<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Lăng Nghiêm Tự</title>
	<atom:link href="https://langnghiem.com/vi/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://langnghiem.com</link>
	<description>Shurangama Temple</description>
	<lastBuildDate>Tue, 12 May 2026 19:56:56 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.9.4</generator>

<image>
	<url>https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2024/10/cropped-logo-32x32.png</url>
	<title>Lăng Nghiêm Tự</title>
	<link>https://langnghiem.com</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Giới Định Huệ</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/gioi-dinh-hue/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 10 May 2026 17:05:35 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài Luận]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://langnghiem.com/?p=7479</guid>

					<description><![CDATA[ Giới Định Huệ còn được gọi là Tam Vô Lậu Học. Quy nạp lại, sẽ...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><img decoding="async" class="alignleft  wp-image-7499" src="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2026/05/gioi.jpg" alt="" width="206" height="154" srcset="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2026/05/gioi.jpg 368w, https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2026/05/gioi-300x223.jpg 300w" sizes="(max-width: 206px) 100vw, 206px" /> Giới Định Huệ còn được gọi là Tam Vô Lậu Học. </span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Quy nạp lại, sẽ chẳng ngoài “thanh tịnh, bình đẳng, giác”, ba câu ấy bao gồm trọn hết toàn thể Phật pháp. Nếu nói theo Tam Vô Lậu Học thì Thanh tịnh là Giới, Bình đẳng là Định, Giác là Huệ.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif; color: #993300;"><strong>Tại sao nói thanh tịnh là giới</strong>? </span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"> Thanh tịnh ba nghiệp: thân, miệng và ý. Ba nghiệp thanh tịnh tức là Thánh nhân. Ba nghiệp chẳng thanh tịnh tức là phàm phu. Ba nghiệp hợp với tiêu chuẩn tức là thiện. Chẳng hợp tiêu chuẩn tức là ác. Trước hết nói về mười điều ác của ba nghiệp, còn gọi là thập giới </span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Thân không thanh tịnh sẽ sanh ba điều ác: Giết hại, trộm cắp, tà dâm.</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Miệng không thanh tịnh sẽ sanh bốn điều ác: Tức là nói dối, thêu dệt, hai lưỡi, chửi mắng.</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">&#8211; Ý không thanh tịnh sẽ sanh ba nghiệp: Tức là tham, sân, si.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nếu như có người bắt đầu tin Phật pháp, phát tâm bồ đề muốn hành Bồ Tát đạo, thì trước hết phải quy y Tam Bảo, tức là quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Quy y Phật chẳng đọa địa ngục, quy y Pháp chẳng đọa ngạ quỷ, quy y Tăng chẳng làm súc sinh. Ðó là nghi thức bắt đầu tin Phật. Sau đó lại giữ năm giới. Năm giới tức là :</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">1). Không sát sinh (thanh tịnh thân)</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">2). Không trộm cắp (thanh tịnh thân)</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">3). Không tà dâm (thanh tịnh thân)</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">4). Không nói dối (thanh tịnh miệng)</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">5). Không uống rượu (thanh tịnh ý)</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Thọ năm giới rồi, thì nhất định phải giữ gìn giới luật. Trong mỗi giới đều có năm vị thiện thần hộ pháp. Nếu giữ được năm giới, thì có hai mươi lăm vị thiện thần đến bảo hộ, khiến cho hành giả gặp hung hóa cát, gặp nạn thành cát tường. Nếu phạm giới thì hai mươi lăm vị thiện thần đó sẽ bỏ bạn đi.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Người xuất gia, Sa Di thọ 10 giới. Tỳ Kheo thọ 250 giới. Tỳ Kheo Ni thọ 348 giới, còn phải thọ giới Bồ Tát (10 giới trọng, 48 giới khinh). Những giới này đầy đủ, mới chân chánh là người xuất gia. Người tại gia phải thọ 5 giới đầu lúc quy y Tam Bảo, 10 giới của ba nghiệp, mới là người chân chánh tin Phật tử. </span></p>
<p><em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Giới năng khai phát Bồ-đề bổn</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Học thị cần tu công đức địa</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ư giới cập học thường thuận hành</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nhất thiết Như Lai sở xưng mỹ.</span></strong></em></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Giới tức là ngừa ác lánh dữ, tức cũng là đừng làm các điều ác, hãy làm các điều lành. Nếu đừng làm các điều ác, thì sẽ tiêu diệt tham sân si; hãy làm các điều lành, tức là siêng tu giới định huệ. Siêng tu giới định huệ, tức là khai phát gốc bồ đề. Nếu muốn khai ngộ thì nhất định phải giữ giới. Nếu muốn giữ giới thì nhất định phải có tâm tin. Tin lời Phật dạy mới có thể giữ giới, giữ giới mới có thể khai phát pháp căn bản của con đường bồ đề.</span></p>
<p style="text-align: center;"><strong>&#8212; oOo &#8212;</strong></p>
<p style="text-align: center;"><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif; color: #993300;">Tại sao nói Bình đẳng là Định và Giác là Huệ? </span></strong></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Bình đẳng là Định, vậy bình đẳng cái gì? Đây là </span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Bình Ðẳng Tánh Trí là do thức thứ bảy chuyển thành trí. Lúc quý vị chưa tu, chưa hiểu rõ ý nghiã của Định thì gọi là thức thứ bảy, sau khi khai ngộ thì gọi là Bình Ðẳng Tánh Trí. Thức thứ bảy cũng gọi là Mạt na da thức, cũng gọi là truyền tống thức. Nó do thức thứ sáu (ý thức) truyền đến thức thức tám, cho nên gọi là truyền tống thức, mà thức thứ tám còn gọi là hàm tàng thức, Phạn ngữ là A lại da thức. Những hột giống thiện ác, đều chứa trong thức thứ tám, cho nên trồng thiện nhân liền kết quả thiện, trồng nhân ác liền kết quả ác, cho nên gọi bát thức điền. Thức này giống như một mảnh ruộng, quý vị trồng cái gì thì nó liền sanh cái đó. Nếu không giữ giới sẽ gây ác nghiệp, và ác nghiệp sẽ nằm trong bát thức điền.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><em>&#8220;Bình Ðẳng Tánh Trí tâm vô bệnh&#8221; &#8211;</em> bình đẳng tức tâm Chư Phật và chúng sanh thì bình đẳng, vô bệnh tức không có chướng ngại, tật đố, tham sân si. Nếu quý vị không có chướng ngại, tật đố, tham sân si thì có thể chuyển thức thứ bảy thành Bình Ðẳng Tánh Trí, tức là có Định có Huệ. </span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Cái tâm bình đẳng là định. Sự giác ngộ (Phật) là Huệ. Tâm bình đẳng là chánh niệm. Cho nên nói rằng tức tâm tức Phật. </span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Lục Tổ Huệ Năng nói: </span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">“Niệm trước chẳng sanh tức tâm, niệm sau chẳng diệt tức Phật. Thành tất cả tướng tức tâm, ly tất cả tướng tức Phật. Nếu ta nói cho đủ thì cùng kiếp nói cũng chẳng hết. Hãy nghe ta kệ:</span></p>
<p><em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Tức tâm là huệ, tức Phật là định.<br />
Ðịnh Huệ bình đẳng, ý tất thanh tịnh.<br />
Ngộ pháp môn này, do ông tập tánh.<br />
Dụng vốn không sanh, song tu là chánh.&#8221;</span></strong></em></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Tức tâm là huệ, tức Phật là định, đó cũng gọi là định huệ, tức tâm tức Phật cũng chính là tức định tức huệ; định huệ, tâm và Phật thì bình đẳng. Tâm chính là Phật, Phật chính là tâm, định chính là huệ, huệ chính là định. Định huệ chính là tâm và Phật. Tâm và Phật chính là định huệ. Ðây đều là nhất thể, trong ý niệm của quý vị cần có tâm thanh tịnh (giữ giới). Nếu quý vị hiểu rõ pháp môn đốn giáo này thì sẽ minh bạch rằng không rời khỏi tâm mà có Phật, không rời khỏi Phật mà có tâm; cũng không phải rời khỏi định mà có huệ, cũng không phải rời khỏi huệ mà có định. Tức định tức huệ, tức tâm tức Phật. Tại sao quý vị không hiểu rõ điều này? Vì quý vị nhiều kiếp nhiều đời, tập tánh chướng ngại. Bổn lai diệu dụng thì không sanh không diệt, cho nên tu tâm là tu Phật, tu Phật chính là tu tâm, tu định là tu huệ, tu huệ là tu định. Ðó mới là chánh pháp.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: center;"><strong>&#8212; oOo &#8212;</strong></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #993300;"><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Thiếu Giới, thiền định có thể dẫn về đâu?</span></strong></span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Thiếu giới là không giữ giới thì tâm không được thanh tịnh. Mà tâm không được thanh tịnh thì bị trần cảnh lôi cuốn. Mắt thấy đồ đẹp thì sanh lòng tham. Tai nghe tiếng xấu thì sân. Ngũ căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân) gặp Ngũ trần cảnh thì sanh ngũ thức (Nhãn thức<!--TgQPHd|[]--> (mắt), Nhĩ thức<!--TgQPHd|[]--> (tai), Tỷ thức<!--TgQPHd|[]--> (mũi), Thiệt thức<!--TgQPHd|[]--> (lưỡi), và Thân thức<!--TgQPHd|[]--> (thân). Nếu không giữ giới thì tâm không giữ được tâm bình đẳng. </span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Có nhiều vị tu hành thời nay vì không muốn giữ giới, cho nên nói rằng: &#8220;Tu hành chỉ cần tu tam thân (Pháp thân, Báo thân và Hóa thân) tứ trí là đủ rồi.&#8221;. Họ không hiểu rằng tu Pháp thân là tu thanh tịnh pháp thân, mà giữ giới là giữ thân tâm thanh tịnh. Nếu tâm không thanh tịnh thì sẽ</span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"> bị cảnh giới làm giao động. Nếu tâm thanh tịnh thì khi thiền sẽ có định hay sẽ gặp những </span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">cảnh giới thiện, </span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">cảnh giới thuận và </span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">cảnh giới hoan hỷ. Nếu tâm không thanh tịnh thì sẽ gặp những </span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">cảnh giới ác, cảnh giới nghịch, cảnh giới phiền não. </span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nếu như trụ ở cảnh giới ác thì khó mà phá tan tất cả ma lực hay bốn thứ ma: thiên ma, thần ma, quỷ ma, người ma</span></p>
<p><em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nhược trụ dũng mãnh vô thượng đạo</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Tức năng tồi điễn chư ma lực</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nhược năng tồi điễn chư ma lực</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Tức năng siêu xuất tứ ma cảnh</span></strong></em></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">1). Thiên ma : Tức là ma trên trời. Nếu hành giả chưa phá cửa ải tiền tài, thì thiên ma dùng đủ thứ tài vật để dẫn dụ, khiến cho sinh tâm tham, nhiễu loạn tâm thanh tịnh của hành giả. Ðây là hạt giống trong ruộng tám thức chưa hàng phục được, còn gốc rễ vô minh, cho nên chưa cầm chắc được, theo cảnh mà chuyển, làm con ma cháu ma, dân ma nữ ma, làm quyến thuộc của thiên ma. Nếu cửa ải sắc chưa phá, thì thiên ma sẽ tìm cơ hội để chướng ngại tu đạo, hiện ra người nữ xinh đẹp, hoặc người nam đẹp trai, biểu diễn các tư thái ở trước mặt bạn, khiến cho bạn mê mà phát cuồng, mất đi đạo nghiệp, bị thiên ma nhiếp đi, làm quyến thuộc của chúng.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">2). Thần ma : Tức là ma có thần thông. Chúng chẳng nhất định ở trên trời, hoặc ở trên đảo, hoặc ở trong núi, trong rừng. Chúng thấy người tu đạo, thì đến gây phiền não, đấu pháp với người tu đạo so sánh cao thấp. Người đạo cao thì hàng phục được ma; ngược lại thì sẽ bị ma hàng phục, liền làm quyến thuộc của chúng.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">3). Quỷ ma : Tức là ma quỷ hại người. Chẳng những đến gây phiền não mà còn hại huệ mạng của người, khiến cho người tu đạo tâm chẳng an ổn, hoặc khiến cho mất đạo tâm. Trong Kinh Lăng Nghiêm có nói, có năm mươi thứ ấm ma, hay nhiễu loạn tâm người tu đạo. Do đó, bất cứ gặp cảnh giới gì, phải có định lực, đừng động tâm, bị cảnh làm lay chuyển.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">4). Người ma hay Phiền não ma: Tức là đố kỵ chướng ngại người tu đạo. Lúc chuyên nhất tu đạo, thì chúng cố ý đến gây phiền não, chướng ngại bạn tu đạo, khiến cho bạn nóng giận, sinh phiền não, động vô minh. Phàm là có hành vi như thế, thì tức là người ma. </span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Còn có phiền não ma, tức là tham sân si mạn nghi năm thứ phiền não cơ bản. Tham tức là đối với cảnh thuận sinh tâm vui thích. Sân tức là đối với cảnh nghịch khởi tâm sân hận. Si tức là chẳng minh bạch đạo lý chân chánh. Mạn tức là khoe khoang mình, khinh khi người khác. Nghi tức là chẳng tin lời của người khác nói. Năm thứ hành vi này, hay não hại thân tâm, cũng là đá cột chân người tu đạo.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: center;"><strong>&#8212; oOo &#8212;</strong></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #993300;"><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Thanh tịnh là Gìới</span></strong></span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Mỗi ngày phải phản tỉnh: Những việc làm trong một ngày có thanh tịnh chăng? Nếu thanh tịnh thì phải nỗ lực, khiến cho càng thanh tịnh. Nếu chẳng thanh tịnh thì phải sửa lỗi làm mới lại. Nếu cảm thấy khó giữ giới, thì cũng nên biết rằng, trong nhiều kiếp trước, quý vị đã làm nhiều ác đức. Cho nên những việc ác đó đã nằm trong bát thức điền, và kiếp này nó là quả báo của việc gieo nhân trong những kiếp trước. Trước tiên phải t</span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">hành tâm sám hối, như thế thì ba nghiệp mới bắt đầu thanh tịnh. Cách sám hối rất đơn giản, chỉ cần chắp tay và nói:</span></p>
<p><em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">&#8220;Thuở xưa tạo ra các nghiệp ác</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Đều do vô thủy tham sân si</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Từ thân miệng ý phát sinh ra</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Tất cả con nay xin sám hối.&#8221;</span></strong></em></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Sau khi sám hối thì phải làm thế nào giữ giới và đắc được ba nghiệp (thân, ngữ, ý) thanh tịnh?</span></p>
<ol>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Làm thế nào để được thân ngữ ý nghiệp chẳng có lỗi lầm?</strong> Phải siêng tu giới định huệ, thì thân ngữ ý nghiệp sẽ chẳng có lỗi lầm. Phải diệt trừ tham sân si, thì ba nghiệp sẽ thanh tịnh. Ðây là phương pháp đắc được thân, ngữ, ý, ba nghiệp chẳng có lỗi lầm.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Làm thế nào để được thân ngữ, ý, nghiệp chẳng thương hại?</strong>  Thì phải dùng kiên, thành, hằng, ba chữ để làm cơ sở, có tâm kiên cố, tâm thành thật, tâm thường hằng, chẳng bị ô nhiễm làm thương hại, thì thân ngữ ý nghiệp sẽ tự nhiên thanh tịnh. Khi tu hành thì phải cẩn thận coi chừng, luôn luôn chú ý, không tạo tất cả điều ác, nguyện làm tất cả điều lành.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Làm thế nào để được thân ngữ ý không thể hủy phạm?</strong> Ở trên thương hại là ở ngoài đến phá hoại. Bây giờ hủy phạm là duyên bên trong phá hoại, khiến cho mình phạm giới ba nghiệp. Cho nên phải giữ gìn giới luật cho cẩn thận. Bằng không, phạm giới thì thân ngữ ý nghiệp sẽ chẳng thanh tịnh.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Làm thế nào để được thân ngữ ý nghiệp không thể phá hoại?</strong> Tu ba nghiệp như kim cang, thì bất cứ cảnh giới nào, cũng không thể phá hoại được. Nghĩa là tu thiền định, có định rồi thì chẳng bị cảnh giới chuyển, mà chuyển được cảnh giới. Tóm lại, chẳng động tâm thì ba nghiệp sẽ thanh tịnh.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Làm thế nào để được thân ngữ ý nghiệp chẳng thối chuyển?</strong> Bất cứ tu pháp môn gì, phải có thủy có chung, không thể giữa đường mà sinh tâm thối chuyển. Phải có tinh thần kiên nhẫn bất khuất, chẳng thối lùi mới có sự thành tựu. Có người phát tâm tu hành, chưa được mấy ngày thì sinh tâm thối chuyển. Giống như tu ngủ ngồi, cảm thấy chẳng thoải mái, chẳng bằng nằm ra ngủ. Ðây là sinh tâm thối chuyển.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Làm thế nào để được thân ngữ ý không thể giao động?</strong> Tu ba nghiệp thành kiên cố, thì bất cứ cảnh giới gì đến, cũng không giao động, như vậy thì không thể tạo nghiệp ác.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Làm thế nào để đắc được thân ngữ ý thù thắng?</strong> Chẳng những chẳng tạo nghiệp ác, mà còn trở thành công đức thiện thù thắng, tức là làm nhiều việc có ích cho chúng sinh, tất cả đều vì chúng sinh, cho đến xả bỏ hạnh phúc của mình cũng chẳng tiếc.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Làm thế nào để được thân ngữ ý nghiệp thanh tịnh?</strong> Trừ sạch tư tưởng nhiễm ô, thì đắc được nghiệp thanh tịnh. Tại sao chẳng thanh tịnh? Vì có dục niệm. Nếu đoạn dục khử ái, thì ba nghiệp tự nhiên sẽ thanh tịnh.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Làm thế nào để được thân ngữ ý nghiệp chẳng ô nhiễm?</strong> Con người từ vô thủy kiếp đến nay, vì ô nhiễm làm hại, cho nên thân, miệng, ý, chẳng thanh tịnh, ngày ngày hồ đồ, điên đảo, chẳng lúc nào thanh tịnh. Nếu tiêu diệt những tư tưởng chẳng chánh đáng, thì tâm sẽ thanh tịnh. Tâm thanh tịnh rồi thì ba nghiệp chẳng ô nhiễm nữa.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Làm thế nào để được thân ngữ ý nghiệp được trí huệ dẫn đạo?</strong> Vì tạo nghiệp ác, nên trí huệ chẳng hiện tiền, dùng tâm ngu si để làm chủ, cho nên thân ngữ ý nghiệp chẳng thanh tịnh. Nếu dùng trí huệ để dẫn đạo, thì sẽ đi trên con đường chân chánh đại quang minh, ba nghiệp sẽ thanh tịnh.</span></li>
</ol>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: center;"><strong>&#8212; oOo &#8212;</strong></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #993300;"><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Định và Huệ</span></strong></span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ðịnh do Giới sanh, mà Ðịnh là bổn thể của Huệ và Huệ là vận dụng của Ðịnh, cho nên giới định huệ là tam vô lậu học. Năng trì giới cũng đắc được vô lậu, năng tu định cũng có thể đắc được vô lậu, năng phát huệ cũng có thể đắc được vô lậu. Cho nên muốn đắc định, trước phải trì giới. Như vậy phải làm sao? Tức “Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành.”</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Lục Tổ Ðại sư khai thị nhất thiết chúng sanh:</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">– Quý vị Thiện tri thức! Pháp môn đốn giáo của tôi, lấy định huệ làm căn bổn, làm cơ sở. Quý vị đã là Thiện tri thức, thì không nên chấp mê, không tin tưởng, không nên chấp trước nói rằng định huệ là hai thứ phân biệt. Cần phải biết định huệ là nhất thể, định chính là huệ, huệ chính là định, tuy có hai tên, nhưng bổn thể của nó là một không phải là hai. Ðịnh là bổn thể của huệ, huệ là vận dụng của định. Do định có thể phát sanh trí huệ. Khi trí huệ hiện tiền, định ở trong trí huệ. Lúc định hiện tiền, huệ ở trong định. Cho nên nếu có thể nhận thức đạo lý này – định huệ nhứt thể, nhưng cách dùng mỗi cái có khác, đó chính là định huệ bình đẳng, định huệ đồng thể.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Quý vị tu đạo, không nên nói trước phải có định mới phát sanh trí huệ, hoặc là trước có trí huệ mới phát sanh định lực, từ đó nói định huệ có chỗ sai khác. Nếu tâm có loại kiến giải như thế, sẽ cho rằng định huệ là hai thứ, nếu miệng nói toàn là những lời tốt đẹp, nhưng trong tâm đầy những tư tưởng bất thiện, toàn là tật đố, chướng ngại, cống cao ngã mạn, tà tri tà kiến, tham sân si – định huệ như thế, chỉ là lời nói suông.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nếu nội tâm và miệng nói đều là tốt lành, trong ngoài đều như nhau, biểu đạt nhất trí, tâm khẩu nhất như, đó chính là định huệ bình đẳng. Muốn tự mình hiểu rõ để tự tu hành, đó không phải ở những lời tranh luận nơi đầu môi chót lưỡi, để làm cho mọi người biết rằng tôi có tu hành, hoặc tự mình hô hào cho mọi người chung quanh biết danh tiếng của mình là nổi bật nhứt.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nếu tranh trước sau, nói nhứt định phải định trước huệ sau, hoặc huệ trước định sau, phàm tranh luận cái đạo lý này, đều là những kẻ phàm phu ngu muội, cho nên nói: “Tranh luận là tâm thắng phụ, trái nghịch với đạo, liền sanh tâm tứ tướng, làm sao mà đắc được tam muội?” Không đắc được tam muội, tức là không có định, cũng chính là không có huệ.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nếu tâm thắng phụ chưa thể đoạn trừ, thì vẫn còn ngã chấp và pháp chấp. Nếu ngã chấp, pháp chấp chưa thể đoạn trừ thì không thể rời bỏ tứ tướng. Vì có cái ngã chấp, cho nên có cái nhân chấp, vì có nhân chấp cho nên có chúng sanh chấp, vì có chúng sanh chấp sẽ phát sanh thọ giả chấp. Không thể rời bỏ bốn loại chấp trước này, tức thì sanh ra bốn tướng.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Quý vị Thiện tri thức! Ðịnh huệ giống như cái gì? Nay đưa ra một ví dụ: định huệ giống như đèn và ánh sáng. Có đèn thì có ánh sáng, có ánh sáng thì có đèn, không có đèn thì không có ánh sáng, không có ánh sáng thì không có đèn. Ðèn và ánh sáng tuy nói là hai loại, kỳ thực là nhất thể. Ðèn là bổn thể của ánh sáng, mà ánh sáng là dụng của đèn. Ðèn có cái dụng gì? Là có ánh sáng. Danh tự tuy có hai nhưng bổn thể của nó chỉ có một, loại Phật pháp định huệ này, cũng giống như đạo lý của đèn và ánh sáng.</span></p>
<p><em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">&#8220;Tâm bình hà lao trì giới</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">&#8220;Hạnh trực hà dụng tu thiền!&#8221;</span></strong></em></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Lòng bình đẳng đâu cần giữ giới: Bình đẳng chính là không có tham sân si. Tại sao quý vị cần phải trì giới, vì có tam độc tham sân si. Nếu năng trì giới luật, thì không bị tam độc làm hại. Nếu tâm bình đẳng, chính là trong tâm không có sóng, không có sóng chính là không có vô minh. Không có vô minh, thì cần gì phải cực khổ trì giới.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Làm việc ngay há phải tu thiền: Hành vi công bình chính trực, đó chính là thiền, thiền cũng chính là dạy quý vị trừ đi tất cả tập khí tật xấu. Có người nói: “Tâm bình đẳng không cần trì giới, vậy tôi không trì giới nữa,” nhưng tâm của quý vị đã bình đẳng hay chưa? Quý vị không kể tâm mình bình đẳng hay chưa, liền không trì giới. Tâm của quý vị cần phải bình đẳng mới có thể không trì giới, nếu tâm không bình đẳng thì làm sao có thể không trì giới? Nếu dối gạt người nói tâm tôi đã bình đẳng rồi, nhưng khi làm việc gì thì không công bình, lại tự tư, tự lợi, ích kỷ, tật đố chướng ngại, loại người này tâm làm sao có thể bình đẳng được.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Học là học tập, học tập tất cả pháp. Muốn minh bạch tất cả pháp, thì phải siêng năng học tập. Trong Luận Ngữ có nói: ‘’Học nhi thời tập chi.’’ Học rồi phải luôn luôn ôn lại, như vậy mới ‘’Ôn cố nhi tri tân.’’ Ôn lại những điều đã học, thì sau đó sẽ biết những điều học mới. Chúng ta học Phật pháp, phải cần khổ tài bồi công đức, đượm nhuần công đức. Giống như vun bồi cội bồ đề, tăng trưởng quả bồ đề. </span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Phải tôn trọng giới luật, y chiếu giới luật mà tu hành. Phải học luôn thuận hành, đừng phạm giới, đừng phá giới. Hay giữ giới tu học như thế, thì mười phương chư Phật ba đời đều đến khen ngợi tán thán bạn, thường đến hộ trì cho bạn. Giữ giới thì tâm sẽ thanh tịnh, và thanh tịnh thì vọng tưởng cũng không sinh.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 20px;"><em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif; color: #993300;">Vọng tưởng không sinh là Thiền</span></strong></em></span><br />
<span style="font-size: 20px;"><em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif; color: #993300;">Ngồi thấy bổn tánh là Định</span></strong></em></span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Đông Tây Nam Bắc</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/dong-tay-nam-bac/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 09 May 2026 17:26:21 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài Luận]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://langnghiem.com/?p=7468</guid>

					<description><![CDATA[ &#8220;Cử phương thường pháp giả, Kinh trung phàm cử thập phương, mỗi tiên Đông vi...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><img loading="lazy" decoding="async" class="alignleft  wp-image-7469" src="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2026/05/Hebraicdirections.jpg" alt="" width="245" height="218" /><strong> &#8220;Cử phương thường pháp giả, Kinh trung phàm cử thập phương, mỗi tiên Đông vi thủ.&#8221;</strong></span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Cách thức thông thường khi nói về phương hướng, nói đến mười phương, thường nhắc đến phương Đông trước hết</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">“Thường pháp” là thói quen. Người Việt Nam quen thói nói &#8220;Đông, Nam, Tây, Bắc&#8221; chẳng nói &#8220;Nam, Bắc, Tây, Đông&#8221;. Người Ấn Độ cũng nói như thế. Đấy là một thói quen. Theo thói quen, xếp phương Đông lên đầu. Phối hợp với bốn mùa, phương Đông tương ứng với mùa Xuân. Mùa Xuân vạn vật sanh trưởng, có ý nghĩa trí huệ, biểu thị ý nghĩa này. Phật pháp coi trọng trí huệ, Phật pháp mong cầu trí huệ rốt ráo viên mãn. Vì thế, Trí dẫn dắt vạn pháp. Bất luận tông phái hay pháp môn nào, tám vạn bốn ngàn pháp môn, hay vô lượng pháp môn, mục tiêu chỉ có một, hoàn toàn là cầu trí huệ, chỉ là phương pháp và đường lối chẳng giống nhau mà thôi. Khai trí huệ, mục tiêu tu học của quý vị đã đạt được. Nói cách khác, phương pháp của quý vị nhất định là rất chánh xác, đã đạt tới mục tiêu. Nếu chẳng khai trí huệ, chẳng phải là bản thân pháp môn sai lầm, mà là do quý vị dụng công chẳng đúng pháp, hoặc là không khế cơ, cho nên quý vị chẳng thể khai ngộ. Vì thế, trong việc tu học, chọn lựa pháp môn là một khóa đề trọng yếu nhất.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Thí dụ khi chúng ta lâm bệnh, rồi đi khám bác sĩ. Bác sĩ khám bệnh, biết được căn bệnh và cho thuốc uống. Tu hành cũng vậy. Thuở đức Phật tại thế, các vị đệ tử Phật chỉ cần gặp đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn biết quan sát căn cơ, Ngài có thể thấy quá khứ của quý vị, quá khứ còn có đời quá khứ, từ vô lượng kiếp trong quá khứ cho đến nay, quý vị đời đời kiếp kiếp đã tu gì? Thấy quý vị căn tánh đã chín muồi, đức Phật bèn giới thiệu một pháp môn cho quý vị, hết sức khế cơ. Rất dễ dàng, mau thì vài ngày, chậm thì mấy tháng bèn thành công. Đó gọi là “ứng cơ thí giáo” hay thuận theo căn cơ mà ban bố giáo pháp. Hiện thời là thời Mạt Pháp, những đệ tử Phật trong hiện thời kém xa thời Tượng Pháp và Chánh Pháp. Chúng ta phước báo quá mỏng, chẳng có duyên gặp thiện tri thức thật sự. Nhiều khi có gặp mà cũng không biết, không quý trọng để học pháp, để khai mở trí tuệ. Giống như vừa mở đầu kinh Phật, nêu tên bậc thượng thủ trong đại chúng. Trong chúng Thanh Văn xếp ngài Xá Lợi Phất trí huệ bậc nhất. Trong hàng Bồ Tát kể tên Văn Thù Sư Lợi trí huệ bậc nhất. Nêu rõ điều chúng ta mong cầu chính là trí huệ, điều chúng ta tu tập cũng là trí huệ.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Trong các kinh sách, Phật Thích Ca ngự trong thế giới Sa Bà, chính Ngài đã ở giữa. &#8220;Đông, Nam, Tây, Bắc&#8221; thành tứ phương. Đức Phật thuyết pháp trong thế giới Sa Bà, thế giới Sa Bà là trung là chính giữa. Đó là ngụ ý “Trung” chẳng có vị trí cố định, lấy chính mình làm chính giữa. Cũng như bài luận này hiện nay đang trên mạng, mọi người khắp thế giới đều có thể đọc được, cho nên bài luận này trên mạng chẳng có vị trí cố định, nhưng nó có thể hiện hữu khắp tứ phương.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Thanh Tịnh Pháp Thân Tỳ Lô Giá Na Phật được nói trong kinh Hoa Nghiêm chính là Pháp Thân Phật. Danh hiệu ấy (Vairōcana) là phiên âm tiếng Phạn, có nghĩa là Biến Nhất Thiết Xứ (trọn khắp hết thảy mọi nơi). Triết học hiện đại gọi điều này là “bản thể”, tức bản thể của vạn hữu trong vũ trụ. Phật pháp gọi nó là Pháp Thân (Dharmakāya). Tất cả hết thảy các pháp trong vũ trụ đều sanh từ Pháp Thân. Pháp Thân có thể sanh ra vạn pháp, bản thân nó chẳng có sanh diệt, bản thân nó là bất sanh, bất diệt. Trọn khắp hết thảy mọi nơi, há có đến, đi? Giống như hư không, hư không trọn khắp hết thảy mọi nơi, có bao giờ quý vị thấy hư không có đến hay đi? Hư không chẳng có đến hay đi.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Lấy &#8220;Trung&#8221; hay chính giữa là không phải cái thân thể của chúng ta, mà nói đến cái chân tâm bản tánh của chúng ta. Chân tâm bất sanh, bất diệt, chân tâm chẳng có đến đi. Hư không pháp giới, hết thảy vạn vật đều do chân tâm biến hiện. Chân tâm là có thể biến (năng biến), vạn pháp là cái được biến (sở biến). Đại thiên thế giới do đâu mà có? Tự tánh mê bèn hiện cảnh giới ấy. Nếu giác ngộ tự tánh, cảnh giới ấy chẳng có. Vì thế, chẳng thể nói cảnh giới này là có, cũng chẳng thể nói là nó không có. Chẳng phải có, chẳng phải không, đấy là nói chân tướng với quý vị, giống như nằm mộng: Chẳng thể nói cảnh giới trong mộng là có, mà cũng chẳng thể nói là nó không có. Quý vị nói “chẳng có”, xác thực là có cảnh giới hiện tiền. Tỉnh giấc vẫn nhớ rất rõ ràng. Quý vị nói “có” thì sau khi tỉnh giấc, rốt cuộc là vẫn tìm chẳng thấy! Hoàn cảnh trên thực tế xác thực là mộng cảnh. Vì thế, đức Phật dạy chúng ta trong kinh Lăng Nghiêm phải quán như thế này: “Hết thảy pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt, bóng, như sương, cũng như chớp, hãy nên quán như thế”. Trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật đã nêu một tỷ dụ rất thú vị: Ví như mắt chúng ta bị bệnh, bèn nhìn thấy quanh đèn có một quầng sáng. Quầng sáng ấy là vọng cảnh. Hễ mê bèn có huyễn tướng; đã ngộ bèn chẳng có, nơi đèn quyết định chẳng có quầng sáng. Người mê trông thấy lục đạo luân hồi, tam thiên đại thiên thế giới, chứ người ngộ bèn chẳng có.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><img loading="lazy" decoding="async" class="alignleft  wp-image-7473" src="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2026/05/hauthienbatquai.jpg" alt="" width="143" height="121" srcset="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2026/05/hauthienbatquai.jpg 360w, https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2026/05/hauthienbatquai-300x253.jpg 300w" sizes="auto, (max-width: 143px) 100vw, 143px" /> Trong kinh A Di Đà, vị Phật được nêu ra đầu tiên là A Súc Phật ̣(Bất Động Phật) tại Phương Đông. Phương Đông, trong bốn mùa ứng với mùa Xuân, trong Hậu Thiên Bát Quái, tương ứng với quẻ Chấn. Chấn là tướng động. Ý nghĩa hết sức sâu xa, hết sức viên mãn, nói rõ chuyện “động tĩnh như một”. Động là nói đức Phật Thích Ca đi khắp nơi giảng kinh, thuyết pháp. Ngài dạo khắp toàn cõi Ấn Độ. Từ phía Bắc là Ni Bạc Nhĩ (Nepal), cho đến Tư Lý Lan Kha (Sri Lanka), là cực Nam của Ấn Độ, đi khắp lưu vực sông Hằng. Ngài động! Thân động, miệng động, tâm bất động. Trong tâm chưa hề khởi tâm động niệm, trước nay chưa hề có phân biệt, chấp trước, trong động mà có bất động, trong bất động có động; vì vậy, Ngài vẫn bất động.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Đoạn này nhằm nói lên ý nghĩa ấy. “Tức động, tức tĩnh”, động và tĩnh đồng thời. Chúng ta học Phật phải nắm được nguyên tắc này. Trái đất quy tròn tứ phương, mặt trời mọc lên hạ xuống, nhưng trong cuộc sống hằng ngày, tâm phải thanh tịnh, tâm phải rỗng rang, trong tâm chớ nên có chút gì! Phật muốn dạy chúng ta đừng khởi tâm phân biệt. Nếu đoạn trừ được tâm phân biệt, tức trí huệ bát-nhã sẽ hiện tiền. Bát-nhã trong chúng ta hiện ra ít, chỉ vì tâm phân biệt của chúng ta nhiều, nhiều đến nỗi chiếm hết chỗ, không để cho trí huệ ló hiện. Tám thức vốn thanh khiết nhưng vì chứa đựng tâm phân biệt nên đã biến thành uế tạp. Nếu chúng ta có thể đoạn trừ tâm phân biệt, giống như quét dọn rác rưởi thì tất cả sẽ trở lại tình trạng thanh khiết và trí huệ sẽ hiện tiền.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif; color: #993300;"><strong><em>Khứ lai hóa thân Phật,</em></strong></span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif; color: #993300;"><strong><em>Như-lai thường bất động,</em></strong></span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif; color: #993300;"><strong><em>Ư thị pháp giới xứ,</em></strong></span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif; color: #993300;"><strong><em>Phi nhất diệc phi dị</em></strong></span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Viên Thông Kiến Đại</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/vien-thong-kien-dai/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 09 May 2026 00:04:40 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài Luận]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://langnghiem.com/?p=7459</guid>

