp nào khác. Như vậy thì quý vị mới rời khỏi hết thảy những vọng tưởng “lấy, bỏ, được, mất” trong hết thảy cảnh giới. Trong hết thảy cảnh, không lấy, không bỏ, chẳng được, chẳng mất, tâm được tự tại, thanh lương tự tại! Bởi lẽ đó, tâm được thanh tịnh và dần dần tiếp cận, tương ứng với chân tâm.</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Nhất giả tu tập. Trừ kỳ trợ nhân</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/nhat-gia-tu-tap-tru-ky-tro-nhan/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 23 Aug 2018 15:28:12 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài Luận]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://langnghiem.com/?p=4197</guid>

					<description><![CDATA[Nhất giả tu tập, trừ kỳ trợ nhân có nghiã giai đoạn đầu trong việc...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><img loading="lazy" decoding="async" class="alignleft  wp-image-4222" src="http://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/08/oniongarlicleekshallot.jpg" alt="" width="327" height="238" srcset="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/08/oniongarlicleekshallot.jpg 708w, https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/08/oniongarlicleekshallot-300x219.jpg 300w" sizes="auto, (max-width: 327px) 100vw, 327px" />Nhất giả tu tập, trừ kỳ trợ nhân có nghiã giai đoạn đầu trong việc tu tập là trừ những cái nhân giúp đỡ cho vọng tưởng tăng trưởng.</p>
<p>Do nhận thức mê lầm của chúng sinh mà có những tâm niệm điên đảo, phân biệt ra có năng, có sở, có thân, có cảnh, có ngã, có pháp, có thời gian, có không gian, cho đến có mười hai loài chúng sinh. Ví như dụi con mắt, thì đủ thứ hoa đốm sinh ra. Khi chúng sinh dùng những vọng tưởng phân biệt mà huân tập bổn lai diện mục, thì Phật tánh của quý vị sẽ theo sự huân tập đó mà hiện ra nhiều cảnh giới sai khác.</p>
<p>Nguyên do của việc biểu hiện như thế là vọng tưởng. Tất cả cảnh giới do vọng tưởng huân tập biểu hiện, như cảnh chiêm bao, vốn không có gì. Nhận thức thấy được tất cả sự vật biến hiện, đều chỉ là nhất tâm, không có sai khác, thì diệt trừ được vọng tưởng và thấy được Phật tánh, chừng đó mới biết tâm tánh bổn lai không sinh, không diệt, như như bình đẳng, nơi chư Phật cũng không thêm, nơi chúng sinh cũng không bớt. Mới biết bổn lai của chúng sanh đã là Phật rồi, bổn lai không có hư vọng phải trừ, không có chân như phải chứng. Điều cốt yếu là chuyển nhận các thức sai lầm, thành nhận thức đúng đắn.</p>
<p>Song, vì tâm tánh chúng sinh bị huân tập lâu đời theo các vọng tưởng, nên cần phải huân tập lâu ngày theo chánh pháp, mới lần lượt diệt trừ được thói quen vọng tưởng. Do đó cần lập ra ba tiệm thứ để gội rửa những thói quen hư vọng. Ba tiệm thứ nầy, không phải có những vị trí cố định và căn cơ của mỗi chúng sinh cũng khác nhau nhiều. Có người thì đốn tu và đốn ngộ. Có người thì đốn tu mà tiệm ngộ. Có người thì tiệm tu mà đốn ngộ. Có người thì tiệm tu và tiệm ngộ. Giác ngộ sâu hay cạn, tùy theo việc chuyển nhận thức sâu hay cạn. Và việc chuyển nhận thức nầy, một phần lớn, cũng tùy sự huân tập theo chánh pháp thật đúng đắn hay chưa thật đúng đắn.</p>
<p>Muốn tiêu diệt hoàn toàn các vọng tưởng và đầy đủ vô lượng công đức, thì người tu hành có thể chia con đường tu làm ba giai đoạn.</p>
<p>1 &#8211; Nhất giả tu tập. Trừ kỳ trợ nhân &#8211; Giai đoạn đầu là tu tập trừ những cái trợ nhân giúp đỡ cho vọng tưởng tăng trưởng.</p>
<p>2 &#8211; Nhị giả chân tu. Khô kỳ chánh tánh &#8211; Giai đoạn thứ hai, là thuận theo chân tánh mà tu hành, diệt trừ cội gốc của vọng tưởng.</p>
<p>3 &#8211; Tam giả tăng tiến. Vi kỳ hiện nghiệp &#8211; Giai đoạn thứ ba, là tăng tiến tu hành, chuyển cái nghiệp dụng của chúng sinh, thành cái diệu dụng của chư Phật.</p>
<p>Sao nói là trợ nhân? Những trợ nhân mang tới thiện nghiệp và ác nghiệp. Trong bài luận sẽ nói về ác nghiệp. 12 loại chúng sanh trong thế giới, chẳng thể tự sống, phải nhờ bốn cách ăn để nuôi dưỡng. Chúng sanh cần ăn để sinh sống. Đó là ăn bằng cách nhai xé như con người. từng miếng từng miếng, như trong cõi thiên lục giới, A-tu-la, người và chúng sanh ăn uống. Ăn bằng ngửi mùi hơi như quỷ thần, ăn bằng niệm tưởng như cõi Tứ Thiền và ăn bằng ý thức như cõi Tứ không. Đây bao gồm cả cõi thiên sắc giới và vô sắc giới. Cho nên Phật nói tất cả chúng sanh đều nhờ sự ăn mà tồn tại. Đây nói bước đầu tiên để trừ các trợ duyên.</p>
<p>&nbsp;</p>
<h2 style="text-align: center;"><strong><span style="color: #ff6600;">Ngăn bỏ ngũ tân</span></strong></h2>
<p><strong><img loading="lazy" decoding="async" class="size-medium wp-image-4223 alignright" src="http://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/08/noOnion-300x211.jpg" alt="" width="300" height="211" srcset="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/08/noOnion-300x211.jpg 300w, https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/08/noOnion.jpg 595w" sizes="auto, (max-width: 300px) 100vw, 300px" />Ngũ tân (hành, hẹ, tỏi, kiệu và hưng cừ)</strong> làm tăng thêm ác nghiệp, cho nên bước đầu tiên là ngăn bỏ ngũ tân trong món ăn. Tất cả chúng sanh, ăn ngọt thì sống, ăn độc thì chết. Chúng sanh nơi đây là chúng sanh trong 12 loài. Ngọt là những thức ăn có thể ăn được. Thức ăn ngọt là những thức ăn không có độc. Còn “Độc” ở đây không những là độc dược mà bao gồm ngũ tân. Nói tóm lại là những thức ăn mang lại ác nghiệp và giảm thọ. Không phải chỉ những thức độc dược ăn vào sẽ chết liền. Những ai cầu Tam Ma Địa nên loại bỏ ngũ tân. Bước đầu tiên là ngăn chận những ác nghiệp. Ngũ tân trong đây là hành, hẹ, tỏi, kiệu, và hưng cử.</p>
<p>Ngũ tân này hễ ăn chín thì phát lòng dâm. Thịt cũng như vậy. Đó là lý do tại sao Phật tử tu hành không ăn mặn, không ăn ngũ tân. Ngũ tân làm tăng lòng dâm, không phải lòng từ bi, mà làm tăng thêm sự tham muốn sinh lý dâm dục, cho đến không thể kiềm chế cơn dâm vọng. Khi ăn ngũ tân sống, nó làm tăng thêm sân hận. Làm cho chúng ta thêm ngu si. Người có trí tuệ không có sân si. Những ai không kèm chế sân si, phần đông chúng ta khó nhận ra việc đúng và việc sai. Khi việc xãy ra, họ không thấy được chân lý. Sự nóng giận che mất đi trí tuệ và họ không biết sử lý chuyện xấu xãy ra, ngoại trừ nổi cơn nóng giận. Khi sân hiện tiền, sân không giúp giải quyết vấn đề một chúc nào. Ăn mặn (thịt) cũng làm cho tăng cái tính tình nóng giận. Và càng ăn nhiều ngũ tân, sân si càng tăng trưởng.</p>
<p>Cho nên người ăn ngũ tân, dù biết giảng mười hai bộ kinh, nhưng chư thiên ở khắp mười phương đều chê mùi hôi thối mà tránh xa. Đây nói những người ăn ngũ tân hay uống rượu, ăn mặn. Trong khi đó, chư thiên thường ủng hộ cho những ai trừ bỏ những thứ nầy. Mùi hôi người phát ra phần đông từ những món ăn hằng ngày. Những ai ăn ngũ tân có mùi hôi càng nặng hơn. Nách tay thường hôi hám cho đến có thể ngửi từ xa làm cho mọi người tránh xa. Có một số người có thể thuyết được 12 bộ kinh trên mạng, trên youtube nhưng không được chư thiên ủng hộ. Có một số tăng ni muốn xa lánh ngũ tân, nhưng các Phật tử không hiểu rõ quy luật của Phật, nấu đồ ăn chứa đầy ngũ tân trong đó, rồi mang lên chùa cúng dường chư tăng. Có khi lại mang những thứ món ăn đầy ngũ tân dưng lên bàn thờ Phật và Bồ Tát. Đó là tạo phước hay tạo nghiệp ?</p>