					<description><![CDATA[Viên Thông Kiến Đại là pháp môn tu hành niệm Phật bên Tịnh Độ Tông....]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><img loading="lazy" decoding="async" class="alignleft  wp-image-7463" src="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2026/05/lotus.jpg" alt="" width="281" height="244" srcset="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2026/05/lotus.jpg 462w, https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2026/05/lotus-300x260.jpg 300w" sizes="auto, (max-width: 281px) 100vw, 281px" /> Viên Thông Kiến Đại là pháp môn tu hành niệm Phật bên Tịnh Độ Tông. Pháp môn này là do Bồ-tát Đại Thế Chí nói ra trong kinh Lăng Nghiêm quyển thứ 5. Tu hành bằng cách thu nhiếp tất cả sáu căn mà không cần lựa chọn, tịnh niệm liên tục. Dùng pháp môn nầy để thu nhiếp sáu căn và các vọng tưởng khởi dậy. Điều phục sáu căn không để cho chúng khởi dậy vọng tưởng nữa. Niệm Phật với tâm thanh tịnh mãi không gián đoạn, cho đến khi đạt được chánh định.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Mục đích của việc niệm Phật là nhằm gom niệm tưởng lăng xăng thành nhất tâm nhớ nghĩ về Đức Phật. Nếu quý vị không dính líu với những vọng tưởng, thì quý vị sẽ không sinh khởi vọng tưởng, Khi quý vị không tạo nên các việc ác, có nghĩa là quý vị đang trên đường làm việc thiện.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Trích dẫn phần 48 nguyện trong kinh Vô Lượng Thọ. Hễ sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, bất luận phẩm vị cao hay thấp, cho đến vãng sanh trong Biên Địa, đều là hóa sanh trong hoa sen. Hoa sen gồm có 3 phần: cánh hoa, đài sen và hạt sen. Mỗi phẩm vãng sanh đều có hoa sen, mỗi hoa sen đều có đài sen. Chúng sanh trong mười phương thế giới vừa phát nguyện A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, tâm tưởng cầu sanh thế giới Tây Phương, trong ao bảy báu của A Di Đà Phật liền trổ một đóa sen. Trên hoa sen còn có tên họ của chính mình.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Thế giới Tây Phương là một thế giới bình đẳng, chỉ riêng có hoa sen là bất bình đẳng. Thế giới bình đẳng là do hưởng phước báo của A Di Đà Phật, A Di Đà Phật ban cho chúng ta bình đẳng, nhưng hoa sen và đài sen do Tịnh nghiệp của chính mình biến hiện, sẽ chẳng giống nhau. Đài hoa trong mỗi phẩm khác nhau, nhưng kim cang làm đài là tối thắng cho những người thượng phẩm sanh.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Công phu niệm Phật của quý vị càng sâu, hoa sen ấy càng ngày càng to. Hoa sen trong ao bảy báu có hoa to một do-tuần, có hoa to mười do-tuần, trăm do-tuần, ngàn do-tuần. Có thể thấy là lớn nhỏ không giống nhau, quang minh và màu sắc cũng khác. Nếu chúng ta muốn hoa sen rất lớn, rất thù thắng, nếu muốn kim đài hay kim cang đài, phải thật sự tu thì mới được! Chẳng phải do A Di Đà Phật tặng cho quý vị, mà là do tịnh nghiệp của chính quý vị tự nhiên biến hiện. A Di Đà Phật giúp đỡ chúng ta, khi chúng ta lâm chung, A Di Đà Phật cầm hoa sen ấy đến tiếp dẫn. Hoa sen chẳng phải do A Di Đà Phật tự trồng, mà do tịnh nghiệp của chính chúng ta biến hiện. Công phu nông cạn, giống như chúng ta trong tương lai có thể vãng sanh trong hạ phẩm, vì đại đa số trong chúng ta là chưa đoạn phiền não, chỉ chế phục, khống chế mà thôi. Đó là công phu nông cạn nhất! Công phu sâu, phá mấy phẩm vô minh, đắc Lý nhất tâm bất loạn, sẽ sanh về trung hay thượng phẩm.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Bản thân chúng ta có nguyện vọng sanh trong thượng phẩm, nhưng có năng lực ấy hay chăng? Chẳng có năng lực ấy thì có thể bồi dưỡng, bồi dưỡng như thế nào? Đoạn phiền não. Phiền não đã đoạn hết, trí huệ bèn mở mang, hễ quý vị có nguyện vọng ấy bèn đạt được. Nhất định là phải đoạn phiền não, mở mang trí huệ thì mới được. Nói cách khác, tâm địa đã thanh tịnh. Tâm thanh tịnh đối với cảnh giới bên ngoài là Chiếu Kiến, lục căn tự nhiên thông minh, vừa nghe, vừa thấy bèn khai ngộ, bèn hiểu rõ. Khi đó, phát nguyện hoằng pháp lợi sanh chẳng khó! Do vậy có thể biết, công tác cơ sở là đoạn phiền não, cũng là phải tu Định. Trước hết là định cái tâm, do Giới sanh Định, do Định khai Huệ. Vì thế, Giới là cội gốc của Vô Thượng Bồ Đề. Giới luật là tuân thủ quy củ. Quý vị chẳng tuân thủ quy củ, sẽ không thể đắc Định.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Niệm mấy năm, phiền não nhẹ nhàng, tâm thanh tịnh, quý vị đắc Định, đắc Niệm Phật tam-muội, cũng gọi là nhất tâm bất loạn. Sau khi đã đắc nhất tâm, có năng lực, có hứng thú, có chí nguyện, có thể học Giáo để hoằng pháp lợi sanh, lại làm chuyện ấy. Đi theo con đường ấy là đúng, trình tự ấy chẳng sai, mới có thể thành công. “Phật thị môn trung, hữu cầu tất ứng” (Trong cửa nhà Phật, có cầu, ắt ứng).</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>&#8212; oOo &#8212;</strong></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 20px; font-family: arial, helvetica, sans-serif; color: #800000;"><strong>Như thị  Như thị</strong></span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Có hai loại đài: Một là cái đài nằm dưới hoa sen. Trong chùa có rất nhiều tượng Phật, bất luận là tượng đắp nặn hay tranh vẽ, phía dưới đều có một cái đài, hoa sen ở trên đài. Hai là đài ở trong búp hoa, tức là đài ở trong hoa. Chúng ta gọi thông tục là “gương sen”, đấy chính là đài sen, nó ở trong hoa, Phật ngồi nơi đâu? Phật ngồi trên đài sen. “Thí như liên thật vi nhiễu phòng đài” (Ví như hạt sen vây quanh gương sen). “Liên thật” (蓮實) là hạt sen, hạt sen vây kín trong gương sen. Gương sen chính là đài sen. Gương sen sanh trưởng trong hoa. Chúng ta đắp tạc tượng Phật, bất luận là tượng Phật ngồi hay đứng, chân đứng trên gương sen, mà ngồi cũng là ngồi trên gương sen. Gương sen chính là “phòng đài” (房臺). Do vậy, đài có hai loại sai khác như vậy.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Còn hạt sen, là “Liên thật” (蓮實) là “phòng đài” (房臺) là gương sen. Hạt sen vây quanh gương sen, đó là đài hiểu theo nghĩa “phòng đài”. “Liên biểu Thập Như”. Hoa sen biểu thị mười món Như Thị. Đối với tông Thiên Thai, Thập Như cũng là tinh nghĩa (精義) của kinh Pháp Hoa. Tinh nghĩa chính là nghĩa lý tinh hoa. Thập Như là: Tướng như thế, Tánh như thế, Thể như thế, Lực như thế, Tác như thế, Nhân như thế, Duyên như thế, Quả như thế, Báo như thế, Gốc ngọn rốt ráo như thế.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Như thế còn gọi là “Như thị”. Kinh điển mở đầu bằng “như thị ngã văn”. Điều gì “như thị”? Chính là những điều này! “Như thị” là từ ngữ biểu thị pháp, ý nói: Các pháp có tướng như thế, có tánh như thế, cho đến cùng tận như thế, không gì chẳng phải là Thật Tướng.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><em><strong>“Như thị tướng”</strong></em> là gì? Tướng là hiện tượng, Tướng là hình tướng. Hình tướng thì mắt chúng ta có thể thấy, tay chúng ta có thể sờ. Nó có màu sắc, có hình trạng, có tướng trạng. Động vật, thực vật, và khoáng vật có hình trạng và sắc tướng riêng của chúng. Hiện tượng thì có tướng, nhưng chẳng có hình thể, giống như chúng ta thấy mây trong không trung, bóng trăng trong nước. Chúng có hình tướng, nhưng chẳng có thật thể. Quý vị có thể trông thấy, nhưng chẳng thể sờ mó được, đó là hiện tượng. Chữ Tướng bao gồm hết thảy các tướng (hình tướng và hiện tượng) ở trong ấy. Vì sao nói là Như Thị? Trong ấy có ý nghĩa sâu xa, tướng do đâu mà có? Tướng là sở hiện và năng hiện. Sở hiện là cái được hiện và Năng hiện là cái có thể hiện. Chẳng có một cái có thể hiện, làm sao có tướng được hiện cho được? Cái có thể hiện là Tánh, là Thể. Tánh Thể là gì? Là chân tâm của chúng ta, còn gọi là Chân Như. Những tướng được biến hiện bởi chân tâm có phải là thật hay không? Đương nhiên là thật; một thứ là thật thì hết thảy đều thật!</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><em><strong>“Như thị tánh” và </strong></em> <em><strong>“Như thị thể”  </strong></em>Tánh” là nói tới bản tánh. “Thể” là nói tới bản thể. Nếu chẳng nói theo kiểu Thập Như, có lúc Thể và Tánh có thể hợp thành một. Thể là Tánh. Tánh là Thể. Thường ghép Thể Tánh hoặc Tánh Thể cùng một chỗ, có cùng một ý nghĩa. Ở đây, tách rời chúng ra, đương nhiên sẽ chẳng phải là cùng một ý nghĩa. Nói cho cùng cũng là một ý nghĩa, sẽ chẳng thể nói thành hai chuyện. Tánh là bản tánh. Tánh là cội nguồn của hết thảy vạn pháp, là chân tâm, là bản tánh. Thể là đã biến, Tánh biến thành Thể.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Thể có hai loại: Một loại là bản thể tinh thần. Loại kia là bản thể vật chất. Thể là Kiến Phần và Tướng Phần của A Lại Da Thức. Kiến Phần (見分) của A Lại Da là bản thể tinh thần, người Hoa gọi nó là “linh hồn”. Mỗi người chúng ta, sau khi đã chết bèn đi đầu thai, cái gì đi đầu thai? Linh hồn đi đầu thai, chẳng phải là cái thân xác thịt đi đầu thai. Cái thân xác thịt là vật chất. Kiến Phần là bản thể của tinh thần. Trong Phật pháp, chẳng gọi nó là “linh hồn”, mà gọi là “thần thức”. </span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Hết thảy các sắc tướng và vật chất là Nhất Hiệp Tướng. Điều này đã được khoa học chứng minh. Kinh Kim Cang nói thế giới này là Nhất Hiệp Tướng. “Nhất” (一) là một loại vật chất, Hiệp (合) là kết hợp lại. Các nhà khoa học hiện thời hiểu rõ: Vật chất cơ bản, xác thực là cùng một thứ, chỉ là công thức cấu tạo khác nhau, phương thức kết cấu khác nhau. Do như vậy mà kết hợp thành điện tử, kết hợp thành nguyên tử, kết hợp thành phân tử. Từ phân tử, kết hợp thành động vật, thực vật, hoặc khoáng vật. Đem những thứ ấy phân tích, xác thực đúng là Nhất Hiệp Tướng. “Nhất” chính là bản thể của vật chất, mà cũng chính là Tướng Phần (相分) được nói trong Pháp Tướng Tông.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><em><strong>“Như thị lực”</strong></em>: Lực (力) là năng lực, nay chúng ta nói là “động lực”, hoặc hiện thời nói là “vận động”. Lực ấy là vận động. Ai thúc đẩy nó? Chư vị phải hiểu, tâm là thanh tịnh. Chân tâm, bản tánh là thanh tịnh, là tịch diệt, là bất động. Trong đại vũ trụ, nhỏ đến mức như vi trần, vi trần cũng là một tiểu thế giới. Dưới kính hiển vi có độ phóng đại thật lớn, giống như là trong ấy cũng có một thứ giống như tinh cầu, quanh đó là điện tử di chuyển vòng quanh, cũng giống như một tiểu vũ trụ, là đại vũ trụ được thu nhỏ, nó cũng đang chuyển động. Lực lượng nào thúc đẩy nó? Các nhà khoa học hiện thời tưởng là do điện Âm và điện Dương thúc đẩy nó. Điện Âm và điện Dương do đâu mà có? </span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nói thật ra, Phật pháp đã nói vấn đề này rất thấu triệt! Đức Phật dạy: “Vô minh bất giác sanh tam tế”, động do đâu mà có? Vô minh. Vô minh là động tướng (動相: tướng biến động, di động). Minh là bất động, vô minh mới là động. Vô minh còn tồn tại trước khi có ba tế tướng. Tâm đã bị động, hễ tâm động, vô minh bèn dấy lên. Do động nên mới sanh ra tam tế (三細: ba tế tướng). Ba tế tướng của A Lại Da Thức là Vô Minh Nghiệp Tướng, Kiến Tướng, và Cảnh Giới Tướng. Kiến Tướng là Kiến Phần, Cảnh Giới Tướng là Tướng Phần. Hễ động, chân tánh liền biến thành A Lại Da. Do vậy, A Lại Da là Thể. Tánh [được nói] trong phần trước là Chân Như bản tánh. Do một niệm bất giác, Chân Như bản tánh bèn biến thành Thể, biến thành A Lại Da. Trong A Lại Da có sức mạnh, sức mạnh ấy chính là sức mạnh của vô minh, ở trong ấy thúc đẩy nó. </span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><em><strong>“Như thị tác”</strong></em>: Tác (作) là tạo tác (造作), mới có tạo tác, hễ tạo tác bèn có nghiệp. Bất luận là vật nào có hình tướng lớn hay nhỏ, hết thảy các pháp, mỗi pháp đều trọn đủ mười chuyện này, chẳng thiếu một điều nào!</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><em><strong>“Như thị nhân&#8221; &#8211; </strong></em>Nhân” là chủng tử được chứa đựng trong A Lại Da Thức; đó là Nhân, đời đời kiếp kiếp tích lũy. Nhân của mười pháp giới, chúng ta đều trọn đủ. Chúng ta có cái nhân làm Phật, có cái nhân làm Bồ Tát, cũng có cái nhân đọa địa ngục A Tỳ, thứ gì cũng đều có, chẳng thiếu một thứ nào! Chúng ta muốn hưởng quả báo như thế nào, mấu chốt là Duyên. Vì thế, Phật pháp hết sức coi trọng Duyên. Vì sao Phật chẳng nói “nhân sanh”, mà phải nói là “duyên sanh”? Duyên thì chính mình có thể khống chế, chứ tự mình chẳng thể khống chế nhân. Nhân là cái đã có, chẳng có cách nào, chẳng thể nào thay đổi được. </span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><em><strong>“Như thị duyên&#8221; </strong></em>Duyên thì chính mình có thể khống chế. Ví như trong quá khứ, chúng ta tạo tác cái nhân ác, nhân đã có; từ nay trở đi, ta đoạn hết các ác duyên, nhân mà chẳng có duyên sẽ chẳng thể kết quả, sẽ chẳng thọ báo, cắt đứt cái duyên! Trong đời quá khứ ta có thiện nhân, nay ta thêm thiện duyên vào. Quả báo sau đấy sẽ là thiện quả lý tưởng. Kinh luận thường chỉ dạy chúng ta: “Duy tâm Tịnh Độ, tự tánh Di Đà”, hai câu ấy nói lên điều gì? Nhân! Nhân như thế đó! Tây Phương Cực Lạc thế giới và A Di Đà Phật đều do cái nhân của chính chúng ta biến hiện. Chúng ta có cái nhân ấy, nay chỉ cần thêm duyên vào. Chúng ta đến thế giới Tây Phương để làm Phật. Vì thế, kinh Di Đà dạy: “Chẳng thể do chút thiện căn, phước đức, nhân duyên mà được sanh về cõi ấy”. Tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh Độ là nhân; nay chúng ta nhất tâm nhất ý nương tựa A Di Đà Phật, tín nguyện trì danh, đó là duyên. Hễ nhân và duyên kết hợp, quả báo sau đó là thế giới Tây Phương, sẽ thấy A Di Đà Phật, quả báo là như thế đó. Nếu chúng ta quên bẵng chuyện này, chúng ta có rất nhiều “nhân”: Tham tài, tham danh, tham sắc, tham ngũ dục, lục trần. Trong A Lại Da Thức có chứa đựng chủng tử của ba ác đạo, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Duyên của địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh là gì? Chính là tham, sân, si. Nay chúng ta tiếp tục gây tham, sân, si chẳng ngừng, về sau quả báo hiện tiền, quả báo gì vậy? Ba ác đạo. Do tham làm duyên, đi vào ngạ quỷ đạo. Do cái duyên nóng giận, đi vào địa ngục đạo. Do cái duyên ngu si, đi vào súc sanh đạo. Ngu si là “chân, vọng, tà, chánh, đúng, sai, thiện, ác” đều điên đảo, chẳng có năng lực phân biệt. Phật pháp ở Đài Loan dường như rất hưng thịnh. Trong Phật pháp có chánh pháp, có tà pháp, có chân Phật, có giả Phật, ai có thể phân biệt? </span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Kinh Lăng Nghiêm nói rất hay: “Thời kỳ Mạt Pháp”, tức là nói đến thời đại hiện tại này, “tà sư thuyết pháp, như cát sông Hằng”. Quý vị có năng lực phân biệt tà chánh hay không? Chẳng thể phân biệt thì học Phật cuối cùng quả báo là ở trong súc sanh đạo. Thiện tâm học Phật, hưởng phước trong súc sanh đạo! Giống như hiện thời có khá nhiều kẻ nuôi các con vật cưng (pet), chúng có phước báo rất lớn. Chúng tôi ở ngoại quốc trông thấy: Con vật cưng ấy đúng là chủ nhân trong một nhà! Cả nhà đều phải hầu hạ nó, quý vị thấy nó có phước báo lớn lắm! Chẳng phải con người là chủ nhân, mà con vật cưng là chủ nhân. Vì con vật cưng đâu có hầu hạ chủ nhân, chủ nhân phải tận tụy hầu hạ, chăm sóc nó, đó là điên đảo! </span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Trong kinh, đức Phật nói là “mê hoặc, điên đảo”. Tại Đài Loan và Trung Quốc hiện thời cũng dần dần lưu hành, thói quen cưng chiều thú vật nuôi. Cũng có kẻ nuôi con vật cưng, chăm sóc cẩn thận, không điều nhỏ nhặt nào chẳng quan tâm, còn chu đáo hơn hiếu thuận cha mẹ! Đó là gì? Do thiện tâm mà ngu si, cho nên hứng chịu quả báo ấy. Vì thế, chân, vọng, tà, chánh, đúng, sai, nhất định phải hiểu rành mạch, rõ ràng, thì trong một đời này, chúng ta mới có thể vượt thoát tam giới, mới không đến nỗi luống uổng! Do vậy, nhất định phải biết khống chế duyên, duyên thật sự do bản thân chúng ta nắm quyền thao túng. Xa lìa hết thảy các ác duyên, phải thân cận hết thảy thiện duyên. Trong hết thảy các duyên, duyên chí thiện viên mãn là A Di Đà Phật. Nói thật ra, người biết điều này chẳng nhiều lắm! Quý vị thật sự đã biết, sẽ khăng khăng một mực, không chỉ là buông pháp thế gian xuống, mà tất cả hết thảy Phật pháp cũng buông xuống, nhất tâm nhất ý chuyên niệm A Di Đà Phật, đó là hoàn toàn đúng.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><em><strong>Như thị quả, Như thị báo”</strong></em>, quả và báo đôi khi được gộp thành một. Chia làm hai thì quả là quả, báo là báo. Đời trước chúng ta đã tu thiện nghiệp, đời này được làm thân người; đó là Quả. Được làm thân người thì hết thảy các thứ hưởng thụ trong một đời này gọi là Báo. Có người được làm thân người, đời này sống rất hạnh phúc; có người tuy được làm thân người, đời này sống rất vất vả, báo bất đồng mà! Quả đồng, quả là đều được làm thân người, nhưng báo bất đồng. Các nhà Duy Thức gọi chúng là Dẫn Nghiệp và Mãn Nghiệp. Dẫn (引) là dẫn dắt, hướng dẫn quý vị đi đầu thai, đó là Quả. Mãn Nghiệp (滿業) là sau khi đầu thai, những gì quý vị được hưởng thụ chính là Báo, khác nhau! Nếu chúng ta thật sự hiểu rõ, hiểu minh bạch chân tướng sự thật này, trong đại vũ trụ, bản thân chúng ta không chỉ có thể làm chủ trong một đời này, mà đời đời kiếp kiếp chính mình đều có thể làm chủ tể! Chính mình có thể làm chủ tể, quý vị chẳng còn gọi là chúng sanh nữa, mà gọi là Phật, hoặc Bồ Tát. Kinh Lăng Nghiêm nói rất hay: “Nếu có thể chuyển cảnh, ắt giống như Như Lai”. Ai có thể chuyển cảnh? Hiểu rõ ràng, hiểu minh bạch, bèn có thể chuyển cảnh. Chuyển cảnh chẳng khó! Khó ở chỗ nhận thức, khó ở chỗ hiểu rõ. Nhận thức và hiểu rõ được kinh Phật gọi là ngộ, tức giác ngộ, khó ở chỗ giác ngộ. Sau khi đã ngộ, sẽ dễ thực hiện chuyện ấy. Vì sao? Quý vị hiểu rành mạch nhân duyên quả báo: Nhân duyên như thế nào sẽ có quả báo như thế nấy. Quý vị có thể khống chế, nắm giữ, sáng tạo nhân duyên, quả báo sẽ đúng như chính mình mong mỏi, chẳng có điều gì không đạt được!</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><em><strong>&#8220;Như thị bổn mạt cứu cánh”</strong></em> &#8211;  gốc ngọn rốt ráo như thế. Câu này nhằm tổng kết chín câu trước, có gốc, có ngọn, có đầu, có cuối thì mới là rốt ráo. Mỗi một pháp đều chẳng ra ngoài Thập Như. Thiên Thai đại sư giải thích tựa đề kinh Pháp Hoa, vì trong tựa đề kinh có một chữ Hoa (華), Hoa là hoa sen, để giải thích hoa sen, Ngài đã dùng Thập Như để giải thích. Nói cách khác, dùng Liên làm đại biểu hòng giảng rõ Thập Như. Sau đấy lại bảo quý vị: Hết thảy vạn pháp, pháp nào cũng đều có đủ Thập Như, chẳng có pháp nào là ngoại lệ.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>&#8212; oOo &#8212;</strong></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 20px; font-family: arial, helvetica, sans-serif; color: #800000;"><strong>Tâm tối hậu là Đại Tâm</strong></span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Lâm chung mười niệm thì chỉ là trong một sát-na, thời gian hết sức ngắn ngủi, tạm bợ, vì sao cũng có thể vãng sanh? Đáp: Chính là vì nhất tâm. Như trong Trí Độ Luận nói, đó là do tự lực và tha lực. Tuy thời gian ngắn ngủi, nhưng người ấy dụng tâm hết sức mạnh mẽ, nhạy bén. Nói cách khác, có thể vượt trỗi người bình thường niệm Phật suốt một đời. Trong một khoảng thời gian rất ngắn, công lực của người lâm chung niệm Phật ấy có thể vượt trỗi người suốt đời niệm Phật. Khi người ta khi lâm chung, buông xuống muôn duyên, biết hết thảy đều chẳng mang theo được. Khi ấy, bỗng dưng giác ngộ, hết thảy đã chẳng thể mang theo được thì buông xuống hết thảy, nhất tâm niệm Phật, sức mạnh ấy liền dũng mãnh. Vì thế, họ có thể vãng sanh, có thể giành được phẩm vị rất cao! Đạo lý ở ngay chỗ này. Do đó, cái tâm tối hậu được gọi là <em>“đại tâm”.</em></span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Người ấy sắp chết, đã đến lúc cuối cùng, thời gian còn lại chỉ mấy tiếng đồng hồ, hoặc là mấy phút, chẳng còn thời gian nữa. Người ấy nhất tâm niệm Phật, chẳng có tạp niệm. Đó là tâm tối hậu. Gọi là “đại tâm” là do người sắp chết, ắt biết là chẳng thể tránh khỏi, tâm quyết đoán chắc chắn, trỗi vượt nguyện lực cả trăm năm, tâm ấy được gọi là “đại tâm”</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Người đã phát đại tâm ấy, Bồ Đề là giác ngộ thật sự, giác ngộ triệt để, [nhận rõ] trừ A Di Đà Phật ra, chẳng có ai cứu được. Vì thế, phải nắm thật chặt danh hiệu A Di Đà Phật, chẳng bỏ lỡ phút giây nào! Đó là đại tâm. Do sau khi đã có cái  tâm ấy, chẳng còn tâm nào khác, chính là nhanh chóng nhập Vô Tâm tam-muội, chính là nhanh chóng lìa niệm tướng, há chẳng phải là đại, há chẳng phải chính là Bồ Đề tâm ư?</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #993300;"><em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề Tâm</span></strong></em></span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Tự tánh xuất sanh nhất thiết pháp</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/tu-tanh-xuat-sanh-nhat-thiet-phap/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 07 May 2026 06:11:24 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài Luận]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://langnghiem.com/?p=7451</guid>

					<description><![CDATA[Tự tánh sanh ra hết thảy các pháp là ý nghĩa của thiện căn &#38;...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Tự tánh sanh ra hết thảy các pháp là ý nghĩa của thiện căn &amp; tự tánh phong phú hết thảy các pháp. Căn có nghĩa là căn bản, mà Căn bản là sanh trưởng cái thiện. Ở đây nói “Căn có nghĩa là xuất sanh” tức là nói theo ý nghĩa “sanh trưởng”.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Thực tại là tìm đến căn bản thật sự. Y báo là hoàn cảnh sống của chúng ta, núi, sông, đại địa, cho đến hư không, đều là hoàn cảnh sống của chúng ta, những thứ ấy do đâu mà có? Từ trong tự tánh biến hiện. Do vậy, điều được mong cầu trong Phật pháp chính là cầu minh tâm kiến tánh. Tâm tánh là cái mà mỗi chúng sanh đều trọn đủ viên mãn, thường nói là “tại thánh chẳng tăng, nơi phàm chẳng giảm”. Tự tánh của lũ phàm phu chúng ta xác thực là chẳng bị giảm thiểu chút nào; tự tánh của chư Phật cũng chẳng thể nhiều hơn chúng ta chút nào! Nói theo tự tánh, hoàn toàn là bình đẳng: Thể bình đẳng, tướng bình đẳng, tác dụng bình đẳng, chẳng có gì bất bình đẳng. Tuy bình đẳng, trong ấy có mê hay ngộ sai khác. Trừ mê và ngộ ra, chẳng có gì khác nhau. Vì chư Phật, Bồ Tát cũng ở trong mười pháp giới, phàm phu chúng ta cho đến các loài ngọ ngoạy, bay, bò, ngạ quỷ, địa ngục, vẫn sống trong mười pháp giới. Đã ngộ thì sẽ tự tại, vui sướng; hễ mê bèn tạo nghiệp chịu báo, vấn đề xuất hiện từ mê hay ngộ. Giáo học Phật pháp nhằm dạy chúng ta phá mê khai ngộ. Mê chính là cái nhân của hết thảy phiền não, khổ nạn; ngộ là cái nhân của hết thảy vui sướng. Chỉ cần phá mê khai ngộ bèn lìa khổ được vui. “Lìa khổ được vui” là nói về quả báo; phá mê khai ngộ là nói đến nhân duyên, phải thực hiện từ nhân duyên. Vì vậy, chúng ta biết chân tướng sự thật là hết thảy các pháp sanh từ tự tánh.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Chư Phật, Bồ Tát đã ngộ, ngộ gì vậy? Ngộ tự tánh. Hết thảy phàm phu mê thì cũng là mê tự tánh. Trong tự tánh, chẳng có mê hay ngộ; Mê hay ngộ do con người! Chúng ta phải hỏi: “Mê là như thế nào? Chư Phật và Bồ Tát ngộ như thế nào?</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Kinh Lăng Nghiêm đã giảng rất rõ về hiện tượng mê: “Một niệm bất giác”. Do vậy có thể biết, một niệm bất giác còn có trước vô minh. Do một niệm bất giác, nên mới thành vô minh. Do vô minh, nên mới sanh ra ba tế tướng. Từ ba tế tướng mới biến hiện sáu thô tướng. Tam tế và lục thô mới diễn biến thành y báo và chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới. Y báo và chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới do vậy mà có. Nếu nay chúng ta truy cứu: Cớ sao có một niệm bất giác? Nói thật ra, bất giác là “có” một niệm. Hễ có một niệm thì gọi là bất giác. Nói kiểu này rất minh bạch, trong chân tâm bản tánh quyết định chẳng có một niệm. Quý vị khởi một niệm là bất giác, bèn mê. Chúng ta từ sáng đến tối niệm này nối tiếp niệm kia, chẳng biết là có bao nhiêu vọng niệm? Muốn ngưng dứt niệm cũng chẳng thể ngưng được, chuyện này rất rắc rối! Vì sao biến thành nông nỗi này? Ấy là vì một niệm bất giác trong quá khứ cho đến nay đã dưỡng thành thói quen. Nếu nói khó nghe hơn thì là đã “dưỡng thành thói quen dấy vọng tưởng”. Do vậy, vọng tưởng vĩnh viễn có muốn ngưng dứt cũng chẳng thể ngưng được, rắc rối xuất hiện từ chỗ này!</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nếu quý vị muốn khôi phục bản lai diện mục, muốn thật sự triệt để giác ngộ, ắt phải đoạn sạch vọng niệm. Trong các vọng niệm, vọng niệm vi tế nhất được gọi là Vô Minh, vọng niệm thô hơn một chút bèn gọi là Trần Sa, lại thô hơn chút nữa, bèn gọi là Kiến Tư phiền não. Kiến Tư phiền não, Trần Sa phiền não, và Vô Minh phiền não được gọi chung là “vọng niệm”, còn gọi là “vọng tưởng”. Vọng tưởng dấy lên, từ vi tế nhất dần dần cho đến cái thô nhất. Nay đức Phật dạy chúng ta muốn đoạn vọng niệm thì chỉ có thể [dốc sức đoạn trừ] từ cái thô nhất, [rồi đến] cái ít thô hơn, [kế đó là cái] vi tế rồi đến cái vi tế nhất. Do đó, trước hết là phải đoạn Kiến Tư phiền não.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">&#8212; oOo &#8212;</span><br />
<em><span style="color: #800000;"><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Kiến Tư phiền não</span></strong></span></em></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Kiến phiền não là gì? Tư phiền não là gì? Nói theo kiểu hiện thời, Kiến (見) là kiến giải. Quý vị có cách nhìn sai, đã thấy sai bét. Đó gọi là Kiến Hoặc. Tư Hoặc (思惑) là [sai lầm nơi] tư tưởng, quý vị đã suy nghĩ sai bét. Do vậy có thể biết, đã đoạn Kiến Tư phiền não, đối với vũ trụ và nhân sinh, quý vị sẽ có cách nhìn và cách nghĩ rất chánh xác, chẳng sai lầm. Đoạn Tư Hoặc bèn chứng quả A La Hán.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Cổ nhân tu hành nhằm mục đích đoạn Kiến Tư phiền não, họ có mục đích khác hẳn! Cùng niệm Phật như nhau, nhưng họ niệm Phật nhằm niệm cho hết vọng tưởng, chấp trước, hoặc chế ngự chúng, mục đích của người ta là ở chỗ này! Nay chúng ta niệm Phật, mong mỏi sẽ được Phật, Bồ Tát phù hộ chúng ta thăng quan phát tài, khác hẳn! Vì vậy, thành tựu của chúng ta chẳng bằng cổ nhân.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">“Trong cửa nhà Phật, có cầu ắt ứng” thì cách cầu như thế nào? Vì sao có cầu ắt ứng? Vì tự tánh có thể sanh ra vạn pháp, cho nên cầu nơi cửa Phật là cầu ở nơi đâu? Cầu từ ngay trong tự tánh. Chẳng phải là cầu từ bên ngoài, cầu từ bên ngoài sẽ chẳng đạt được. Quý vị cầu nơi Phật, Bồ Tát, Phật bên ngoài, tượng Phật, Bồ Tát bằng đất nặn, gỗ khắc, bản thân [những tượng ấy] khó thể giữ vững, làm sao có thể phù hộ quý vị cho được? Phải cầu từ trong tự tánh, sẽ đích xác là “có cầu ắt ứng”</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Trong là phải đoạn phiền não, ngoài là chẳng bị dụ dỗ, mê hoặc, công phu của chúng ta mới có thể đắc lực. Phiền não bên trong gọi là Ngũ Độc: tham, sân, si, mạn, nghi. Tham, sân, si là Tam Độc, phải trừ khử những thứ ấy. Dụ dỗ, mê hoặc bên ngoài lớn nhất là tài, sắc, danh, lợi. Tài, sắc, danh, lợi là tứ đại ma vương. Hằng ngày quý vị ở trong lòng bàn tay của ma vương, trốn chẳng khỏi lòng bàn tay của hắn, há còn có thành tựu gì nữa ư? Quý vị làm sao có thể thoát khỏi lục đạo luân hồi? Làm sao có thể vãng sanh cho được? Do đó, ngàn muôn phần phải ghi nhớ: Ngoài là chẳng bị dụ dỗ, mê hoặc, trong là phải diệt trừ tham, sân, si; sau đấy mới khôi phục tự tánh, tự tánh có thể sanh ra vạn pháp.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: center;"><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">&#8212; oOo &#8212;</span></strong><br />
<span style="color: #800000;"><em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Tu Đức để viên mãn Tánh Đức</span></strong></em></span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><img loading="lazy" decoding="async" class="alignleft size-full wp-image-7454" src="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2026/05/innerpeace.jpg" alt="" width="248" height="186" /> Lục Tổ đại sư nói: “Nào ngờ tự tánh vốn trọn đủ”. “Vốn trọn đủ” là Tánh Đức. Mà muốn Tánh Đức thể hiện thì phải Tu Đức. Vậy cái gì thuộc về Tu Đức? </span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">“Thanh tịnh, bình đẳng, giác” thuộc về Tu Đức, chúng ta tu gì? Tu tâm thanh tịnh, tu tâm bình đẳng, đó là Tu Đức. Trang Nghiêm là Tánh Đức khởi tác dụng. Nay chúng ta nói Trang Nghiêm là tốt đẹp đến tột bậc, chẳng tìm được mảy may khiếm khuyết nào. Trong mười phương cõi Phật, chẳng có các thứ trang nghiêm như trong Tây Phương Cực Lạc thế giới. Cõi nước của bất cứ vị Phật nào cũng đều còn có những chỗ khuyết hãm, chỉ riêng Tây Phương Cực Lạc thế giới chẳng bị khuyết hãm; Đó là Trang Nghiêm.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nói theo Lý: câu Phật hiệu, Nam Mô A Di Đà Phật, để khôi phục tâm thanh tịnh, tâm bình đẳng của chính mình. Phật hiệu chỉ là phương tiện mà thôi, phải nghiêm túc niệm. Nói “nghiêm túc” tức là quyết định chẳng hoài nghi, chẳng gián đoạn, chẳng xen tạp. Niệm Phật hay niệm kinh đều phải căn cứ trên nguyên tắc này, đó mới là “đầy đủ Tu Đức để viên mãn Tánh Đức”. Tánh Đức là giác, nhà Thiền gọi giác là “đại triệt đại ngộ”. Tâm địa thanh tịnh, bình đẳng, sẽ triệt ngộ. Đã đại triệt đại ngộ, vô lượng trí huệ và vô lượng đức năng thảy đều hiện tiền.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Xét theo Sự: Thì thực hiện từ chỗ nào? Nay ta đã biết phải tu thanh tịnh, bình đẳng, giác, nhưng thực hiện từ chỗ nào? </span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nói theo sự tướng, Pháp Thân huệ mạng của đức Thế Tôn chính là Tam Tạng kinh điển. Cho nên trong kinh Hoa Nghiêm, tên của Phật là Thanh Tịnh Pháp Thân Tỳ Lô Giá Na Phật. Đức Phật hy sinh thân mạng chẳng tiếc nuối. Phật pháp là trọng yếu, Pháp Thân huệ mạng chắc chắn là quan trọng hơn thân mạng. Điều thứ nhất là phải phát tâm, ở đây là “Thập tâm”, hay “Hoa Nghiêm thập nguyện”. Sau khi đã phát tâm, sẽ thực hiện từ chỗ nào? “Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn”, trước là đoạn phiền não.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nói cách khác, Kiến Tư phiền não đã đoạn hết, tâm thanh tịnh. Đoạn hết Trần Sa phiền não, tâm bình đẳng, phá một phẩm vô minh, chứng một phần Pháp Thân, đã giác rồi thì mới có tư cách “Pháp môn vô lượng thệ nguyện học”. Đối với hết thảy các pháp thế gian và xuất thế gian, phải phát khởi lòng kiên nhẫn thù thắng nhất, có lòng kiên nhẫn khôn sánh để tu học. Tuy tu học, chẳng chấp trước hết thảy các pháp thì mới có thể thật sự thông đạt hết thảy các pháp. Vì sao? Hễ chấp trước pháp, sẽ là phạm lỗi, chấp trước biến thành gì? Biến thành thành kiến, chẳng phải là Kiến Thủ Kiến thì sẽ là Giới Thủ Kiến, biến thành tà kiến. Bất luận là đối với pháp thế gian hay pháp xuất thế gian, bất luận Lý hay Sự, nhân hay quả, điều gì ta cũng đều thông đạt, chẳng chấp trước điều gì. Vì sao không chấp trước? Trong kinh Lăng Nghiêm có nói: “hết thảy pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt, bóng”, cho nên chúng ta chẳng chấp trước là huệ, chấp trước là phạm sai lầm. Người khéo học, đối với những chỗ sáu căn tiếp xúc đều là trí huệ, đều là trí huệ hiện tiền.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Những gì lục căn tiếp xúc có thể nói đều là sự dụ dỗ, mê hoặc ở mức độ cao nhất. Thời cổ chẳng có nhiều dụ dỗ, mê hoặc ngần ấy, còn hiện thời, nói thật ra, dụ dỗ, mê hoặc quá nhiều. Gần như là những gì quý vị mắt thấy, tai nghe toàn là dụ dỗ, mê hoặc, há quý vị có thể chẳng động tâm ư? Tâm địa thanh tịnh, ắt cõi nước tịnh. Trong tâm còn có những thứ ấy, bên ngoài là tài, sắc, danh, lợi, trong là tham, sân, si, mạn, chẳng đọa vào địa ngục A Tỳ là đã may mắn quá rồi, còn có thành tựu chi nữa? Do vậy, các đồng tu học Phật phải có tâm cảnh giác cao độ, thời thời khắc khắc cảnh giác.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Tâm địa thật sự đạt đến thanh tịnh, bình đẳng, giác, sáu căn tiếp xúc cảnh giới bên ngoài đều nhất loạt bình đẳng, vì sao? Người ấy chẳng có hết thảy phân biệt, chấp trước, vọng tưởng. Phân biệt, chấp trước, vọng tưởng đều đoạn sạch, vạn pháp như một, tánh tướng bất nhị, nhập cảnh giới này, Thiền Tông gọi là “minh tâm kiến tánh”. Tánh là gì? Tánh là pháp bình đẳng, tánh là “các tướng chẳng phải là tướng”. Đó là kiến tánh. “Khởi tùy niệm tâm”, phải hiểu tùy niệm tâm như thế nào? “Tùy” (隨) là tùy thuận, nói thật ra chính là “hằng thuận chúng sanh, tùy hỷ công đức” trong mười nguyện của Phổ Hiền Bồ Tát. Do vậy có thể biết, Phổ Hiền hạnh chính là dùng cái tâm thanh tịnh và cái tâm bình đẳng để tu. “Thanh tịnh tam nghiệp”: Thanh tịnh thân, thanh tịnh ngữ, thanh tịnh ý; ba nghiệp thân – khẩu – ý thanh tịnh thì mới có thể tu Phổ Hiền hạnh.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nhìn thì dễ dàng, thật ra chẳng dễ dàng, chúng ta đọc kinh Đại Thừa nhiều, sẽ hiểu: Nếu chẳng phải là thiện căn, phước đức, và nhân duyên trong đời quá khứ đã chín muồi trong một đời này thì trong kiếp sống này, sẽ chẳng làm được! Quý vị chẳng gặp bộ kinh Lăng Nghiêm này! Dẫu có gặp, cũng chẳng tin tưởng. Có tin tưởng thì quý vị cũng không chịu nghiêm túc tu hành. Một người có thể tín, có thể nguyện, có thể hành, phải là do thiện căn trong vô lượng kiếp quá khứ tới nay đã chín muồi, đồng thời được mười phương ba đời hết thảy chư Phật Như Lai âm thầm gia trì. Đó là nhân duyên tụ hội, khiến cho chúng ta trong một đời này có thể vĩnh viễn thoát khỏi luân hồi, vãng sanh bất thoái thành Phật.</span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Thập Hồi Hướng</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/thap-hoi-huong/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 03 May 2026 02:14:21 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài Luận]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://langnghiem.com/?p=7428</guid>

					<description><![CDATA[Trong kinh Lăng Nghiêm quyển thứ 8 có nói về địa vị của Bồ Tát,...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><img loading="lazy" decoding="async" class="alignleft size-full wp-image-7430" src="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2026/05/babypraying.jpg" alt="" width="142" height="142" />Trong kinh Lăng Nghiêm quyển thứ 8 có nói về địa vị của Bồ Tát, có bốn mươi hai cấp bậc, tức là: Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa, Đẳng Giác, Diệu Giác. Vì Bồ Tát có bốn mươi hai phần vô minh hoặc, cho nên phải tu hành viên mãn một pháp môn, thì bớt một phần vô minh, mà tăng thêm một phần pháp thân, liền thăng lên một bậc. Cho đến bậc Đẳng Giác, thì vẫn còn một phần sinh tướng vô minh chưa dứt. Nếu đoạn hết thì là Diệu Giác Bồ Tát, tức cũng là Phật. Thế nào gọi là hồi hướng? Hồi là chuyển, ý nghĩa là hồi chuyển. Hướng là hướng về. Hồi hướng, nghĩa là nói hồi chuyển có hình, hướng về nơi vô hình. Hướng chuyển có tướng, hướng về nơi không có tướng (vô tướng). Hướng chuyển hư vọng, hướng về nơi chân thật. Hồi chuyển công đức của mình, hướng về nơi kẻ khác. N</span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">gười tu hành hạnh hồi hướng có mười tên:</span></p>
<ol>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Danh cứu hộ nhất thiết chúng sanh, ly chúng sanh t</span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">ướng hồi hướng.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Danh bất hoại hồi hướng.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Danh đẳng nhất thiết Phật hồi hướng.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Danh chí nhất thiết xứ hồi hướng.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Danh vô tận công đức tạng hồi hướng.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Danh tùy thuận bình đẳng thiện căn hồi hướng.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Danh tùy thuận đẳng quán nhất thiết chúng sanh hồi hướng.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Danh như tướng hồi hướng.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Danh vô phược giải thoát hồi hướng.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Danh pháp giới vô lượng hồi hướng.</span></li>
</ol>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Hồi hướng thứ nhất đến thứ ba, là hồi hướng chúng sinh. Thứ tư đến thứ sáu, là hồi hướng bồ đề. Thứ bảy và thứ tám, là hồi hướng thật tế. Thứ chín và thứ mười, là thông nơi quả và thật tế. Thật tế tức là thật tướng, thật tướng cũng là vô tướng. Là người tu hành, nên minh bạch pháp truy cầu chân thật, tiến mà phải quét sạch tất cả pháp, lìa tất cả tướng. Viên mãn bồ đề, quy vô sở đắc.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>&#8212; o O o &#8212;</strong></span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Danh cứu hộ nhất thiết chúng sanh, ly chúng sanh tướng hồi hướng</strong>. Tất là lìa tướng chúng sinh hồi hướng, muốn cứu hộ khắp tất cả chúng sinh, mà chẳng chấp tướng. Là sự “hồi hướng lìa tướng hồi tự hướng tha”. Nghĩa là nói lìa tướng hồi hướng, lìa tướng chúng sinh. Bồ Tát cứu độ tất cả chúng sinh, mà chẳng kể công, chẳng chấp tướng, chẳng khoe khoang. Ngài đem tất cả công đức thiện nghiệp hồi hướng cho tất cả chúng sinh. Lìa các tướng, tức là lìa khỏi sự chấp trước. Nếu có sự chấp trước, thì sẽ tự mãn, sẽ kiêu ngạo. Một khi sinh tâm kiêu ngạo, thì vĩnh viễn sẽ không thể khai mở đại trí huệ. Sự khó khăn nhất, quang trọng nhất của sự tu hành, là tu lìa sự chấp trước, lìa sự kiêu ngạo, nếu không thì không thể nào đắc được sự giải thoát. </span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Chấp trước thì giống như dùng sợi dây thừng tự trói buộc mình, cho nên nói không thể được giải thoát. Người chấp trước, thì tâm lượng nhỏ, không thể dung chứa người, dung chứa vật, tuyệt đối sẽ chẳng có đại trí huệ, chẳng có đại trí huệ quang minh. Người chẳng chấp trước vào “người, sự việc, thời, đất, vật”, mới có thể cứu độ tất cả chúng sinh, lìa tướng chúng sinh hồi hướng, cuối cùng tự nhiên sẽ đạt đến bồ đề viên mãn, quy vô sở đắc, khai đại ngộ, được đại trí huệ.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Các vị làm những việc vĩ đại của chư Phật, nhưng coi như đang ở giữa giấc mơ. Điều đó thể hiện sự không gắn bó của các vị. Mọi thứ giống như một ảo ảnh, một sự biến đổi; không có gì thực sự tồn tại. Vì thế đừng dính mắc vào bất cứ điều gì. Hãy nhìn thấu tất cả, đặt nó xuống và bạn có thể đạt được sự tự chủ.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Các vị hoàn toàn thanh tịnh và tuyệt đối chân thật, đã thành tựu trạng thái đó, và đã xa lìa chướng ngại và tai họa. Các vị sẽ không bị cản trở dưới bất kỳ hình thức nào. Sau đó, các vị đưa chúng sinh vượt qua trong khi gạt bỏ vẻ ngoài đưa họ vượt qua. Các vị giải cứu những người họ nên giải cứu mà không hề có bất kỳ ý nghĩ nào về việc giải cứu họ.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Kinh Kim Cang cũng giải thích điều này; Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy ở đó:</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">“Ta nên đưa tất cả chúng sinh đến chỗ diệt vong, tuy nhiên khi tất cả chúng sinh bị đưa đi như thế, thì không có chúng sinh nào bị đưa đến chỗ diệt vong.”</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Một lần nữa, điều này có nghĩa là người ta không được dính mắc và nghĩ rằng, “Tôi đã làm điều này, tôi đã làm điều kia.” Người ta xây một ngôi chùa và sau đó không thể quên được ý nghĩ rằng mình là người xây dựng và đã tích lũy được rất nhiều công đức.Đó là vẫn còn một diện mạo còn sót lại.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Các vị đưa chúng sinh vượt qua biển khổ trong khi gạt bỏ vẻ ngoài đưa chúng đi qua. Bạn không coi hành động đó là điều bạn đã làm mà là điều bạn đáng lẽ phải làm. Đó là trách nhiệm của bạn ngay từ đầu; tại sao bạn cần phải cho bất cứ ai biết nó đã được thực hiện? Nếu bạn lải nhải về những gì mình đã làm, điều đó có nghĩa rằng đó là điều bạn không cần phải làm. Ngược lại, có người lại nói: “Đời này tôi không trộm cắp hay giết ai cả. Tôi chưa bao giờ làm điều gì xấu, vậy tại sao mọi việc lại không tốt hơn cho tôi?” Điều này ngụ ý rằng ban đầu họ có số phận là trộm cắp và giết người, nhưng họ đã kiềm chế không làm như vậy và nên được khen thưởng vì điều đó. Đây là một quan điểm sai lầm.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Họ chuyển hóa tâm vô vi và đi tới con đường Niết Bàn. Họ chuyển tâm vô vi của Tiểu Thừa về Niết-bàn. Đây gọi là Chuyển di cứu độ và bảo vệ chúng sinh, ngoại trừ hình tướng của chúng sinh. Các vị coi đó là trách nhiệm của mình trong việc giải cứu chúng sinh, và vì vậy họ không có vẻ ngoài là đã giải cứu chúng sinh. Các vị không suy ngẫm về số lượng công đức và đức hạnh có được trong việc cứu độ chúng sinh. Đó là công việc của tôi. Đó là điều tôi nên làm, bạn nên nghĩ như thế nào.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">“Nhưng,” bạn hỏi, “Không phải có công đức trong việc cứu độ chúng sinh sao?” Vâng, có. Nhưng đừng tập trung vào nó. Những gì đã qua là quá khứ. Những gì bạn đã làm, bạn đã làm. Đừng bám víu vào ý tưởng cứu độ chúng sinh. Điều này không có nghĩa là bạn không nên cứu độ chúng sinh; điều đó có nghĩa là bạn không nên chứa chấp vẻ ngoài.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><em><strong>Như thị hồi hướng đáo bỉ ngạn</strong></em></span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><em><strong>Phổ sử quần sanh ly chúng cấu</strong></em></span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><em><strong>Vĩnh ly nhất thiết chư sở y</strong></em></span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><em><strong>Đắc nhập cứu cánh vô y xứ</strong></em></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>&#8212; o O o &#8212;</strong></span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Hoại kỳ khả hoại, viễn ly chư ly. Danh bất hoại hồi hướng. </strong>Hoại cái có thể hoại, tức xa lìa chúng sanh tướng, tướng xa lìa cũng phải lìa, vậy tướng hoại thì sở không, lìa cái Lìa thì năng không; năng sở đều không, bản giác bất hoại, gọi là Bất Hoại Hồi Hướng. Thế nào là bất hoại? Là chẳng hoại căn lành, chẳng hoại công đức lành, chẳng hoại tâm bồ đề, chẳng hoại tâm kim cang, chẳng hoại giới định huệ, chẳng hoại tâm tin kiên cố nơi Tam Bảo. Ðem hết thảy công đức căn lành tâm bồ đề của mình, hồi hướng hết cho pháp giới tất cả chúng sinh, khiến cho căn lành công đức, tâm bồ đề, tâm kim cang .v.v… Của chúng sinh cũng chẳng hoại diệt. Tôi phát bốn thệ nguyện lớn, tức cũng đồng như chúng sinh phát, đây là bất hoại hồi hướng. </span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">“Cái gì nên hủy diệt” có nghĩa là bỏ đi những gì không nên giữ lại. Dù chúng ta có nói bao nhiêu đi nữa thì nó vẫn luôn quay trở lại những điều giống nhau: nghiệp chướng, vô minh và phiền não. Hãy loại bỏ những thứ này. Tiêu diệt chúng. “Xa xa những gì nên bỏ lại phía sau” có nghĩa là thoát khỏi lỗi lầm của mình. Chẳng hạn, người tu Đạo không nên có tham, sân, si. Bạn nên tiêu diệt chúng. Tất cả các pháp tốt nên được chấp nhận. Tất cả các pháp xấu nên bị từ chối. Hãy lùi xa về phía sau bạn. Điều này “được gọi là Bất hoại hồi hướng.” Không thể phá hủy&#8221; là gì? Những thiện căn vốn có của bạn là không thể phá hủy. Ban đầu của bạn bản chất giác ngộ hiện hữu là không thể phá hủy. Với sự hồi hướng của tính bất hoại, bạn phải tiêu diệt những gì nên tiêu diệt và giữ lại những gì không thể hủy diệt. Hai chữ “Bất hoại”: </span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Sự bất hoại</strong> là quán tất cả pháp, chỉ có danh có dụng. <strong>Lý bất hoại </strong>là niệm niệm chẳng trụ, sát na vô thường. <strong>Sự Sự Vô ngại</strong> là biết căn lành hồi hướng, đều có thể thông. Sự Sự Vô ngại, mới là Thật bất hoại”.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><em><strong>Chuyên tâm cứu hộ ư nhất thiết</strong></em></span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><em><strong>Lệnh kỳ viễn ly chúng ác nghiệp</strong></em></span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><em><strong>Như thị nhiêu ích chư quần sanh</strong></em></span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><em><strong>Hệ niệm tư tánh vị tằng xả</strong></em></span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Bồ Tát siêng tu Phật đạo, tức là vì cứu hộ tất cả chúng sinh, cho nên Ngài chẳng có lúc nào mà không trên cầu Phật đạo, dưới độ chúng sinh. Cứu bạt chúng sinh, khiến cho họ đều xa lìa các nghiệp ác. Bồ Tát giống như đạo lý Kinh văn ở trên nói, tu hành Bồ Tát đạo, đem hết thảy công đức đều hồi hướng cho chúng sinh, làm đủ thứ sự việc có lợi ích cho chúng sinh. Luôn nghĩ nhớ chúng sinh và chư Phật, tư duy các pháp, chẳng có ngừng nghỉ. Bồ Tát xem đối đãi chúng sinh như chư Phật, vì Phật là Phật đã thành, chúng sinh là Phật vị lai. Bồ Tát trên cầu pháp của chư Phật, dưới xin thức ăn nơi chúng sinh. Cho nên Bồ Tát đối với chúng sinh luôn nghĩ nhớ, chưa từng lúc nào xả bỏ.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>&#8212; o O o &#8212;</strong></span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Bổn giác trạm nhiên, giác tề Phật giác. Danh đẳng nhất thiết Phật hồi hướng. </strong>Bản giác trạm nhiên, tâm giác đồng như Phật giác, gọi là Đẳng Nhất Thiết Phật Hồi Hướng. “Căn bản giác ngộ” ám chỉ bản chất của Như Lai tạng vốn có trong tất cả chúng ta. Nó thật sâu sắc và thuần khiết. Đó là sự giác ngộ ngang bằng với sự giác ngộ của chư Phật. Sự giác ngộ của tâm chúng ta cũng giống như sự giác ngộ của chư Phật. Đây gọi là Sự Chuyển Di Đồng Như Với Tất Cả Chư Phật.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Tôi nguyện học pháp môn hồi hướng của chư Phật ba đời tu hành, theo sự hồi hướng của chư Phật ba đời đã phát ra. Ðem hết thảy tất cả công đức của mình làm được, đồng như chư Phật hồi hướng cho pháp giới chúng sinh. Khi tu học quá trình đạo hồi hướng nầy, thì đối với tất cả sắc, cho đến xúc pháp, bất luận là sắc tốt, hoặc sắc xấu, tiếng hay, tiếng dở, mùi thơm, mùi hôi, vị ngon, vị dở, xúc tốt, xúc dở, pháp lành, pháp ác, đều chẳng làm cho sinh ra tâm thương ghét và thích chán. Bồ Tát an trụ vào tu học đạo hồi hướng, chẳng bị cảnh giới sáu trần lay chuyển.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Khi tu hồi hướng đẳng tất cả Phật, vì tâm được tự tại, cho nên các vị sẽ lìa các lỗi lầm, chẳng có lỗi gì có thể nói. Tâm ý của các vị sẽ thanh tịnh rộng lớn như hư không. Niềm hoan hỉ vui thích tràn đầy thân tâm. Tất cả sự ưu sầu khổ não, đều tiêu mất chẳng còn nữa. Vì tâm ý nhu nhuyến, các căn rất mát mẻ, chẳng có hiện tượng nhiệt não sinh khởi. </span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Các vị đại Bồ Tát tu pháp môn hồi hướng đẳng tất cả Phật, các Ngài chẳng bị cảnh giới sáu căn, sáu trần, sáu thức, lay chuyển, vì các Ngài chẳng sinh thương ghét, nên tâm được tự tại. Nếu chúng ta cũng muốn đắc được cảnh giới tự tại nầy, thì phải thường tu phạm hạnh, giữ giới thanh tịnh, do giới sinh định, do định sinh huệ, sau đó sẽ đạt đến cảnh giới:</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><em><strong>“Mắt thấy hình sắc bên trong chẳng có.</strong></em></span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><em><strong>Tai nghe chuyện đời tâm chẳng hay”.</strong></em></span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Do đó: Thấy mà không thấy, nghe mà không nghe, ngửi mà không ngửi, nếm mà không nếm, xúc là không xúc, pháp mà không pháp, tất cả hết thảy, đều sống ở trong cảnh giới không thể nghĩ bàn.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>&#8212; o O o &#8212;</strong></span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Tinh chân phát minh, địa như Phật địa. Danh chí nhất thiết xứ hồi hướng. </strong>Tinh túy sáng tỏ, tâm địa đồng như Phật địa, gọi là Chí Nhất Thiết Xứ Hồi Hướng. Khi chân lý tuyệt đối của sự chuyển di trước đó được khám phá, cấp độ của một người ngang bằng với cấp độ của tất cả chư Phật. Đây là cấp độ mở đầu cho địa vị của Đức Phật. Đây gọi là Sự Chuyển Di Đạt Đến Mọi Nơi.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"> Ðến tất cả mọi nơi tức là đến nơi rốt ráo, nghĩa là đạt đến được quả vị Phật. Tôi hy vọng thành Phật, cũng muốn cho tất cả chúng sinh sớm thành Phật đạo, hồi hướng như vậy. Chỉ nguyện nghiệp lành tu tập, sức công đức thành tựu của tôi, khắp cõi hư không pháp giới. Ví như tất cả pháp chân thật tế, chẳng có chỗ nào mà chẳng đến, chẳng có lúc nào mà không có ở đó. Lại hy vọng sức công đức nầy, có thể đến khắp tất cả vật thể hữu hình. Ðến trong tất cả thân tâm chúng sinh. Ðến trong tất cả cõi nước thế gian. Ðến tất cả các pháp, khiến cho tất cả chánh pháp thiện pháp, đắc được sức công đức, phát dương rộng lớn. Ðến khắp trong hư không, khiến cho hư không đầy dẫy sức căn lành công đức nầy. Ðến tất cả pháp hữu vi của thế gian và pháp vô vi xuất thế gian. Ðến tất cả chỗ lời nói âm thanh. Bồ Tát hy vọng sức căn lành công đức của Ngài đến những nơi đã nói ở trên, trong thời gian đó đều phát huy tác dụng, khiến cho tất cả chúng sinh đều đắc được lợi ích.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><em><strong>Thâm nhập như thị chư cảnh giới</strong></em></span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><em><strong>Bất ư kỳ trung khởi phân biệt</strong></em></span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><em><strong>Nhất thiết chúng sanh điều ngự sư</strong></em></span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><em><strong>Ư thử minh liễu thiện hồi hướng.</strong></em></span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ðại Bồ Tát tu pháp hồi hướng, Ngài đã vào sâu cảnh giới vắng lặng như đã nói ở trước, thấu rõ các pháp tướng đều không, chẳng ở tại pháp hữu vi và pháp vô vi sinh tâm phân biệt. Ðấng Ðiều Ngự Sư của tất cả chúng sinh, tức là nói vị Bồ Tát nầy tu pháp hồi hướng, Ngài là Đạo Sư Điều Ngự, và đại thiện tri thức giá ngự lãnh đạo chúng sinh, bậc Đạo Sư giáo đạo. Bồ Tát minh bạch đủ thứ các pháp, đắc được trí huệ thông đạt vô ngại, nhậm vận tự tại, đem căn lành công đức nầy, hồi hướng đến tất cả chúng sinh, hồi hướng về vô thượng bồ đề, hồi hướng về thật tế.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>&#8212; o O o &#8212;</strong></span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Thế giới Như Lai, hỗ tương thiệp nhập, đắc vô quái ngại. Danh vô tận công đức tạng hồi hướng. </strong>Thế giới và Như Lai xen lộn lẫn nhau, được chẳng ngăn ngại, gọi là Vô Tận Công Đức Tạng Hồi Hướng. Do sự hồi hướng, nên sẽ thành tựu tạng vô tận công đức. Chúng sinh vô tận, công đức vô tận, cho nên hồi hướng cũng vô tận. Thế gian và Như Lai hòa nhập vào nhau không có gì ngăn trở. Thế giới chính là thân của Như Lai; thân của Như Lai chính là thế giới. Chức năng tuyệt vời của sự thâm nhập tâm linh giúp chúng chứa đựng lẫn nhau. Cũng không có bất kỳ trở ngại nào cho cả hai, cũng không có bất cứ điều gì được sắp đặt về nó. Đây gọi là &#8220;Sự hồi hướng Kho tàng Công đức Vô tận.”</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Tu hồi hướng vô tận công đức tạng nầy, tu đủ thứ hạnh Bồ Tát, khiến cho Ngài đắc được vô tận phước trí, vượt hơn tất cả phước trí. Vì phước đức thù thắng, nên có ba mươi hai sắc tướng đoan nghiêm, tám mươi vẻ đẹp, không gì có thể so sánh được. Sức đại oai đức của Ngài, và trí huệ quang minh, vượt hơn tất cả phước đức oai lực và quang minh của thế gian, khiến cho ma vương, dân chúng của chúng, chẳng dám mở mắt nhìn Bồ Tát. Khi Bồ Tát tu trị đến giai đoạn nầy, thì Ngài đã đầy đủ hết thảy tất cả công đức, thành tựu tất cả nguyện lớn mà Ngài đã phát. Phước đức thù thắng của Ngài, tâm của Ngài rộng lớn có thể bao thái hư, lượng của Ngài rộng khắp sa giới, trí huệ của Ngài đồng với nhất thiết trí của Phật. Ở trong mỗi niệm, có thể vào khắp cõi nước của chư Phật trong mười phương. Sức trí huệ của Ngài, không thể hạn lượng, thông đạt được cảnh giới của mười phương chư Phật. Ðối với đạo lý của chư Phật chứng được, tin hiểu sâu xa không có hoài nghi, vì Ngài an trụ ở trong vô lượng trí huệ. Bồ Tát Ngài phát tâm bồ đề, rộng lớn như pháp giới, rốt ráo như hư không, chẳng có chỗ nào mà chẳng đạt đến.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><em><strong>Dĩ như thị trí nhi hồi hướng</strong></em></span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><em><strong>Tùy kỳ ngộ giải phước nghiệp sanh</strong></em></span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><em><strong>Thử chư phước tướng diệc như giải</strong></em></span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><em><strong>Khởi phục ư trung hữu khả đắc?</strong></em></span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Dùng trí huệ vô thượng như đã nói ở trên, để hồi hướng cho tất cả chúng sinh, tuỳ theo sức ngộ hiểu minh bạch tất cả các nghiệp, tất cả quả báo của mình, mà không chấp trước vào nơi pháp, chẳng bị khốn ở trong các nghiệp và quả báo, thì tâm ý tự nhiên tự tại, phước nghiệp tuỳ theo đó mà sinh ra. Ðối với điều gọi là tướng tất cả phước đức, cũng hiểu rõ nó là như huyễn, như bọt bóng. Nghiệp chướng vốn cũng là hư vọng không thật, ở trong trí giải nầy thông đạt vô ngại, lại có thể tìm ra cái gì?</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>&#8212; o O o &#8212;</strong></span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Ư đồng Phật địa, địa trung các các, sanh thanh tịnh nhân. Y nhân phát huy, thủ Niết-Bàn đạo. Danh tùy thuận bình đẳng thiện căn hồi hướng. </strong>Nơi đồng Phật địa, mỗi mỗi sanh ra cái nhân trong sạch, nương nhân ấy mà phát huy, vào đạo Niết Bàn, gọi là Tùy Thuận Bình Đẳng Thiện Căn Hồi Hướng. Tư tưởng vào sâu tất cả bình đẳng, tâm chẳng phân biệt, khiến cho tất cả chúng sinh đều đắc được căn lành, thuận lý tu thiện, sự lý chẳng trái, vào nơi hồi hướng bình đẳng. Sau khi các Bồ Tát đã thành tựu sự hồi hướng trước đó của kho tàng công đức vô tận, thì “vì đồng nhất với đất Phật, nên họ tạo ra các nhân thanh tịnh ở mọi cấp độ.” Ở mỗi cấp độ trên đường đi, chúng làm khởi lên những nguyên nhân trong sáng, thanh tịnh và không cấu nhiễm. Sự sáng chói phát ra từ họ khi họ nương tựa vào những nhân này, và họ đi thẳng vào con đường dẫn đến Niết-bàn. Họ bám vào Đạo không sanh cũng không diệt. Đây gọi là Sự Chuyển di theo Phù hợp với Bản chất của Mọi Căn lành.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Vị đại Bồ Tát nầy tu pháp môn hồi hướng, khi Ngài hành bố thí thì, Ngài phát tâm nhất định phải nhiếp thọ hết thảy tất cả chúng sinh. Khi Ngài hành công đức căn lành bố thí, thì hoàn toàn hồi hướng về bồ đề, hồi hướng về thật tế, hồi hướng cho tất cả chúng sinh. Bồ Tát Ngài khéo biết nhiếp pháp sắc uẩn, một trong năm uẩn như thế nào. Công phu tu hành của Bồ Tát, thâm nhập vào Bát Nhã thù thắng, cho nên Ngài chiếu thấy năm uẩn đều không, nhiếp sắc pháp là tuỳ thuận kiên cố tất cả căn lành. Ngài lại khéo nhiếp chân thật nghĩa lý của thọ, tưởng, hành, thức bốn uẩn đều không, tuỳ thuận kiên cố tất cả căn lành, và kiên cố căn lành của mình.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Khiến cho căn lành của chúng sinh tăng trưởng, đồng thời khiến cho đạo bồ đề của mình tu ngày càng rộng lớn. Lại khéo nhiếp ngôi vua, Bồ Tát biết sự trọng yếu của ngôi vua, nhưng Ngài chẳng xem trọng ngôi vua ở trên cao mà không xả bỏ, mà Ngài hiểu rõ ngôi vua quan hệ đến lợi ích của toàn dân, Ngài tuỳ thời có thể nhường cho người hiền năng, Ngài tuyệt đối chẳng chấp trước. Lại khéo nhiếp thọ quyến thuộc của Ngài, tuỳ thuận chân lý, tuỳ thuận tâm từ bình đẳng giáo hoá, tuỳ thuận công đức, kiên cố tự lợi lợi tha tất cả căn lành. Lại khéo nhiếp tất cả đồ vật tư sanh, tuỳ thuận bố thí, kiên cố tất cả căn lành đã tu được. Lại khéo nhiếp thọ huệ thí, bố thí khắp cho tất cả chúng sinh, tuỳ thuận kiên cố tất cả căn lành đã tu được.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Không những Bồ Tát bố thí bốn thứ ăn của thế gian, mà cũng nên bố thí năm thứ ăn xuất thế gian, hy vọng chúng sinh thọ được thức ăn pháp vị (pháp thực) xuất thế:</span></p>
<ol>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Thiền duyệt thực: Người tu hành đắc được vui thiền định hay nuôi dưỡng các căn.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Pháp hỉ thực: Người tu pháp nghe pháp sinh hoan hỉ, nuôi dưỡng thân tâm huệ mạng.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nguyện thực: Người tu hành phát thệ nguyện mà trì thân, tu vạn hạnh.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Niệm thực: Người tu hành thường nhớ niệm căn lành xuất thế, mà chẳng quên nuôi dưỡng lợi ích huệ mạng.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Giải thoát thực: Người tu hành cuối cùng chứng được vui Niết Bàn, mà nuôi lớn thân tâm.</span></li>
</ol>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ðem các căn lành hồi hướng như vầy: Nguyện cho tất cả chúng sinh đều được thành tựu pháp thân trí thân. Nguyện cho tất cả chúng sinh được thân không mệt mỏi, giống như kim cang. Nguyện cho tất cả chúng sinh được thân không thể hoại, không thể làm thương hại được. Nguyện cho tất cả chúng sinh được thân như biến hoá, hiện khắp thế gian, chẳng cùng tận. Nguyện cho tất cả chúng sinh được thân đáng ưa thích, thanh tịnh kiên cố vi diệu. Nguyện cho tất cả chúng sinh được sinh thân pháp giới, đồng với Như Lai, không chỗ nương tựa.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><em><strong>Như chư pháp tánh biến nhất thiết</strong></em></span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><em><strong>Bồ Tát hồi hướng diệc phục nhiên</strong></em></span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><em><strong>Như thị hồi hướng chư chúng sanh</strong></em></span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><em><strong>Thường ư thế gian vô thoái chuyển.</strong></em></span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Giống như tất cả pháp tánh khắp cùng tất cả mọi nơi, nhưng nhìn mà không thấy, lắng mà không nghe, ngửi mà không mùi. Bồ Tát tu công đức hồi hướng cũng giống như thế, tuy nhiên không có hình tướng, nhưng công đức không thể nghĩ bàn. Vì vậy, cho nên Phật tu tập tất cả công đức hồi hướng cho tất cả chúng sinh. Chẳng những Ngài tu hạnh Bồ Tát một ngày, mà là ngày ngày đều tu hạnh Bồ Tát, tháng tháng đều tu, năm năm đều tu, đời đời kiếp kiếp đều tu hạnh Bồ Tát. Ðem công đức hồi hướng cho pháp giới chúng sinh, thường ở tại nhân gian không thối chuyển tâm bồ đề.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>&#8212; o O o &#8212;</strong></span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Chân căn ký thành, thập phương chúng sanh, giai ngã bổn tánh. Tánh viên thành tựu, bất thất chúng sanh. Danh tùy thuận đẳng quán nhất thiết chúng sanh hồi hướng. </strong>Chơn thiện căn đã thành, thì mười phương chúng sanh đều là bản tánh của ta, thành tựu tánh tròn đầy, chẳng bỏ chúng sanh, gọi là Tùy Thuận Đẳng Quán Nhất Thiết Chúng Sanh Hồi Hướng. Quán sát chúng sinh hồi hướng, chẳng tính toán có bao nhiêu, chẳng phân biệt thân sơ, phân biệt thiện ác, chẳng phân biệt tốt xấu giàu nghèo, đem hết thảy công đức căn lành của tôi, tuỳ thuận chúng sinh, lợi ích chúng sinh, bình đẳng hồi hướng cho tất cả chúng sinh.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Khi chân căn đã vững chắc thì tất cả chúng sinh trong mười phương đều là tự tánh của ta. ”Họ là một và giống như các vị Bồ Tát. Đó là lý do tại sao Bồ Tát muốn cứu độ chúng sinh mà không có hình tướng của chúng sinh. Chư Phật và Bồ Tát xem tất cả chúng sinh đều là bản thể của chính mình. Họ là một với họ. Vì vậy, đối với họ việc cứu độ chúng sinh không thực sự là cứu độ chúng sinh khác; đó chỉ là để tự cứu mình. “Không một sinh vật nào bị mất đi, vì bản chất này đã được hoàn thiện thành công.” Vì họ là một với tất cả chúng sinh nên không có chúng sinh nào bị bỏ quên.“Đây gọi là Chuyển di hay Quán xét mọi chúng sinh một cách bình đẳng.”</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nói rằng tất cả chúng sinh đều có bản chất riêng là nói về những chúng sinh tồn tại bên ngoài. Nhưng chúng ta cũng có thể nói về chúng sinh bên trong, bởi vì có vô số chúng sinh trong cơ thể mỗi chúng ta. Khoa học mô tả các tiểu thể màu trắng và các tiểu thể màu đỏ và xác minh rằng cơ thể chúng ta chứa vô số vi sinh vật. Nếu bạn mở Phật nhãn và nhìn vào cơ thể con người, bạn sẽ thấy vô số chúng sinh ở đó, vô số dạng sinh vật nhỏ bé, thậm chí đến mức khi bạn thở ra, bạn gửi rất nhiều chúng sinh ra ngoài qua hơi thở. Vào thời điểm đó họ lại tái sinh thành chúng sinh.Tương tự như vậy, bạn ăn vô số sinh vật khi bạn hít vào. Vì vậy, thật khó để vạch ra ranh giới rõ ràng giữa việc trở thành động vật ăn thịt và không phải là động vật ăn thịt, nếu bạn đi sâu vào các khía cạnh tinh tế hơn của nó. Ở đây bạn đang lấy đi sự sống trong từng hơi thở, và đó cũng là một hình thức giết chóc nếu bạn làm điều đó với ý định giết người. Tất nhiên, chúng tôi đang đi vào chi tiết ở đây.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Chúng sinh trong cơ thể bạn chỉ là những sinh vật bình thường nếu bạn không tu luyện. Nếu quý vị tu luyện thì họ sẽ thành Phật tánh. Đều có thể trở về nguồn. Bạn quay trở lại cội nguồn và chúng cũng đi theo bạn &#8211; tất cả những dạng sống nhỏ bé mà bạn nuôi dưỡng. Nếu chư vị tu luyện đến mức có chút kỹ năng, thì chúng sinh bên ngoài và chúng sinh bên trong chư vị đều trở thành một với chư vị. Nhưng tính đến thời điểm hiện tại, về cơ bản có quá nhiều sinh vật sống.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Khi đại Bồ Tát ở nơi căn lành nầy: Tu hành, an trụ, nhập vào, nhiếp thọ, tích tập, biện đủ, ngộ hiểu, tâm tịnh, khai thị, phát khởi, thì được tâm kham nhẫn, đóng bít cửa đường ác. Khéo nhiếp các căn, đầy đủ oai nghi. Xa lìa điên đảo. Chánh hạnh viên mãn. Kham làm pháp khí của tất cả chư Phật, làm ruộng phước đức tốt của chúng sinh. Được Phật nghĩ nhớ, lớn căn lành Phật. Trụ nơi nguyện của chư Phật, thực hành nghiệp của chư Phật. Tâm được tự tại, đồng với chư Phật ba đời. Hướng về đạo tràng của Phật, vào sức lực của Như Lai. Đủ sắc tướng của Phật, vượt khỏi các thế gian, chẳng thích sinh về trời, chẳng tham phước lạc, chẳng chấp các hành. Tất cả căn lành đều đem hồi hướng.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><em><strong>Như thị chân thật chư Phật tử,</strong></em></span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><em><strong>Tùng ư Như Lai pháp hóa sanh,</strong></em></span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><em><strong>Bỉ năng như thị thiện hồi hướng,</strong></em></span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><em><strong>Thế gian nghi hoặc tất trừ diệt.</strong></em></span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Hay tư duy tất cả các pháp như vậy, thì mới chân chánh là đệ tử của Phật. Đó là từ trong Phật pháp hoá sinh. Bồ Tát hay tích tập căn lành và công đức như vậy, thảy đều hồi hướng cho pháp giới chúng sinh. Khiến cho nghi hoặc của thế gian đều trừ diệt hết không còn.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>&#8212; o O o &#8212;</strong></span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Tức nhất thiết pháp, ly nhất thiết tướng. Duy tức dữ ly, nhị vô sở trước. Danh như tướng hồi hướng. </strong>Tức nơi nhất thiết pháp, mà lìa nhất thiết tướng cái “tức” cái “lìa”, cả hai đều chẳng dính mắc, gọi là Chơn Như Tướng Hồi Hướng. Bảy loại hồi hướng ở trên, đều có hình tướng. Nhưng chân như là không hình, không tướng, tuyết đối đối đãi, bặc lời lẽ tư tưởng. Tuy nhiên như vậy, nhưng căn lành có thể hợp vào nơi chân như, cho nên có môn hồi hướng nầy.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Tất cả các pháp đều tách rời khỏi mọi hình tướng. Ngay trong các pháp phải xa rời mọi hình tướng. Trong sự xuất hiện của các pháp người ta phải tách rời khỏi sự xuất hiện của các pháp. Tuy nhiên, không có sự gắn bó nào với họ tồn tại hoặc tách khỏi chúng. Điều này được gọi là Chuyển di hình tướng của Chơn như.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Đại Bồ Tát nầy chánh niệm thấu rõ. Tâm của Ngài an trụ vững chắc. Xa lìa mê hoặc. Chuyên tâm tu hành. Thâm tâm chẳng động. Thành tựu nghiệp bất hoại. Hướng về nhất thiết trí. Trọn không thối chuyển. Chí cầu đại thừa. Dũng mãnh không sợ hãi. Trồng các gốc công đức. An ổn khắp thế gian. Sinh căn lành thù thắng. Tu pháp trắng tịnh. Đại bi tăng trưởng. Tâm báu thành tựu. Thường niệm chư Phật. Hộ trì chánh pháp. Nơi Bồ Tát đạo tin tưởng ưa thích vững chắc. Thành tựu vô lượng căn lành tịnh diệu. Siêng tu nhất thiết công đức trí huệ. Làm Điều Ngự Sư. Sinh các pháp lành. Dùng trí huệ phương tiện để hồi hướng.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><em><strong>Trí giả liễu tri chư Phật Pháp,</strong></em></span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><em><strong>Dĩ như thị hạnh nhi hồi hướng,</strong></em></span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><em><strong>Ai mẩn nhất thiết chư chúng sanh,</strong></em></span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><em><strong>Lệnh ư thật Pháp chánh tư duy.</strong></em></span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Người có trí huệ, minh bạch thấu hiểu pháp của chư Phật nói, dùng căn lành tích tập, hạnh Bồ Tát tu như vậy, vì chúng sinh hồi hướng. Tại sao vì chúng sinh hồi hướng? Vì thương xót tất cả chúng sinh. Bồ Tát thấy tất cả chúng sinh quá ngu si, làm những việc đều là điên đảo. Giáo hoá thế nào cũng không minh bạch; dạy họ xả mình vì người, bỏ ngọn theo gốc, ủng hộ chánh pháp, khiến cho chánh pháp trụ thế, thì họ không tin. Cho nên chúng sinh là kẻ đáng thương, khuyên họ đừng làm các điều ác, hãy làm các điều lành, đối với pháp chân thật, phải làm đúng. Thế nào là không đúng ? Phải phản tỉnh lại, suy nghĩ kỹ càng, không những nghĩ một lần, mà lúc nào cũng phải nghĩ, rằng mình làm có sai nhân quả chăng ? mình đối với Phật giáo có hết sức mình và trách nhiệm chăng ? Ngược lại có tạo ra đủ thứ tội lỗi chẳng? Do đó, lúc nào cũng phải hồi quang phản chiếu, phản tỉnh, lại phản tỉnh, kiểm tra rồi kiểm tra, như thế mới là Phật giáo đồ chân chánh.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>&#8212; o O o &#8212;</strong></span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Chân đắc sở như, thập phương vô ngại. Danh vô phược giải thoát hồi hướng. </strong>Thật đắc Chơn Như, mười phương vô ngại, gọi là Vô Phược Giải Thoát Hồi Hướng. Chẳng “ràng buộc”, chẳng “chấp trước”, sinh hoạt ở trong chân lý nhậm vận tự tại, chẳng bị mọi sự ràng buộc nào, đắc được tự do giải thoát. Bồ Tát đắc được “giải thoát không ràng buộc, không chấp trước”, cũng hy vọng tất cả chúng sinh đều đắc được sự tự do” giải thoát không ràng buộc, không chấp trước”, do đó đem sự đắc được của mình, hồi hướng cho pháp giới chúng sinh.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Một định nghĩa về Chân như là thứ thực sự đạt được. Nó cũng được mô tả là sự khôn ngoan do đó làm nảy sinh nguyên tắc như vậy. Khi được như vậy thì mười phương không còn chướng ngại. Bạn có thể du hành khắp cõi Phật trong mười phương mà không gặp trở ngại nào. Đây gọi là Chuyển di Giải thoát Vô trói buộc. Không có gì ràng buộc bạn. Bạn được tự do.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Bồ Tát dùng tâm giải thoát thanh tịnh, không chấp trước không ràng buộc, không quái ngại, không thị phi, không thiện ác, không nghiệp báo, để thành tựu thân nghiệp của Bồ Tát Phổ Hiền, thân nghiệp thanh tịnh chẳng có giết hại, trộm cắp, dâm dục.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Bồ Tát dùng tâm giải thoát thanh tịnh, chẳng có sự chấp trước, chẳng có sự ràng buộc, để thanh tịnh nghiệp lời nói của Bồ Tát Phổ Hiền, chẳng có nói dối, thêu dệt, chưởi mắng, hai lưỡi, nghiệp lời nói thanh tịnh.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Bồ Tát dùng tâm giải thoát thanh tịnh, chẳng có sự chấp trước, chẳng có sự ràng buộc, để viên mãn ý nghiệp của Bồ Tát Phổ Hiền, chẳng có tham sân si, ý nghiệp thanh tịnh.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Bồ Tát dùng tâm giải thoát không chấp trước, không ràng buộc, để đầy đủ âm thanh vô ngại môn Đà la ni của Bồ Tát Phổ Hiền. Âm thanh đó rộng lớn, khắp cùng mười phương.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Dùng tâm giải thoát không chấp trước không ràng buộc, để đầy đủ môn Đà la ni thấy tất cả chư Phật của Bồ Tát Phổ Hiền. Luôn luôn thấy tất cả chư Phật trong mười phương.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Dùng tâm giải thoát không chấp trước không ràng buộc, để thành tựu hiểu rõ tất cả âm thanh môn Đà la ni. Đồng tất cả âm, nói vô lượng pháp.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Dùng tâm giải thoát không chấp trước không ràng buộc, để thành tựu tất cả kiếp trụ môn Đà la ni của Bồ Tát Phổ Hiền, khắp trong mười phương tu hạnh Bồ Tát.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><em><strong>Nhược nhân năng tu thử hồi hướng</strong></em></span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><em><strong>Tức vi học Phật sở hạnh đạo</strong></em></span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><em><strong>Đương đắc nhất thiết Phật công đức</strong></em></span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><em><strong>Cập dĩ nhất thiết Phật trí tuệ.</strong></em></span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nếu như có người hay tu hành hồi hướng bình đẳng, tức là học tập theo con đường của Phật thực hành, sẽ đắc được hết thảy công đức của mười phương chư Phật, cùng với hết thảy trí huệ của mười phương chư Phật.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>&#8212; o O o &#8212;</strong></span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Tánh đức viên thành Pháp giới lượng diệt. Danh pháp giới vô lượng hồi hướng. </strong>Đức tánh viên mãn thành tựu, số lượng của pháp giới tiêu diệt, gọi là Pháp Giới Vô Lượng Hồi Hướng. Bồ Tát vào sâu pháp giới, thực hành vô lượng vô biên công đức lành, tận cùng hư không khắp pháp giới, chẳng có một nơi nào mà chẳng có bố thí công đức lành của chư Phật Bồ Tát. Bồ Tát đem căn lành công đức đó, hồi hướng cho pháp giới vô lượng vô biên chúng sinh.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Trước khi công đức của bản tánh được thành tựu viên mãn, trước khi bạn trở thành một với Pháp giới, bạn thậm chí không biết ranh giới của Pháp giới. Khi đức tính của tánh đã được thành tựu viên mãn và bạn trở thành một với Pháp giới, thì bạn biết được ranh giới của Pháp giới. Nhưng vì nó vẫn còn ranh giới nên bạn chưa đạt được thành tựu tối hậu. Bây giờ, &#8220;Khi công đức của tánh viên mãn viên mãn thì ranh giới của pháp giới bị tiêu diệt. Ngay cả pháp giới cũng trống rỗng. Đây gọi là Chuyển di Vô lượng Pháp giới.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Thế nào gọi là pháp giới? Pháp là các pháp, giới tức là phân giới. Các pháp đều có tự thể, mà phân giới khác nhau, nên gọi là pháp giới. Tóm lại, pháp giới tức là tâm của con người, lớn mà không ngoài, nhỏ mà không ở trong, tức cũng là bổn thể thân tâm của chúng sinh. Pháp giới là vô lượng, chẳng có bờ mé; nếu có lượng, thì chẳng phải là pháp giới. Tuy nhiên vô lượng, nhưng đại Bồ Tát dùng năm nhãn để quán sát, cũng biết được bờ mé của pháp giới.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">“Mười pháp giới không lìa khỏi một tâm niệm”, tức cũng là đạo lý tất cả do tâm tạo. Thế nào gọi là hồi hướng? Có nhiều lối nói. Một là hồi tự hướng tha: Đem hết thảy công đức của mình cho người khác. Hai là hồi nhân hướng quả: Tại nhân địa tu tập đủ thứ căn lành, tương lai sẽ đắc được công đức quả địa. Ba là hồi sự hướng lý: Đem sự hồi hướng về lý. Bốn là hồi tiểu hướng đại: Hồi tiểu thừa hướng về đại thừa. Đó là ý nghĩa của hồi hướng.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Bồ Tát thường thường rộng thực hành bố thí pháp, sinh khởi tâm đại từ đại bi.An lập tất cả chúng sinh. Đối với tâm bồ đề (trên cầu Phật đạo, dưới độ chúng sinh) vĩnh viễn không giải đãi, không có lúc nào ngừng nghỉ. Thường làm lợi ích cho tất cả chúng sinh, trong niệm niệm đều nghĩ tới lợi ích chúng sinh, mà không có lúc nào ngừng nghỉ.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Bồ Tát dùng tâm bồ đề, nuôi lớn căn lành của mình. Vì tất cả chúng sinh mà làm Điều Ngự Sư, mở bày cho chúng sinh, khiến cho họ được đạo nhất thiết trí huệ. Vì tất cả chúng sinh, mà làm mặt trời pháp tạng, nói tạng pháp, giống như mặt trời, ánh sáng chiếu khắp tất cả chúng sinh. Căn lành và trí huệ quang minh của Bồ Tát tu tập, chiếu sáng khắp tất cả. Đối với tất cả chúng sinh, đối đãi bình đẳng, chẳng phân biệt đó đây. Tu tất cả hạnh lành, chẳng có lúc nào ngừng nghỉ.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Vị đại Bồ Tát nầy tu hành Bồ Tát đạo, dùng bố thí pháp làm hàng đầu, phát sinh tất cả pháp trắng thanh tịnh, nhiếp thọ tất cả chúng sinh, hướng về tâm nhất thiết trí. Phát nguyện lực thù thắng, đắc được tâm kiên cố rốt ráo, thành tựu viên mãn, tăng trưởng lợi ích, đầy đủ sức đại oai đức. Nương tựa thiện tri thức, gần gũi thiện tri thức; thiện tri thức biết được tâm ý, chỉ dẫn chúng sinh về con đường lành; tức cũng là hay giáo hoá chúng sinh xa lìa mười điều ác, tu hành mười điều lành. Trong tâm không xiểm nịnh vị thiện tri thức đó, cũng không lừa dối vị thiện tri thức đó. Thường thường suy gẫm, quán sát, nghiên cứu môn nhất thiết trí huệ, có cảnh giới vô biên. Bồ Tát đem căn lành đó, hồi hướng như vầy: Nguyện được tu hành, học tập, thành tựu, viên mãn, tăng trưởng, rộng lớn, vô ngại, đủ thứ tất cả cảnh giới.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><em><strong>Nhất mao độ không khả đắc biên</strong></em></span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><em><strong>Chúng sát vi trần khả tri số,</strong></em></span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><em><strong>Như thị đại tiên chư Phật tử</strong></em></span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><em><strong>Sở trụ hạnh nguyện vô năng lượng.</strong></em></span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Dùng một sợi lông để trắc lường hư không lớn bao nhiêu? Có thể biết được bờ mé, tức cũng là lường được hư không. Cõi nước của mười phương chư Phật đập nát thành bụi, cũng có thể biết được có bao nhiêu hạt bụi ! Nhưng công đức hạnh nguyện của chư Phật và tất cả đệ tử Phật tu thập hồi hướng, không cách chi đo lường được có bao nhiêu!</span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Tỳ Lô Giá Na</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/ty-lo-gia-na/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 30 Apr 2026 04:56:30 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài Luận]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://langnghiem.com/?p=7416</guid>