<p>Khi chúng ta ăn uống không được thanh tịnh, họ thường sinh sống với ma quỷ. Chư thiên không tới gần. Ma quỹ là những linh hồn khổ đói. Khi chúng ta ăn uống không thanh tịnh, có nghĩa ăn ngũ tân, đồ mặn, các loài ma quỷ thường tới gần, liếm môi của họ. Sau khi ăn ngũ tân, mùi hôi thường bốc ra và lôi cuốn ma quỷ tới gần và liếm môi của những ai ăn ngũ tân để nếm những món đó. Ma quỷ ăn uống bằng liếm, cho nên những ai ăn ngũ tân thường có ma quỷ kế bên đụng chạm. Quý vị không thấy được, nhưng ma quỹ thường làm việc đó.</p>
<p>Ngươì ấy thường ở chung với ma quỷ, phước đức ngày càng tiêu mòn, chẳng được lợi ích. Người ăn ngũ tân thường ở chung với ma quỷ và ma quỷ quấn quých bên họ, mặc dù người không biết việc đó. Những thiện nghiệp và phước báo ngày càng tiêu mòn và họ không được lợi ích gì cả.</p>
<p>Người ăn ngũ tân mà tu Tam Ma Địa thì Bồ Tát thiên thần chẳng đến hộ vệ. Tại sao? Tại vì người ấy hôi hám. Ủng hộ thanh tịnh, các vị tránh xa mùi hôi và chẳng đến hộ vệ. Nhưng các vị thường hộ trì phật pháp, những nơi thanh tịnh, ma quỹ không dám xuất hiện. Và những nơi không thanh tịnh, ma quỷ sẽ lợi dụng. Danh từ “Thanh Tịnh” dành do các vị bồ tát chư thiên hộ trì chánh pháp.</p>
<p>Nhưng có khi vài chổ, các Ma Vương quyến thuộc thấy có cơ hội, hiện thân Phật, thuyết pháp cho người. Thấy kẻ tu hành không có hộ pháp, các ma vương tới lại và đợi cơ hội nhập vào người tu hành. Các ma vương đầy pháp lực, họ có thể hóa chuyển tướng Phật. Chúng tôi khuyên các vị nếu sau nầy trên con đường thiền định, các vị thấy Phật hay Bồ Tát hiện thân, hay các chư thiên ma quỷ lui tới. Nếu là thiệt, các vị sẽ thấy chung quanh họ có hòa quang mát mẻ sáng chiếu. Khi hòa quang chiếu đến quý vị, quý vị sẽ cảm thấy ấm cúng như chưa từng có. Nếu đó là hòa quang thật. Nếu ma quỷ, hòa quang đó rất là nóng. Nhưng cần nhiều trí tuệ mới phân biệt được. Nếu quý vị thiếu trí tuệ, quý vị sẽ không nhận ra sức nóng của hòa quang đó.</p>
<p>Một cách khác để phân biệt ra hòa quang của ma quỷ giả hình là Phật hay Bồ Tát và Phật thiệt bằng cách nhìn vào Phật pháp họ thuyết giảng. Các ma quỷ sẽ thuyết rằng đừng chấp vào ngũ giới, và thường ca ngợi và tình dục, tham sân si. Ma quỷ sẽ thuyết: đừng giữ giới, đó là tiểu thừa. Họ nói tu theo Đại thừa, giết mà không giết. Dục vọng mà không dục vọng. Cho nên không có phạm giới. Nếu anh giết, anh không có phạm tội. Đừng giữ trong lòng những việc nhỏ. Đừng giữ những chi tiết nhỏ trong việc làm. Phạm giới không có vấn đề?</p>
<p>Thông qua một quá trình liên tục của sự ngu si đần độn và chậm chạp, tình trạng ngu xuẩn lộn ngược xảy ra trong thế giới này. Vô minh với sự bướng bỉnh đã trở thành tám mươi bốn ngàn loại suy nghĩ ngẫu nhiên, khô cạn và suy nhược. Và chúng sinh không có suy nghĩ biến thành đất, gỗ, kim loại, hoặc đá. Tất nhiên, điều này không xảy ra với mọi sinh vật ngu xuẩn. Thường không xảy ra. Nhưng ở đây ma vương ca ngợi ảo tưởng; ma vương nói với quý vị rằng càng ngu dại, càng tốt. Khi nếu quý vị ngu ngốc, quý vị sẽ dễ cho ma vương khuến rũ quý vị tuân theo hướng dẫn của ma vương. Quý vị sẽ rơi vào ngay. Bạn sẽ trở thành một trong sự cai trị của các vị ma vương. Nếu nó báo động bạn, vậy đừng ăn ngũ tân. Nếu quý vị không ăn ngũ tân, các vị thiên thần và hộ pháp sẽ bảo vệ quý vị và những ma quỷ sẽ xa lánh. Nếu quý vị có thể kết hôn và tỉnh táo, quý vị sẽ không chìm vào sự nhầm lẫn đó. Nếu quý vị nhập vào tình huống, quý vị đừng để chuyện đó quay chuyển. Khi cuộc sống của họ kết thúc, những người này sẽ tham gia vào hạng ma quỷ.</p>
<p>Điều này đề cập đến những người ăn ngũ tân. Bởi vì họ ăn như vậy, các vị chư thiên, bồ tát, hộ pháp không bảo vệ chúng. Do đó, ma quỷ có ma lực có thể sai khiến họ. Các ma vương hiện thân như một vị Phật và nói ma pháp với họ, ca ngợi việc say mê tình dục, giận dữ và ngu si. Đã từng bối rối ma lực, những người này mất trí tuệ chân chính và quan điểm thích hợp trong bất kỳ thực tế nào. Thay vào đó, đầu óc chứa đựng những kiến thức và quan điểm sai lệch. Ma vương nói ham muốn tình dục là tốt, và họ tin điều đó. “Đức Phật nói với tôi như vậy! Ông ấy nói là không có vấn đề gì. ”Điều đó được gọi là nhầm lẫn tên trộm là con trai của mình. Một sai lầm ma vương gắn cho đức Phật.</p>
<p>Do đó, “Khi họ cuộc sống kết thúc, những người này sẽ thống chế trong sự cai trị của các ma vương. ”Khi nào các phước lành trần tục của họ được sử dụng hết, họ chết và ngoan ngoãn nằm trong sự cai trị của ma vương. “ Khi họ sử dụng hết phước lành như quỷ, họ sẽ rơi vào Vô Gián Địa ngục.” Văn bản nói rằng vì con người ăn ngũ tân và có kiến ​​thức và quan điểm sai lầm, đầu tiên họ trở thành ma quỷ, và sau đó rơi vào địa ngục. Khi nào họ ra ngoài? Không ai biết</p>
<p>Những người tu hành trên con đường đi đến Giác Ngộ, không bao giờ ăn ngũ tân. Bạn chắc chắn phải ngừng ăn hành tây, tỏi, tỏi tây, hành lá và hẹ. Nếu bạn ăn những thứ này, bạn có thể nằm trong công ty của ma quỷ. Nếu bạn không ăn những thứ này, bạn có thể tham gia vào lễ hội của Đức Phật. Đây là bước tiến bộ đầu tiên trên con đường tu hành. Trong tu hành, người ta phải loại bỏ viện trợ trong việc tạo ra ác nghiệp. Ngũ tân là một nguyên nhân hỗ trợ các vị ma vương. Bạn không nên coi họ không quan trọng. Ngũ tân sẽ làm cho bạn tối tăm và bối rối. Nó sẽ khiến bạn không thanh tịnh, và tạp chất của bạn khiến bạn cùng với việc làm của ma quỷ, vì một người không thanh tịnh, ma quỷ càng thích.</p>
<p>&nbsp;</p>
<h2 style="text-align: center;"><strong><span style="color: #ff6600;">Tu hành theo thứ tự</span></strong></h2>
<p>Trong kinh đức Phật có đưa ra một thí dụ:</p>
<p>&#8220;Như tịnh khí trung, trừ khứ độc mật. Dĩ chư thang thủy, tinh tạp hôi hương. Tẩy địch kỳ khí, hậu trữ cam lồ&#8221;</p>
<p>Có nghiã như muốn trừ mật độc trong bình để đựng cam lồ, thì phải dùng nước sôi và tro rửa sạch cái bình, rồi mới đựng cam lồ.</p>
<p>Quý vị hiện nay đầy vọng tưởng như cái bình chứa đầy mật độc.  Mật độc là ngũ tấn là vọng tưởng. Cái bình là thân tâm. Nước là nguồn nước hay chân tánh, bổn lai diện mục. Sôi và nước sôi nóng hay đốt cháy vọng tưởng. Tro rửa là pháp môn tu hành. Cam lồ là Phật Pháp. Đó là pháp môn tu hành Lăng Nghiêm Đại Định: xa lià vọng tưởng, thuận theo chân tánh, chuyển nghiệp thành diệu</p>
<p>Qua bài thuyết này, quý vị hiểu rằng người tu hành chân chánh muốn thật tu tập theo lời dạy của đức Phật thì phải tu hành theo thứ tự. Đó là:</p>
<p>1 &#8211; Nhất giả tu tập. Trừ kỳ trợ nhân &#8211; Giai đoạn đầu là tu tập trừ những cái trợ nhân giúp đỡ cho vọng tưởng tăng trưởng. Đừng ăn ngũ tân cũng như đừng bỏ thêm độc vào bình.</p>
<p>2 &#8211; Nhị giả chân tu. Khô kỳ chánh tánh &#8211; Giai đoạn thứ hai, là thuận theo chân tánh mà tu hành, diệt trừ cội gốc của vọng tưởng. Dùng nước sôi và tro rửa sạch cái bình</p>
<p>3 &#8211; Tam giả tăng tiến. Vi kỳ hiện nghiệp &#8211; Giai đoạn thứ ba, là tăng tiến tu hành, chuyển cái nghiệp dụng của chúng sinh, thành cái diệu dụng của chư Phật. Bình sạch rồi mới đựng nước cam lộ. Chuyển thức thành trí, quyết sạch vô minh, thành Pháp Vương Tử</p>
<p>Trước tiên phải dừng ăn ngũ tân. Đó là giai đoạn hay bước đầu tiên trong sự tu hành. Sau khi dừng ăn ngũ tân 7 ngày, thân người và mồ hôi đổ ra bớt hôi rất nhiều. Các vị mới tu hành theo bước thứ hai là tu hành chân chánh để quán chiếu và diệt trừ cội gốc của vọng tưởng. Đó là muốn diệt trừ vọng tưởng thì trước tiên phải trừ đi các trợ nhân giúp đở cho vọng tưởng tăng trưởng. Nếu quý vị không tu hành theo thứ tự, quên đi bước đầu tiên, trừ kỳ trợ nhân, cứ tiếp tục ăn ngũ tân, thì quý vị sẽ chắc chắn rơi vào 50 Ma Ấm nói rõ trong Kinh Lăng Nghiêm.</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Thập Tập Nhân và Lục Giao Báo</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/thap-tap-nhan-va-luc-giao-bao/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 21 Aug 2018 15:16:21 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài Luận]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://langnghiem.com/?p=4081</guid>