					<description><![CDATA[Đức Phật có ba thân: Pháp thân, Báo thân và Ứng thân.  Pháp thân là...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Đức Phật có ba thân: Pháp thân, Báo thân và Ứng thân. </span></p>
<ol>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><em>Pháp thân là Thanh Tịnh Pháp Thân Tỳ Lô Giá Na Phật, </em></span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><em>Báo thân là Viên Mãn Báo Thân Lô Xá Na Phật, </em></span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><em>Ứng thân là Thiên Bách Ức Hóa Thân Thích Ca Mâu Ni Phật.</em></span></li>
</ol>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Đức Thích Ca Mâu Ni mà chúng ta đã đọc trong kinh và được thờ tượng ngài trong chùa là một trong những Thiên Bách Ức Hóa Thân Thích Ca Mâu Ni Phật. Ngài cũng được gọi là Ðệ Thất Tiên Phật, hay là một vị Phật cuối cùng trong bảy vị Phật trong quá khứ. 7 vị Phật đó là Tỳ Bà Thi, Thi Khí, Tỳ Xá Phù, Câu Lưu Tôn, Câu Na Hàm Mâu Ni, Ca Diếp, và Thích Ca Mâu Ni.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Vì muốn giáo hóa chúng sinh, khiến cho chúng sinh đều thành Phật đạo, ngài đã hạ sanh trong cõi Ta Bà. Chẳng phải vì Phật chưa đắc đạo, mà là vì chúng sinh mà phát tâm bồ đề, khiến cho chúng sinh đồng thời đều chứng được A Nậu Ða La Tam Miệu Tam Bồ Ðề (vô thượng chánh đẳng chánh giác).</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Sau khi đức Phật Thích Ca Mâu Ni Phật đắc đạo ở dưới cây Bồ Đề, trong kế tiếp 21 ngày, nhục thân của ngài vẫn ngồi dưới cây Bồ Đề. Đức Phật dùng thần thông để đi khắp mọi nơi, đi xuống Long cung, đi lên các cõi thiên, đi tới tương lai tới rừng Cấp Cô Độc, để thuyết pháp. Cho nên trong kinh Hoa Nghiêm, danh ngôn của ngài được ghi lại là Pháp Thân Phật hay Thanh Tịnh Pháp Thân Tỳ Lô Giá Na Phật.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><img loading="lazy" decoding="async" class="alignleft  wp-image-7422" src="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2026/04/tylogiana.jpg" alt="" width="184" height="194" /> Tỳ Lô Giá Na dịch là “Biến nhất thiết xứ”, là thanh tịnh pháp thân của Phật. Vị Phật này, thường chuyển bánh xe pháp không ngừng, trong các cõi Phật hết thảy pháp giới. Pháp thân của Phật như mây, khắp cùng hết thảy. Trí huệ của Ngài như biển cả. Phật Tỳ Lô Giá Na là Thanh Tịnh Pháp Thân, khắp hết thảy mọi nơi. Nguyện lực của Ngài lớn nhất, chẳng có nơi nào mà nguyện lực của Ngài chẳng thành tựu. Không những ngài thị hiện ở cõi Ta Bà này, mà Ngài ở trong tất cả các cõi nước, luôn luôn chuyển bánh xe diệu pháp vô thượng, thường thuờng diễn nói diệu pháp, thời khắc giáo hóa chúng sinh ở khắp mười phương.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Tỳ Lô Giá Na Phật dùng pháp làm thân. Pháp thân thanh tịnh như hư không, song hư không lại bao la vạn tượng, ở trong hư không hiện ra tất cả hình sắc, khiến cho tất cả chúng sinh có thể vào được trong pháp thể đó, mà đắc được Thanh Tịnh Pháp Thân, Viên Mãn Báo Thân, Thiên Bách Ức Hóa Thân. Tỳ Lô Giá Na dịch là quang minh chiếu khắp, khắp hết thảy mọi nơi, tức là vô tại vô sở bất tại, tận hư không biến pháp giới, đều là quang minh thanh tịnh.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Cho nên kinh Bát Nhã, đức Phật có nói:</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong><em>Nếu lấy sắc mà thấy ta,</em></strong></span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong><em>Lấy âm thanh mà cầu ta,</em></strong></span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong><em>Người ấy hành đạo tà,</em></strong></span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong><em>Không thể thấy Như-lai.</em></strong></span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">“Nếu lấy sắc mà thấy ta,” tức là lấy ba mươi hai tướng mà thấy Như-lai. Về điểm này, kinh Hoa-Nghiêm có câu: “<em>Ứng hóa phi chân Phật,</em>” tức là ứng thân và hóa thân, không phải là Phật thật. Ba mươi hai tướng thuộc về ứng hóa thân, không phải là Thanh Tịnh Pháp thân. Ba mươi hai tướng tức là hình tướng. Lấy ba mươi hai tướng để nhận biết Như-lai tức là nghĩa của câu kệ “Nếu lấy sắc mà thấy ta. Lấy âm thanh mà cầu ta,” nghĩa là kiếm âm thanh của Phật để cầu Phật. Số là Phật có “tứ biện, bát âm,” tức là bốn loại biện tài vô ngại và tám loại âm thanh mỹ diệu. Người đó chấp tướng, vướng mắc vào pháp hữu vi, không hợp với lẽ trung đạo, vì vậy mà chẳng nhận biết Như-lai. Như-lai thuộc trung đạo, chẳng thiên lệch, chẳng rơi vào không, chẳng kẹt ở có, chẳng rơi vào đoạn kiến, cũng chẳng kẹt ở thường kiến. Tà đạo nếu không rơi vào đoạn kiến thì lại kẹt ở thường kiến. Đoạn kiến, chấp vào đoạn diệt, thường kiến chấp vào sự thường còn vĩnh viễn, cả hai đều là những chủ trương thiên lệch, không hợp lẽ trung đạo, và vì vậy nên “không thể thấy Như-lai,” vĩnh viễn không thấy được Thanh Tịnh Pháp Thân Phật.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Phật sợ mọi người hoài nghi mà chấp tướng, nghĩ rằng Như-lai là có đi và có đến nên mới giảng đoạn kinh này. Phật bảo: “Như có người có ý nghĩ vẩn vơ rằng hình như Như-lai đến, hình như Như-lai đi, hoặc Như-lai đến mà có thể không đến, đi mà có thể không đi, cứ mơ mơ hồ hồ như vậy, hoặc nghĩ rằng Như-lai ngồi, hoặc Như-lai nằm, như vậy là không hiểu rõ nghĩa lý lời nói của Như-lai.”</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Tại sao? Vì Như-lai chẳng từ đâu đến, cũng chẳng đi về đâu, nên gọi là Như-lai.</strong></span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Phật giảng như sau: “Tại sao vậy? Như-lai không phải từ một địa phương nào lại, cũng chẳng đi tới một chỗ nào khác nên gọi là Như-lai.”</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Chúng ta nên biết rằng Pháp thân Phật là “chẳng ở, mà chẳng phải không ở” (vô tại vô bất tại), vì Pháp thân trùm khắp mọi nơi. Nếu đã trùm khắp hết cả mọi nơi thì sao có thể nói là Phật đến? Vậy đến từ chỗ nào? Còn bảo rằng Phật đi, thì Phật đi đâu? Nếu chúng ta hiểu Phật-pháp thì tất cả sông núi đất đai, đâu cũng là Pháp thân Phật; còn không hiểu Phật-pháp thì dù có thấy Như-lai cũng không biết. Biết nhận thức Như-lai mới dễ dụng công tu hành, không biết nhận thức Như-lai thì rất khó tu học, bởi tu mà hồ đồ thì chẳng khác gì nhờ người mù dẫn lối.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Theo người mù là như thế nào? Như người không có mắt, lại theo gót một người khác không có mắt, rồi hai người này cứ đi tới đi lui, đi cho tới lúc rớt xuống biển, không lên được mà cam phận chết chìm. Khi ta không hiểu thì ta càng đi xa đích. Nếu ta hiểu rồi thì ta sẽ tới mục tiêu một cách dễ dàng. Hiểu rõ Phật-pháp rồi ý chiếu tu hành thì thành Phật, còn theo ngoại đạo thì càng ngày càng xa, không dễ gì quay đầu lại, cuối cùng chẳng có ngày trở về cội nguồn, đó là một điều vô cùng nguy hiểm.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Về chữ “Như-lai” thì chữ “Như” có ý nghĩa bất động; “Lai” có nghĩa động. Bất động là tĩnh, động là động. Động tĩnh nhất như, động không làm trở ngại tĩnh, tĩnh không làm trở ngại động. Tu hành là vậy, khi ở trong tư thế tĩnh tọa thì tham thiền, mà khi cử động cũng tham thiền. Từ sớm đến tối, mọi cử chỉ, đi, đứng, nằm, ngồi, đều phải dụng công tu hành, chẳng phải chỉ lúc nào ngồi thiền mới là dụng công. Bất cứ thời khắc nào người tu cũng phải nhiếp tâm, từng giờ từng khắc hồi quang phản chiếu, không để ý tưởng buông lung. Tu hành là phải như vậy đó.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ai có nghi vấn đó là do tâm họ chấp trước, chớ chẳng phải Phật có đi có đến mà tâm của người đó có đi có đến. Lấy một tỷ dụ để giảng như câu “nước trong trăng hiện,” nghĩa là khi nào mặt nước trong lặng thì thấy dưới nước có mặt trăng hiện ra, và câu “mây che trăng ẩn,” ý nói khi nào bầu trời có mây thì mặt trăng không ló rạng. Bây giờ thử hỏi “nước trong trăng hiện,” có phải là vì mặt trăng tự nó đến ư? “Mây che trăng ẩn,” có phải là vì mặt trăng tự nó đi chăng?</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Lại có người khi thấy mây bay trên trời, cho rằng đó là trăng đi. Có người ngồi dưới thuyền, không biết thuyền trôi mà cho là hàng cây bên bờ chạy. Bởi lẽ Phật hóa thân nên người ta mới thấy có đi có đến. Thanh Tịnh Pháp Thân Tỳ Lô Giá Na Phật thì chẳng đến chẳng đi, đây là giảng về Pháp thân Phật, các vị chớ nên lầm lẫn Pháp thân với Hóa thân. </span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong><em>Khứ lai hóa thân Phật,</em></strong></span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong><em>Như-lai thường bất động,</em></strong></span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong><em>Ư thị pháp giới xứ,</em></strong></span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong><em>Phi nhất diệc phi dị.</em></strong></span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ý của bài kệ nói Hóa thân của Phật thì có đi có đến, còn Như-lai thì thường hằng bất động. Trong pháp giới chẳng phải chỉ có một, cũng chẳng phải có nhiều. Nay chúng ta nên hiểu thấu điều này: Như-lai chẳng phải là đi hay đến, mà vì trong tám thức của chúng ta có kiến phần. Chúng ta phân biệt sự đi và đến của Như-lai chính là do ở kiến phần này. Tại sao Kinh lại dạy chúng ta không nên nghĩ rằng Phật hoặc đi, hoặc đến, hoặc ngồi, hoặc nằm? Chính vì muốn dạy chúng ta đừng khởi tâm phân biệt. Nếu đoạn trừ được tâm phân biệt, tức trí huệ bát-nhã sẽ hiện tiền. Bát-nhã trong chúng ta hiện ra ít, chỉ vì tâm phân biệt của chúng ta nhiều, nhiều đến nỗi chiếm hết chỗ, không để cho trí huệ ló hiện.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Tám thức vốn thanh khiết nhưng vì chứa đựng tâm phân biệt nên đã biến thành uế tạp. Nếu chúng ta có thể đoạn trừ tâm phân biệt, giống như quét dọn rác rưởi thì tất cả sẽ trở lại tình trạng thanh khiết và trí huệ sẽ hiện tiền.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong><em>Nam Mô Thanh Tịnh Pháp Thân Tỳ Lô Giá Na Phật</em></strong></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong><em>Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật</em></strong></span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Thủ Lăng Nghiêm Tam-muội</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/thu-lang-nghiem-tam-muoi/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 26 Apr 2026 16:37:46 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài Luận]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://langnghiem.com/?p=7401</guid>

					<description><![CDATA[ Thủ-lăng-nghiêm tam-muội được coi là vua của các tam-muội. Tất cả thiền định giải thoát...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><img loading="lazy" decoding="async" class="alignleft size-full wp-image-4787" src="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/03/longHoa2.jpg" alt="" width="130" height="216" /> Thủ-lăng-nghiêm tam-muội được coi là vua của các tam-muội. Tất cả thiền định giải thoát tam-muội, thần thông như ý, vô ngại trí huệ đều gồm ở trong Thủ Lăng Nghiêm Tam-muội. Các pháp môn như là tam-muội, thiền định, biện tài, giải thoát, đà-ra-ni, thần thông, minh giải thoát thảy đều gồm trong Thủ Lăng Nghiêm Tam-muội. Bồ-tát hành Thủ Lăng Nghiêm Tam-muội thì tất cả tam-muội đều theo. Ví như sông ngòi khe suối, các dòng nước đều chảy về biển cả. Ví như Chuyển luân thánh vương có viên đại dũng tướng, bốn đội binh đều dưới quyền chỉ huy của viên tướng ấy. Tất cả các pháp trợ bồ-đề đều theo Thủ-lăng-nghiêm tam-muội, thế nên tam-muội này gọi là Thủ Lăng Nghiêm.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Vì sao chúng ta phải tu hành Thủ Lăng Nghiêm Tam-muội. Vì muốn dứt năm trược ác, đó là:</span></p>
<ol>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Tham dục che đậy</strong>: Chẳng biết tại sao ? Người nam muốn tìm người nữ, người nữ muốn tìm người nam, đi tìm khắp nơi, tìm chẳng đặng thì sinh phiền não. Ðây tức là tham dục đang tác quái, khiến cho bạn sinh phiền não.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Sân hận che đậy</strong>: Vì tham dục chẳng đắc được, thì sinh ra phiền não sân hận. Sân là hình dáng lộ trên mặt, hận là tâm hận ẩn trong tâm. Hai thứ hiện trượng này, khiến cho người cảm tình hành động, thậm chí không có lý trí thì phát sinh chuyện điên đảo, cho đến giết người phóng lửa, chẳng có gì mà không làm.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Ngủ che đậy</strong>: Vì có sân hận bực tức, thì đi ngủ để giải cơn sầu. Nhưng càng ngủ thì càng hồ đồ, tâm cũng hôn mê, thân cũng nặng nề, thì che lấp tâm tánh.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Trạo hối che đậy</strong>: Sau khi ngủ mê thì trạo hối, chẳng biết đâu là đúng, đâu là không đúng, bèn mê hoặc.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Nghi pháp che đậy</strong>: Trạo hối rồi thì gì cũng chẳng tin, đối với tất cả pháp đều sinh ra tâm hoài nghi, do dự chẳng quyết định mà che lấp tâm tánh. Vì chẳng mãn túc mà sinh ra năm thứ che đậy, che đến nỗi trời đất u ám, chẳng biết đông tây nam bắc. Hoặc lấy tài sắc danh thực thùy làm năm thứ che đậy, tham tài thì che lấp trí huệ, tham sắc, tham danh, tham ăn, tham ngủ, đều che lấp trí huệ.</span></li>
</ol>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Chúng ta muốn lià năm cáo tâm trược ác thì bắt đầu từ đâu. Hãy phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề đi! Vì phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề hay phát Bồ Đề Tâm, mà khiến chúng ta được giải thoát sự trói buộc. Bồ đề dịch là giác đạo. Chúng ta người tu đạo, nhất định phải phát tâm giác đạo, tức cũng là tâm bồ đề. Tâm bồ đề là gì? Nói đơn giản tức là trên cầu Phật đạo, dưới độ chúng sinh. &#8220;Phát tâm bồ đề lớn, Thì thành tựu quả lớn.&#8221;</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><em><strong>Hỏi</strong></em>: Bồ Tát ban đầu phát tâm bồ đề, đắc được bao nhiêu công đức?</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><em><strong>Đáp</strong></em>: Nếu như có người, đem tất cả nhạc cụ, cúng dường cho hết thảy chúng sinh trong mười phương mười A tăng kỳ thế giới, trải qua trăm kiếp. Sau đó dạy khiến cho họ tu mười điều lành. Cúng dường như vậy, trải qua ngàn kiếp, sau đó dạy họ trụ ở tứ thiền. Trải qua trăm ngàn kiếp, dạy họ trụ ở bốn tâm vô lượng. Trải qua ức kiếp, dạy họ trụ ở bốn định vô sắc. Trải qua trăm ức kiếp, dạy họ trụ ở quả Tu đà hoàn. Trải qua ngàn ức kiếp, dạy họ trụ ở quả Tư đà hàm. Trải qua trăm ngàn ức kiếp, dạy họ trụ ở quả A na hàm. Trải qua Na do tha ức kiếp, dạy họ trụ ở quả A la hán. Trải qua trăm ngàn Na do tha ức kiếp, dạy họ trụ ở quả Bích Chi Phật. Công đức của người đó, so với Bồ Tát ban đầu phát Bồ Đề Tâm, chẳng bằng một phần trăm, một phần ngàn, một phần trăm ngàn, cho đến chẳng bằng một phần ưu ba ni sa đà.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Tạo sao: Vì những việc thiện đó là để gieo giống cho tương lai pháp tâm vô thượng bồ đề. Vậy tại sao chúng ta phải đợi tới tương lai trong ngàn kiếp sau mới phát tâm vô thượng bồ đề. Hãy mau quỳ xuống chấp tay ngưỡng đầu lên, mà nói: &#8220;Hôm nay con xin pháp tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.&#8221;</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Cũng như đức Phật thuyết bộ kinh Thủ Lăng Tam Muội Kinh là mong quý vị đọc kinh để hiểu sự quan trọng của việc gieo hạt giống Bồ đề, để tương lai có thể pháp tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Vì sao?</span></p>
<ul>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Vì muốn tiếp quý vị nối huệ mạng của Phật, khiến cho chủng tánh của Phật chẳng dứt. Nghĩa là khiến cho huệ mạng của Phật tiếp tục tồn tại vĩnh viễn, khiến cho đèn trí huệ của Phật chiếu sáng mãi mãi, chiếu soi tất cả thế giới, vì khiến cho hạt giống Phật vĩnh viễn trụ thế.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Vì khiến cho Phật pháp đầy khắp hết thảy tất cả thế giới. Phật thấy tất cả chúng sinh ở thế giới Ta Bà và thế giới khác đều khổ nhiều vui ít, trầm mê chẳng ngộ, cho nên khiến cho chúng sinh quay lưng trần lao hợp với giác ngộ, mới có thể lìa khổ được vui, chấm dứt sinh tử.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Vì độ thoát hết thảy chúng sinh trong tất cả thế giới, cho nên Phật mới phát tâm bồ đề.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Vì hết tất cả thế giới thành trụ hoại không bốn tướng. Trái đất có thành trụ hoại không, con người có sinh già bệnh chết, vật có sinh trụ dị diệt, nhất định là có lý do.</span></li>
</ul>
<ul>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Vì biết hết tất cả chúng sinh trong tất cả thế giới, nhiễm như thế nào ? Ðược thanh tịnh như thế nào ? Nếu nhiễm pháp thế gian tức là nhiễm ô. Nếu xả bỏ pháp thế gian, bỏ mê về giác, trở về nguồn cội, tức là thanh tịnh.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Vì biết hết tất cả thế giới tự tánh là thanh tịnh.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Vì muốn biết sự ưa thích, sự phiền não, hết thảy tập khí ở trong tâm của tất cả chúng sinh.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Vì muốn biết hết thảy chúng sinh, nguyên nhân gì, ở nơi này chết? Lại sinh ra ở nơi khác.</span></li>
</ul>
<ul>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Vì biết hết đủ thứ căn tánh của tất cả chúng sinh, dùng pháp môn phương tiện gì có thể giáo hóa chúng sinh.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Vì biết hết tâm nghĩ, biểu hiện hành động ở trong tâm của tất cả chúng sinh. Vì chúng sinh mê hoặc quá sâu, chẳng biết trở về nguồn cội, cho nên Bồ Tát mới phát tâm bồ đề.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Vì biết hết trí huệ ba đời của tất cả chúng sinh. Ba đời là đời quá khứ, đời hiện tại, đời vị lai. Cũng có thể nói hôm qua, ngày nay, ngày mai. Và cũng có thể nói năm qua, năm nay, năm tới. Tóm lại, bất cứ nói như thế nào cũng đều có thể thành lập ba đời. Do đó ‘’pháp vô định pháp,’’ pháp chẳng có nhất định, đừng chấp trước.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Vì muốn biết cảnh giới của tất cả chư Phật, cảnh giới của chúng sinh, cảnh giới của tâm, đều là bình đẳng. Do đó: ‘’Tâm, Phật và chúng sinh, cả ba chẳng khác biệt.’’ Vì muốn quý vị gieo đủ thứ nhân duyên, mong quý vị phát tâm vô thượng bồ đề.</span></li>
</ul>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Vì muốn biết phần phiền não tham, phần phiền não sân, phần phiền não si, phiền não đẳng phần. Đoạn trừ tất cả gốc rễ phiền não. Người phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, chẳng phải Phật, cũng chẳng phải Bồ Tát mà là chúng ta người tu đạo. Vì Phật, Bồ Tát đã phát tâm bồ đề. Tức đã biết đủ thứ cảnh giới vừa nói ở trên, đủ thứ đạo lý. Quý vị phải dũng mãnh tinh tấn, đừng giải đãi, hoặc phóng dật, hay mau chắp tay và phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Kinh Hoa Nghiêm ghi rằng: &#8220;Quý vị ban đầu phát tâm, mới hành đạo Bồ Tát, thì lập tức được tất cả chư Phật trong mười phương cùng tán thán khen ngợi: ‘’A ! Trên thế giới, lại có một người phát tâm bồ đề, tương lai nhất định sẽ thành Phật quả. Lành thay ! Lành thay ! Vị nam tử này rất có chí khí, phát tâm hành Bồ Tát đạo, đáng mừng, đáng mừng.’’</span></p>
<p><em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Dục kiến thập phương nhất thiết Phật</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Dục thí vô tận công đức tạng</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Dục diệt chúng sanh chư khổ não</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nghi ưng tốc phát Bồ-đề tâm.</span></strong></em></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Muốn thấy được mười phương ba đời tất cả chư Phật chăng? Vậy thì phải phát tâm bồ đề. </span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Muốn thành tựu tạng công đức vô cùng tận chăng? Vậy thì phải phát tâm bồ đề. </span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Muốn diệt trừ tất cả phiền não của chúng sinh chăng? Vậy thì phải phát tâm bồ đề. </span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Hãy nên mau phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, mới đạt được mục đích hy vọng là cứu kính Niết Bàn.</span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Tập tụ trong Tứ Diệu Đế</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/tap-tu-trong-tu-dieu-de/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 25 Apr 2026 22:06:40 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài Luận]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://langnghiem.com/?p=7386</guid>

					<description><![CDATA[Sau thời giác thủy, là sau 21 ngày đức Phật Thích Ca đắc đạo dưới...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><img loading="lazy" decoding="async" class="alignleft size-full wp-image-7388" src="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2026/04/tudieude.jpg" alt="" width="216" height="144" />Sau thời giác thủy, là sau 21 ngày đức Phật Thích Ca đắc đạo dưới cây Bồ Đề, diễn nói Kinh Hoa Nghiêm, đức Phật mới đến vườn Lộc Uyển, vì năm anh em Kiều Trần Như mà ba lần chuyển pháp luân (thị chuyển, khuyến chuyển, chứng chuyển).  Tôn giả Kiều Trần Như khai ngộ trước nhất, sau đó bốn vị kia cũng khai ngộ. </span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Phật nói lần đầu gọi là thị chuyển pháp luân:</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">&#8220;Ðây là khổ, tánh bức bách.</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ðây là tập, tánh chiêu cảm.</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ðây là diệt, tánh khả chứng.&#8221;</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ðây là đạo, tánh khả tu.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Lại nói tiếp được gọi là khuyến chuyển pháp luân:</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">&#8220;Ðây là khổ, ông nên biết.</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ðây là tập, ông nên đoạn.</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ðây là diệt, ông nên chứng.</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ðây là đạo, ông nên tu.&#8221;</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Lại nói tiếp được gọi chứng chuyển pháp luân”.</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">&#8220;Ðây là khổ, ta đã biết.</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ðây là tập, ta đã đoạn.</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ðây là diệt, ta đã chứng.</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ðây là đạo, ta đã tu.&#8221;</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">&#8220;Biết khổ, dứt tập, mộ diệt, tu đạo.’’ Nghĩa là: Phải biết khổ, phải đoạn trừ tập, phải hâm mộ cảnh giới tịch tĩnh, phải tu hành con đường của bậc Thánh nhân. Ðây là ý nghĩa đại khái về bốn Thánh Ðế. </span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Có hai thứ khổ : Một là dục khổ, hai là si khổ.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Dục khổ</strong>: Là các sự khổ về căn bản, ví như tham tiền tài, thì có tài dục, tham sắc thì có sắc dục, tham danh thì có danh dục, tham ăn thì có ăn dục, tham ngủ thì có ngủ dục, đó là năm dục.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Si khổ</strong>: Tức là khổ vì ngu si. Người ngu si thì chẳng rõ thị phi, chẳng màng thiện ác. Việc tốt cho mình thì nỗ lực mà làm, cứ làm việc điên đảo, tương lai chắc chắn sẽ thọ quả báo. Người ngu si chấp trước tất cả đều thuộc về sở hữu của mình, trong hoàn cảnh chẳng phân biệt trắng đen, thì có hành vi oán trời trách người.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Lại có ba thứ khổ khác đó là : Khổ khổ, hoại khổ và hành khổ, và tám thứ khổ: Khổ về sinh, khổ về già, khổ về bệnh, khổ về chết, khổ về ái biệt ly, khổ về oán tắng hội, khổ về cầu bất đắc, khổ về ngũ ấm xí thạnh. Ngoài ra còn có vô lượng thứ khổ. Bài viết hôm nay chúng ta sẽ nói về Tập Thánh Đế</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>— o0o —</strong></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 20px; color: #993300; font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Tập Thánh Đế</strong></span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Tập Thánh Ðế: Tập nghĩa là tập tụ, tức là tập tụ phiền não lại với nhau, khiến cho bạn khởi hoặc, tạo nghiệp, thọ quả báo. Tuy phiền não là do tập tụ mà thành, song, chủ yếu là do tự tánh chiêu lại. Nếu rác rến trong tâm mà quét trừ sạch sẽ, thì chẳng khởi vọng tưởng, chẳng sinh phiền não. Khi tâm sáng như gương thì trí huệ sẽ hiện tiền, chẳng làm việc điên đảo mộng tưởng. Có vô lượng tập tụ phiền não làm cho khổ. Hôm nay chúng ta chỉ nói sơ qua 100 tên của tập tụ phiền não trong bộ kinh Hoa Nghiêm</span></p>
<ul>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Trói buộc</strong>: Phàm là bị tình trói, bị ái buộc đều là tập.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Diệt hoại</strong>: Sự an vui mà tiêu diệt hết, sự khoái lạc mà phá hoại hết thì đương nhiên là khổ.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Ái trước nghĩa</strong>: Ái mà chẳng xả bỏ, lại chấp trước nó, cho rằng là tốt.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Vọng giác niệm</strong>: Tức là giác niệm lầm lẫn, giác ngộ sai lầm.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Thú nhập</strong>: Nơi thú hướng phiền não, giống như hãm ở trong bùn, chẳng rút hai chân ra được.</span></li>
</ul>
<ul>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Quyết định</strong>: Quyết định có phiền não, mà mình vẫn chẳng biết, chẳng giác ngộ.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Võng</strong>: Bị lưới bao vây chẳng được tự do. Ðó giống như cá ở trong ao hồ sông biển, tiêu dao tự tại, bất hạnh bị mắc lưới, rất nguy hiểm cho tánh mạng.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Hí luận</strong>: Chẳng phải lời chân thật mà là lời tiếu.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Tùy hành</strong>: Tức là tùy theo phiền não mà hành.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Điên đảo căn</strong>: Tập là căn bản của điên đảo.</span></li>
</ul>
<ul>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Thuận sinh tử</strong>: Tùy thuận lưu chuyển sinh tử chẳng ngừng.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Nhiễm trước</strong>: Tức là nhiễm ô chấp trước.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Thiêu đốt</strong> : Giống như dùng lửa để thiêu đốt.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Lưu chuyển</strong> : Tức là lưu chuyển luân hồi sinh tử không ngừng.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Bại hoại căn</strong> : Tức là bại hoại tất cả hạnh lành căn bản.</span></li>
</ul>
<ul>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Tục các cõi</strong> : Kế tục tam giới hai mươi lăm cõi</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Ác hạnh</strong> : Làm toàn những việc ác.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Ái trước</strong> : Tham ái năm dục, chấp trước năm dục.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Nguồn bệnh</strong> : Bệnh từ phiền não sinh ra, nếu chẳng còn phiền não thì gốc bệnh chẳng còn nữa.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Phần số</strong> : Ai ai cũng có một phần phiền não, phiền não đó số chẳng rõ ràng.</span></li>
</ul>
<ul>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Bại hoại</strong> : Vì có phiền não, cho nên bại hoại.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Si căn</strong> : Tức là căn bản ngu si. Chúng ta mỗi người vốn có trí huệ và đức hạnh của Phật, nhưng vì dùng quá độ, cho nên biến thành ngu si. Giống như dầu thắp đèn, nếu ngày nào cũng đốt thì dầu dần dần sẽ giảm bớt, quang minh (ánh sáng) cũng từ từ lu mờ, cuối cùng thì biến thành đen tối. Ðen tối tức là vô minh. Có vô minh thì ngày ngày khởi vọng tưởng, vọng tưởng tức là gốc rễ của ngu si.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Đại oán</strong> : Oán hận đông, oán hận tây, dần dần trở thành đại oán.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Bén nhọn</strong> : Khổ tập Thánh Ðế nầy là thanh đao bén nhọn nhất, có hại rất lớn đối với người, cho nên trong kinh có nói: « Dục niệm có hại lớn đối với người, giống như mật ở trên đao nhọn, rất nguy hiểm có hại cho sự cắt lưỡi.’’</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Diệt vị</strong> : Vì lúc có phiền não thì ăn đồ ăn cũng chẳng có mùi vị.</span></li>
</ul>
<ul>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Cừu đối</strong> : Có tâm cừu hận muốn trả thù.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Phi kỷ vật</strong> : Thứ phiền não nầy vốn chẳng phải là của mình, mà từ bên ngoài đến.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Ác đạo dẫn</strong> : Ðây là ác tri thức, dẫn bạn đi vào nơi hiểm ác.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Tăng hắc ám</strong> : Tăng thêm hắc ám nên chẳng có quang minh, tức cũng chẳng có trí huệ.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Hoại thiện lợi</strong> : Phàm có lợi lành đối với bạn, thì nó đều phá hoại, cho nên tập nầy chẳng phải là vật tốt.</span></li>
</ul>
<ul>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Vật không thật</strong> : Phiền não vô minh đều là hư vọng mà sinh, hư vọng mà diệt, là chẳng có thật tại.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Đãn hữu ngữ</strong> : Nhưng có danh từ mà thôi.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Chẳng trắng sạch</strong> : Tập là thứ có ô nhiễm, chẳng trong sạch.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Sinh địa</strong> : Sinh ra ở nơi có phiền não.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Chấp lấy</strong> : Chấp giữ thủ trước làm của mình.</span></li>
</ul>
<ul>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Bỉ tặc</strong> : Là vật đê tiện chẳng có giá trị.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Tăng trưởng</strong> : Tăng trưởng gì ? Tăng trưởng ác căn.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Gánh nặng</strong> : Khiến cho chúng sinh tăng thêm khổ.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Năng sinh</strong> : Hay sinh phiền não.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Thô bạo</strong> : Rất thô dã, rất hung ác. Ðó là tánh chất và biệt danh của tập.</span></li>
</ul>
<ul>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Khả ác</strong> : Chẳng thọ hoan nghênh khiến cho người nhàm chán.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Danh tự</strong> : Chẳng có đạo lý hiện chân thật, chỉ có danh từ ác hư vọng.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Vô tận</strong> : Tích tập nghiệp và phiền não vô tận vô biên.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Phần số</strong> : Hai mươi lăm cõi mỗi cõi đều có một phần.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Khả ái</strong> : Tập đế nầy không thể tham ái.</span></li>
</ul>
<ul>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Hay bắt cắn</strong> : Tập đế nầy hay đánh nhau, hay cắn nhau, như cầm thú bắt lấy cắn ăn, có thể ăn nuốt trí huệ và sinh mạng.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Thô bỉ</strong> : Tập đế nầy là vật rất bỉ ổi, rất hạ tiện.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Ái trước</strong> : Tập đế nầy hay khiến cho tất cả chúng sinh luyến ái nó, chấp trước nó.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Khí</strong> : Nó là khí huyết chở đựng phiền não, nó là khí huyết chở đựng vô minh.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Động</strong> : Tánh của nó luôn luôn giao động, tụ tập phiền não lại với nhau</span></li>
</ul>
<ul>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Tham trước</strong> : Tham trước năm dục, tham trước tình nam nữ.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Ác thành biện</strong> : Ác đã thành biện thì thọ thân sau.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Quá ác</strong> : Có lỗi lầm, có tội ác.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Mau lẹ</strong> : Tập nầy rất mau phải thọ quả báo.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Chấp lấy</strong> : Hay chấp giữ lấy, tức là tham.</span></li>
</ul>
<ul>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Tưởng</strong> : Tập nầy là do vọng tưởng phiền não mà tạo thành.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Quả</strong> : Tạo tập rồi thì tương lai phải thọ quả khổ.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Không thể nói</strong> : Vì phiền não nhiều quá, cho nên không thể nói.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Không thể lấy</strong> : Chẳng có gì để lấy, vì nó là do phiền não mà thành.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Lưu chuyển</strong> : Có tập rồi thì lưu chuyển trong sáu nẻo luân hồi không ngừng.</span></li>
</ul>
<ul>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Bại hoại</strong> : Tập làm bại hoại tất cả căn lành.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Hỗn trược</strong> : Tập là phiền não, hỗn trược như nước đục.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Thối thất</strong> : Tập hay khiến cho con người thối thất tâm bồ đề.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Không có sức</strong> : Không có sức lực để tăng trưởng căn lành.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Tán mất</strong> : Tán mất bồ đề tâm, tán mất chứng quả vị.</span></li>
</ul>
<ul>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Trái ngược</strong> : Chẳng thuận tình lý, trái ngược thường lý.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Không hòa hợp</strong> : Tức là chẳng hòa hợp với nhau.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Sở tác</strong> : Làm những gì đều là nghiệp báo.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Lấy</strong> : Nguyện lấy vô minh phiền não.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Ý dục</strong> : Sở ý hy vọng là phiền não, là vô minh, là vọng tưởng, là chấp trước.</span></li>
</ul>
<ul>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Đất rộng</strong> : Ðất có phiền não rộng lớn tụ tập.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Năng thú</strong> : Hay thú hướng đến ba đường ác.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Viễn huệ</strong> : Xa lìa trí huệ Bát nhã.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Lưu nạn</strong> : Lưu lại rất nhiều tai nạn.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Sợ hãi</strong> : Có sự sợ hãi uy hiếp.</span></li>
</ul>
<ul>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Phóng dật</strong> : Tức là chẳng giữ quy cụ, tự ý phóng túng.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Nhiếp lấy</strong> : Nhiếp lấy tất cả phiền não lại với nhau.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Trước xứ</strong> : Tức là nơi chấp trước.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Chủ nhà</strong> : Chủ nhân trong nhà khổ.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Trói lại</strong> : Bị trói lại với nhau, chẳng được tự do, chúng ta phàm phu bị năm dục trói buộc nên chẳng được giải thoát.</span></li>
</ul>
<ul>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Đất</strong> : Ðất hay sinh trưởng phiền não.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Phương tiện</strong> : Tụ tập phiền não rất phương tiện.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Phi thời</strong> : Chẳng có thời gian nhất định.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Pháp chẳng thật</strong> : Chẳng phải pháp chân thật.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Không đáy</strong> : Ðộng không đáy nầy, dù bao nhiêu phiền não cũng lấp chẳng đầy.</span></li>
</ul>
<ul>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Nhiếp lấy</strong> : Nhiếp lấy tất cả phiền não lại.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Lìa giới</strong> : Lìa khỏi giới luật nên không thể ngừa ác phòng trái.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Pháp phiền não</strong> : Là phương pháp sinh phiền não.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Thấy hạn hẹp</strong> : Thấy hiểu rất hạn hẹp, do đó, thấy gần chẳng thấy xa, thấy mình chẳng thấy người.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Cấu tụ</strong> : Bụi bặm tụ lại với nhau.</span></li>
</ul>
<ul>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Hạnh</strong> : Có một hạnh khổ.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Phẫn độc</strong> : Tức là độc phẫn nộ.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Hòa hợ</strong>p : Phiền não hòa hợp mà thành tập đế.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Thọ chi</strong> : Tức là thọ chi trong pháp mười hai nhân duyên.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Ngã tâm</strong> : Do ngã tâm mà sinh phiền não.</span></li>
</ul>
<ul>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Tạp độc</strong> : Ðủ thứ độc tạp nhiễm tập tu vói nhau.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Hư xưng</strong> : Danh xưng hư vọng.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Trái ngược</strong> : Ðạo lý trái ngược tự tánh.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Nhiệt não</strong> : Phiền não nóng bức.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Kình hãi</strong> : Phiền não khiến cho người kình kì sợ hãi.</span></li>
</ul>
<ul>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Chế phục</strong> : Nên chế phục phiền não khổ, phải biết lìa khổ, sau đó mới đắc được khoái lạc. Trước khi mỗi lần chúng ta giảng kinh đều có người thỉnh pháp, muốn cầu lìa khổ được vui. Song, ai ai cũng muốn lìa khổ, cũng chẳng muốn được vui, Tại sao ? Ðó tức là chỗ kỳ quái của tánh người. Càng dạy họ lìa khổ, thì họ càng muốn gần khổ.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Tâm hướng</strong> : Tâm của phàm phu tục tử thì hướng về phiền não. Dạy họ mau đến chỗ an vui thì họ chẳng tu hành, đều muốn đi đến chỗ ác.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Hay trói</strong> : Hay che lấp trí huệ của chúng sinh, hay trói chặt thần thông của chúng sinh.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Tùy niệm khởi</strong> : Phiền não tùy theo tâm niệm mà khởi. Một khi vọng niệm sinh ra thì có phiền não. Nếu chẳng có vọng niệm thì chẳng có phiền não.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Đến phía sau</strong> : Tập là đi đến phía sau ba đường ác, đạo là đi đến phía trước nơi bốn cõi Thánh.</span></li>
</ul>
<ul>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Cùng hòa hợp</strong> : Thiện ác hỗn tạp với nhau, cùng hòa hợp với nhau. Có thiện ác thì có phiền não, có phiền não thì có nghiệp chướng.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Phân biệt</strong> : Có tâm phân biệt thì có phiền não.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Cửa</strong> : Cửa của các sự khổ, cửa của phiền não.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Thổi động</strong> : Tánh giao động chẳng định.</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Ẩn che</strong> : Ẩn che giấu tội lỗi của mình, không nói cho người biết.</span></li>
</ul>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">100 tên của tập tụ phiền não là con đường cho chúng sanh đi đến tự giác. Tự giác là bất cứ làm việc gì, đều hồi quang phản chiếu, cầu nơi chính mình, có tinh thần phản tỉnh. Nói cách khác nghĩa là mình chẳng hồ đồ, chẳng hồ đồ tức là minh bạch thật sự. Minh bạch thật sự thì lợi ích chúng sinh.</span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Sanh do Thức ấm mà có, Diệt từ Sắc ấm mà Trừ</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/sanh-do-thuc-am-ma-co-diet-tu-sac-am-ma-tru/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 19 Apr 2026 04:26:53 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài Luận]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://langnghiem.com/?p=7366</guid>

					<description><![CDATA[Trong duy thức học có câu: &#8220;Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức&#8221; Mọi...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><img loading="lazy" decoding="async" class="alignleft size-full wp-image-706" src="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/03/SanhDiet-300x202.jpg" alt="" width="300" height="202" />Trong duy thức học có câu: &#8220;Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức&#8221; Mọi thứ trên thế gian nầy đều do thức biến hiện.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Có người lại hỏi: Nếu vạn vật duy thức biến hiện và không có thực, vậy sông núi nó có từ đâu và sẽ đi về đâu, có từ bao giờ, và bao giờ tiêu mất. Thế nhưng tại sao ta vẫn thấy xe, thấy người, vẫn thấy có mọi sự tác dụng? Sông kia núi nọ khi ta chưa sanh nó đã có, khi ta chết rồi nó vẫn còn, thế sao gọi là thức biến? Hoặc như chiếc máy vi tính, khi khoa học chưa chế ra thì không ai biết, khi khoa học chế ra rồi người ta mới biết, thế sao gọi là thức biến?</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ðáp: biết rằng sông kia núi nọ khi ta chưa sanh nó đã có, khi ta chết rồi nó vẫn còn, vậy nó là có với ai? Còn với ai? Ai biết nó có? ai biết nó còn? Nếu khi ta đang sống trong hiện tại mà biết được núi sông khi ta chưa sanh hay sau khi ta chết, thì đó là cái biết theo tưởng tượng, mà tưởng tượng thì đâu phải ngoại thức.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Không phải núi mà thấy núi, là thức biến. Không phải sông mà thấy sông, là thức biến. Không phải vậy mà thấy vậy, là thức biến. Duy Thức là duy cái biết, do cái biết, hoặc y nơi cái biết (bỉ y thức sở biết).</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Như Cổ đức nói:” Vô biên cát hải tự tha bất cách ư mao đoan, thập thể cổ kim thủy chung bất ly ư đương niệm” </span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">(Muôn vàn thế giới cùng ở trên đầu mãy lông, ức kiếp xưa nay không lìa ngoài một niệm).</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Biến thức có hai cách:</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">1. Nhân duyên biến &#8211; có đủ nhân duyên mới hiện hữu, như sợi dây hiện hữu được do có duyên gai kế hợp lại, có tướng có dụng, chứ không phải như lông rùa, sừng thỏ. Mọi hiện hữu trong thế gian cũng vậy, do thức phân biệt danh tướng, sa éc, tâm, huân tập vào Tạng thức nhiều đời nhiều kiếp thành chủng tử (tập khí, thói quen) cố hữu, nên khi thức móng khởi thì liền hiện ra đủ các tướng đúng như khi được huân tập vào Tạng thức, và trong đó tự phân biệt ra Kiến phần có năng lực nhận biết và Tướng phần là đối tượng của nhận biết. Kiến, Tướng phần như vậy là nhân duyên biến. Ở đây, tất cả chỉ có thấy và bị thấy, biết và bị biết, chứ không gì khác. Không có gì là núi, sông, người, vật. Ðó là nhân duyên biến.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">2. Phân biệt biến &#8211; tức những điều do vọng tình phân biệt biến ra, hoàn toàn chủ quan ảo tưởng, như đi đạp nhằm sợi dây tưởng lầm là con rắn, hoặc như người bị bịnh cuồng loạn thấy cảnh giới thay đổi khác với ngày thường. Cũng như thế, Kiến phần biết và Tướng phần bị biết nói trên không phải là ngã và pháp; người và vật, nhưng tâm phàm phu phân biệt sai lầm cho đo là ngã và pháp, là người và vật. Nếu tướng ngã pháp này được huân tập mãi vào Tàng thức thành chủng tử có sẵn, thì khi thức móng khởi lên liền thấy ngã pháp.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Những gì do phân biệt biến thì dễ thay đổi, loại bỏ, những gì nhân duyên biến thì khó thay đổi loại bỏ. Và những gì do tâm thức riêng của mỗi người biến ra, gọi là biệt biến, thì dễ thay đổi, còn những gì do nhiều tâm thức của nhiều hữu tình chung biến ra, gọi là cộng biến, thì khó thay đổi.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Tất cả mọi tướng mà ta gọi là hiện hữu, đều là tướng hiện hữu của thức theo hai cách đó biến ra. Ðó là Duy thức biến. Nói Duy thức biến cũng đồng nghĩa với nói “y thức biến”. Như câu&#8221; “Bỉ y thức sở biến”, tức các pháp kia nương thức biến ra, hay nương thức khởi lên. Các Bộ phái Phật giáo khai triển và hệ thống Hóa các thứ tâm ấy, rõ nét nhất là phái Hữu bộ hệ thống Hóa thành 75 pháp, trong đó tâm là chủ yếu. Ðến Du-già Sư Ðịa Luận hệ thống hóa thành 200 pháp, đến Duy thức tông thì rút lại còn 100 pháp, gom vào năm vị, trong đó Tâm thức là chủ.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Năm vị, một trăm (100) pháp là:</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">1. Sắc là tướng của thức nhận biết, ngoài thức thì không có tướng sắc.</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">2. Tâm vương là tự thể của thức.</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">3. Tâm sở là quyến thuộc, sở thuộc của thức.</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">4. Bất tương ưng hành là cái bóng của Sắc, Tâm, Tâm sở hợp lại.</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">5. Vô vi pháp là thực tánh của thức.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Thức là một trong hết thảy pháp, nhưng thức có năng lực đặc biệt biết được cái khác và tự biết được mình, nó là chủ lực ở ngay trong mỗi mỗi chúng sanh. Chính cái biết này làm cho các pháp trong đồng nhất tính duyên khởi. Vô danh vô tướng, vô thỉ vô chung, vô trung vô biên (không trong không ngoài) nổi lên thiên hình vạn trạng, rồi mê muội chạy theo giả tướng thiên hình vạn trạng đó mà đắm trước, tạo nghiệp, buộc ràng theo nó, gây nên khổ đau.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">“Duy có nghĩa là giản biệt, ngăn không có ngoại cảnh; Thức có nghĩa là liễu giải, biểu thị có nội tâm”. Người thế gian nhờ có ánh sáng mặt trời, mặt trăng và đèn mà thấy được mọi vật; cái đó không phải là thấy, mà là nhãn thức. Nếu khi tối, không thấy sáng, mà gọi là không thấy được; vậy quý vị có thấy màu đen tối không? </span></p>
<ol>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Khi thấy sáng thì cái thấy không phải là sáng,</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Khi thấy tối thì cái thấy không phải là tối,</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Khi thấy hư không thì cái thấy không phải là hư không,</span></li>
<li><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Khi thấy ngăn bít thì cái thấy không phải là ngăn bít.</span></li>
</ol>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật giảng giải cho A-Nan sự khác biệt giữa nhãn thức và tánh thấy. Vậy Nhãn thức và Tánh thấy khác nhau chổ nào. Tánh thấy là khả năng nhận biết chân thật, còn nhãn thức là một trong những công cụ để thực hiện việc nhận biết đó trong đời sống hàng ngày. Tánh thấy là bản chất thấy. Và &#8220;nhãn thức&#8221; là sự nhận biết qua mắt. Nên biết khi thấy được iPhone, thì tánh thấy không phải là iPhone. Tánh thấy lìa iPhone và tánh thấy không liên quan gì đến iPhone. Cái thấy đó hay cái hình dạng iPhone trong đầu là do nhãn thức hay thức nhận biết.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Lục Tổ Huệ Năng nói: “vốn chẳng có một vật”, chẳng phải là bên ngoài vốn chẳng có một vật, bên ngoài thứ gì cũng có, nhưng trong tâm chẳng có. Cho nên tu hành là mình sửa đổi cái nhìn của mình qua bớt đi cái tâm phân biệt. Quý vị bắt đầu tu hành từ đâu? </span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Đó là bắt đầu từ Diệt trừ cái &#8220;Sắc ấm&#8221; trần. Trong kinh Kim Cang, tu hành bắt đầu từ &#8220;Sắc bất dị không, không bất dị sắc &#8230;&#8221;. Nếu tâm quý vị không chấp vê sắc thì cái Sắc đó là không. Cội nguồn của sắc ấm này sanh khởi trùng điệp. Sắc ấm sanh khởi từng lớp hỗ tương tuần hoàn với nhau, cùng hỗ trợ cho nhau. Sự sanh khởi hoại diệt hoại diệt xảy ra như thế nào? Một khi sắc chất biến mất, thì ấm trở thành không, nó sanh khởi từ thức, và sự hoại diệt bắt nguồn từ khi hình sắc tiêu trừ.</span></p>
<p><center></p>
<table style="width: 100%; height: 132px;">
<tbody>
<tr style="height: 132px;">
<td style="width: 100%; height: 132px;">
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif; font-size: 16px;"><em><strong><span style="color: #ff0000;">Sắc </span></strong></em>Thọ Tưởng Hành <span style="color: #ff0000;"><em><strong>Thức</strong></em></span></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif; font-size: 16px;"> Sanh do <span style="color: #ff0000;"><em><strong>Thức</strong> </em></span>mà có.  Diệt từ <strong><em><span style="color: #ff0000;">Sắc </span></em></strong>mà trừ</span></p>
</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p><center></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nói Duy thức chính là đưa ra lời khai thị, thức tỉnh người ta hãy tự giác, hãy quán tâm mình, nhìn lại cái năng lực thiên biến vạn hóa ở ngay trong mình để gạn lọc nó, trau dồi nó, sửa chữa nó phải biến hóa như thế nào để chỉ đem lại lợi lạc, chứ đừng gây ra đau khổ. Nói y thức biến còn có tác dụng đặc biệt là đối trị cái bịnh vọng ngoại tha hóa, để xoay nhìn lại mình, thấy lại mình vốn là chủ nhân ông của mọi hiện hữu, như thấy lại bổn lai diên mục. Từ đó chuyển bỏ dần lối thấy biết sai lầm gây đau khổ, thành cái Trí tuệ Bát-nhã, trí Ðại viên cảnh, xây dựng cảnh giới an vui tự tại.</span></p>
<p></center></center></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Thập Nhị Nhân Duyên</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/thap-nhi-nhan-duyen/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 11 Apr 2026 17:57:53 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài Luận]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://langnghiem.com/?p=7337</guid>