					<description><![CDATA[10/6  gọi là Thập Tập Nhân và Lục Giao Báo. Đó là do 10 ác...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><img loading="lazy" decoding="async" class="alignleft  wp-image-4106" src="http://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/08/10_06.jpg" alt="" width="257" height="195" srcset="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/08/10_06.jpg 426w, https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/08/10_06-300x228.jpg 300w" sizes="auto, (max-width: 257px) 100vw, 257px" />10/6  gọi là Thập Tập Nhân và Lục Giao Báo. Đó là do 10 ác nghiệp chúng sanh tạo ra bởi tham sân và si.Tất cả những ác nghiệp mà chúng sanh tạo ra đều do ảo tưởng và mê vọng, rồi chúng sanh phải chiệu quả báo.</p>
<p>1. Ba ác nghiệp do thân: sát sanh, trộm cắp và dâm dật</p>
<p>2. Bốn ác nghiệp do miệng: lời nói dối, lời nói thêu dệt, lời nói hai chiều và lời nói hung ác</p>
<p>3. Có ba ác nghiệp do ý: tham lam, sân hận và si mê</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Từ 10 ác nghiệp trên sanh ra 10 tánh xấu và những loại địa ngục có tên là Thập tập nhân:<br />
1. Dâm dật (Lust)<br />
2. Tham lam (Greed)<br />
3. Kiêu ngạo (Arrogance)<br />
4. Hận thù (Hatred)<br />
5. Lừa dối (Deception)</p>
<p>6. Nói dối (Lying)<br />
7. Oán tập (Animosity)<br />
8. Kiến tập (Opposite Views)<br />
9. Bất công (Injustice)<br />
10. Kiện tụng (Litigation)</p>
<p style="text-align: center;">&#8212; 0O0 &#8212;</p>
<h3 style="text-align: center;"><span style="color: #ff6600;"><strong>Thập Tập Nhân</strong></span></h3>
<p><strong>1. Dâm dật</strong> (Lust) &#8211; Việc đầu tiên bao gồm thói quen của sự ham muốn tình dục và giao tiếp. Thói quen ham muốn mang đàn ông và đàn bà đến với nhau, và giao tiếp làm tăng sự cọ xát lẫn nhau. Khi thân thể quấn quích chà xát tiếp tục không ngừng, nó tạo ra một ngọn lữa hồng khủng khiếp. cũng giống như sự ấm áp phát sinh giữa hai bàn tay khi chà xát lồng bàn tay lại với nhau. Những ái dục đốt nhau sanh ra các địa ngục có tên là địa ngục giường và trụ đồng sắt nóng. Chúng sanh bị rơi vào bởi vì ham muốn tình dục quá nặng nề mà sinh ra tật tà dâm. Ngọn lửa ham muốn tình dục làm cháy nát cơ thể. Mười phương Như Lai xem sự hành dâm đồng như dục hỏa. Bồ Tát xem dục như hầm lửa phải tránh</p>
<p><strong>2. Tham lam</strong> (Greed) &#8211; Bao gồm thói quen tham lam và xen kẽ mưu đồ tạo nên sự cướp giật. Khi tham lam đạt tới mức cực đoan, nó “chứa hơi lạnh bên trong như băng giá ”Những thói quen này tạo ra cảm giác lạnh giá, “như cảm giác lạnh khi một người hút một luồng gió vào miệng. Sự tham lam trong quá khứ và sự hiện diện của một người, tham lam đụng độ với nhau. Thói quen (ăn cắp) khi nắm lấy, gây ra băng lặnh có tiếng rung, rên rỉ và rùng mình. Nó tạo ra các địa ngục băng đá. Chúng sanh vì tánh tham lam mà cướp giật cho nên rơi vào những địa ngục đóng băng này và phải trải qua sự tra tấn cực lạnh. Mười phương Như Lai xem việc tham cầu đồng như tham thủy, Bồ Tát xem tham như biển độc phải tránh.</p>
<p><strong>3. Kiêu ngạo</strong> (Arrogance) &#8211; Bao gồm thói quen kiêu ngạo và kết quả ma sát. Kiêu ngạo đề cập đến sự tự mãn. Một là kiêu ngạo khi người ta nghĩ rằng người ta tốt hơn người khác. Những suy nghĩ như vậy phát nơi ỷ thế, lấn áp không thôi. Một người coi thường người khác, nó tạo ra sự cãi vã tranh chấp. Giống như nước được tạo ra khi một người liên tục dùng lưỡi của mình để nếm hương vị trong miệng. Sự quét lưỡi nếm vị sẽ tạo ra nước miếng cho nên gọi là quậy nước thành sóng. Thái độ kiêu ngạo từ quá khứ kết hợp với sự hài lòng của một người trong hiện tại sanh ra các địa ngục dầu sôi, địa ngục ghềnh, vv&#8230; Chúng sanh có tánh kiêu ngạo tạo nghiệp ma sát cho nên rơi vào những địa ngục dầu sôi và phải trải qua sự phỏng da thịt, hay bị dầu sôi đổ vào miệng. Mười phương Như Lai xem sự ngã mạn như uống nước si, Bồ Tát xem ngã mạn như sự chìm đắm phải tránh. Do đó, mười phương Như Lai xem sự sân hận như dao gươm bén, Bồ Tát xem sân hận như chém giết phải tránh.</p>
<p><strong>4. Hận thù</strong> (Hatred) &#8211; Bao gồm thói quen hận thù làm nảy sinh sự thách thức lẫn nhau. Sự thách thức có nghĩa là bạn đã làm sai và tôi đã làm hại bạn. Khi chống đối chống mãi không thôi, trái tim của người hận thù trở nên nóng đến mức nó bóc lửa, và hơi nóng đủ đốt kim loại thành nước. Trái tim của bạn cảm thấy nóng và tâm vươn lên ngọn lửa vô minh. Ngọn lửa sân hận rất mạnh mẽ đến nỗi nó biến thành kim loại. Từ đó nó biến ra các địa ngục như: Địa ngục của núi Dao, Địa ngục của Kiếm Thụ, Địa ngục của Đao kiếm, Địa ngục của Bánh xe kiếm, Địa ngục của Rìu và Búa, Địa ngục của Đao Thương và Cưa làm bằng các kim loại. Cho nên trong kinh có câu tức giận giống như một con dao hay một thanh kiếm sắc bén. Chúng sanh có tánh hận thù tạo nghiệp ma sát cho nên rơi vào những địa ngục trên và phải bị các kim loại như đao gương cắt đứt cánh tay hoặc chân hoặc xương, rồi nghiền thành bột.</p>
<p><strong>5. Lừa dối</strong> (Deception) &#8211; Bao gồm thói quen lừa dối và gây những sự hiểu lầm phát sinh tù tội. Lừa dối là thiếu trung thực. “Gây hiểu lầm” có nghĩa là mọi người tham gia vào việc gian lận và lừa dối lẫn nhau. Bạn lừa tôi với một số việc và sau đó tôi nghĩ ra một số mẹo để lừa bạn. Quá khứ kết hợp với thói quen lừa dối trong hiện tại đã tạo thành một mô hình lừa dối. Hai tập khí quá khứ hiện tại kéo nhau sanh ra những còng tay và kìm kẹp, v.v…  Những “còng tay và kìm kẹp” này dùng để thực hiện các hình phạt trong địa ngục như xiềng, xích, roi, gậy, đòn, .. Chúng sanh có tánh lừa dối tạo các ác nghiệp cho nên rơi vào những địa ngục, bị xiềng, xích, rồi bị đánh đập với roi da, cây và gậy. Mười phương Như Lai xem sự dối trá đồng như gian tặc, Bồ Tát xem dối trá như beo sói phải sợ.</p>
<p><strong>6. Nói dối</strong> (Lying) &#8211; Bao gồm thói quen nói dối. Những cuồng tập giao khi, phát nơi phỉnh gạt, gạt mãi không thôi, buông tâm gian dối. “Nói dối” nghĩa là không nói sự thật, nói những điều sai. “Kết hợp với gian lận “có nghĩa là mọi người nói dối để lừa gạt nhau. “Gian lận lẫn nhau” có nghĩa là mọi người không thẳng thắn với nhau. Những gì họ nói là không đúng sự thật, che mờ, như cát bụi che mắt. Những tập khí xấu tạo ra các địa ngục của bụi và bụi bẩn, và địa ngục phân và nước tiểu. Khi nói dối hai người này dìm nhau, sanh những việc chìm đắm. Những việc chìm đắm sanh ra các tội phạt trong địa ngục như Ném &amp; Chụp, Bay &amp; Rớt, Nổi &amp; Chìm.</p>
<p>“Ném và Chụp” có nghĩa là ném lên cao và sau đó cho nó rơi xuống. “Bay và Rớt ”cũng là một trường hợp bị phóng cao vào không gian và sau đó để lại rơi xuống. “Nổi và nhấn chìm” có nghĩa là một người bỏ rơi trôi nổi trên biển. Chúng sanh có tánh nói dối (Lying) tạo các ác nghiệp cho nên rơi vào những địa ngục bụi bẩn dơ bẩn này. Do đó, mười phương Như Lai xem sự lừa gạt đồng như cướp giết, Bồ Tát xem sự lừa gạt, như giẫm rắn độc.</p>
<p><strong>7. Oán tập</strong> (Animosity) &#8211; Bao gồm thói quen thù oán và kết nối với nhau, sự thù oán gây ra sự bất bình. Có nghĩa là việc đưa ra việc khiếu nại sai trái. Các khiếu nại sai khiến cho sự nghi ngờ nảy sinh. “Khiếu nại”  nghĩa đen có nghĩa là giữ mỏ như chim cầm thức ăn, nói rằng nuôi giữ những bất bình và ý xấu trong miệng và từ chối để thả nó ra. Thù oán sanh ra giành giật và nuốt xé lẫn nhau.  Những thói quen thù oán sanh ra các địa ngục quăng đá và địa ngục ném gạch, ném vào tội nhân với những mảnh đá vụn. Hoặc bị nhót trong một quan tài hoặc trong tủ quần áo, hoặc đặt trong lồng tròn. Hoặc người đó bị đặt vào một cái bình và có ngọn lửa đốt dưới bình, cho nấu chín. Chúng sanh có tánh Oán tập (Animosity) tạo các ác nghiệp cho nên rơi vào những địa ngục bị hành đánh đập, bắn chết, ném xa, véo và những thứ phạt như vậy. Mười phương Như Lai xem sự thù oán, đồng như Quỷ Vi Hại, Bồ Tát xem thù oán như uống rượu độc.<strong><br />
</strong></p>
<p><strong>8. Kiến Tập</strong> (Opposite Views) &#8211; Bao gồm thói quen với ác kiến, cái nhìn với ác tâm. Vì kiến giải khác nhau nên chống trái lẫn nhau, ví như người lạ đi đường qua lại gặp nhau, cãi cọ thưa kiện. Có năm loại kiến tập– cái nhìn:<br />
1. Cái nhìn độc tài<br />
2. Cái nhìn vào một khía cạnh,<br />
3. Cái nhìn nghịch với đạo đức,<br />
4. Cái nhìn bất chấp mọi thứ,<br />
5. Cái nhìn sai lầm.</p>
<p>Với năm loại kiến tập này, chúng sanh thường tranh cãi và gây hại lẫn nhau. Cho nên trong địa ngục có vị Thiện Ác Đồng Tử tay cầm hồ sơ văn bản, điều tra bằng chứng cụ thể, khám hỏi, tra khảo, thẩm vấn từng người khi rơi vào địa ngục. Nếu bạn cố gắng tranh luận không hợp lý, họ chỉ tìm thấy trang và đọc nó ra như nó thực sự đã xảy ra. Họ có đầy đủ bằng chứng cho nên sự phản đối của bạn là vô ích. Mười phương Như Lai xem những ác kiến đồng như hầm độc, Bồ Tát xem những kiến chấp hư vọng như vào hố độc.</p>
<p><strong>9. Bất công</strong> (Injustice) &#8211; Bao gồm thói quen bất công dẫn đến việc xúi giục bất hợp pháp và lừa đảo. “Bất công ”có nghĩa là cáo buộc ai đó mà không có nguyên nhân, giáng tội anh ta. Đó là thiên vị và không công bằng. Vì bất công đối với người khác sanh ra các địa ngục bóp núi. Trong đó, núi ở cả bốn phía đều sát gần và đè bẹp người phạm tội. Cũng như một loại trải nghiệm được trải qua trong địa ngục nghiền đá. Giống như bạn đang vắt vào một cái máy xây thịt.</p>
<p>“cối nghiền, cối xay” là một địa ngục khác, như là “máy mài đá, cày, và nghiền thành bột. ”Nếu một người là kẻ nói dối thường xuyên và mang chứng kiến giả ​​- nếu lời nói của anh ấy hoàn toàn không đáng tin cậy – thì trong địa ngục này, lưỡi bị cắt ra. Hoặc nó bị móc sắt kéo ra, và rồi cho bò kéo cày qua lại. Mười phương Như Lai xem sự vu vạ đồng như cọp gièm pha, Bồ Tát xem sự vu vạ như bị sấm sét.</p>
<p><strong>10. Kiện tụng</strong> (Litigation) &#8211; Bao gồm thói quen che giấu, che đậy tội lỗi sanh ra các kiện tụng, vu cáo và các tranh chấp. Người che giấu người kia thưa kiện cho nên đưa ra toà án. Tại sao họ ra tòa? Bởi vì họ không cởi mở và thẳng thắn với nhau. Họ đặt vào mặt nạ và che đậy sự thật. Đó là che giấu. Vì tranh cãi kiện tụng sanh ra nghiệp khác. Cho nên trong địa ngục Diêm La Vương có những tấm gương chiếu soi mọi hành động trên thế gian. Tội phạm của bạn sẽ được tiết lộ trong một tấm gương (nguyệt đài kính). Khi bạn nhìn vào gương, mọi sai lầm bạn từng đã thực hiện trong cuộc sống của bạn sẽ hiện ra trong gương. Nó giống như một bộ phim, mọi khung hiển thị hành động của bạn khá sinh động. “đèn chiếu soi” bởi chiếc đèn chiếu soi, bạn không còn chỗ để trốn. Tất cả mọi thứ tiết lộ rõ ​​ràng. Nó giống như đứng trực tiếp trong ánh sáng mặt trời, không có cách người ta có thể che giấu bóng của một người. Mười phương Như Lai xem sự che giấu đồng như hiểm tặc, Bồ Tát xem sự che giấu như đội núi cao đi trên biển cả.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: center;"><strong>&#8212; 0O0 &#8212;</strong></p>
<h3 style="text-align: center;"><span style="color: #ff6600;"><strong>Lục Giao Báo</strong></span></h3>
<p>Tại sao gọi là Lục Giao Báo. Tất cả chúng sanh tạo nghiệp với 6 thức của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Tất cả ác nghiệp mà chúng sanh chiêu cảm đều từ lục căn. Lục Giao Báo gồm có 6 loại: Kiến Báo, Văn Báo, Khứu Báo, Vị Báo, Xúc Báo và Tưởng Báo</p>
<p>Từ sáu giác quan mà Phật đã giác ngộ và cũng từ sáu giác quan mà người ta rơi vào địa ngục. Chỉ vì mọi người không biết cách sử dụng chúng, và như vậy trong vô minh đưa ra sự giả dối từ bên trong sự thật. Sự giả dối phát sinh từ ba sự hiện diện tinh tế, đến sáu thô hiện diện, cho đến vô biên hiện diện. Đó là lý do tại sao có tám mươi bốn nghìn loại nghiệp báo chướng ngại. Tại sao chúng ta tạo ra nhiều tội nghiệp? Đó là bởi vì chúng ta không thể tự chủ. Chúng ta không thể tự chủ khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần. Chúng tôi không thể hồi quang phản chiếu, rồi để cảnh trần lôi cuốn chúng ta. Chỉ vì chúng ta không quay lại tánh nghe, chúng ta chạy đua theo sáu thức để núm lấy sáu trần.</p>
<p><strong>Ví dụ</strong>: một người đàn ông nhìn thấy một người phụ nữ xinh đẹp và nổi lên tham lam và ái dục. Rồi anh lắng nghe giọng nói nhẹ nhàng của cô. Một khi đôi mắt đã thấy hình dáng đẹp, đôi tai muốn theo và nghe âm thanh tuyệt vời. Mũi muốn ngữi mùi hoa phấn và nước thơm. Nếu mắt không nhìn thấy cô ấy, đôi tai sẽ không háo hức được nghe giọng nói của cô ấy và mũi sẽ không bị dụ dỗ bởi mùi nước hoa nữ tính. Sau đó lưỡi bắt đầu có những suy nghĩ sai lầm hủy hoại – có thể như là “Cô ấy thật là người phụ nữ hoàn hảo, thật là vui sướng nếu có thể hôn cô ấy. ” Trong tâm trí, loại dốt nát nảy sinh. Sau đó, cơ thể muốn tiếp xúc với cô ấy và tâm trí đồng ý. Vào thời điểm đó, anh ta bước vào sự tạo ra nghiệp hiếp dâm.</p>
<p>Các ác báo từ sáu căn sanh ra là gì?</p>
<p><strong>1. Kiến Báo</strong> &#8211; Một là Kiến Báo chiêu cảm ác quả. Đầu tiên là sự trừng phạt của việc nhìn thấy, cái mà luôn cuốn đưa dẫn đến ác nghiệp. Bởi vì bản chất cảm nhận của mắt khi nhìn thấy một vật, mắt bị ảnh hưởng bởi đối tượng của hình thức. Khi kiến nghiệp giao báo, lúc lâm chung, anh ta trước hết thấy lửa hồng cháy khắp mười phương. Đó là vì ngọn lửa tình dục khao khát của anh . Và ngọn lửa không chỉ giới hạn ở một nơi mà khắp mọi nơi, khắp cả mười phương.</p>
<p>Vì nghiệp của mắt cho nên có khi thấy sáng, thấy mỗi điều khủng khiếp. Thấy những thứ như chó sói, hổ và sinh vật với cơ thể con người, đầu trâu mặt ngựa. Bóng ma vô thường mang chiếc mũ cao. Ngoài ra còn có những con thú tàn nhẫn và kinh hoàng. Tất cả những gì anh ta nhìn thấy là những sinh vật tà ác</p>
<p>Vì nghiệp của mắt cho nên có khi tối tăm, mịt mù chẳng thấy gì hết. Vì không có ánh sáng, anh ta sanh hoảng hốt vô cùng và phải trải qua nỗi sợ hãi và khủng bố trong địa ngục bởi vì anh ta đã tạo ra kiến nghiệp.</p>
<p><strong>2. Văn Báo</strong> &#8211; Hai là chiêu cảm qua lỗ tai. Khi văn nghiệp giao báo, lúc lâm chung, anh ta trước hết thấy sóng cuộn chìm ngập trời đất . Anh ta bị cuốn theo dòng nước trôi vào địa ngục A-Tỳ. Khi thần thức bước vào địa ngục, anh ta nhận biết được hai cảm giác. Một là nghe rõ các tiếng ồn ào, tinh thần rối loạn. “Bối rối” có nghĩa là nó không thể nhớ bất cứ điều gì nữa. Cảm giác thứ hai là điếc hẳn, lặng lẽ chẳng nghe gì, thần thức chìm lịm. Những âm thanh bay đến lỗ tai hoá thành sấm sét và khí độc. Sấm sét là những lời trách mắng và thẩm vấn rùng rợn. Khí độc là những con sâu độc bò khắp người và chúng cắn vào mỗi lỗ chân lông và rưới sâu độc vào đầy khắp cơ thể</p>