					<description><![CDATA[Trước khi đức Phật tái sanh trên cõi Ta Bà, các nhà ngoại đạo thường...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><img loading="lazy" decoding="async" class="alignleft size-full wp-image-7343" src="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2026/04/ThapNhiNhanDuyen.jpg" alt="" width="214" height="190" />Trước khi đức Phật tái sanh trên cõi Ta Bà, các nhà ngoại đạo thường nói vạn vật từ trời Ðại tự tại sanh. Có người nói từ trời Vĩ-nữu sanh. Có người nói từ sự hòa hợp sanh. Có người nói từ thời sanh. Có người nói từ thế tánh sanh. Có người nói từ biến hóa sanh. Có người nói từ tự nhiên sanh. Có người nói từ vi trần sanh. Có các sai lầm như vậy nên bị rơi vào tà kiến như: không nhân, tà nhân, đoạn, thường v.v&#8230; và các thuyết ngã, ngã sơ, không hiểu được chánh pháp. Phật muốn đoạn trừ các tà kiến ấy để làm cho hiểu được Phật pháp, nên trước hết đối với hàng ngoại đạo, Phật giảng giải mười hai nhân duyên: Vô Minh, Hành, Thức, Sắc, Lục Nhập, Xúc, Thọ, Ái, Thủ, Hữu, Sanh, Tử.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Vô Minh duyên Hành, </span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Hành duyên Thức, </span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Thức duyên Danh Sắc, </span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Danh Sắc duyên Lục Nhập,</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Lục Nhập duyên Xúc, </span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Xúc duyên Thọ, </span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Thọ duyên Ái, </span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ái duyên Thủ, </span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Thủ duyên Hữu, </span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Hữu duyên Sanh, </span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Sanh duyên Lão Tử.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Đức Phật thuyết Thập Nhị Nhân Duyên trong thời A-Hàm (đây là những năm đầu đức Phật thuyết những kinh điển cơ bản, nguyên thủy nhất của Phật giáo, ghi lại những lời dạy trực tiếp của Đức Phật về Tứ diệu đế, Bát chính đạo, Duyên khởi và Nghiệp. Đây là nền tảng giáo lý chung cho cả Phật giáo Nam tông và Bắc tông, tương đương với hệ tư tưởng Pali Nikaya)</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Sau thời A-Hàm, vào lúc A-Nan gặp con gái của Ma-đăng-già, đức Phật thuyết kinh Lăng Nghiêm. Trong kinh, đức Phật cũng giảng rõ ý nghĩa câu thứ ba, &#8220;Thức duyên Danh Sắc&#8221;, qua bài giảng về Sanh Diệt. </span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">&#8220;Sanh do Thức mà có, Diệt từ Sắc mà trừ&#8221;</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Năm trăm năm sau Phật diệt độ, vào thời tượng pháp, con người căn tánh trở nên ám độn, chấp trước sâu các pháp, đi tìm tướng quyết định thật có của mười hai nhân duyên, năm ấm, mười hai nhập, mười tám giới. Không hiểu ý của Phật, chỉ chấp vào văn tự, nghe trong pháp Ðại thừa nói “rốt ráo không”, nhưng không biết vì nhân duyên gì mà không, liền sanh tâm chấp kiến và nghi ngờ: “Nếu tất cả rốt ráo không, làm sao phân biệt có tội phước báo ứng, và như vậy sẽ không có Thế đế, và Ðệ nhất nghĩa đế?”. Chấp giữ lấy tướng không ấy, nên khởi lên lòng tham đắm, sanh ra nhiều điều sai lầm đối với nghĩa rốt ráo không.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Vì những lý do như vậy, nên trong thời tượng pháp, Bồ-tát Long Thọ đã tạo ra bài pháp:</span></p>
<p><strong><em><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Chẳng sanh cũng chẳng diệt</span></em></strong><br />
<strong><em><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Chẳng thường cũng chẳng đoạn</span></em></strong><br />
<strong><em><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Chẳng một cũng chẳng khác</span></em></strong><br />
<strong><em><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Chẳng đến cũng chẳng đi.</span></em></strong></p>
<p><strong><em><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nói pháp nhân duyên ấy</span></em></strong><br />
<strong><em><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Khéo trừ các hý luận</span></em></strong><br />
<strong><em><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Con cúi đầu lễ Phật</span></em></strong><br />
<strong><em><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Bậc thuyết pháp đệ nhất.</span></em></strong></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Đó là bài thơ pháp nói về 8 việc: sanh, diệt, thường, đoạn, một, khác, đến và đi. Với mục đích phá hết tất cả pháp.</span></p>
<p style="text-align: center;"><strong>— o0o —</strong></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #800000;"><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Sanh, diệt, thường, đoạn, một, khác, đến và đi</span></strong></span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Chẳng sanh là, vì các Luận sư có nhiều chủ trương khác nhau về tướng sanh. Có người nói nhân và quả là một. Có người nói nhân và quả là khác, hoặc cho trong nhân trước đã có quả, hoặc cho trong nhân trước không có quả, hoặc cho chính tự thể sanh, hoặc cho cái khác sanh, hoặc cho do tự và tha cộng sanh, hoặc cho do hữu sanh hoặc cho do không sanh (tự nhiên sanh, không có nguyên nhân). Những thuyết nói về tướng sanh của vạn vật như vậy, không đúng. Vì tướng sanh nhất định không thể có được nên nói chẳng sanh. Chẳng diệt là, nếu không có sanh thì đâu có cái gì diệt. Vì không có sanh diệt nên sáu việc kia cũng không có</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Vì sao còn nói thêm sáu việc kia? Vì để thành tựu ý nghĩa chẳng sanh chẳng diệt. Có người không lãnh nhận nghĩa chẳng sanh chẳng diệt, mà chỉ tin nhân nghĩa chẳng thường chẳng đoạn. Nếu tìm hiểu sâu nghĩa chẳng thường chẳng đoạn tức là nghĩa chẳng sanh chẳng diệt.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Vì sao? Vì các pháp nếu thật có, không thể không có, trước có mà nay không, tức là đoạn, nếu trước sẵn có tánh, tức là thường. Thế nên nói chẳng thường chẳng đoạn, liền nhập vào nghĩa chẳng sanh chẳng diệt. </span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Có người tuy nghe nói bốn môn (chẳng sanh, chẳng diệt, chẳng thường, chẳng đoạn) phá trừ các pháp, song còn bốn môn (một, khác, </span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">đến, đi) thành lập các pháp, việc ấy không đúng. Nếu là một thì không có nhân duyên, nếu là khác thì không có tương tục nhau. Sau đây sẽ phá từng loại. Thế nên lại nói chẳng một, chẳng khác.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Có người tuy nghe nói sáu môn (chẳng, chẳng diệt, chẳng thường, chẳng đoạn, chẳng một, chẳng khác) phá trừ các pháp, song còn </span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">dùng đến và đi để thành lập các pháp. Ðến là cho các pháp đến từ trời Tự Tại, hoặc thế tánh hoặc vi trần v.v&#8230; Ði là trở về lại chỗ cũ. Lại nữa, vạn vật không có sanh.</span></p>
<p style="text-align: center;"><strong>— o0o —</strong></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #800000;"><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Lấy gạo lúa làm ví dụ</span></strong></span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Vì sao? Vì thế gian hiện thấy. Thế gian mắt thấy kiếp ban sơ lúa chẳng sanh. </span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Vì sao? Vì lìa lúa trong kiếp ban sơ thì lúa hiện nay không thể có được. Nếu lìa lúa trong kiếp ban sơ mà lúa có hiện nay mới gọi là có sanh ra, song kỳ thật không như vậy.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nếu chẳng sanh thì phải diệt?</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ðáp: Chẳng diệt. Vì sao? Vì thế gian hiện thấy. Thế gian mắt thấy lúa trong kiếp ban sơ chẳng diệt, nếu diệt thì nay không thể có lúa, song kỳ thật có lúa. Thế nên chẳng diệt.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Hỏi: Nếu chẳng diệt thì phải thường?</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ðáp: Chẳng thường. Vì sao? Vì thế gian hiện thấy. Thế gian mắt thấy vạn vật chẳng thường, như khi hạt lúa mọc mầm, thì hạt lúa biến hoại. Thế nên chẳng thường.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Hỏi: Nếu chẳng thường thì phải đoạn?</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ðáp: Chẳng đoạn. Vì sao? Vì thế gian hiện thấy. Thế gian mắt thấy vạn vật chẳng đoạn, như từ hạt lúa có mầm. Thế nên chẳng đoạn. </span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nếu đoạn thì không thể tiếp nối.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Hỏi: Nếu vậy vạn vật là một chăng?</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ðáp: Chẳng một. Vì sao? Vì thế gian hiện thấy. Thế gian mắt thấy vạn vật chẳng một, như hạt lúa không làm mầm, mầm không làm hạt </span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">lúa. Nếu hạt lúa làm mầm, mầm làm hạt lúa mới là một, song kỳ thật không như vậy. Thế nên chẳng một.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Hỏi: Nếu chẳng một thì phải khác?</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ðáp: Chẳng khác. Vì sao? Vì thế gian hiện thấy. Thế gian mắt thấy vạn vật chẳng khác . Nếu khác thì cớ sao phân biệt đây là mầm </span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">lúa, cành lúa, lá lúa mà không nói đây là mầm cây, cành cây, lá cây? Thế nên chẳng khác.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Hỏi: Nếu chẳng khác thì phải có đến?</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ðáp: Chẳng đến. Vì sao? Vì thế gian hiện thấy. Thế gian mắt thấy vạn vật không đến. Như mầm trong hạt lúa không từ đâu đến. Nếu đến thì mầm ấy phải từ chỗ khác đi đến, như chim đến đậu trên cây, song kỳ thật không như vậy. Thế nên chẳng đến.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Hỏi: Nếu chẳng đến thì phải có đi?</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ðáp: Chẳng đi. Vì sao? Vì thế gian hiện thấy. Thế gian mắt thấy vạn vật chẳng đi. Nếu có đi thì phải thấy mầm từ hạt lúa đi ra, như rắn từ trong hang bò ra, kỳ thật không như vậy. Thế nên chẳng đi.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>— o0o —</strong></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif; color: #800000;"><strong>Tứ Sanh</strong></span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Tứ Sanh: là tự sanh, tha sanh, cộng sanh, vô nhân sanh</span></p>
<p><em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Các pháp chẳng tự sanh</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Chẳng do cái khác sanh</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Chẳng cộng, chẳng vô nhân</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Vì vậy biết vô sanh.</span></strong></em></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Chẳng tự sanh là vạn vật không sanh ra từ chính tự thể nó, mà nhất định phải chờ đủ các nhân duyên mới sanh ra. Lại nữa, nếu pháp sanh ra từ chính tự thể nó, thì một pháp có hai thể, một là đối tượng được sanh, hai là chủ thể sanh. Nếu không cần các </span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">nhân, chỉ từ chính tự thể nó sanh ra, thì thành ra không có nhân duyên và sanh ra lại sanh nữa, không cần nhân duyên, thì sanh sanh mãi vô cùng. Vì tự không có, nên tha cũng không có. Vì sao? Vì có tự nên mới có tha. Nếu không sanh từ chính nó, thì cũng không sanh từ cái khác (nên tha sanh).</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">(Tự và tha) cộng sanh thì bị hai lỗi là lỗi tự sanh và lỗi tha sanh như trên. Nếu không có nguyên nhân mà có vạn vật thì đó là thường, việc ấy không đúng, vì không có nhân thì không có quả. Nếu không có nhân mà có quả, thì làm việc bố thí, giữ giới lại bị đọa vào địa ngục, mà làm mười điều ác, năm tội nghịch lại được sanh cõi trời, vì không có nguyên nhân.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: left;"><em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Như tự tánh các pháp</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Không ở trong các duyên</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Vì tự tánh: không có</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nên tha tánh cũng không.</span></strong></em></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Tự tánh của các pháp không có sẵn ở trong các duyên (tức các điều kiện tương quan) chỉ do các duyên hòa hợp lại nên có được tên gọi (là pháp nầy pháp kia). Tự tánh chính là tự thể. Trong các duyên không có tự tánh, vì tự tánh trong các duyên không có, nên không tự sanh. Tự tánh không có nên tha tính cũng không có. Vì sao? Vì nhân nơi tự tánh mà có tha tánh, tha tánh đối với cái khác cũng là tự tánh. Nếu phá tự tánh là phá tha tánh. Thế nên không thể từ tha tánh sanh. Nếu phá nghĩa tự tánh sanh, tha tánh sanh, tức là phá nghĩa (tự tánh tha tánh) cộng sanh.</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Còn nói không nhân sanh thì có lỗi lớn. Nói có nhân sanh còn bị phá, huống gì nói không nhân sanh. Ở trong bốn cách (tự sanh, tha sanh, cộng sanh, vô nhân sanh) trên, tìm tướng sanh không thể có được. Thế nên nói vô sanh.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: center;"><strong>— o0o —</strong></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #800000;"><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Bốn Duyên</span></strong></span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Hỏi: Học giả A-tỳ-đàm nói: Các pháp từ bốn duyên sanh, nay vì sao nói không sanh? Bốn duyên là gì? Là:</span></p>
<p><em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nhân duyên, Thứ đệ duyên</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Duyên duyên, Tăng thượng duyên</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Bốn duyên sanh các pháp</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Không có duyên thứ năm.</span></strong></em></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ðáp: Tất cả duyên đều gôm vào trong bốn duyên. Do bốn duyên ấy vạn vật được sanh khởi. </span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Nhân duyên</strong> là chỉ cho hết thảy pháp hữu vi. </span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Thứ đệ duyên</strong> là chỉ cho tâm, tâm sở pháp quá khứ, hiện tại, trừ tâm, tâm sở pháp tối hậu của vị A-la-hán quá khứ, hiện tại. </span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><strong>Sở duyên duyên và Tăng thượng duyên</strong> là chỉ cho hết thảy pháp.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: center;"><strong>— o0o —</strong></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif; color: #800000;"><strong>Nhân duyên</strong> &amp; <strong>Thứ đệ duyên</strong></span></p>
<p><em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Quả là từ duyên sanh</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Hay từ phi duyên sanh</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Duyên ấy sẵn có quả</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Hay là vốn không quả?</span></strong></em></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nếu bảo có quả thì quả ấy từ duyên sanh ra hay từ phi duyên sanh? Nếu bảo từ duyên sanh ra thì trong duyên ấy đã sẵn có quả hay không sẵn có quả? Cả hai đều không đúng. (Cứ cái gì từ nhân khác sanh ra, thì gọi là quả). Vì sao? Vì:</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nếu pháp nào sanh quả</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Gọi pháp ấy là duyên</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Thì quả khi chưa sanh</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Sao không gọi phi duyên?</span></strong></em></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Các duyên không có quyết định. Vì sao? Nếu quả chưa sanh, khi ấy không gọi nó là duyên. Chỉ khi con mắt thấy quả từ duyên sanh ra gọi đó là duyên, duyên thành là do nơi quả, vì quả có sau mà duyên có trước. Nên nếu khi chưa có quả thì đâu được gọi là duyên. Như cái bình do đất nước hòa hợp nên có cái bình sanh ra, vì thấy cái bình nên biết đất nước là cái duyên của cái bình, vậy nếu khi bình chưa có thì sao không gọi đất nước là phi duyên. Thế nên biết quả không từ duyên sanh, duyên còn không sanh, huống gì phi duyên.</span></p>
<p>
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Quả trước ở trong duyên</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Có không đều không thể</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Trước không làm duyên cho gì</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Trước có, đâu cần duyên.</span></strong></em></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Trong duyên trước chẳng phải có quả, chẳng phải không có quả. Nếu trước đã có quả, thì không gọi là duyên, vì quả đã có trước rồi. Nếu quả trước không có sẵn ở trong duyên, thì cũng không gọi là duyên, vì nó không sanh ra vật gì khác.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Hỏi: Ðã phá hết tất cả nhân duyên, bây giờ muốn nghe (lý lẽ) phá từng duyên một.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nếu quả chẳng có sanh</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Cũng lại chẳng không sanh</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Chẳng có, chẳng không sanh</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ðâu được nói có duyên.</span></strong></em></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nếu từ duyên sanh ra quả, thì phải có ba loại là hoặc đã có quả, hoặc không có quả, hoặc có và không có quả, như trong kệ trước đây nói: Ở trong duyên, nếu trước đã sẵn có quả, thì không nên gọi là sanh, vì đã có trước rồi, nếu trước không sau có quả, thì không thể nói là sanh, vì trước đã không có. Như vậy,duyên và không duyên giống nhau, vì có duyên hay không có duyên, quả cũng không sanh. Có và không có, tức là nửa có nửa không, cả hai đều có lỗi. Lại có và không có trái nhau, không có và có trái nhau, đâu được trong một pháp mà có hai tướng. Ba loại như vậy tìm tướng sanh của quả không thể có được thì sao nói có </span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">nhân duyên.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nếu khi quả chưa sanh</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Thì không thể có diệt</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Pháp diệt đâu thể duyên</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nên không thứ đệ duyên.</span></strong></em></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Các tâm, tâm sở pháp thứ lớp phát sanh trải qua ba đời. Tâm sở hiện tại diệt đi diệt lại làm Duyên thứ đệ tâm sở vị lai phát sanh. Vậy khi pháp vị lai chưa sanh, nó làm Duyên thứ đệ cho cái gì? Nếu pháp vị lai đã có sẵn thì liền sanh, chứ cần gì đến Duyên thứ đệ. Tâm, tâm sở hiện tại không có lúc nào an trụ, nếu không an trụ thì đâu có thể làm Duyên thứ đệ. Nếu an trụ thì nó chẳng phải là pháp hữu vi. </span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Vì sao? Vì hết thảy pháp hữu vi, thường có tướng hoại diệt. Nếu diệt thì không thể làm Duyên thứ đệ. Nếu cho pháp diệt rồi mà vẫn có, tức là thường, thường thì không có tội phước. Nếu bảo khi diệt có thể làm Duyên thứ đệ, thì khi diệt một nửa diệt, một nửa chưa diệt, không có cái thứ ba gọi là khi diệt.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Lại, Phật dạy hết thảy pháp hữu vi niệm niệm diệt, không có một giây phút ngưng, vậy làm sao nói pháp hiện tại có một phần sắp diệt, một phần chưa sắp diệt. Ông nói trong một niệm không có một phần sắp diệt, một phần chưa sắp diệt, thế là ông tự phá giáo pháp của ông.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Trong luận A-tỳ-đàm của các ông nói, có pháp diệt có pháp không diệt, có pháp sắp diệt, có pháp chưa sắp diệt. Pháp sắp diệt là pháp hiện tại, sắp muốn diệt. Pháp chưa sắp diệt là chỉ tất cả pháp hiện tại khác và pháp quá khứ, vị lai, pháp vô vi, trừ pháp hiện tại sắp diệt. Ấy gọi là pháp chưa sắp diệt. Thế nên không có Duyên thứ đệ.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: center;"><strong>— o0o —</strong></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #800000;"><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Sở duyên duyên &amp; Tăng thượng duyên</span></strong></span></p>
<p><em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Pháp chân thật vi diệu</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Như Chư Phật đã nói</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ðối pháp không duyên nầy</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Làm sao có duyên duyên.</span></strong></em></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Phật dạy các pháp Ðại thừa, hoặc có sắc không sắc, có hình không hình, hữu lậu vô lậu, hữu vi, vô vi, khi pháp tưởng pháp tánh, thì tất cả đều không, không tướng, không duyên, ví như muôn sông chảy vào biển, hòa đồng một vị, đó là pháp thật đáng tin, còn các pháp Phật nói ra để thích nghi theo căn cơ, không thể xem là thật. Thế nên không có Sở duyên duyên.</span></p>
<p style="text-align: center;"> </p>
<p><em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Các pháp không tự tánh</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nên không có tưởng có</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nói là có việc ấy</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Việc ấy có, không đúng.</span></strong></em></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Kinh nói mười hai nhân duyên, vì việc nầy có nên việc kia có, là không đúng. Vì sao? Vì các pháp từ các duyên sanh, tự nó không có tánh nhất định, tự nó không có tánh nhất định nên không có tướng thật có, tướng thật có không có, vậy làm sao nói do việc ấy có nên việc kia có. Thế nên không có tăng thượng duyên. Phật tùy theo chỗ phàm phu phân biệt có và không, nên nói các duyên.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Trong nhân duyên lược, rộng</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Tìm quả không thể được</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Trong nhân duyên không có</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Thì sao từ duyên sanh.</span></strong></em></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Lược là ở trong nhân duyên hòa hợp không có quả. Rộng là trong mỗi mỗi duyên cũng không có quả. Nếu trong nhân duyên lược hoặc </span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">rộng đều không có quả, làm sao nói quả từ nhân duyên xuất sanh.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nếu bảo duyên không quả</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Mà quả từ duyên ra</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Vậy vì sao quả ấy</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Chẳng từ phi duyên sanh.</span></strong></em></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nếu trong duyên tìm quả không thể có được, (nhưng quả từ nhân duyên xuất sanh) vậy cớ sao quả ấy không từ trong Phi duyên xuất sanh, như trong đất không có bình, (vẫn sanh ra bình), tại sao không từ trong sữa sanh ra bình.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nếu quả từ duyên sanh</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Duyên ấy không tự tánh</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Từ vô tự tánh sanh</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ðâu phải từ duyên sanh.</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Quả không từ duyên sanh</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Chẳng từ phi duyên sanh</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Vì quả không thật có</span></strong></em><br />
<em><strong><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Duyên, phi duyên cũng không.</span></strong></em></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Quả từ các duyên sanh, mà các duyên ấy không có tự tánh. Nếu không có tự tánh, thì không có pháp thật, không có pháp thật thì đâu có thể sanh được. Thế nên quả không từ duyên sanh. Không từ phi duyên sanh là vì phá duyên nên nói phi duyên, chứ thật không có pháp phi duyên, nên không từ phi duyên sanh. Nếu không từ duyên sanh, phi duyên sanh thì không có quả. Vì quả không có nên duyên và phi duyên cũng không có</span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Vô Tâm Niệm Phật</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/vo-tam-niem-phat/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 04 Apr 2026 16:07:44 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài Luận]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://langnghiem.com/?p=7321</guid>

					<description><![CDATA[Tà Niệm là gì? Tâm dâm dục chính là tà niệm, không có “tà niệm”...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;"><img loading="lazy" decoding="async" class="alignleft size-full wp-image-7328" src="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2026/04/aDiDaPhat.jpg" alt="" width="117" height="209" />Tà Niệm là gì? </span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Tâm dâm dục chính là tà niệm, không có “tà niệm” chính là không có lòng dâm dục, không có lòng dâm dục thì không có ngã tướng, không còn chỗ chấp trước. Lúc không còn chỗ chấp trước, quý vị xem đây có phải là sự tự do chân chánh không, có phải là đã được giải thoát không? </span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Cái gì gọi là niệm Phật? Niệm có nghĩa là nhớ, tức là cần phải nhớ Phật, nhớ cái Chân như tự tánh của mình. Chân như tự tánh là cái tánh mà bổn lai đã có, cũng chính là Như Lai Tạng tánh, cũng chính là Phật tánh. Chân như chính là bổn thể của niệm, mà niệm chính là vận dụng của Chân như. </span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Niệm tự tánh Chân như, là chân niệm, không phải là niệm do mắt, tai, mũi, lưỡi sanh ra. </span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Tuy chúng ta có Phật tánh, nhưng chưa biết quay về tự tánh của mình. Vì vậy nói Chân như có tánh cho nên khởi niệm. Bổn thể Chân Như tuy khởi lên niệm, ở cửa lục căn tuy có thấy nghe hiểu biết nhưng không bị nhiễm trước, vì quý vị không có tà niệm, không chấp vào muôn cảnh.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nên niệm </span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">như thế nào gọi là niệm Phật? Là khởi thân niệm hay là khởi pháp niệm? </span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Chân niệm về tướng chân thật </span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">của các pháp gọi là niệm Phật. </span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Sao gọi là chánh niệm? Là không </span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">vướng chấp nơi các pháp ác để phỉ báng, nên tu tất cả, không chê bai </span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">hủy báng pháp, nên xa lìa ngã cùng phi ngã, không thấy chúng sinh </span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">thọ mạng chủ tể nuôi dưỡng người cùng sự sinh, không chấp nơi sự </span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">tạo tác, khiến tạo tác, ấm, giới, các nhập, tưởng đối tượng duyên xứ. </span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ðối với hết thảy các pháp đời này, đời sau, cho đến ba cõi đều </span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">không nương, không nhiễm. </span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Vô niệm là gì? </span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Vô niệm chính là không có hai tướng, chính là bảo quý vị chớ quên mà phải niệm Phật hay Nhớ Chân như. Chân như là bổn tánh của chính quý vị, mà bổn tánh của quý vị là thanh tịnh sáng suốt, không có chỗ nhiễm trước. C</span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">ho nên vô tướng, vô niệm, vô trụ, cũng chính là không động không tịnh, không đúng không sai, không nam không nữ, không thiện không ác. </span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Vô niệm, vô tướng, vô trụ. V</span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">ô niệm chính là vô tướng, có thể vô tướng chính là vô trụ. Vô niệm cũng chính là vô sanh, vô tướng là vô diệt, vô trụ – bổn lai không có sanh diệt, không có đúng không có sai. </span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Vô niệm, vô tướng, vô trụ cũng chính là không đúng, không sai, không thiện, không ác, không nam, không nữ.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Trong kinh Lăng Nghiêm, Quay tánh nghe vào bên trong có nghĩa là không nghe âm thanh bên ngoài, mà thay vì vậy, quay trở lại, hướng vào bên trong, để nghe tự tánh của mình. Cũng có nghĩa là nhiếp vào trong thân tâm của mình. ‘Văn trung tánh nghe.’ Đây không phải là kêu quý vị quán chiếu cái tịnh và chấp vào cái tịnh và cho đó là thanh tịnh.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Sao gọi là thanh tịnh? Thanh tịnh vốn không hình không tướng, mà quý vị lại lập ra một cái hình tướng thanh tịnh, quán tịnh và chấp vào tịnh, nói đây là công phu. Có kiến giải như thế, liền chướng ngại bản tánh của mình, mà bị tịnh trói buộc. Vì quý vị đã chấp vào tịnh, đây cũng là một loại chấp trước. Chấp vào một niệm đã đoạn không còn nữa, chẳng phải đã chết rồi hay sao? Vì không có niệm chính là đã chết. Nhưng chết ở đây lại sanh về ở chỗ kia, cho nên đây là cách suy nghĩ hết sức sai lầm. </span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni đến nay, đều lấy vô sở niệm làm tông, vô tướng làm bổn thể, vô trụ làm cơ sở. Cái gì gọi là vô tướng? </span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Chính là ở nơi tướng mà ly khai tướng. Vô niệm chính là ở nơi niệm mà không chấp trước vào niệm. </span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Vô trụ chính là bổn tánh của con người.</span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ở bất cứ cảnh giới nào, tâm không nhiễm trước gọi là vô niệm. Trên niệm thanh tịnh của mình, thường hay ly khai tất cả cảnh giới, chẳng ở trên cảnh mà sanh các tâm tà niệm.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Kỳ thực bổn nguyên thanh tịnh của chính mình, diệu minh giác tánh, bổn lai một pháp cũng không có, nó thì thanh tịnh viên mãn sáng suốt, diệu minh chân tâm, bổn lai vô nhất vật. Cho nên pháp môn tịnh độ lập <em>vô niệm</em> làm tông chỉ. </span><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Muốn đắc Niệm Phật Tam Muội thì phải:</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Thường hay xả tất cả</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Tướng hữu vi hư giả</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Chẳng thủ đắc pháp tánh</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Thì được Tam-muội này.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Chớ đắm vào phỉ báng</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Và nhớ nghĩ phân biệt</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Lìa hẳn ngã, ngã sở</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ðược Tam-muội như vậy.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Không với các pháp ấm</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Thấy chúng sinh, thọ mạng</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nhân, ngã và sự sinh</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Sĩ phu cùng dưỡng dục.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Cũng không nghĩ phân biệt</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ðó gọi là nói pháp</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Với các pháp không nhiễm</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ngã tánh và ngã sở.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Thấy thân chẳng ấm sinh</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Thì được Tam-muội này</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Sắc, thọ, tưởng, hành, thức</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Tất cả không, vô tướng.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Căn bản đều bất tịnh</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Biết được Tam-muội này</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Quán các pháp hữu vi</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Theo duyên chẳng tự tại.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Hết thảy không chân thật</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Hư dối không thể giữ</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Như pháp tử duyên kia</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ðó gọi là nhãn nhập.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Tai mũi lưỡi thân ý</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ðều không có tự tánh</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nếu phân biệt rõ ràng</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ðược sinh Tam-muội này.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Thân này không chân thật</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ấm tụ không thanh tịnh</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Máu mủ ra chín lỗ</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ai ưa thích chỗ này</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ý vào niệm, niệm diệt</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Hư vọng thường như huyễn</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nếu phân biệt sâu xa</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Thì được Tam-muội này.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Vì tất cả các nhập</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ðều không, không có thật</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Phàm phu như trẻ con</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Mê hoặc chấp có thân.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Chỗ mê của tham ái</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Không biết là hư vọng</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Thân này như không tụ</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Chỗ ở của các giặc.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Pháp lỗi lầm hư giả</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Người trí thường chán lìa</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Quan sát kỹ như vậy</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Thì được Tam-muội này.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Các pháp ấm, giới, nhập</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ðều không không chân thật</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nếu người hay phân biệt</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ðược sinh Tam-muội này.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Như lửa, như bọt nước</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Như huyễn, như thân chuối</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nên quán thân mỏng manh</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Không thật hơn điều ấy.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nếu các Bồ-tát này</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Trí không hủy như vậy</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Mau được tất cả Phật</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nói Tam-muội sâu xa.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Các pháp không tự sinh</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Cũng không từ khác có</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Rốt ráo không chỗ trụ</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Pháp vô lậu cũng thế.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nếu hay quán như vậy</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Thì sinh Tam-muội này</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Bỏ tất cả hữu vi</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Các hành, tướng đổi khác.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Pháp này như hư không</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Sinh là không thủ đắc</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Bồ-tát biết như thế</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Tu học hết thảy pháp.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Mau được thắng Bồ-đề</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Chuyển pháp luân vô thượng</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Bồ-tát ấy có thể</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Tạo lập nơi pháp tràng.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Dùng trí không nghĩ bàn</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Phân biệt tất cả pháp</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Ðều thấy là hư dối</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Rốt ráo không chân thật.</span></p>
<p><span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nay ta tuy vì ông</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nêu rõ Tam-muội này</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Tướng nghi thức như vậy</span><br />
<span style="font-family: arial, helvetica, sans-serif;">Nghĩa đó rất khó biết.</span></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Vọng tưởng không sanh là Thiền</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/numbergenerator/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 28 Jan 2020 20:45:03 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài Luận]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://langnghiem.com/?p=6073</guid>

					<description><![CDATA[Đầu năm Canh Tý, chúng tôi xin chúc Phật tử một năm mới thân tâm...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p>Đầu năm Canh Tý, chúng tôi xin chúc Phật tử một năm mới thân tâm an lạc. Trong những năm vừa qua, quý vị đã đọc qua nhiều bài viết và học hỏi rất nhiều. Hôm nay thay vì viết ra một bài luận, chúng tôi sẽ đưa ra một bài thử nghiệm. Xem thử năm vừa qua, quý vị có tiến triển gì không trên con đường tu hành.</p>
<p><center><em><span style="color: #993300; font-size: 20px;">Vọng tưởng không sanh là Thiền </span></em><br />
<em><span style="color: #993300; font-size: 20px;">Ngồi thấy bổn tánh là Định</span></em></p>
<p><iframe loading="lazy" src="https://langnghiem.com/number/index.html" width="100%" height="380px" frameborder="1" scrolling="yes"> </iframe></p>
<p></center></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Gà Có Trước Hay Trứng Có Trước</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/ga-co-truoc-hay-trung-co-truoc/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 25 Nov 2019 19:55:13 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài Luận]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://langnghiem.com/?p=6047</guid>

					<description><![CDATA[Con gà có trước hay quả trứng có trước là câu hỏi hóc búa khiến...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><img loading="lazy" decoding="async" class="alignleft wp-image-6049" src="http://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/11/chicken.jpg" alt="" width="301" height="323" srcset="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/11/chicken.jpg 447w, https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/11/chicken-279x300.jpg 279w" sizes="auto, (max-width: 301px) 100vw, 301px" />Con gà có trước hay quả trứng có trước là câu hỏi hóc búa khiến nhiều người phải đau đầu, nhức óc để suy ngẫm và giải thích. Có một số người cho rằng con gà khi đến thời kì sinh sản sẽ đẻ ra quả trứng, có thể kết luận là con gà có trước. Nếu đứng ở một góc độ khác, những quả trứng nở ra con gà. Vậy thì, không có quả trứng thì là sao nở ra con gà được? Bài luận hôm nay chúng ta sẽ trả lời qua hai giải đáp, qua một câu chuyện, qua một</p>
<p style="text-align: justify;">Thí dụ: Một đứa trẻ sống và lớn lên trong thành phố. Thỉnh thoảng cha mẹ cho ăn trứng gà luộc hay bánh mì trứng ấp la. Trong mắt của đứa bé thì chỉ biết cái trứng gà. Một hôm người cha về quê thăm gia đình, khi đi ra sau vườn, thì thấy mấy con gà mái đẻ trứng. Người cha lượm vài cái trứng mang về thành phố tặng cho đứa trẻ. Khi về nhà, một cái trứng gà nở ra một con gà bé nhỏ xinh xắn.</p>
<p style="text-align: center;">======</p>
<p style="text-align: justify;">Khi người cha thấy con gà mái đẻ trứng, ông ta cho rằng gà có trước trứng. Vả lại, trong mắt đứa bé, khi thấy cái trứng nở ra con gà, đứa bé cho rằng cái trứng có trước con gà. Vậy ai đúng ai sai ?</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu chúng ta nói tổng quát về tất cả trứng hay tất cả con gà, chúng ta sẽ dị rơi vào cái lý luận 2 bên, Gà có trước hay Trứng có trước. Đây là gọi Nhị (2) pháp. Người tu hành thì đừng để mình rơi vào Nhị Pháp. Quý vị phải nhớ rằng Phật pháp không hai. Không hai đó là Thực tướng. Vậy thực tướng của cái ví dụ trên là gì? <br />
&#8211; Đối với con gà non vừa mới nở, cái trứng có trước.<br />
&#8211; Đối với cái trứng, thì con gà mái mẹ có trước.</p>
<p>Vậy có 2 con gà và một cái trứng. Vậy hỏi quý vị, quý vị có bao giờ thấy hai con gà mái mà đẻ ra một cái trứng hay không? Hay là một cái trứng nở ra hai con gà hay không?</p>
<p>Nay quý vị hiểu và biết được cách trả lời, vậy chúng ta sẽ tiếp tục đi sâu thêm một bước nữa, tiếp tục câu chuyện con gà.</p>
<p style="text-align: center;">======</p>
<p style="text-align: justify;">Khi đứa bé trẻ thấy cái trứng nở ra con gà bé nhỏ rất là xinh (cute). Đứa bé xin cha mẹ cho nó nuôi lớn con gà bé nhỏ kia. 5 tháng trôi qua, con gà bé nhỏ đã lớn lên trưởng thành một con gà mái. Một buổi sáng trời tốt đẹp, đứa bé dạy sớm và chuẩn bị đi học. Khi đứa bé bước ra sau nhà, thì thấy con gà mái vưà mới đẻ ra một quả trứng. Người con hớn hở chạy vào trong nhà nói với cha mẹ:<br />
&#8220;Ba ơi, con gà nhà mình mới đẻ trứng. Vui quá, nhà mình sắp có thêm gà rồi.&#8221;</p>
<p style="text-align: justify;">Người cha nhìn con và mỉm cười nói: &#8220;Cái trứng đó chỉ để ăn thôi. Muốn trứng nở ra gà thì phải cần có con gà mái và con gà trống.&#8221;</p>
<p style="text-align: justify;">Người con nhìn cha với nhiều thắc mắc và nói: &#8220;Con không hiểu.&#8221;</p>
<p style="text-align: justify;">Người cha trả lời: &#8220;Trên thế giới nầy có 12 loại chúng sanh. Chúng sanh là chúng duyên hòa hợp mà sinh, có rất nhiều thứ nhân duyên hòa hợp mà sinh. Ðại khái có bốn loài :</p>
<p style="text-align: justify;">Loài sinh bằng thai như con người<br />
Bằng trứng như con gà<br />
Bằng ẩm thấp như các loài vi trùng<br />
Bằng hóa sinh như con bươm bướm</p>
<p style="text-align: justify;">Khi xưa cha mẹ gặp nhau, thương nhau, và mẹ có thai và sanh con ra đời. Cho nên gọi là thai sanh. Thai do tình mà có. Thai sinh là do có thứ ái tình, nên mới sanh con ra đời. Còn con gà mái của con là loài sanh bằng trứng, mà trứng do tưởng mà sanh. Con gà mái của con nó tối ngày mơ tưởng muốn có con gà con, con nên nó đẻ ra cái trứng nầy. Cái trứng nầy do tưởng mà sanh, nhưng không có ái tình với con gà trống, cho nên không thể nở ra con gà con được.</p>
<p style="text-align: justify;">Thí dụ như con muốn có một chiếc máy bay bằng giấy. Nếu con không có xép giấy làm máy bay, mà chỉ mơ tưởng trong đầu thì chiếc máy bay đó có thành hình hay không?</p>
<p style="text-align: justify;">Người con trả lời: &#8220;Dạ không.&#8221;</p>
<p style="text-align: justify;">Người cha tiếp tục: &#8220;Cái trứng nầy cũng vậy. Con gà mái của con chỉ mơ tưởng nên mới đẻ ra cái trứng nầy, cho nên nó không có thể nở ra thành con gà được. Nếu muốn trứng nở ra gà, thì con gà mái phải có duyên hoà hợp với con gà trống thì mới đẻ ra cái trứng có trống và nở ra con gà con.</p>
<p style="text-align: justify;">Người con trả lời: &#8220;Dạ, con hiểu rồi.&#8221;</p>
<p style="text-align: center;">=======</p>
<p style="text-align: justify;">Khi xưa cũng có một Phật tử hỏi Lục Tổ Huệ Năng câu hỏi giống như gà và trứng: &#8220;Thưa thầy, Phật trước Pháp sau hay là Pháp trước Phật sau, Phật pháp từ đâu sanh ra?</p>
<p style="text-align: justify;">Lục Tổ Ðại sư trả lời: &#8220;Ông có thể thuyết pháp đó là Phật trước Pháp sau. Nếu ông có thể nghe pháp, đó là Pháp trước Phật sau. Phật pháp từ trong chúng sanh sanh ra.&#8221;</p>
<p style="text-align: justify;">Tại sao ? Vì trong tâm chúng sinh vọng tưởng quá nhiều. Vọng tưởng giống như hạt bụi, nhiễu nhiễu chẳng yên, luôn luôn biến động. Hãy nhìn xem, chúng ta quan sát vọng tưởng nhiều vô kể chẳng biết là bao nhiêu, có đếm cũng chẳng biết số lượng.</p>
<p style="text-align: justify;">Gà đẻ ra trứng và Trứng nở ra gà. Soi cho đến cùng hay đáo để là từ đâu ra ? Chúng sinh là từ Phật tánh mà ra, cho nên mới nói : ’’Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, đều có thể thành Phật’’. Tuy hết thảy chúng sinh đều có Phật tánh, đều có thể thành Phật, nhưng chẳng phải nói chúng sinh là Phật, chẳng phải nói chẳng tu thì thành Phật. Nhất định phải dụng công tu hành, tham thiền, học Phật pháp, như thế thì mới có thể trở về cội nguồn mà thành Phật. Chẳng phải nói chúng sinh bây giờ là Phật, chẳng cần dụng công tu hành, đó là thứ tà tri tà kiến ! Mà phải tu hành, học Phật pháp, y giáo phụng hành, mới có thể thành Phật. Cho nên mới nói chúng sinh là từ Phật tánh sinh ra.</p>
<p style="text-align: justify;">Ái hà (biển ái dục) là chỉ ái tình giữa nam nữ, chẳng riêng gì nói về ái của con người, mà các loài khác như súc sinh, cũng chấp mê chẳng ngộ, chấp trước về ái này, nhất là súc sinh càng chẳng rõ lý, cho nên tâm dâm dục của chúng rất nặng, chúng luôn lúc nào cũng nghĩ về dâm dục. Nếu thanh tâm quả dục, tự tịnh kỳ ý, cắt ái đoạn dục, thì cách Phật đạo chẳng xa.</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Pháp Môn Bất Nhị</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/phap-mon-bat-nhi/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 19 Nov 2019 23:18:47 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài Luận]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://langnghiem.com/?p=6040</guid>