<p><strong>3. Khứu Báo</strong> &#8211; Ba là chiêu cảm qua lỗ mũi. Có nhiều tật xấu tham lam tạo ra từ mũi. Khi ngửi mùi vị đồ ăn, họ sanh tánh xấu như uống rượu và sát sanh. Khi ngửi nước hoa của phụ nữ, tất cả các loại nghiệp ác đều có thể tạo ra. Khi chết, nghiệp hương vị thay vào là mùi hôi thúi từ chỗ đất. Người bị chôn thì thấy mặt đất tràn ngập chất độc. Linh hồn nhảy ra khỏi trái đất để thoát khỏi, nhưng  thần thức đâu biết rằng với sự nhảy cao ra đó sẽ kết thúc là nhảy vào trong địa ngục A Tỳ. Trong địa ngục, thần thức có hai cảm giác. Một là ngửi thông bị các hơi độc xông vào, nhiễu loạn tâm thần. Hai là nghẹt thở, hơi thở chẳng thông, làm chết giấc dưới đất</p>
<p><strong>4. Vị Báo</strong> &#8211; Bốn là chiêu cảm hương vị qua miệng. Khi con người nuôi dưỡng cơ thể của mình bằng thịt động vật, họ trở nên tham lam và hay tò mò về hương vị. Họ luôn luôn kiếm cách để tìm ra các các món ăn mới và khác lạ, để tạo ra những món ngon tuyệt vời. Bởi vì điều này, họ sẽ tạo ra rất nhiều nghiệp xấu. Khi vị nghiệp giao báo, lúc lâm chung, anh ta trước hết thấy lưới sắt phát lửa bừng cháy, che khắp thế giới. Linh hồn của anh té ngã và bị treo trên lưới. Đầu thân lộn ngược, anh ta rơi vào địa ngục A Tỳ. Ở đó, anh ta cảm nhận hai cảm giác: Một là hít hơi vào, kết thành băng giá, làm nứt nẻ thân thể. Hai là thở hơi ra, bay thành lửa hồng đốt cháy xương tủy.</p>
<p><strong>5. Xúc Báo</strong> &#8211; Năm là chiêu cảm vật chất qua thân. Qua thí dụ trên, anh ta vì muốn xúc phạm xác thân cô đẹp đó, anh ta đã phạm tội hiếp dâm. Khi xúc nghiệp giao báo, lúc lâm chung, anh ta trước hết thấy núi lớn từ bốn phía hợp lại, chẳng còn đường ra. Nghiệp chướng được tạo ra từ cảm giác giao với nghiệp lực của năm giác quan khác. Anh ta thấy những ngọn núi khổng lồ bao quanh anh ta và đẩy anh ta vào giữa. Anh ta bị đẩy giữa và thấy một thành phố cửa sắt rộng lớn. Ngay sau khi anh ta vào trong thành phố sắc, anh ta rơi vào địa ngục A Tỳ. Ở đó, anh nhận thức được hai cảm giác. Một là hợp xúc, núi hợp lại ép thân, xương thịt tuôn máu. Hai là lìa xúc, dao gươm đâm chém, tim gan bị cắt xẻ.</p>
<p><strong>6. Tưởng Báo</strong> &#8211; Sáu là chiêu cảm hay trừng phạt của suy nghĩ. Tưởng Báo chiêu cảm ác quả có thể tạo ra những nghiệp cực kỳ nghiêm trọng và nghiệp xấu cho nên nó gọi là nghiệp to lớn. Nghiệp chướng của tư duy xen kẽ với nghiệp lực của các cơ quan cảm giác khác. Nó tích lũy cho đến thời điểm chết, người ta chỉ thấy một cơn gió khủng khiếp thổi mọi thứ trong thế giới. Thần thức người chết bị thổi lên hư không, xoay rơi theo gió, đọa vào địa ngục A-Tỳ. Ở đó, anh ta nhận thức được hai cảm giác. Một là chẳng giác, mê muội vô cùng, bỏ chạy không thôi. Hai là chẳng mê, hay biết các khổ, bị đốt cháy không cùng, đau đớn khổ sở. Trong một ngày, anh ta bị chết vô số lần và được sinh ra vô số lần.</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Như Huyễn Văn Huân Văn Tu Kim Cang Tam-Muội</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/quan-the-am-bo-tat-2/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 16 Aug 2018 00:18:05 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Tam Muội]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://langnghiem.com/?p=3959</guid>

					<description><![CDATA[Bồ Tát Quán Thế Âm. Danh hiệu của Ngài là Quán Tự Tại. Quán Thế...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><img loading="lazy" decoding="async" class="alignleft  wp-image-3957" src="http://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/08/quantheam.jpg" alt="" width="230" height="202" />Bồ Tát Quán Thế Âm. Danh hiệu của Ngài là Quán Tự Tại. Quán Thế Âm là quán sát âm thanh của thế gian. Chúng ta đều biết Ngài, vì Ngài từ bi nhất, như tình thương của người mẹ ban cho chúng sinh tất cả sự mong cầu. Do đó, tại Á Châu có câu liễu rằng : Nhà nhà Quán Âm, cửa cửa Di Ðà Phật. Bồ Tát Quán Thế Âm là đệ tử lớn của Phật A Di Ðà. Phật A Di Ðà là giáo chủ cõi Tây phương thế giới Cực Lạc. Bên trái của Ngài là Bồ Tát Quán Thế Âm, bên phải của Ngài là Bồ Tát Ðại Thế Chí. Ðó là Tây phương Tam Thánh. Khi Phật A Di Ðà hết làm giáo chủ, thì Bồ Tát Quán Thế Âm lên thay thế làm giáo chủ, sau đó khi Bồ Tát Quán Thế Âm hết làm giáo chủ, thì Bồ Tát Ðại Thế Chí lên thay thế làm giáo chủ.</p>
<p>Vì Bồ Tát Quán Thế Âm, thường hóa hiện vô lượng số thân hình để cứu độ khổ nạn của chúng sinh, cho nên Ngài có danh hiệu là Ðại Từ Ðại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. Ngài dùng ngàn con mắt chiếu soi chúng sinh trôi nổi trong biển khổ, cho nên dùng ngàn tay để cứu vớt chúng sinh lìa khỏi biển khổ, khiến cho họ đến nơi yên ổn an vui.</p>
<p>Phẩm thứ hai mươi lăm trong Kinh Pháp Hoa là Phẩm Phổ Môn Quán Thế Âm Bồ Tát, chuyên nói về thần lực không thể nghĩ bàn của vị Bồ Tát nầy. Phẩm thứ sáu trong Kinh Lăng Nghiêm nói về Nhĩ Căn Viên Thông.</p>
<p style="text-align: center;">=========================</p>
<div class="entry-content">
<p style="text-align: center;"><span style="color: #993300;"><strong>Như Huyễn Văn Huân Văn Tu Kim Cang Tam-Muội</strong></span></p>
<p><span style="color: #993300;"><strong>Như huyễn</strong></span> có nghĩa là bản tánh của thức là hư vọng, không có thể tướng nhất định, như hoa đốm giữa hư không. Nhân nơi trần mà phát ra cái biết (của căn). Tri thức phân biệt sinh khởi là do sáu trần. Nhân các căn mà có tướng (của trần). Tướng của sáu trần sinh khởi là do ở sáu căn. Tướng (phần sở kiến) và kiến (phần năng kiến) đều không có tự tánh, như bó lau gác vào nhau. Kiến (phần) ở đây là chỉ cho trần. Cả tướng (phần sở kiến) và kiến (phần năng kiến) đều không có tự tánh. Tướng biểu hiện ra chỉ vì do sáu căn hiệp với sáu trần; do vì điều ấy không thực; nó hoàn toàn là hư vọng. Kiến cũng là hư vọng.</p>
<p><span style="color: #993300;"><strong>Văn huân</strong></span> có nghĩa là hằng ngày.</p>
<p><span style="color: #993300;"><strong>Văn Tu</strong></span> có nghĩa là thường tu tập pháp môn phản văn văn tự tánh cho đến khi thấm nhuần công phu nầy.</p>
<p><span style="color: #993300;"><strong>Kim cang</strong></span> có ba nghĩa: kiên cố, xán lạn, và bén nhọn. Thể của kim cang là kiên cố bất hoại. Tướng của kim cang là xán lạn, có thể soi sáng bóng tối trần gian. Dụng của kim cang là sự bén nhọn của nó.</p>
<p><span style="color: #993300;"><strong>Tam muội</strong></span> có nghĩa là bất động hay là định. Sự vắng mặt của vọng tưởng chính là tam muội. Đây là pháp Kim cang tam-muội. Khi hành giả phát huy định lực nầy, sẽ được thành tựu Kim cang tam-muội. Đây là một trong 25 viên thông, Nhĩ Căn Viên Thông, tu hành trong Kinh Lăng Nghiêm, cũng là pháp tu hành của Quán Thế Âm Bồ Tát.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #993300;"><strong>Phương pháp mở 6 nút</strong></span></p>
<p>“.. văn sở văn tận. Tận văn bất trụ, giác sở giác không. Không giác cực viên, không sở không diệt. Sanh diệt ký diệt, tịch diệt hiện tiền.”</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="color: #ff6600;"><strong>Năng văn sở văn</strong></span>: Miệng niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” (năng văn), nhĩ căn nghe âm thanh. Phải nhận kỹ ra từng tiếng từng chữ khi đó mới gọi sở văn.</p>
<p><span style="color: #993300;"><strong>Nút buộc thứ nhất</strong></span>: Trần cảnh diêu động. Sau một thời gian nửa tiếng, thì không dùng miệng để niệm Phật. Mà chỉ niệm ở trong tâm. Lúc nầy thì không còn âm thanh (sắc trần) cho nên không nghe bằng nhĩ căn nữa, mà chỉ dùng tánh nghe vào bên trong. Lúc nầy hành giả không để tâm ruổi rong theo thanh trần, mà xoay tánh nghe vào chân tánh, đó là danh hiệu Phật đang tuôn chảy liên miên bất tận thành một dòng tâm <span style="color: #ff6600;">(văn sở văn tận</span>). Quay tánh nghe vào bên trong có nghĩa là không nghe âm thanh bên ngoài, mà thay vì vậy, quay trở lại, hướng vào bên trong, để nghe tự tánh của mình. Cũng có nghĩa là nhiếp vào trong thân tâm của mình. ‘Văn trung tánh nghe.’ Nên đặc biệt chú ý chỗ nầy: chẳng phải nghe trong thiệt thức (miệng), chẳng phải là trong nhĩ thức, chẳng phải là trong ý thức…, mà chính là trong tánh nghe không sanh không diệt, cũng chính là tánh Như Lai tạng. <span class="fixedfont1">Khi quên hết các thanh trần từ bên ngoài, thì không còn tướng động, tức là “Nhập lưu vong sở.” Vong tức là giải thoát, Sở tức là thanh trần.</span>Tướng sở nhập cũng vắng lặng, hai trạng thái động tịnh rõ ràng chẳng còn sanh. Cội nguồn của sáu căn và sáu trần cũng đều dừng bặt, tức là đã mở ra được nút buộc thứ nhất của trần cảnh diêu động.</p>
<p><span style="color: #993300;"><strong>Nút buộc thứ hai của cái tịnh</strong></span>: Sắc Ấm. Khi đạt đến cực điểm cảnh giới tịch lặng, thì tướng động và tĩnh cũng vắng bặt. Do cảnh tịnh chính là khu vực của sắc ấm. Người tu hành thường cho là cảnh giới tịnh hay an lạc, cho nên rơi vào 10 tưởng giới của sắc ấm (bài rõ trong kinh Lăng Nghiêm). Nên không được trụ vào cảnh tịnh. Bởi vì còn chấp vào tịnh thì sẽ bị động. Còn động còn tịnh thì vẫn là pháp nhị nguyên. Phật pháp bất nhị. Khi đến được hai cảnh động tĩnh đều chẳng sanh, thì mới đến được cái gọi là sở nhập vắng lặng. Lúc đó, tức là đã mở ra được nút buộc thứ hai của cái tịnh. Thanh trần hoàn toàn vắng bặt, hai tướng động tĩnh rõ ràng chẳng còn sanh trở lại nữa. Tức là đã phá trừ được sắc ấm.</p>
<p><span style="color: #993300;"><strong>Nút buộc thứ ba của các căn</strong></span>: Thọ Ấm. Tình trạng như vậy tăng dần, các tướng năng văn, sở văn đều hết sạch. Các kết buộc do nơi các căn đã được mở, tiến tu dần dần, tăng cường thêm định lực, thế nên các căn năng văn tuỳ theo chỗ sở văn đều dứt sạch, cũng chẳng còn năng thọ và sở thọ. Tức là đã mở ra được nút buộc thứ ba của các căn, đồng thời cũng phá luôn được năm thức trước của thọ ấm.</p>
<p><span style="color: #993300;"><strong>Nút buộc thứ tư của các biết</strong></span>: Tưởng Ấm. Cũng không dừng trụ trong chỗ hết sạch năng văn sở văn, đạt đến năng giác sở giác đều vắng lặng. Cái năng văn và sở văn đều đã tiêu sạch, còn lại tri giác, còn lại ngã tướng, cho nên cần phải tiếp tục tiến tu (<span style="color: #ff6600;">Tận văn bất trụ</span>). Cho đến chỗ ‘ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm,’ đạt đến chỗ biết mà chẳng biết, giác mà không giác, đến khi mà giác và sở giác đều không thì mới mở được gút thứ tư về cái biết. Đến lúc năng giác và sở giác đều không còn, mới gọi là hoàn toàn không chấp trước, tức là phá trừ được ý thức thứ sáu tưởng ấm (<span style="color: #ff6600;">giác sở giác không</span>).</p>
<p><span style="color: #993300;"><strong>Nút buộc thứ năm của các không giác</strong></span>: Hành Ấm. Không giác viên mãn tột bậc, thì các tướng năng không và sở không đều tịch diệt. Cái năng giác và sở giác đều đã không, cần phải tiến tu, tham cứu cái không ấy nương vào đâu mà có, đến chỗ tánh không của cái biết – không giác, rốt ráo viên mãn thì năng không và sở không đều tiêu trừ sạch (<span style="color: #ff6600;">Không giác cực viên</span>). Tâm có khả năng tạo tác bị tiêu trừ, và cảnh giới do tâm ấy làm cho trở thành không cũng tiêu trừ luôn, đến mức cũng chẳng còn cái không. Vì hễ còn cái không, thì mình vẫn còn chấp trước vào tánh không. Và bây giờ ngay cả tánh không cũng chẳng còn, tức là mở được gút thứ năm của không giác, lúc nầy đồng thời phá trừ luôn thức thứ bảy hành ấm.</p>
<p><span style="color: #993300;"><strong>Nút buộc thứ sáu của ý niệm</strong></span>: Thức Ấm. Sinh diệt đã diệt, thì bản tánh tịch diệt hiện tiền. Cái năng không và sở không đều tịch diệt, vẫn còn ý niệm ‘diệt,’ mà còn diệt tức còn sinh, nên cần phải tiến tu tiếp tục, cho đến khi tướng sinh và tướng diệt đều trừ sạch, mới có thể mở được nút thứ sáu về ý niệm ‘diệt.’ (<span style="color: #ff6600;">không sở không diệt</span>) Đồng thời phá trừ luôn được thức thứ tám, a-lại-da thức của thức ấm.</p>
<p><span style="color: #ffff99;"><span style="color: #ff6600;">Sanh diệt ký diệt, tịch diệt hiện tiền</span></span>: Hai chữ ‘sinh diệt,’ vốn là chỉ cho các nút buộc, do động hết thì sanh tịnh sanh, căn diệt thì giác sanh, giác diệt thì không sanh, không diệt thì diệt sanh, sáu nút buộc nầy chính là pháp sanh diệt. Tướng diệt rất khó mở, cần phải tiêu trừ toàn bộ tướng diệt thì mới có thể đạt đến chỗ không sanh không diệt, mới có thể chính mình thấy được bản lai diện mục. Nay sáu nút buộc đã được mở, ngũ ấm đã được phá trừ hoàn toàn, vọng đã hết sạch rồi thì toàn chân hiển bày, tức là sinh diệt đã diệt rồi, thì tịch diệt hiện tiền, chứng đắc rốt ráo viên thông.</p>
</div>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Bất Động Giác tức A Súc Bệ Phật</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/bat-dong-giac-tuc-a-suc-be-phat/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 15 Aug 2018 23:57:05 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài Luận]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://langnghiem.com/?p=3948</guid>

					<description><![CDATA[A Súc Bệ Phật (Akṣōbhya): A dịch là Vô, cũng dịch là Bất. Súc Bệ...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><img loading="lazy" decoding="async" class="alignleft  wp-image-3950" src="http://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/08/ASucPhat.jpg" alt="" width="229" height="242" srcset="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/08/ASucPhat.jpg 343w, https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/08/ASucPhat-284x300.jpg 284w" sizes="auto, (max-width: 229px) 100vw, 229px" />A Súc Bệ Phật (Akṣōbhya): A dịch là Vô, cũng dịch là Bất. Súc Bệ dịch là Động, [A Súc Bệ] có nghĩa là Vô Động hoặc Bất Động. A Súc Bệ dịch là Bất Động, vì Pháp Thân bất động.</p>
<p>Trong Kinh A Di Đà, sau khi đức Phật Thích Ca khen lợi ích về công đức không thể nghĩ bàn của Phật A Di Ðà, đức Phật Thích Ca liền bắt đầu nói tiếp:</p>
<p>&#8220;Này Xá-lợi-phất, như ta hôm nay ngợi khen lợi ích về công đức không thể nghĩ bàn của Phật A Di Ðà. Ở phương Ðông cũng có Phật A Súc Bệ, Phật Tu Di Tướng, Phật Ðại Tu Di, Phật Tu Di Quang, Phật Diệu Âm. &#8230;&#8221;</p>
<p>Đức Phật bắt đầu với năm vị Phật ở Phương Đông để biểu thị căn bản trong tu hành. Điều kiện tiên quyết là như như bất động, đó là bất động giác, tức A Súc Bệ Phật. Trong danh hiệu của ba vị Phật kế tiếp đều có chữ Tu Di, nhằm biểu thị tự tánh, biểu thị ba thân, tức Báo Thân, Pháp Thân, và Ứng Hóa Thân. Tu Di dịch là Diệu Cao. Sáng rỡ thấu suốt gọi là Diệu, cao hơn các núi gọi là Cao. Cuối cùng, Diệu Âm Phật biểu thị phương pháp tu hành, ý nghĩa này rất rõ rệt. Phương Đông biểu thị thái độ học Phật cơ bản. A Súc Bệ Phật biểu thị bất động, tín tâm thanh tịnh bèn sanh Thật Tướng. Tâm chẳng định, chẳng thể học điều gì! Tâm phải định, nếu tâm bất động, chẳng bị hết thảy lay động, quý vị sẽ có thể tu hành.</p>