					<description><![CDATA[Pháp môn bất nhị là pháp môn không hai. Nói cách khác là hai pháp...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><img loading="lazy" decoding="async" class="alignleft" src="http://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/11/batnhi.jpg" alt="" width="286" height="285" />Pháp môn bất nhị là pháp môn không hai. Nói cách khác là hai pháp môn không có những phân biệt. Nếu viết về ngộ nhập vào pháp môn bất nhị trên site nầy thì chắc phải dùng đến văn tự, ngôn ngữ. Thí dụ như:</p>
<p>&#8211; Sanh và diệt: Nếu quý vị hiểu rõ các pháp xưa nay không sinh cũng không diệt, chứng đắc pháp Nhẫn vô sinh như thế nào.</p>
<p>&#8211; Ngã và Ngã Sở: Vì do chấp ngã nên chấp ngã sở. Nếu hiểu rõ không có ngã, cũng không có ngã sở.</p>
<p>&#8211; Hữu thủ và vô thủ: Hiểu rõ không thủ, không chỗ đắc. Vì không chỗ đắc nên không tăng, không giảm, không làm không nghỉ, không chấp trước vào tất cả pháp.</p>
<p>&#8211; Tạp nhiễm và thanh tịnh: Hiểu rõ tạp nhiễm và thanh tịnh là không hai thì không phân biệt, đoạn hẳn sự phân biệt, hướng đến dấu vết tịch diệt.</p>
<p>&#8211; Tán động và suy nghĩ: Hiểu rõ không bị tán động, không có đối tượng được suy nghĩ thì không tác ý, trụ vào không tán động, không có đối tượng được suy nghĩ thì không tác ý.</p>
<p>&#8211; Tướng và Vô Tướng: Hiểu rõ các pháp không có một tướng, không có tướng khác cũng không có không tướng, thì biết một tướng, tướng khác, không tướng ấy là bình đẳng.</p>
<p>&#8211; Bồ-tát và Thanh văn: Hiểu rõ tánh của hai tâm là không, như huyễn, không có tâm Bồ-tát, không có tâm Thanh văn. Tướng của hai tâm ấy bình đẳng đều như huyễn hóa.</p>
<p>&#8211; Thiện và bất thiện: Hiểu rõ tánh thiện và tánh bất thiện không có chỗ phát sinh. Tướng và vô tướng cả hai đều bình đẳng, không nắm bắt không buông xả.</p>
<p>&#8211; Có tội và không tội: Hiểu rõ có tội và không tội cả hai đều bình đẳng. Dùng tuệ kim cang mà thông đạt các pháp không buộc không mở.</p>
<p>&#8211; Hữu lậu và vô lậu: Hiểu rõ tánh của tất cả pháp đều bình đẳng. Ðối với lậu và vô lậu không có hai tưởng. Nếu không chấp vào hữu tưởng không chấp vào vô tưởng.</p>
<p>&#8211; Hữu vi và vô vi: Hiểu rõ tánh của hai pháp đều bình đẳng. Xa lìa các hành, giác tuệ như hư không. Trí tuệ thanh tịnh, không chấp lấy không xả bỏ</p>
<p>&#8211; Thế gian và xuất thế gian: Hiểu rõ bản tánh của thế gian là không tịch, không nhập, không xuất, không trôi, không tan, không mất, cũng không chấp trước.</p>
<p>&#8211; Sinh tử và Niết-bàn: Hiểu rõ tánh của sinh tử vốn là không, không có lưu chuyển, cũng không tịch diệt.</p>
<p>&#8211; Hữu tận và vô tận: Hiểu rõ hoàn toàn không có hữu tận và vô tận. Chủ yếu đạt rốt ráo tận mới gọi là tận. Nếu đạt rốt ráo tận thì không còn tận đó gọi là vô tận. Nghĩa là trong từng sát-na nhất định không có hữu tận tức là vô tận. Vì hữu tận không có nên vô tận cũng không có, biết rõ tánh của hữu tận và vô tận là không.</p>
<p>&#8211; Hữu ngã và vô ngã: Hiểu rõ hữu ngã còn không thể thủ đắc huống chi vô ngã, thấy tánh ngã và vô ngã không có hai.</p>
<p>&#8211; Minh và vô minh: Hiểu rõ bản tánh của vô minh là minh. Minh và vô minh cả hai đều không thể thủ đắc, không thể tính lường, vượt qua sự tính lường, trong ấy hiện quán bình đẳng không có hai.</p>
<p>&#8211; Sắc, thọ, tưởng, hành và thức với không: Hiểu biết tánh của thủ uẩn vốn là không . Sắc ấy là không, chứ chẳng phải sắc diệt mới là không. Cho đến thức uẩn cũng như vậy.</p>
<p>&#8211; Bốn giới và không: Hiểu biết bốn giới tức là tánh hư không. Tánh của bốn giới và không dù trước, giữa, sau đều không điên đảo nên tỏ ngộ đi vào các giới.</p>
<p>&#8211; Nhãn &#8211; sắc, nhĩ &#8211; thanh, tỷ &#8211; hương, thiệt &#8211; vị, thân &#8211; xúc, ý &#8211; pháp: Hiểu rõ tánh của tất cả đều là không. Thấy tự tánh của nhãn đối với sắc không tham, không sân, không si. Như vậy cho đến thấy tự tánh của ý đối với pháp không tham, không sân, không si. Như vậy đều là không. Ðã thấy như vậy rồi nên an trụ trong tịch tĩnh.</p>
<p>&#8211; Tánh bố thí với hồi hướng Nhất thiết trí: Như vậy, phân biệt tánh của giới, nhẫn, tinh tấn, tĩnh lự, Bát-nhã và hồi hướng Nhất thiết trí đều là hai. Nếu hiểu rõ tánh bố thí tức là đã hồi hướng Nhất thiết trí. Tánh hồi hướng Nhất thiết trí ấy tức là bố thí. Như vậy, cho đến tự tánh của Bát-nhã tức là tánh hồi hướng Nhất thiết trí. Tánh hồi hướng Nhất thiết trí ấy tức là Bát-nhã.</p>
<p>&#8211; Không, Vô tướng và Vô nguyện: Hiểu rõ trong cái không ấy hoàn toàn không có tướng. Trong không tướng ấy cũng không có nguyện. Trong không nguyện này không có tâm, không có ý, không có thức để chuyển.</p>
<p>&#8211; Phật, Pháp, Tăng: Hiểu rõ tánh Phật là tánh Pháp &#8211; Pháp là tánh Tăng. Như thế, Tam bảo đều là tướng vô vi cùng đồng đẳng với hư không. Các pháp cũng như thế.</p>
<p>&#8211; Thân kiến với diệt thân kiến: Hiểu rõ thân kiến tức là diệt thân kiến. Biết rõ rốt ráo như vậy nên không khởi thân kiến. Ðối với thân kiến và diệt thân kiến không có phân biệt, không phân biệt khác, chứng đắc tánh diệt rốt ráo của hai pháp ấy không nghi ngờ, không sợ hãi.</p>
<p>&#8211; Ba loại luật nghi của thân, khẩu, ý: Hiểu rõ ba loại luật nghi ấy đều là tướng vô tác. Tướng ấy không có hai. Vì sao? Vì ba đạo nghiệp này đều là tướng vô tác. Tướng thân vô tác tức là tướng ngữ vô tác. Tướng ngữ vô tác tức là tướng ý vô tác. Tướng ý vô tác tức là tướng của tất cả pháp đều vô tướng. Nếu nhập vào tướng vô tạo tác, đó là ngộ nhập vào pháp môn bất nhị.</p>
<p>&#8211; Hành tội, hành phước và hành bất động: , Hiểu rõ hành tội, hành phước và hành bất động đều là tướng vô tác. Tướng ấy không có hai. Vì sao? Vì tánh tướng của hành phước, hành tội và hành bất động đều là không. Trong cái không ấy, không có sự khác nhau giữa ba hành tội, phước và bất động.</p>
<p>&#8211; Tất cả hai pháp do ngã mà phát sinh. Nếu biết thật tánh của ngã thì không khởi hai. Vì không phát khởi hai nên không phân biệt. Vì không phân biệt nên không có đối tượng để phân biệt.</p>
<p>&#8211; Tất cả hai pháp do có sở đắc mà phát sinh. Nếu biết rõ các pháp hoàn hoàn không sở đắc, không nắm bắt, không xả bỏ. Ðã không nắm bắt không xả bỏ.</p>
<p>&#8211; Sáng và tối: Nếu biết rõ thật tướng là không tối không sáng, tánh nó không có hai. Ví như Bí-sô nhập định diệt tận thì không có sáng không có tối. Tướng của tất cả các pháp cũng như vậy. Lãnh hội các pháp bình đẳng như thế.</p>
<p>&#8211; Thích Niết-bàn và chán sinh tử: Nếu biết rõ Niết-bàn và sinh tử không có gì thích hay chán thì không có hai. Vì sao? Vì nếu bị sinh tử trói buộc thì cầu giải thoát. Nếu hoàn toàn không còn sự trói buộc của sinh tử nữa thì cầu Niết-bàn giải thoát để làm gì? Thông đạt như vậy nên không còn trói buộc không giải thoát, không thích Niết-bàn không chán sinh tử.</p>
<p>&#8211; Chánh đạo và tà đạo: Nếu an trụ vào chánh đạo, hành tà đạo là hoàn toàn không hành. Vì không hành nên không có hai tướng chánh đạo và tà đạo. Vì trừ bỏ hai tướng nên không có hai giác. Nếu không có hai giác thì ngộ nhập vào pháp môn bất nhị.</p>
<p>&#8211; Hư và thật: Nếu quán tánh của thật đế còn không thấy thật làm sao thấy hư. Vì sao? Vì tánh này chẳng phải do Nhục nhãn thấy, chỉ có Tuệ nhãn mới thấy. Khi thấy như vậy, đối với tất cả pháp không thấy, không phải là không thấy.</p>
<p style="text-align: center;">=======</p>
<p>Với những thí dụ trên, mặc dù đều hoàn hảo nhưng viết như vậy vẫn gọi là hai. Nếu đối với các pháp không viết, không nói, không năng, không biểu hiện, không chỉ thị, lìa các hý luận, dứt hẳn sự phân biệt, đó là ngộ nhập vào pháp môn bất nhị.</p>
<p>Chúng tôi có thể viết thêm một trăm bài luận và quý vị cũng có thể đọc thêm một ngàn bài luận kinh. Có thể hiểu sâu vào kinh pháp, nhưng cũng khó ngộ nhập vào pháp môn bất nhị?</p>
<p>Bởi vì sao? Vì muốn ngộ nhập vào pháp môn bất nhị. Trong đó hoàn toàn không có những phân biệt về văn tự, ngôn ngữ. Cho nên những lời viết chúng tôi đã viết cũng như không có viết. Các bài luận mà quý vị đã đọc cũng như chưa đọc. Những lời văn lý luận cũng không còn nữa. Đó mới là ngộ nhập vào pháp môn bất nhị.</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Thong dong, Thảnh thơi và Thoải mái</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/thong-dong-thanh-thoi-va-thoai-mai/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 26 Sep 2019 18:43:13 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài Luận]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://langnghiem.com/?p=5985</guid>

					<description><![CDATA[Người đời trên thế gian cho rằng tình yêu trai gái là hạnh phúc, có...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><img loading="lazy" decoding="async" class="alignleft  wp-image-5986" src="http://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/09/relax.jpg" alt="" width="341" height="224" srcset="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/09/relax.jpg 448w, https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/09/relax-300x197.jpg 300w" sizes="auto, (max-width: 341px) 100vw, 341px" />Người đời trên thế gian cho rằng tình yêu trai gái là hạnh phúc, có nhiền tiền thì mới đủ phương tiện làm cho thân được thoải mái. Nhưng cái thoải mái đó phải trả một cái giá rất là to lớn. Cái sự thoải mái đó không phải là thoải mái tự tại viên mãn. Bởi vì khi qua một đêm ăn chơi ngủ ngon, thì quý vị phải thức dậy sớm đi làm kiếm tiền.</p>
<p style="text-align: justify;">Cho nên những thứ hưởng thụ đó nên gọi là thọ dụng, chớ không phải là hưởng thọ chánh thường, đại tự tại. Người tu hành cũng có thọ dụng, cơm nước, áo quần. Nhưng cái thọ dụng đó không có nhiễm trước. Buông xả nghĩa là không nhiễm trước một tí gì hết, không nhiễm trước chẳng có nghĩa là không có sự thọ dụng. Tất cả đều có thể thọ dụng, vì tất cả đều không nhiễm trước, cho nên sự thọ dụng này được gọi là ‘chánh thọ’, trong kinh nói đến ‘tam muội’, ‘tam muội’ là tiếng Phạn có nghĩa là ‘hưởng thọ chánh thường’</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu có thể nhìn thấu, buông xuống thì đời sống sanh hoạt của quý vị sẽ được thong dong, thảnh thơi và thoải mái. Trong kinh gọi cảm giác nầy là tự tại. Ðời sống được tự tại mới là đời sống hạnh phúc thật sự. Sự biểu hiện trong đời sống nhất định phải nhìn thấu; nhìn thấu nghĩa là hiểu rõ ràng minh bạch chân tướng của vũ trụ nhân sanh. Trong kinh nói giác ngộ triệt để, thấu triệt rồi, đó gọi là ‘hành’. Hành Bồ Tát đạo trên sự nhìn thấu; sau khi nhìn thấu thì không thể nào không buông xả được. Tại sao vậy? Bởi vì quý vị sẽ thấy được sự đại tự tại, thong dong, thảnh thơi, thoải mái.</p>
<p style="text-align: justify;">Bạn xem câu đầu trong Tâm Kinh: ‘Quán Tự Tại Bồ Tát’, chữ ‘quán’ ở đây là ‘nhìn thấu’, quán là trí huệ, trí huệ chân thật. Nhìn thấy chân tướng sự thật của vũ trụ rõ ràng minh bạch. Buông xả nghĩa là không nhiễm trước một tí gì hết. Hưởng thọ chánh thường khác với sự hưởng thọ của quý vị hiện nay ở chỗ nào? Trên ‘sự’ thì hoàn toàn giống nhau. Quý vị mặc áo, Phật, Bồ Tát cũng mặc áo. Quý vị ăn cơm, các ngài cũng ăn cơm, có gì khác nhau?</p>
<p style="text-align: justify;">Nhưng bên trong đích thật có chỗ khác biệt. Quý vị mặc áo, ăn cơm có chấp trước. Các Ngài mặc áo, ăn cơm không có chấp trước; cho nên các Ngài mặc áo ăn cơm vui vẻ tự tại. Khi quý vị mặc áo, ăn cơm không được xứng tâm vừa ý, áo rộng, đồ ăn không ngon hay thiếu một món thì không vừa lòng. Tại sao quý vị lại không thấy thoải mái?  Bởi vì quý vị buông xả không nổi? Nhìn không thấu! Cho nên không được tự tại.</p>
<p style="text-align: justify;">Vậy làm thế nào để đạt được đại tự tại? Trước hết thì phải nhìn thấu để dễ dàng buông xả. Khi buông xả rồi, thì đừng có phan duyên, than thở. Khi đối mặt với người hay vật chất, quý vị phải tùy duyên chớ không phan duyên. Nếu bạn phan duyên thì tâm thanh tịnh của bạn hoàn toàn mất hết. Trong lúc phan duyên bạn có phiền não, sanh ra tri kiến, tâm chân thành của bạn bị che lấp hoàn toàn, không thể hiển lộ ra ngoài.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu người tu hành mỗi ngày trong tâm đều phải suy nghĩ, bận tâm, tìm mọi cách kiếm tiền để xây chùa, để hóa duyên, thì có phải như vậy mệt quá phải không? Còn tự tại gì được nữa! Có an lạc gì đâu! Sự khổ này từ đâu đến? Tự quý vị phan duyên mà thôi! Không có người đem khổ đến cho quý vị, đều là do quý vị tự tạo, phải hiểu rõ đạo lý này. Công việc tu hành xây cất chùa, tượng Phật là điều tốt, nên làm, nhưng phải tùy duyên của chúng sanh. Nếu quý vị phan duyên, thì cái đó sẽ làm tăng trưởng lòng tham, sân, si, mạn, tăng trưởng phân biệt, chấp trước của quý vị.</p>
<p>Trong kinh Bát Nhã: Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm bát nhã ba la mật đa thời chiếu kiến ngã uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách.</p>
<ul>
<li><strong>Quán</strong> là nhìn thấu</li>
<li><strong>Tự Tại</strong> là thong dong, thảnh thơi và thoải mái</li>
<li><strong>Bồ Tát hành thâm</strong> là tu hành, tùy duyên phổ độ chúng sanh qua</li>
<li><strong>Bát nhã ba la mật đa</strong>
<ul>
<li>Bố thí là buông xả tâm tham.</li>
<li>Trì giới là buông xả ác niệm.</li>
<li>Nhẫn nhục là buông xả tâm sân nhuế, đố kỵ</li>
<li>Tinh tấn là buông xả giải đãi, làm biếng.</li>
<li>Thiền định là buông xả tán loạn.</li>
<li>Bát nhã Ba La Mật là nhìn thấu</li>
</ul>
</li>
<li><strong>Thời chiếu kiến</strong> là nhìn thấu mọi thời: quá khứ, hiện tại và tương lai</li>
<li><strong>Ngũ uẩn giai không</strong> là thế giới vô thường, bi khổ</li>
<li><strong>Độ nhất thiết khổ ách</strong> là giải thoát các khổ để được an lạc tự tại</li>
</ul>
<p>Cho nên tu hành là nhìn thấu để dễ dàng buông xả. Khi buông xả thì sẽ được tự tại trong cuộc sống. Dùng tâm chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, chánh giác, từ bi mà tuỳ duyên hóa độ chúng sanh. Khi không phổ độ chúng sanh thì quý vị tu hành như thiền, mật tông, niệm Phật hay đọc chép kinh. Qua lời dạy của đức Phật, quý vị hiểu sâu, nhìn thấu thế giới vô thường, bi khổ nầy. Buông xả những thứ thói quen tật xấu như tham sân si. Sống với cái tâm thường trụ, an lạc tự tại. Khi đạt được tự tại thì quý vị không còn cái ngã cái tôi, lúc đó sẽ dễ dàng tùy duyên phổ độ chúng sanh. Chân ngã Tịnh tu. Đó cũng là pháp môn tu hành theo kinh Kim Cang để sống với &#8216;Thường Lạc Ngã Tịnh&#8221;.</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Buông Xả Để Nhìn Thấu</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/tre-nen-nhin-thau-gia-nen-buong-xa/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 23 Sep 2019 21:53:46 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài Luận]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://langnghiem.com/?p=5957</guid>

					<description><![CDATA[Nhìn Thấu là trình độ hiểu rõ đối với trạng thái sanh diệt hiện thực....]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><strong><img loading="lazy" decoding="async" class="alignleft  wp-image-5962" src="http://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/09/handWater.jpg" alt="" width="269" height="207" srcset="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/09/handWater.jpg 418w, https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/09/handWater-300x231.jpg 300w" sizes="auto, (max-width: 269px) 100vw, 269px" />Nhìn Thấu</strong> là trình độ hiểu rõ đối với trạng thái sanh diệt hiện thực. Nếu quý vị không hiểu rõ, ham mê luyến tiếc thế gian thì đương nhiên sẽ không buông xuống nổi. Cho nên, hơn phân nửa những người niệm Phật vãng sanh là người già bảy tám chục tuổi. Vì họ nhìn thấy nhiều, từng trải nhiều, biết hết thảy những việc trong thế gian đều là hư ảo không thật. Bất luận sinh sống trong cảnh thuận hoặc nghịch, trải qua một thời gian dài thì sẽ chán chường. Sinh sống cảm thấy chán ghét, không muốn ở lại thêm nữa, đến lúc này thì buông xuống hết.</p>
<p>Đối với tuổi trẻ, họ cảm thấy thế gian này còn rất đẹp đẽ, vẫn còn muốn sống thêm vài năm nữa. Thậm chí muốn sống thêm vài chục năm, vài trăm năm nữa. Họ không thể nào buông xả. Buông xuống hết không nổi thì công phu tu hành làm sao có thể đắc lực cho được!</p>
<p style="text-align: center;"><strong>Cho nên trẻ nên tập nhìn thấu, còn già nên buông xả</strong></p>
<p>Buông xả và nhìn thấu là hai việc khác nhau, nhưng lại là hai việc bổ sung và hỗ trợ lẫn nhau. Nếu quý vị có thể buông xả một phần thì quý vị sẽ nhìn rõ, nhìn thấu thêm một phần. Nếu có thể nhìn thấu một phần thì quý vị có thể buông xả thêm một phần. Vậy tu hành như thế nào thì dễ buông xả và nhìn thấu mọi việc.</p>
<p>Trong kinh đức Phật dạy chúng ta buông xả là buông xả phiền não, buông xả dục vọng, chứ không phải buông xả công việc làm.Tu hành thì phải siêng năng, chứ không phải làm biếng, ngồi một chổ đợi Phật Tử đến cúng dường nấu cơm dưng nước. Ngược lại còn phải nỗ lực hết lòng làm việc. Nếu cả công việc làm, tu hành cũng buông xuống thì đức Phật không cần phải giảng kinh thuyết pháp.</p>
<p>Trong kinh Kinh Cang, Lục Độ Ba La Mật:<img loading="lazy" decoding="async" class="size-full wp-image-5978 alignright" src="http://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/09/letGoAndSee.png" alt="" width="344" height="182" srcset="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/09/letGoAndSee.png 344w, https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/09/letGoAndSee-300x159.png 300w" sizes="auto, (max-width: 344px) 100vw, 344px" /></p>
<p>Bố thí là buông xả tâm tham.<br />
Trì giới là buông xả ác niệm.<br />
Nhẫn nhục là buông xả tâm sân nhuế, đố kỵ<br />
Tinh tấn là buông xả giải đãi, làm biếng.<br />
Thiền định là buông xả tán loạn.</p>
<p>Bát nhã Ba La Mật là nhìn thấu, tức là minh bạch, rõ ràng. Cho nên lục độ Ba La Mật quy nạp lại tức là 4 chữ: ‘Buông xả &amp; Nhìn thấu’.</p>
<p>Trong kinh Lăng Nghiêm và Kinh Hoa Nghiêm, thập hạnh được gọi là thập độ. Tóm tắt lại là các hạnh của lục độ Ba La Mật. Năm hạnh đầu tiên là buông xả. Năm hành cuối là nhìn thấu.</p>
<ol>
<li>Hạnh hoan hỉ là pháp môn bố thí của Bồ Tát tu.  chẳng những tự mình hoan hỉ, mà cũng khiến cho chúng sinh hoan hỉ.</li>
<li>Hạnh nhiêu ích là pháp môn trì giới của Bồ Tát tu, đều là lợi ích chúng sinh, khiến cho chúng sinh đắc được ấm no và đầy đủ.</li>
<li>Hạnh vô vi nghịch là pháp môn nhẫn nhục của Bồ Tát tu, chẳng trái ngược với mình, cũng chẳng trái ngược với chúng sinh.</li>
<li>Hạnh vô khuất nhiễu là pháp môn tinh tấn của Bồ Tát tu, cũng chẳng khiến cho mình khuất nhiễu, cũng chẳng khiến cho chúng sinh khuất nhiễu.</li>
<li>Hạnh vô si loạn là pháp môn thiền định của Bồ Tát tu, thân tâm chẳng điên đảo, vì có định lực, nên hạnh chẳng loạn.</li>
<li>Hạnh thiện hiện là pháp môn Bát Nhã của Bồ Tát tu, thấu rõ pháp thế gian là vô thường, khổ, không, vô ngã; và hiểu rõ pháp xuất thế là thường, lạc, ngã, tịnh.</li>
<li>Hạnh vô trước là pháp môn phương tiện của Bồ Tát tu, có cảnh giới sự lý chẳng trì trệ, dùng phương tiện khéo léo để độ chúng sinh.</li>
<li>Hạnh nan đắc là pháp môn nguyện của Bồ Tát tu, là đại nguyện đại hạnh, đại từ đại bi, độ khắp chúng sinh.</li>
<li>Hạnh thiện pháp là pháp môn lực của Bồ Tát tu, có trí huệ lực, mới thực hành tất cả pháp lành.</li>
<li>Hạnh chân thật là pháp môn trí của Bồ Tát tu, lời nói việc làm đều chẳng hư vọng, tất cả đều chân thật.</li>
</ol>
<p>Quy nạp thập hạnh lại cho gọn là 4 chữ: ‘Buông xả &amp; Nhìn thấu’</p>
<p>Muốn minh bạch hết tất cả sự vật và đạo lý trong pháp giới, thật không phải dễ dàng. Pháp quan trọng nhất của người tu đạo, là ý nghiệp thanh tịnh, tức cũng là buông xả các hành vi tam độc: tham sân si. Nên điều phục các tư tưởng cang cường. Đối với tất cả chúng sinh, quý vị đều hữu hảo thân thiện. Lìa khỏi được tất cả sự hí luận, thì chẳng tạo khẩu nghiệp. Vì chẳng có lỗi lầm, cho nên oai quang viên mãn, được tất cả chúng sinh khâm phục cung kính. Ðó là nhìn thấu và thấy rõ các Bồ Tát đạo tối thù thắng.</p>
<p style="text-align: center;"><strong><em>Ý nghiệp thanh tịnh cực điều thiện</em></strong><br />
<strong><em>Ly chư hí luận vô khẩu nghiệp</em></strong><br />
<strong><em>Uy quang viên mãn chúng sở khâm</em></strong><br />
<strong><em>Bỉ tối thắng giả hành tư đạo.</em></strong></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Thế Giới Thành Tựu</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/the-gioi-thanh-tuu/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 13 Sep 2019 20:57:46 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài Luận]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://langnghiem.com/?p=5896</guid>

					<description><![CDATA[‘’Thế‘’ tức là tam thế (ba đời). Tức đời quá khứ, đời hiện tại, đời...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="entry-content">
<p style="text-align: justify;"><strong><img loading="lazy" decoding="async" class="alignleft  wp-image-5897" src="http://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/09/universe.jpg" alt="" width="274" height="248" srcset="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/09/universe.jpg 353w, https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/09/universe-300x272.jpg 300w" sizes="auto, (max-width: 274px) 100vw, 274px" />‘’Thế‘’</strong> tức là tam thế (ba đời). Tức đời quá khứ, đời hiện tại, đời vị lai.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>‘’Giới‘’</strong> tức là phân giới, còn là phương giới. Vì có giới hạn, có phương hướng, có phân biệt.</p>
<p style="text-align: justify;">Thế giới thành tựu như thế nào ? Nói tổng quát thế giới có thành tựu thì có hủy diệt, đây là định luật tự nhiên. Tuổi thọ của thế giới chia làm bốn giai đoạn: Thành, Trụ, Hoại, Không</p>
<p style="text-align: justify;">Mỗi giai đoạn là hai mươi giai đoạn nhỏ. Như vậy thế giới của chúng ta phải trải qua 80 tiểu giai đoạn (4×20=80).</p>
<p style="text-align: justify;">Trong kinh Lăng Nghiêm có ghi rằng: lúc ban đầu, giai đoạn kiếp “Thành”, thì đại địa là nước, bị gió thổi, bị mặt trời làm nóng, mà thành sơn hà đại địa. Lúc đó mới có thực vật sinh ra, sau đó mới có động vật sinh sống, có con người sinh tồn. Trải qua bao nhiêu năm rồi, thì sinh ra các nước, có văn hóa, có nhân dân, hình thành quốc gia. Thời kỳ giai đoạn nầy được gọi là giai đoạn “Thành tựu, đại địa thanh tịnh, nhân dân hòa vui, chẳng có tham sân si, cũng chẳng có ích kỷ lợi mình, nhân loại đều từ bi, đại công vô tư.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong giai đoạn thứ nhì: kiếp &#8220;Trụ&#8221;, con người dần dần sinh ra tâm tham, tâm sân, tâm si, phát sinh ra hành vi: Sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, uống rượu, các điều ác, nhân dân tà kiến điên đảo, làm mười điều ác, do đó mà trời chẳng mưa, ngũ cốc chẳng sinh, phát sinh tai nạn đói khát, con người ăn rễ cây, hoặc đọt cây, vì chẳng còn vật thực để ăn, cho nên bệnh dịch phát sinh. Do đói khát và ôn dịch, dẫn đến binh đao kiếp nạn. Chiến loạn có ghi trong lịch sử, đều do nguyên nhân này mà phát sinh.</p>
<p style="text-align: justify;">Tam tai này đều có quan hệ với nhau, vì người lãnh tụ quốc gia khởi tâm tham, muốn xâm lược lãnh thổ của nước khác, nên phát sinh chiến tranh. Như chiến tranh thế giới thứ nhất, chiến tranh thế giới thứ hai, nguyên nhân không ngoài tham sân si. Bởi chiến tranh nhân dân chẳng biết nương vào đâu mà sống. Vì tai nạn đao binh, nên phát sinh nạn đói khát, vì đói khát, mà sinh ra ôn dịch, cho nên khi kiếp trụ cũng có thành, trụ, hoại, không, bốn thứ hiện tượng phát sinh.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi kiếp trụ qua rồi thì đến &#8220;Hoại&#8221; kiếp, sơn hà đại địa dần dần sẽ hủy diệt.</p>
<p style="text-align: justify;">Trải qua hai mươi tiểu kiếp, thì vũ trụ sẽ bùng nổ, tiếng Anh gọi là &#8220;Super Nova&#8221;. Các hành tinh trong tam thiên đại thiên thế giới nầy bị nổ, bể nát, hoàn toàn chẳng còn gì nữa, đó là kiếp không. Mỗi thế giới, phải trải qua thời gian dài như thế. Vậy tính theo năm ngày thì thời gian đó (bốn kiếp: thành trụ hoại không) là bao nhiêu năm ?</p>
<p style="text-align: justify;">Hiện nay chúng ta đang sống trong thời kiếp &#8220;Trụ&#8221;.  Trong kiếp trụ chia ra 20 giai đoạn. Và thời điểm bây giờ là thời điểm thứ 9 trong 20 giai đoạn. Nếu cách khác thì thế giới nầy phải trải qua 80 giai đoạn hay 80 tuổi thọ thì bây giờ thế giới nầy được 29 tuổi thọ.</p>
</div>
<p style="text-align: justify;">Để cho dễ hiểu, chúng ta sẽ lấy mạng sống hay năm tuổi của con người ra để tính toán con số. Hiện nay con người sống ở những nước có không có chiến tranh thì sống tới 75-85 tuổi. Những người sống bên Trung Đông thiếu thốn và sống trong thời chiến tranh, con trai sống chỉ trung bình từ 35-40 tuổi. Nếu tính trung bình trên toàn thế giới thì mạng sống của con người là 70 năm.</p>
<p style="text-align: justify;">Cứ 100 năm thì mạng con người bị giảm xuống 1 tuổi. Sau 6000 năm sau, hay khoảng năm 8019 thì mạng sống trung bình của con người chỉ còn 10 tuổi. Lúc đó số người sống trên trái đất rất ít. Trong một thành phố chỉ có khoảng vài người sinh sống. Lúc đó con người cảm thấy rất là cô đơn lạnh lẽo, cho nên con người bắt đầu tìm kiếm những người trong thành phố cận để làm bạn bè. Lúc đó con người bắt đầu đổi tính ít kỷ thành tánh tình thương bộc lẫn nhau. Lúc đó tuổi thọ con người bắt đầu tăng dần. Cứ 100 năm thì tuổi mạng con người lại tăng thêm một tuổi. Cho đến khi tuổi thọ trung bình của con người là 84000 năm.</p>
<p style="text-align: justify;">Cứ mỗi lần tuổi con người tăng lên 84000 năm và trở lại xuống 10 tuổi thì thời gian đó là một kiếp. Vậy một kiếp là:</p>
<p style="text-align: justify;">   ((84000 &#8211; 10) * 100) + ((84000 -10) * 100) = 16,798,000 năm</p>
<p style="text-align: justify;">Cứ 1000 kiếp như vậy là một tiểu kiếp:  16798000 * 1000 = 16,798,000,000 năm</p>
<p style="text-align: justify;">Cứ 1000 tiểu kiếp như vậy là một trung kiếp: 16,798,000,000 * 10 = 16,798,000,000,000 năm</p>
<p style="text-align: justify;">Cứ 1000 trung kiếp như vậy là một đại kiếp: 16,798,000,000,000 * 10 = 16,798,000,000,000,000 năm</p>
<p style="text-align: justify;">Trong 4 giai đoạn: Thành, Trụ, Hoại, Không. Mỗi giai đoạn chia ra 20 giai đoạn nhỏ. Vậy mỗi giai đoạn nhỏ là:</p>
<p style="text-align: justify;">  16,798,000,000,000,000 / 80 = 209,975,000,000,000 năm</p>
<p style="text-align: justify;">Hiện nay chúng ta đanh sinh sống trong giai đoạn thứ thứ 9 trong kiếp &#8220;Trụ&#8221; hay giai đoạn thứ 29. Vậy nếu tính ra thì tuổi của tam thiên đại thiên thế giới nầy là:</p>
<p style="text-align: justify;">  209,975,000,000,000 * 29 = 3,989,525,000,000,000 năm</p>
<p style="text-align: justify;">========</p>
<p style="text-align: justify;">Thời gian trong một đại kiếp là 16798 ngàn tỷ năm. Đức Phật đã tu hành và đắc quả vị Phật trong vô lượng đại kiếp trước, mà quý vị vẫn còn trong lục đạo. Vậy quý vị định luân hồi bao nhiêu tỷ năm nữa. Chỉ cần chúng ta hồi quang phản chiếu và bỏ ra một thời gian ngắn, chúng ta sẽ thoát khỏi luân hồi và có thể sống tới vô lượng đại kiếp.</p>
<p style="text-align: justify;">Hôm nay quý vị được bao nhiêu tuổi rồi? Thật ra nên hỏi rằng: Quý vị còn sống bao nhiêu năm nữa ?</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Phát Tâm Vô Thượng Bồ Đề</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/phat-tam-vo-thuong-bo-de/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 07 Sep 2019 02:35:13 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài Luận]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://langnghiem.com/?p=5870</guid>