<p>Phật A Súc Bệ, tức là Tiêu Tai Diên Thọ Dược Sư Phật, tức Bất Ðộng Phật, cũng tức là Phật A Súc Bệ ở Kim Cang bộ thuộc phương Ðông, dịch là Pháp thân thường trú bất động. Pháp thân chẳng những bất động mà lại còn thường trú nữa. Ý nói rằng trí Phật là bất động nhưng có thể động, giao cảm đến trí tánh sẵn có của chúng sanh.</p>
<p>Trong Phật môn, tông phái rất nhiều. Khi chúng ta đã lập chí nguyện chuyên tu một pháp môn, chúng ta gặp những người học Tịnh Độ, Thiền, học Mật, học Giáo, trì Luật, tâm chúng ta có bị lay động hay không? Vẫn là chẳng lay chuyển! Tán thán sự tu hành của họ, ta vẫn thật thà tu hành, trọn chẳng bị lay động, đó gọi là “bất động giác”. Điều kiện như vậy thì mới có tư cách tu học Đại Thừa, thâm nhập một môn.</p>
<p>Học Tịnh bèn chuyên niệm A Di Đà Phật. Học Thiền bèn chuyên môn tham cứu. Học Mật bèn chuyên tâm trì chú. Tuyệt đối chẳng bị các pháp môn khác mê hoặc, lay chuyển. Ở đây, A Súc Bệ Phật dạy chúng ta đạo lý này. Vì thế, danh hiệu A Súc Bệ Phật được nêu ra đầu tiên ở đây chẳng phải là có ý nghĩa nông cạn, mà là có đạo lý rất sâu trong ấy. Tịnh Độ là pháp Đại Thừa, tất cả hết thảy các pháp Đại Thừa đều cần phải có thái độ như vậy thì mới có thể tu hành. Nếu không, ngay cả bén mảng ngoài rìa Đại Thừa Phật pháp cũng chẳng thể bén mảng được. Đó là điều kiện cơ bản để nhập môn Đại Thừa.</p>
<p>Pháp môn Tịnh độ nói rất rõ, chẳng qua chúng ta không chú ý đó thôi! Pháp môn Tịnh độ nói rằng: “Sanh thì nhất định là sanh, vãng thì thực không có vãng” (Sanh tắc nhất định sanh, khứ tắc thật bất khứ). Sanh, tức là nói sanh nơi Tịnh độ, mà sanh Tịnh độ tức làm hiển lộ tự tánh sáng rỡ của mình, như câu nói “duy tâm tịnh độ, tự tánh Di-đà”. Vậy thì chẳng cần kiếm ở đâu bên ngoài. Còn như chạy ra ngoài tìm kiếm thì đó là lối suy tưởng của phần đông chúng ta. Nếu quý vị thực tình muốn tu, muốn hiểu Phật Pháp, quý vị phải hiểu rõ một điều là cõi Cực Lạc hay cõi Ta-bà chẳng lìa khỏi cái niệm tức thời này, ngay đó là Cực Lạc! ngay đó là Ta-bà! Tâm quý vị để bị động, ô nhiễm, quý vị có Ta-bà. Tâm quý vị thanh tịnh quý vị có Cực Lạc.</p>
<p>Bởi vậy, bất tất phải “có đầu lại đội thêm đầu”, chớ có chấp rằng quý vị nhất định phải giáo hóa chúng sanh; chớ chấp rằng quý vị nhất định phải vãng sanh Cực Lạc. Chúng ta niệm Phật thì cứ việc niệm, đừng hỏi có sanh hay không sanh? Chỉ cần chúng ta thành tâm tu hành là đủ. Như quý vị không bị động, tức đó là Cực Lạc, nó hiện hành ngay trước quý vị! Quý vị bị cảnh lay động, tức quý vị ở cõi Ta-bà, cái thế giới của khổ đau.</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Phản văn văn tự tánh, Tánh thành vô thượng đạo</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/phan-van-van-tu-tanh-tanh-thanh-vo-thuong-dao/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 24 May 2018 20:59:58 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Lăng Nghiêm]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://langnghiem.com/?p=3864</guid>

					<description><![CDATA[Trong kinh Lăng Nghiêm, pháp “phản văn văn tự tánh, tánh thành vô thượng đạo”...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="entry-content">
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="alignleft  wp-image-3865" src="http://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/05/listen.jpg" alt="" width="249" height="249" srcset="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/05/listen.jpg 200w, https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/05/listen-150x150.jpg 150w" sizes="auto, (max-width: 249px) 100vw, 249px" />Trong kinh Lăng Nghiêm, pháp <em>“phản văn văn tự tánh, tánh thành vô thượng đạo” </em>(xoay ngược cái Nghe để nghe tự tánh, tánh trở thành vô thượng đạo) của Quán Thế Âm Bồ Tát chính là ý nghĩa này. Kinh Lăng Nghiêm dạy chúng ta phương pháp xoay chuyển lục căn, đức Phật chỉ nêu ra một căn của sáu trần bên ngoài, quay ngược lại duyên theo tự tánh để nói: Hãy nên xoay ngược dòng của sáu căn, [chuyện đó] được gọi là <em>“phản văn”</em> , dùng chữ Văn (nghe) để biểu thị. Nói cách khác, lục căn chẳng duyên theo trần cảnh, mà duyên theo căn tánh của sáu căn, đó là đúng! Căn tánh của sáu căn là Chân Như bản tánh của chính mình.</p>
<p>Trong hội Lăng Nghiêm, đối với sáu căn, đức Phật nêu ra một căn là Nhãn Căn. Phần đầu của kinh Lăng Nghiêm có một đoạn kinh văn rất dài, gọi là <em>“thập phiên hiển kiến”</em> (mười phen giảng rõ cái Thấy). <em>“Kiến”</em> ở đây chẳng phải là Nhãn Thức, chẳng phải là <em>“ngũ câu ý thức”</em> đồng thời khởi tác dụng với Nhãn Thức, chẳng phải là thứ ấy. Lìa khỏi Nhãn Thức lẫn ngũ câu ý thức; sau khi đã lìa khỏi, sẽ là kiến tánh. Kiến tánh là chân tánh, nơi mắt gọi là tánh Thấy, nơi tai là tánh Nghe, nơi mũi gọi là tánh Ngửi, là một tánh. Một tánh, chứ không phải là hai tánh! Có thể thật sự tìm được thứ này, bèn thành vô thượng đạo.</p>
<p>Vì lẽ này, Phật pháp được gọi là <em>“nội học”</em>, phải hướng nội, hồi quang phản chiếu, đừng duyên theo cảnh giới bên ngoài. Duyên theo cảnh giới bên ngoài, sẽ vĩnh viễn chẳng đạt được chân tướng. Đức Phật dạy chúng ta dùng phương pháp này để tu hành.</p>
<p><em>“<strong>Thể sát cứu thẩm</strong>”</em>:<em> “Thể”</em> là dùng tâm để lãnh hội, trong tâm hiểu rõ là Sát . Ba chữ Sát , Cứu, Thẩm đều có nghĩa là “hiểu rõ”. Do lãnh hội mà hiểu rõ, chẳng phải là nghiên cứu hoặc tư duy, chẳng phải là suy luận. Hễ dùng những phương pháp ấy (nghiên cứu, tư duy, suy luận) sẽ đều sai bét, đều rơi vào tâm ý thức.</p>
<p><em>“<strong>Cúc kỳ căn nguyên</strong>”</em> nghĩa là truy cứu đến tận cùng, thấu hiểu đến chỗ sâu thẳm. Chư vị ngẫm xem: Chúng ta có thể làm được ba câu ấy (<em>“tức niệm phản quán, thể sát cứu thẩm, cúc kỳ căn nguyên”</em>) hay không? Vì sao chúng ta chẳng làm được? Nói thật ra, tâm quá thô. Ở đây, tâm rất tế, tế tâm là gì? Tế tâm là định tâm, là tâm thanh tịnh. Do vậy, chúng ta hiểu rõ: Lý nhất tâm ở sau Sự nhất tâm. Quý vị chẳng đoạn phiền não, chẳng có cách nào thực hiện công phu này! Chúng ta còn có thị phi, nhân ngã, còn có tham, sân, si, mạn, còn có ưu lự, được, mất, sẽ chẳng có cách nào thực hiện công phu này. Người tâm địa hết sức thanh tịnh thì được, có thể thực hiện công phu này.</p>
<p><em> “<strong>Thể cứu chi cực</strong>”</em>: Thể Cứu là định công (công phu định lực), Định chẳng phải là <em>“tử định” </em>(định lực chết cứng, cứng ngắc, chẳng hoạt bát, uyển chuyển). Nếu là tử định, trong ấy chẳng có Quán; còn Định có Quán, như trong phần trước đã nói là <em>“tức niệm phản quán”</em> (quán ngược lại ngay nơi niệm). Nói theo Giáo Hạ, sẽ là <em>“Chỉ Quán song vận”</em> (vận dụng Chỉ lẫn Quán); nói theo Thiền thì Thiền là Tĩnh Lự, Tĩnh là Định, Lự là Huệ, <em>“Định Huệ đẳng trì”</em> (giữ cân bằng Định và Huệ). Họ dùng công phu này, dùng đến mức kha khá, sẽ hoát nhiên khai ngộ. <em>“Ư tự bổn tâm, hốt nhiên khế hợp”</em> (Bỗng dưng khế hợp bản tâm của chính mình). Đấy là khai ngộ, nhà Thiền nói là <em>“minh tâm kiến tánh”</em>, trong Giáo Hạ nói là <em>“đại khai viên giải”.</em></p>
<p><em>“Pháp” </em>là vạn vật, diệu ở chỗ nào? Những gì mắt trông thấy là thấy sắc tánh (hoặc nói là “tánh sắc”). Những gì tai nghe là nghe tánh thanh, nói “tánh thanh” hay “thanh tánh”, ý nghĩa như nhau. Trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật đã nói: <em>“Sáu căn tiếp xúc là diệu tánh”</em>, đó chính là <em>“kiến tánh”</em>. Mắt thấy tánh, tai nghe tánh, mũi ngửi tánh, lưỡi nếm tánh, tay chạm tánh, chẳng có gì không phải là tánh. Thông thường, chúng ta dùng một chữ để biểu thị chung, minh tâm <em>“kiến tánh”</em>, kiến tánh bèn thành Phật.</p>
<p>Kinh Lăng Nghiêm nói: <em>“Đương xứ xuất sanh, tùy xứ diệt tận”</em> (Sanh ra từ nơi đâu, sẽ diệt ngay từ nơi đó), gần như là sanh diệt đồng thời. Nếu các nhà khoa học đọc kinh Lăng Nghiêm, có lẽ khoa học sẽ tăng tấn, tiến cao hơn một nấc, có thể chứng minh chân tướng được nói trong kinh Phật. Nay chúng ta nghiên cứu theo phương hướng sai lầm, luôn nghĩ chúng có thứ tự, luôn nghĩ chúng có khởi nguyên. Đối với khởi nguyên của vũ trụ, sinh vật và nhân loại, [giới khoa học] luôn bảo là chúng có trước sau, không biết là chúng chẳng có trước sau.</p>
<p>Tình hình này có thể lãnh hội, kiểm nghiệm bằng mộng cảnh. Chúng ta nằm mộng, cảnh giới trong mộng bỗng dưng hiện tiền, cảnh giới ấy có trước sau hay chăng? Một thứ sanh, hết thảy đều sanh! Vừa tỉnh giấc, mộng cảnh chẳng còn nữa. Một thứ diệt, hết thảy đều diệt! Chẳng phải là diệt theo thứ tự, mà cũng chẳng phải là sanh theo thứ tự. Các hiện tượng trong toàn thể đại vũ trụ cũng là tình hình này, tỏ rõ ý nghĩa <em>“tâm ấn bất hoại”</em>. Năng và Sở đều bất hoại. Các hiện tượng được biến hiện chính là <em>“tương tục tướng”</em> (tướng liên tục). Các hiện tượng liên tục [xuất hiện và diệt mất] mà thôi, tìm sự sanh diệt đúng là tìm chẳng thấy. Nhập cảnh giới này, bèn gọi là <em>“chứng đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn”. </em></p>
<p><em>“Vô Sanh” </em>là hết thảy vạn pháp xác thực chẳng có sanh diệt. Chẳng có sanh diệt là vô sanh; vô sanh bèn vô diệt. <em>“Pháp”</em>  là hết thảy các pháp. Nhẫn là thừa nhận. Quý vị đã thấy sự thật này, thừa nhận lời Phật dạy “hết thảy các pháp bất sanh, bất diệt”, đó gọi là <em>“chứng đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn”</em>. Hết thảy các pháp bất sanh bất diệt là ý nghĩa <em>“tâm ấn bất hoại”</em>.</p>
</div>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Nhận biết chân tâm =&gt; Tu tâm =&gt; Dụng tâm</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/nhan-biet-chan-tam-tu-tam-dung-tam/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 24 May 2018 20:58:12 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài Luận]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://langnghiem.com/?p=3861</guid>

					<description><![CDATA[Học Phật là học “sử dụng cái tâm”. Phật, Bồ Tát dùng chân tâm, phàm...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><img loading="lazy" decoding="async" class="alignleft size-full wp-image-3862" src="http://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/05/soul.jpg" alt="" width="197" height="199" />Học Phật là học <em>“sử dụng cái tâm”</em>. Phật, Bồ Tát dùng chân tâm, phàm phu dùng vọng tâm. Dùng vọng tâm là không biết dùng tâm. Chẳng biết dùng tâm nên mới gọi là phàm phu hay chúng sanh. Người biết dùng tâm gọi là Phật, Bồ Tát. Thật ra Phật, Bồ Tát và phàm phu chúng sanh chẳng khác nhau, không hai, không khác! Biết dùng cái tâm chẳng phải là chuyện dễ dàng!</p>
<p>Trước hết, phải nhận thức cái tâm. Hiện thời chúng ta không nhận biết, mê mất tâm tánh. Nếu quý vị chẳng tin tưởng lời này, hãy đọc kinh Lăng Nghiêm. Suốt ngày từ sáng đến tối, miệng thường nói chúng ta có cái tâm, đức Phật hỏi ngài A Nan: “Tâm ở chỗ nào?” Chân tâm và vọng tâm khoan bàn tới, trước hết, hãy hỏi quý vị tâm ở chỗ nào? Đem hỏi tôn giả A Nan câu này, tìm khắp nơi cũng chẳng thấy, chẳng ở trong, chẳng ở ngoài, cũng chẳng ở khoảng giữa. Ngài A Nan nghiễm nhiên nghĩ tới bảy chỗ, bảy chỗ đều trật lất! Chúng ta chẳng thông minh như ngài A Nan, sợ còn chưa nghĩ được bảy chỗ! Do vậy, trước hết phải nhận biết cái tâm, rồi mới tu tâm. Tu tâm rồi mới biết dụng tâm.</p>
<p>“Nhược nhân thức đắc tâm, đại địa vô thốn thổ”<br />
(Nếu ai biết cái tâm, đại địa không tấc đất).</p>
<p>Đây là nói về nhận biết cái tâm, vì sao một người nhận biết cái tâm thì đại địa không còn tấc đất? Câu này có nghĩa là gì? Tâm là Chân Như bổn tánh, đất là Tướng. Tâm ví như vàng, đất ví như đồ vật. Nếu quý vị nhận biết vàng, món đồ nào cũng đều là vàng, toàn thể là vàng, trong tâm mục của quý vị sẽ không còn có đồ vật nữa, ý nghĩa là ở chỗ này.</p>
<p>Trước hết, phải nhận biết, sau đó, tự mình phải tu, bắt đầu tu từ đâu? Bắt đầu tu từ Lý Thể của chân tâm, bản thể của chân tâm là gì? Bản thể là <em>“trực tâm”</em> trong Bồ Đề tâm, mà cũng là <em>“chí thành tâm”</em> như kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật đã nói, chân thành đến cùng cực. Nói <em>“thành tâm”</em>, bản thân chúng ta đều cảm thấy tâm ta rất chân thành. Thật ra, cái tâm của quý vị đã sớm mê hoặc rồi! Quý vị đâu có tâm chân thành! Chữ Thành nên giảng như thế nào? Trong Cầu Khuyết Trai Bút Ký, tiên sinh Tăng Quốc Phiên đã định nghĩa chữ Thành như sau: <em>“Nhất niệm bất sanh, vị chi thành” </em>(một niệm chẳng sanh gọi là Thành). Chúng ta suốt ngày từ sáng đến tối dấy vọng tưởng, suốt ngày từ sáng đến tối khởi tâm động niệm, đâu có thành tâm!</p>
<p>Thành tâm là chân tâm, trong chân tâm đương nhiên không có vọng niệm. Có vọng niệm thì tâm chẳng thành. Có vọng niệm thì “thành tâm” biến thành “vọng tâm”. Trong thành tâm, chẳng sanh vọng niệm; trong vọng tâm, đương nhiên khởi lên vọng niệm. Do vậy, tâm biến thành vọng tâm, cũng là từ Chân Như bổn tánh biến thành A Lại Da, lại biến thành Mạt Na, biến lần thứ ba bèn thành sáu thức trước đó. Duy Thức gọi chuyện này là <em>“tam năng biến”</em>. Đấy là từ chân khởi vọng, đạo lý là như vậy đó.</p>
<p>Trước hết, chúng ta phải nhận biết chân tâm, nhận biết rồi mới lại tu tâm. Tâm phải tu như thế nào? Phải rèn luyện trong cảnh giới, trải qua sự việc để luyện tâm. Sáu căn của chúng ta tiếp xúc cảnh giới sáu trần bên ngoài, mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, cho đến ý biết pháp, rèn luyện trong ấy, rèn luyện thanh tịnh, giống như trong kinh Kim Cang, Thích Ca Mâu Ni Phật dạy tôn giả Tu Bồ Đề, nhưng thật ra, đức Phật dạy chúng ta hãy rèn luyện cái gì? Rèn luyện <em>“chẳng giữ lấy tướng, như như bất động”</em>. Rèn luyện điều này! <em>“Chẳng giữ lấy tướng”</em> là chẳng chấp tướng, chẳng động tâm, chẳng khởi niệm, đó là tu tâm. Tu cái tâm thanh tịnh của chính mình, mà cũng là chính mình chân thật thụ dụng.</p>
<p>Tâm càng thanh tịnh thì càng có thể khai ngộ. Tâm càng thanh tịnh thì phạm vi ngộ càng rộng lớn. Hễ chưa thể khai ngộ, đều là do vọng niệm quá nhiều, phiền não quá nặng. Phiền não và vọng tưởng đều là giả, trong chân tâm không có những thứ này. Chuyện này đã được giảng hết sức thấu triệt trong kinh Lăng Nghiêm, đặc biệt là trong đoạn kinh văn <em>“thập phiên hiển Kiến”</em> (mười phen chỉ rõ cái Thấy). Tánh Thấy là chân tâm, tánh Thấy là bất sanh bất diệt. Tánh Thấy vốn sẵn thanh tịnh, quyết định chẳng dính dáng tới vọng tưởng, phiền não! Điều này chứng minh trong chân tâm không có phiền não, chẳng có vọng niệm. Vọng niệm và phiền não đều từ vô minh sanh khởi, vô minh là mê</p>
<p>Tâm địa của chính mình đã thanh tịnh mới có thể lợi ích chúng sanh. Lợi ích chúng sanh là tâm đại bi muốn giúp đỡ chúng sanh, thành tựu hết thảy chúng sanh. Nếu tự tâm chẳng thanh tịnh, mà quý vị muốn học theo các vị đại Bồ Tát phổ độ hết thảy chúng sanh, thường là chẳng thể độ chúng sanh, mà chính mình cũng bị kéo xuống nước.</p>
<div id="selenium-highlight"> </div>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>