					<description><![CDATA[Trong kinh Lăng Nghiêm, tâm này được gọi là tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><img loading="lazy" decoding="async" class="wp-image-5872 alignleft" src="http://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/09/bodhiLeave.jpg" alt="" width="307" height="308" srcset="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/09/bodhiLeave.jpg 400w, https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/09/bodhiLeave-150x150.jpg 150w, https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/09/bodhiLeave-300x300.jpg 300w" sizes="auto, (max-width: 307px) 100vw, 307px" /></p>
<p>Trong kinh Lăng Nghiêm, tâm này được gọi là tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác hay A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ-Đề tâm. Nói tóm tắc là Tâm Bồ Đề. Tại sao quý vị phải phát tâm Bồ Đề? Bởi vì nếu không pháp tâm Bồ Đề thì chúng ta sẽ bị nhiều thứ trên trần gian cám dỗ, và quý vị sẽ bị những tiền tài sắc đẹp trói buộc quý vị. Tất cả phàm phu vì ức tưởng phân biệt điên đảo chấp tướng nên có trói buộc. Vì động niệm hí luận nên có trói buộc. Vì thấy, nghe, hay, biết nên có trói buộc.</p>
<p>Khi đức Phật thuyết kinh Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội, các ma, ma dân và những người khác mang tâm ác, do vì sức oai thần của Thủ-lăng-nghiêm tam-muội nên đều bị trói buộc năm chỗ (2 tay, 2 chân và đầu). Lúc đó có một vị Bồ Tát tên Ma Giới Hạnh Bất Ô vì muốn độ các ma quỹ nên hiện thân tại cung ma và khuyên các ma hãy nên phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác thì sẽ được giải thoát sự trói buộc này.</p>
<p>Làm sao phát được Bồ Đề tâm? Tâm như thế nào mới gọi là Bồ Đề tâm?</p>
<p>Nói “phát Bồ Đề tâm” là nói tổng quát. Nếu nói tỉ mĩ ra thì gồm có mười thứ tâm. Mười thứ tâm nói ra ở đây đều là sự tướng cụ thể của Bồ Đề tâm.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Nhất giả: Ư chư chúng sanh, khởi ư đại từ, vô tổn hại tâm.</strong></p>
<p>(Một là đối với các chúng sanh, khởi tâm đại từ, không có tâm tổn hại)</p>
<p>Tâm từ bi được nêu lên đầu tiên. Phật pháp lấy từ bi làm gốc, phương tiện làm cửa. Hết thảy chư Phật, Bồ Tát tâm đều đại từ, đại bi, chẳng có tâm từ bi sẽ chẳng tương ứng. Vì thế, nhất định phải bồi dưỡng tâm từ bi của chính mình. Trong từ bi, tối trọng yếu là đối với hết thảy chúng sanh, nhất định chẳng có tâm tổn hại, chẳng được có ý niệm ấy. Nếu muốn làm tổn thương một chúng sanh thì lợi ích chân thật đối với chúng sanh ấy bị tổn hủy, chẳng còn có tâm từ bi nữa.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Nhị giả: Ư chư chúng sanh, khởi ư đại bi, vô bức não tâm.</strong></p>
<p>(Hai là đối với các chúng sanh, khởi lòng đại bi, không có tâm bức bách, làm khổ họ)</p>
<p>Chẳng nên áp bức chúng sanh, chẳng thể vì phân biệt ta người mà khởi lên phiền não. Nếu không, tâm bi của quý vị chẳng còn nữa. “Từ” là ban vui, “bi” là dẹp khổ. Phải giống như chư Phật Như Lai, thương xót hết thảy chúng sanh, thời thời khắc khắc, ở bất cứ nơi đâu, luôn mang lòng giúp đỡ chúng sanh phá mê, khai ngộ, lìa khổ, được vui! Những khổ gì? Khổ tam giới, khổ luân hồi. Thật sự giúp đỡ họ đoạn phiền não, mở mang trí huệ, niệm Phật vãng sanh, đó là cách thật sự thoát lìa luân hồi trong một đời này!</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Tam giả: Ư Phật chánh pháp, bất tích thân mạng, nhạo thủ hộ tâm.</strong></p>
<p>(Ba là đối với chánh pháp của Phật, chẳng tiếc thân mạng, tâm thích gìn giữ)</p>
<p>Đối với chánh pháp của đức Phật, hiện tại nếu quý vị tu học pháp môn Tịnh Độ, thì chánh pháp là năm kinh một luận, nhất định phải y giáo tu hành. Dẫu gặp bất cứ tai nạn nào, thậm chí tổn thất sanh mạng cũng chẳng hề tiếc, ta vẫn quyết định chẳng quay đầu, chẳng canh cải, vẫn giữ lòng tin kiên định như thế, cứ giữ chặt pháp môn này. Đối với người khác, cũng đem pháp môn này khuyên lơn, khích lệ, tự hành, dạy người sống trong chánh pháp.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Tứ giả: Ư nhất thiết pháp, phát sanh thắng nhẫn, vô chấp trước tâm.</strong></p>
<p>(Bốn là đối với hết thảy pháp, phát sanh tâm nhẫn thù thắng, không lòng chấp trước)</p>
<p>Tâm thứ ba trong phần trên là đối với sự chọn lựa tu tập của quý vị, giống như quý vị tu theo pháp môn Tịnh Độ thì tin tưởng vào pháp môn ấy, quyết định chẳng thay đổi. Nhưng đối với những bạn đồng học chẳng cùng một khoa hệ, tức là những người chẳng theo cùng một pháp môn, chẳng cùng tông phái, quý vị phải tôn kính, chẳng được phỉ báng đó nghe! Bởi thế, phải “phát sanh thắng nhẫn”. Thắng là thù thắng, Nhẫn là thừa nhận, chấp nhận, đồng ý. Pháp môn của họ cũng là pháp môn vô thượng, chẳng được ôm lòng chấp trước. Chấp pháp môn của mình là số một, pháp môn của người ta là số hai; mình thù thắng, người ta chẳng bằng mình, như vậy là quý vị “khen mình, chê người”.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Ngũ giả: Bất tham lợi dưỡng, cung kính, tôn trọng, tịnh ý lạc tâm.</strong></p>
<p>(Năm là chẳng tham lợi dưỡng, cung kính, tôn trọng, tâm giữ ý lạc thanh tịnh)</p>
<p>Chẳng tham lợi dưỡng là là một khuôn phép lớn lao đức Phật dạy răn chúng ta. Vừa nhiễm lợi dưỡng, tiền đồ bị hủy hoại ngay. Lợi dưỡng có vô lượng vô biên lỗi hại, chẳng được nhiễm. Bởi thế, người tu hành đời sống càng thanh bần càng tốt. Sống thanh bần sẽ chẳng lưu luyến thế giới này, tâm xuất ly thường sanh khởi.  Điều ấy rất tốt, đạo tâm tăng trưởng. Nếu tham chấp lợi dưỡng, A Di Đà Phật đến đón quý vị, quý vị vẫn chẳng bỏ được đâu! Ở đây, kinh dạy quý vị phải buông bỏ lợi dưỡng, phiền lắm! Cũng đừng tham chấp sự cung kính, tôn trọng tham chấp, quyết định chẳng được mong cầu, dù người khác rất cung kính, rất tôn trọng. Nếu quý vị có thể lìa bỏ lợi dưỡng, cung kính, tôn trọng, thủy chung gìn giữ pháp hỷ thanh tịnh, cái “ý lạc” hay sự vui thích nơi , ấy gọi là “pháp hỷ sung mãn”.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Lục giả: Cầu Phật chủng trí, ư nhất thiết thời, vô vong thất tâm.</strong></p>
<p>(Sáu là cầu Phật chủng trí, trong hết thảy thời, tâm chẳng quên mất)</p>
<p>Đây đúng thực là mục tiêu, phương hướng học Phật của chúng ta, mỗi thời, mỗi khắc đều chẳng sai lệch. Mục tiêu gì? “Cầu Phật chủng trí”. “Chủng trí” là A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề (Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác). Chúng ta học Phật vì lẽ gì? Chính là vì điều này, chứ chẳng vì cái gì khác. Chúng ta đạt đến Chánh Giác, tức là ngang với A La Hán; đạt đến Chánh Đẳng Chánh Giác chính là Bồ Tát, đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác là viên mãn thành Phật. Đấy là mục tiêu, phương hướng học Phật chánh xác, chẳng được sai lệch mảy may. Vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới cũng vì lẽ này. Bởi lẽ, trong thế giới này chướng ngại quá nhiều, hoàn cảnh tu học chẳng tốt, chẳng dễ gì thành tựu, nên đến Tây Phương Cực Lạc thế giới để thay đổi hoàn cảnh, vẫn chỉ vì việc này.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Thất giả: Ư chư chúng sanh, tôn trọng tu kính, vô hạ liệt tâm.</strong></p>
<p>(Bảy là đối với các chúng sanh tôn trọng, cung kính, không có tâm hèn kém)</p>
<p>Chúng ta dùng tâm tư, thái độ nào để đối xử với người khác, để đối đãi hết thảy chúng sanh? Chẳng phân biệt, phải dùng tâm thanh tịnh, bình đẳng để tu.</p>
<p>“Tôn trọng”: Dối với hết thảy chúng sanh đều tôn trọng, cung kính, đều chẳng được có “tâm hèn kém”. “Hèn kém” là khinh mạn, coi rẻ.</p>
<p>&#8220;Tu kính&#8221; thì kính là gì? Kính là tánh đức, quý vị thấy trong mười đại nguyện vương của Phổ Hiền Bồ Tát, nguyện thứ nhất là “lễ kính chư Phật”, đó là tu lễ kính chư Phật, tức là lễ kính chúng sanh hiểu theo nghĩa rộng. Hết thảy pháp đều do các duyên hòa hợp mà sanh. Thân thể của động vật và thân thể của chúng ta đều do các duyên hòa hợp mà sanh, thực vật cũng do các duyên hòa hợp mà sanh. Bàn, ghế tựa, ghế dài vẫn là các duyên hòa hợp mà sanh. Cho thấy: Đối với người, đối với vật, đối với sự đều phải tôn trọng, cung kính, đấy là học Phật!</p>
<p>Tâm ấy là tâm Bồ Đề, tâm giác ngộ. Tâm giác ngộ nhất định phải làm như thế, chẳng làm được như thế thì chính là mê hoặc, điên đảo, chưa giác ngộ. Người giác ngộ nhất định phải tôn trọng, cung kính người khác.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Bát giả: Bất trước thế luận, ư Bồ Đề phần, sanh quyết định tâm.</strong></p>
<p>(Tám là chẳng dính mắc thế luận, sanh tâm quyết định nơi Bồ Đề phần)</p>
<p>“Thế luận” là học thuật, ngôn luận thế gian. Ở đây, kinh dạy “chẳng dính mắc”, chẳng có nghĩa là chẳng được tiếp xúc, chẳng được xem đọc những thứ ấy; mà chỉ có nghĩa là “chớ có tham chấp”. Nếu tham chấp sẽ sanh lòng yêu thích những thứ ấy, rất phiền! Chẳng nên yêu thích, chỉ nên tùy duyên. Nếu tâm yêu thích, tham chấp thì gọi là “phan duyên”, phan duyên là hỏng rồi. Tùy duyên là tốt vì là tùy hỷ công đức vậy.</p>
<p>“Với Bồ Đề phần”, Bồ Đề là giác, chẳng mê! “Trước” là mê, tham trước là mê. Chẳng được mê đó nghe! Giác chẳng mê, đó là “sanh tâm quyết định”.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Cửu giả: Chủng chư thiện căn, vô hữu tạp nhiễm, thanh tịnh chi tâm.</strong></p>
<p>(Chín là trồng các căn lành, tâm thanh tịnh chẳng có tạp nhiễm)</p>
<p>&#8220;Thiện căn&#8221; theo pháp thế gian gồm có ba điều: vô tham, vô sân, vô si, đó gọi là ba thiện căn. Hết thảy thiện pháp thế gian xuất sanh từ đấy, bởi thế gọi là “ba thiện căn”. Đại pháp xuất thế gian, ta thường gọi là thiện căn của Bồ Tát. Thiện căn của Bồ Tát chỉ gồm một điều: Tinh Tấn. Các vị nhất định phải nhớ kỹ chữ “tinh tấn”: Tinh là thuần nhất không tạp. Chúng ta học Phật, tu Tịnh Độ, đối với năm kinh một luận, đọc tụng, thọ trì, vì người khác diễn nói là tinh tấn.</p>
<p>&#8220;Vô hữu tạp nhiễm&#8221; là chẳng có xen tạp những thứ thuộc tông phái khác vào để siêng tu,đó gọi là loạn tấn, tạp tấn, chứ chẳng phải là tinh tấn. Bởi lẽ, tinh tấn là thiện căn của Bồ Tát, nên nhất định có thành tựu. Điều này cho thấy thâm nhập một môn rất trọng yếu, thâm nhập một môn gọi là tinh tấn</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Thập giả: Ư chư Như Lai xả ly chư tướng, khởi tùy niệm tâm.</strong></p>
<p>(Mười là đối với các Như Lai bỏ lìa các tướng, khởi tâm tùy niệm)</p>
<p>Câu cuối cùng này là đạt đến cứu cánh viên mãn. Chẳng những phải xa lìa các tướng, mà ngay cả Phật tướng cũng phải lìa thì tâm mới rỗng sạch. Lúc quý vị làm được như thế, quý vị mới có thể niệm đến Lý Nhất Tâm Bất Loạn; chẳng làm được điều này, chỉ có chín điều trước, thì quý vị có thể niệm đến Sự Nhất Tâm Bất Loạn. Điều này chính là như kinh Kim Cang nói:</p>
<p>“Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng”<br />
(Phàm cái gì có tướng đều là hư vọng).</p>
<p>Tướng của Tây Phương Cực Lạc thế giới cũng là hư vọng, cũng chớ nên chấp trước.</p>
<p>“Pháp còn nên xả, huống hồ là phi pháp”.</p>
<p>Chữ “xả” có nghĩa là bỏ ý niệm chấp trước, bỏ cái tâm chấp trước. Đừng nói chúng ta phải ly pháp, ngay cả Đẳng Giác Bồ Tát vẫn còn y pháp cơ mà! Lià tướng là nói tâm lià tướng, không có chấp vào tướng</p>
<p style="text-align: center;">=======</p>
<p>Nay quý vị đã hiểu rõ ý nghiã của &#8220;Tâm Bồ Đề&#8221;, hãy pháp tâm bồ đề, vì tâm Bồ Đề là việc đầu tiên cho việc tu hành Bồ Tát đạo. Trong kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Vào Pháp Giới, khi Thiện tài đồng tử đi đến gặp 53 vị Bồ Tát, câu đầu tiên ngài bạch rằng: &#8220;Bạch đức Thánh ! Con đã phát tâm Vô thượng Bồ Đề, mà chưa biết Bồ Tát thế nào học Bồ Tát hạnh, thế nào tu Bồ Tát đạo ?&#8221;</p>
<p>Đó cho chúng ta thấy, muốn tu hành Bồ Tát đạo, thì việc đầu tiên là phát tâm Vô thượng Bồ Đề. Cho nên chúng tôi vì trăm vạn A tăng kỳ hạnh phương tiện như vậy, mà phát tâm đại bồ đề. Bồ Tát hạnh vào khắp tất cả pháp, vì đều chứng đắc thật tướng các pháp. Bồ Tát hạnh vào khắp tất cả cõi, vì nghiêm tịnh cõi nước chư Phật thanh tịnh. Nghiêm tịnh hết tất cả thế giới, thì nguyện của chúng tôi mới hết, cho đến diệt trừ hết phiền não tập khí của tất cả chúng sinh, thì nguyện của chúng tôi mới viên mãn. Đó là pháp môn chẳng thối tâm bồ đề, cũng là bất thối trụ, trong thập trụ</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Thị Hành Thất Bộ</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/phatbaybuoc/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 03 May 2019 14:40:23 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài Luận]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://langnghiem.com/?p=5701</guid>

					<description><![CDATA[Khi đức Phật sanh ra đời, đức Phật thị hành thất bộ (đi bảy bước)....]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><img loading="lazy" decoding="async" class="alignleft wp-image-5705" src="http://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/05/sevenstep.png" alt="" width="289" height="176" srcset="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/05/sevenstep.png 591w, https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/05/sevenstep-300x183.png 300w" sizes="auto, (max-width: 289px) 100vw, 289px" />Khi đức Phật sanh ra đời, đức Phật thị hành thất bộ (đi bảy bước). Khi bước đến bước thứ bảy, ngài chỉ tay lên trời và nói:</p>
<p style="text-align: justify;">“Thiên thượng thiên hạ<br />
Duy ngã độc tôn”.</p>
<p style="text-align: justify;">Bài viết hôm nay chúng ta sẽ luận về ý nghiã của câu nói trên và ý nghiã của bảy bước đi.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>1. “<span style="color: #993300;">Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn</span>”</strong>.</p>
<p style="text-align: justify;">Tất cả chúng sinh luân hồi trong 6 cõi. Còn các vị đắc đạo thì thoát ra sáu nẽo luân hồi và an vị trong 4 cõi còn lại  6 cõi + 4 cõi = 10 cõi.  Mười cõi đó là cõi:</p>
<p style="text-align: justify;">  Phật, Bồ Tát, Độc Giác, Thanh Văn, Trời, A Tu La, <strong>Người</strong>, Súc Sanh, Ngạ quỹ và Địa ngục.</p>
<p style="text-align: justify;">&#8220;<strong>Thiên thượng</strong>&#8221; &#8211; Đức Phật giơ tay phải lên trời có nghĩa là tức cả chúng sanh cư ngụ ở trên cõi người. Sáu cõi nằm phía trên cõi người là cõi Phật, Bồ Tát, Độc Giác, Thanh Văn, Trời, A Tu La. </p>
<p style="text-align: justify;">&#8220;<strong>Thiên hạ</strong>&#8221; &#8211; Cánh tay trái của đức Phật chỉ xuống dưới đất có nghĩa là tức cả chúng sanh cư ngụ ở phần dưới cõi thiên. Bốn cõi nằm phía dưới cõi thiên là cõi Người, Súc Sanh, Ngạ quỹ và Địa ngục. </p>
<p style="text-align: justify;">&#8220;<strong>Duy ngã</strong>&#8221; &#8211; dịch là chỉ có cái ngã . Chữ &#8220;ngã&#8221; có rất nhiều ý nghĩa, tùy theo người sử dụng.</p>
<p style="text-align: justify;">&#8211; Đối với những người trong sáu nẽo luân hồi, chữ &#8220;ngã&#8221; nầy dịch là &#8220;tôi&#8221;. Chúng sanh đầy tham sân si, cho nên mọi thứ đều muốn dành riêng cho mình, cho nên lấy cái tôi làm trọng. Suốt ngày âu yếm và trang hoàng cái thân hôi hám. Duy ngã đối với họ là chỉ một mình tôi thôi, không còn ai nữa.</p>
<p style="text-align: justify;">&#8211; Đối với các bậc Thanh Văn, Độc Giác. Họ đã tu hành, đắc đạo, có thể biến hóa một cái thân khác khi già. Họ không còn bám liếu cái thân ô nhiễm này nữa. Đối với các bậc trong hai cõi này, chữ ngã đã trở thành vô ngã. Duy ngã dịch là Vô ngã</p>
<p style="text-align: justify;">&#8211; Còn các bậc tu hành theo đại thừa, những bậc trong cõi Bồ Tát. Họ không chấp vào cái tôi, và cũng không chấp và không phải của tôi. Họ sống với cái tâm chân thật. Đối với những bậc tu hành nầy, chữ &#8220;duy ngã&#8221; có nghĩa là chỉ có cái chân tâm thường trụ không sanh không diệt</p>
<p style="text-align: justify;">&#8220;<strong>Độc tôn</strong>&#8221; &#8211; dịch là tôn quý nhất</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu quý vị sống với cái ngã, cái tôi, lòng tham không đái. Câu &#8220;duy ngã độc tôn&#8221; sẽ trở thành chỉ một mình tôi thôi, chẳng lẻ trên thế gian có ai lại tôn quý hơn tôi. Không có ai hết, cho nên tôi muốn có mọi thứ: tiền tài, nhan sắc, phú quý.  Nếu quý vị tu hành theo tiểu thừa, cái ngã đã trở thành vô ngã. Cho nên câu &#8220;duy ngã độc tôn&#8221; sẽ trở thành vô ngã. Mà vô ngã thì đâu có đi với chữ độc tôn. Cho nên các vị sẽ cho rằng trên thế gian nầy không có cái gì tôn quý hết. Những vị đó sẽ không hiểu được trong cái không lại có cái bất không. Trong cái vô ngã lại có cái chân ngã.</p>
<p style="text-align: justify;">&#8220;<strong>Thiên thượng thiên hạ, Duy ngã độc tôn</strong>” có nghĩa là tất cả chúng sanh trong mười cõi đều có cái tâm thường trụ không sanh không diệt, cái tâm Phật. Và cái tâm Phật đó là cái tôn quý nhất. Mười phương chư Phật, Phật Phật đồng nhau, bình đẳng. Chẳng phải nói ta là độc nhất vô nhị, cũng chẳng chuyên chế độc đoán. Ai ai cũng có thể thành Phật. Chẳng riêng gì một mình Ðức Phật Thích Ca là Phật, còn những chúng sinh khác thì chẳng cho thành Phật.  Hiện tại, chẳng phải chỉ có Phật mới có tri kiến của Phật. Mà tất cả chúng sinh đều có tri kiến của Phật. Chỉ tạm thời chúng sinh chẳng minh bạch đạo lý nầy, chẳng đắc được sức lực nầy. Cho nên, Phật vì chỉ thị cho tất cả chúng sinh tri kiến của Phật, mà giáng sanh tại thế giới Ta Bà nầy.</p>
<p style="text-align: justify;">Đức Phật nói ra vì muốn khiến cho chúng sinh ngộ tri kiến của Phật. Nói về lý thì tức nhiên minh bạch, nhưng chính mình cũng phải giác ngộ. Mình chẳng giác ngộ, chỉ cầu nghe thì trong tâm chẳng lãnh thọ chân chánh. Phật muốn khiến cho tất cả chúng sinh giác ngộ tri kiến Phật mà mình vốn có, cho nên hiện ra nơi đời. Đức Phật muốn chúng sinh hiểu được ai ai  cũng chân chánh giác ngộ, nhưng chưa chứng đắc cho nên hiện tại Phật khiến cho tất cả chúng sinh vào tri kiến của Phật. Vào tức là chứng quả, chứng được cảnh giới của Phật, do đó đại sự nhân duyên của Phật, tức là muốn khiến cho chúng sinh: khai, thị, ngộ, nhập, tri kiến của Phật, liễu sinh thoát tử, một khi liễu sinh tử, thì đại sự sẽ hoàn tất. Ðại sự hoàn tất, thì chẳng còn việc làm. Cho nên Phật nói đạo lý nầy xong rồi thì muốn vào Niết Bàn.</p>
<p style="text-align: justify;">Như Lai chỉ dùng một Phật thừa. Mười phương chư Phật Như Lai cũng chỉ dùng một Phật thừa duy nhất, để giáo hóa chúng sinh. Vì chúng sinh mà nói pháp, chẳng có đại thừa hoặc tiểu thừa. Hai hoặc ba tức là đại thừa, tiểu thừa, Thanh Văn thừa, Duyên Giác thừa và Bồ Tát thừa. Chẳng có các thừa ấy, cũng chẳng có thừa nào khác. Chẳng có đại thừa, chẳng có tiểu thừa, cũng chẳng có Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát thừa vậy. Những thừa đó chỉ là phương tiện dẫn dắt chúng sanh đi tới con đường giác ngộ. Vậy đó là thừa nào? Tức là duy nhất một, Phật thừa.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #993300;">2. &#8220;<strong>Thị hành thất bộ</strong>&#8220;</span> &#8211; có nghiã là thị hiện đi bảy bước. Tất cả các vị Bồ Tát Ma Ha Tát ở trời Ðâu Suất khi giáng trần để tu hành thành Phật quả, đều thị hiện bảy bước lúc sơ sinh. Trong tương lai, đức Di Lặc Bồ Tát cũng thị hiện như vậy. Tại sao các ngài thị hiện như vậy. Trong kinh Hoa Nghiêm, phẩm Ly Thế Gian, Bồ Tát Phổ Hiền trả lời Bồ Tát Phổ Huệ về các pháp quả dụng viên mãn, bậc diệu giác. Trong những câu hỏi, có một câu mà Bồ Tát Phổ Huệ hỏi Bồ Tát Phổ Hiền:</p>
<p style="text-align: justify;"><strong> Kinh Văn:  &#8220;Hà cố thị hành thất bộ?&#8221;</strong></p>
<p style="text-align: justify;">  Nghiã là: Cớ gì hiện đi bảy bước ?</p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Bồ Tát Phổ Hiền trả lời như sau:</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Kinh Văn: &#8220;Phật tử! Bồ-Tát Ma-ha-tát dĩ thập sự cố, thị hành thất bộ. Hà đẳng vi thập? sở vị:</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Giảng:</strong> Các vị đệ tử của Phật ! Đại Bồ Tát do mười việc, mà thị hiện đi bảy bước. Một tay chỉ trời, một tay chỉ đất, nói rằng : Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn. Đó là thị hiện cảnh giới lúc Bồ Tát sơ sinh. Những gì là mười ? Đó là :</p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Kinh Văn: Hiện Bồ Tát lực cố, thị hành thất bộ</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Giảng:</strong> 1. Vì hiện sức lực của Bồ Tát, mà thị hiện đi bảy bước.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Kinh Văn: Hiện thí thất tài cố, thị hành thất bộ</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Giảng:</strong> 2. Vì hiện bố thí bảy Thánh tài, mà thị hiện đi bảy bước. Bảy Thánh tài là :</p>
<ol style="text-align: justify;">
<li>Tín tài</li>
<li>Tấn tài</li>
<li>Giới tài</li>
<li>Tàm tài</li>
<li>Văn tài</li>
<li>Xả tài</li>
<li>Định tài.</li>
</ol>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Kinh Văn: Mãn địa thần nguyện cố, thị hành thất bộ</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Giảng:</strong> 3. Vì viên mãn nguyện của địa thần, mà thị hiện đi bảy bước.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Kinh Văn: Hiện siêu tam giới tướng cố, thị hành thất bộ</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Giảng:</strong> 4. Vì hiện vượt khỏi ba cõi mà thị hiện đi bảy bước. Ba cõi đó là cõi dục, cõi sắc &amp; cõi vô sắc</p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Kinh Văn: Hiện Bồ Tát tối thắng hành siêu quá Tượng Vương, ngưu vương, Sư tử Vương hành cố, thị hành thất bộ</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Giảng:</strong> 5. Vì hiện hạnh tối thù thắng của Bồ Tát, vượt qua hạnh voi chúa, trâu chúa, sư tử chúa, mà thị hiện đi bảy bước.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Kinh Văn: Hiện Kim cương địa tướng cố, thị hành thất bộ</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Giảng:</strong> 6. Vì hiện tướng bậc kim cang, mà thị hiện đi bảy bước.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Kinh Văn: Hiện dục dữ chúng sanh dũng mãnh lực cố, thị hành thất bộ</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Giảng:</strong> 7. Vì hiện muốn ban cho chúng sinh sức dũng mãnh, mà thị hiện đi bảy bước.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Kinh Văn: Hiện tu hành thất giác bảo cố, thị hành thất bộ</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Giảng:</strong> 8. Vì hiện tu hành đạo bảy giác bảo, mà thị hiện đi bảy bước. Bảy giác bảo đó là Trạch pháp giác, Niệm giác, Tinh tấn giác, Hỷ giác, Khinh an giác, Ðịnh giác và Xả giác.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Kinh Văn: Hiện sở đắc Pháp bất do tha giáo cố, thị hành thất bộ</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Giảng:</strong> 9. Vì hiện đắc pháp không do người khác dạy, mà thị hiện đi bảy bước.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Kinh Văn: Hiện ư thế gian tối thắng vô bỉ cố, thị hành thất bộ.</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Giảng:</strong> 10. Vì hiện nơi thế gian tối thắng không ai sánh bằng, mà thị hiện đi bảy bước.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Kinh Văn: Thị vi thập. Phật tử! Bồ Tát vi điều phục chúng sanh cố, như thị thị hiện.</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Giảng:</strong> Đó là mười pháp đi bảy bước của Bồ Tát. Các vị Phật tử ! Bồ Tát vì điều phục tất cả chúng sinh, nên mới thị hiện cảnh giới đi bảy bước như vậy.</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Pháp Hoa Tam Muội</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/phap-hoa-tam-muoi/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 29 Apr 2019 18:50:59 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Tam Muội]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://langnghiem.com/?p=5335</guid>

					<description><![CDATA[Pháp là Phật Pháp cũng là Diệu Pháp. &#8220;Diệu Pháp&#8221; tức là pháp huyền diệu,...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><span style="color: #993300;"><strong>Pháp</strong> </span>là Phật Pháp cũng là Diệu Pháp. &#8220;Diệu Pháp&#8221; tức là pháp huyền diệu, vi diệu, thâm áo không thể dò.</p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #993300;"><strong>Hoa</strong> </span>là Liên Hoa hay là hoa sen để làm ví dụ. Có nghĩa là dùng diệu pháp chi phối liên hoa, làm đề mục cho tam muội nầy</p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #993300;"><strong>Tam muội</strong></span> có nghĩa là bất động hay là định</p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="color: #993300;">Pháp Hoa Tam Muội</span></strong> là một trong những tam muội trong bộ kinh Pháp Hoa. Tam muội nầy dùng Diệu Pháp Liên Hoa làm tên. Diệu Pháp là pháp, Liên Hoa là ví dụ. Tam muội này rất là vi diệu thâm sâu, một số người không dễ gì hiểu nổi, cho nên dùng hoa để ví dụ, do đó tam muội nầy lấy pháp và dụ làm tên.</p>
<p style="text-align: justify;">Hoa có nhiều loại khác nhau, có loại “hoa dại không có quả”, chỉ có hoa mà chẳng có quả, là ví dụ những người buông lung, cứ nói dối, chỉ nói mà không làm, cũng là ví dụ cho ngoại đạo. Vì những bàng môn tả đạo, mặt ngoài trông có vẻ rất là thần thánh, họ cũng rất dụng công tu hành, tu đủ thứ sự khổ hạnh, nhưng chẳng kết quả, cuối cùng chẳng thành công, đó cũng như hoa dại chẳng có quả.</p>
<p style="text-align: justify;"><img loading="lazy" decoding="async" class="alignleft  wp-image-5360" src="http://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/04/blackberry2.jpg" alt="" width="99" height="80" />Có thứ “hoa có rất nhiều quả”, đó là ví dụ phàm phu cúng dường cho cha mẹ, sư trưởng, đủ thứ hành vi hiếu thuận. Vì cúng dường cha mẹ, cho nên được rất nhiều công. Những công này, tương lai cũng sẽ kết rất nhiều quả, hoặc là sinh về cõi trời, hoặc là sinh vào cõi người làm người giàu có, đó thật là một hoa có nhiều quả.</p>
<p style="text-align: justify;">Lại có, “một hoa kết một quả”, đó là biểu thị Duyên Giác. Duyên Giác tu hạnh viễn ly, tu pháp môn này, thì vào trong rừng sâu núi thẳm, cũng chỉ đắc được quả vị Duyên Giác.</p>
<p style="text-align: justify;"><img loading="lazy" decoding="async" class="alignleft  wp-image-5357" src="http://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/04/fig.jpg" alt="" width="79" height="63" />Lại có, “trước quả sau hoa”, như Tu Ðà Hoàn, họ đã chứng quả Tu Ðà Hoàn, nhưng về sau họ vẫn cần tiếp tục tu hành.</p>
<p style="text-align: justify;"> </p>
<p style="text-align: justify;">Lại có, “trước hoa sau quả”, đây là biểu thị Bồ Tát thừa, Bồ Tát thì trước phải tu hành, về sau mới đắc được quả vị Bồ Tát. Song, những thứ hoa đã nói ở trên, không thể ví dụ với diệu pháp được, cũng không thể sánh với diệu pháp, chỉ có hoa sen mới thật sự có thể ví dụ cho diệu pháp, vì hoa sen là hoa quả cùng lúc, biểu thị tức quyền tức thật.</p>
<p style="text-align: justify;"><img loading="lazy" decoding="async" class="alignleft  wp-image-5328" src="http://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/04/lotus.jpg" alt="" width="104" height="76" srcset="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/04/lotus.jpg 306w, https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/04/lotus-300x221.jpg 300w" sizes="auto, (max-width: 104px) 100vw, 104px" />Hoa quả cùng lúc vừa nói ở trên, mới biểu thị khai quyền hiển thật, vừa có hoa lại có quả, quyền là hoa, thật là quả, song, duy thật thí quyền, sao lại có hoa? Hoa là vì chấp quả mà có. Khi Phật nói Kinh Hoa Nghiêm, A Hàm, Phương Ðẳng, Bát Nhã đều vì nói Kinh Pháp Hoa, mới nói những Kinh điển đó. Pháp được nói ra trước là quyền pháp (pháp phương tiện), chứ chẳng phải là thật pháp, đến hội Pháp Hoa mới là thật pháp, thật giáo. Ðem quyền giáo triển khai, để hiện thị ra nhất thừa thật pháp,</p>
<p style="text-align: justify;">Loài hoa tượng trưng trong Pháp Hoa Tam Muội là hoa sen. Bởi vì hoa nở sen hiện, cũng gọi là khai quyền hiển thật. Hoa rụng sen thành, tức gọi là bỏ quyền lợi thật, xả bỏ quyền pháp, tuyên lưu ra diệu pháp chân thật. Thật giáo thượng thừa tức là viên đốn nhất thừa.</p>
<p style="text-align: justify;">Hoa sen là một thứ hoa hy hữu nhất. Thứ hoa này, thuộc về: hoa quả cùng lúc ; hoa nở thì sen hiện, hoa rụng thì sen thành. Rễ của hoa sen ở dưới bùn, cọng thì ở trong nước, còn hoa thì vượt lên khỏi mặt nước. Rễ ở trong bùn là biểu thị phàm phu, cọng ở trong nước là biểu thị hàng nhị thừa. Phàm phu chấp về có, ở trong bùn là ví dụ có ; nhị thừa thì chấp không, cọng hoa ở trong nước là biểu thị không. Hoa sen ở trên mặt nước là vượt ra không, có ; là biểu thị trung đạo và liễu nghĩa. Tức chẳng rơi về không, cũng chẳng rơi về có. Không, có gọi là hai bên, chẳng chấp vào hai bên, là trung đạo liễu nghĩa.</p>
<p style="text-align: justify;">Sao lại nói hoa sen là biểu thị sự trung đạo liễu nghĩa, đại giáo viên đốn? Vì một khi hoa sen nở, thì có sen, đó gọi là biểu thị nhân quả không hai ; nhân là quả, quả cũng là nhân, như trồng nhân Phật thì kết quả Phật. Mà hoa quả cùng lúc, cũng là biểu thị khai quyền hiển thật. Hoa sen nở thì biểu thị khai quyền, pháp quyền xảo phương tiện, sen hiện ra là biểu thị thật pháp; là chân thật không hư, dùng pháp thật tướng làm thể.</p>
<p style="text-align: justify;">Quý vị muốn tu hành Pháp hoa tam muội thì phải hiểu rằng nhân quả không hai. Nhân tức là quả, quả tức là nhân. Nhân quả cùng lúc, cho nên ví như hoa sen. Hoa sen là hoa nở sen hiện, hoa tàn thì sen thành. Tức là quyền thật không hai. Quyền là quyền xảo phương tiện, thật là chân thật bất hư, vì thật thí quyền, vì thật pháp mới dùng pháp quyền xảo phương tiện. Khai quyền hiển thật, khai mở quyền rồi, thì hiện ra thật. Tức là bổn tích không hai. Bổn là sự lý rất lâu xa về trước, tích là thật hiện sinh. Vì nhân quả không hai, quyền thực không hai, bổn tích không hai, cho nên gọi là Pháp hoa tam muội.</p>
<p style="text-align: justify;">Hoa sen nở và mang quả đồng thời cũng đại diện cho &#8220;sự mở ra tạm thời để biểu lộ sự thật. Sự nở hoa của hoa sen tượng trưng cho sự&#8221; mở ra &#8220;của pháp tạm thời. Pháp tạm thời đề cập đến các thiết bị hiện có và Pháp thực là Pháp chân chính, &#8220;không giả&#8221;, chân lý của dấu ấn chân thật.</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Kinh Phật &#8211; Mantra &#038; Sutra</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/thu-bai-moi/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 06 Apr 2019 16:45:26 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài Luận]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://langnghiem.com/?p=4793</guid>

					<description><![CDATA[Ngũ thập tri thiên mệnh có nghiã là 50 tuổi mới thấu hiểu được số...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><img loading="lazy" decoding="async" class="alignleft  wp-image-4830" src="http://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/04/translation.jpg" alt="" width="206" height="169" />Ngũ thập tri thiên mệnh có nghiã là 50 tuổi mới thấu hiểu được số mệnh của trời ban cho. Vậy thiên mệnh của chúng tôi là gì? Đó là mang Phật Pháp tới mọi người trên toàn thế giới. Trong những năm kế tiếp, chúng tôi sẽ bắt đầu dịch những kinh từ Việt Văn sang Anh Văn.</p>
<p>Phần Việt Văn trên website nầy cũng khá đầy đủ để cho quý vị tham khảo để tu bổ thêm trên con đường tu hành. Nếu quý vị mỗi ngày đọc 20 trang kinh trên đây, quý vị cũng phải tốn kém ít nhất là 10 năm mới đọc hết những trang kinh mà chúng tôi đã đưa lên. Và trong khi đợi quý vị đọc hết phần Việt Văn trên website nầy, chúng tôi sẽ dùng thời gian đó để dịch những cuốn kinh sang tiếng Anh. Công việc dịch kinh không phải là một chuyện nhỏ,  không thể làm xong trong vài ngày, nhưng đó là tâm nguyện và cũng là con đường hành trì tinh tấn ba la mật.</p>
<p>Quý vị đọc kinh, chúng tôi dịch kinh đánh máy. Mọi người tu hành và hành trì tinh tấn ba la mật. Hãy cố gắng tu hành.</p>
<p>Nam Mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật.</p>
<p style="text-align: center;">==</p>
<p style="text-align: center;"><em><span style="font-size: 24px; color: #ff6600;">Have fun doing it and you&#8217;ll make fast progress !!!</span></em></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Thế Giới Hải Hoa Tạng</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/the-gioi-hai-hoa-tang/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 20 Mar 2019 16:45:01 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài Luận]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://langnghiem.com/?p=4772</guid>

					<description><![CDATA[Cửu hành tinh (Trái đất + 8 hành tinh) quay tròn chung quang mặt trời...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><a href="http://kinhduong.com/wordpress/wp-content/uploads/2016/04/earth.jpg" rel="attachment wp-att-356"><img loading="lazy" decoding="async" class="size-medium wp-image-356 alignleft" src="http://kinhduong.com/wordpress/wp-content/uploads/2016/04/earth-300x148.jpg" alt="earth" width="300" height="148" /></a>Cửu hành tinh (Trái đất + 8 hành tinh) quay tròn chung quang mặt trời làm thành một thế giới. Nhiều thế giới tụ hợp lại thành một tiểu thế giới.</p>
<p>1000 tiểu thế giới như vậy quay tròn chung quang núi Tu Di làm thành một trung thế giới.</p>
<p><a href="http://kinhduong.com/wordpress/wp-content/uploads/2016/04/milkyWay.jpg" rel="attachment wp-att-357"><img loading="lazy" decoding="async" class="size-medium wp-image-357 alignright" src="http://kinhduong.com/wordpress/wp-content/uploads/2016/04/milkyWay-300x149.jpg" alt="milkyWay" width="300" height="149" /></a>1000 trung thế giới quay tròn làm thành một đại thiên thế giới. Được gọi là tam thiên đại thiên thế giới. Thế giới nầy được gọi là thế giới Ta Ba và có vị Phật làm giáo chủ tức là Thanh Tịnh Pháp Thân Tỳ Lô Giá Na Phật Thế Tôn, đang giáo hóa chúng sinh.</p>
<p>Những thế giới khác gần chúng ta nhất gồm có 19 thế giới. 7 thế giới nằm phía trên thế giới Ta Bà. 12 thế giới nằm phiá dưới thế giới Ta Bà. Tổng cộng là 20 thế giới, và mỗi thế giới có một vị Phật giáo hoá chúng sinh</p>
<p><center><span style="color: #ff6600;"><strong>20 &#8211; Thế giới: Diệu Bảo Diễm</strong></span><br />
Phật &#8211; Phước Ðức Tướng Quang Minh<br />
<span style="color: #ff6600;">19 &#8211; <strong>Thế giới: Thanh Tịnh Quang Phổ Chiếu</strong></span><br />
Phật &#8211; Phổ Chiếu Pháp Giới Hư Không Quang<br />
<span style="color: #ff6600;"><strong>18- Thế giới: Ly Trần</strong></span><br />
Phật &#8211; Vô Lượng Phương Tiện Tối Thắng Tràng<br />
<span style="color: #ff6600;"><strong>17- Thế giới: Bảo Trang Nghiêm Tạng</strong></span><br />
Phật &#8211; Vô Ngại Trí Quang Minh Biến Chiếu Thập Phương<br />
<span style="color: #ff6600;"><strong>16 &#8211; Thế giới: Thanh Tịnh Quang Biến Chiếu</strong></span><br />
Phật &#8211; Thanh Tịnh Nhật Công Ðức Nhãn<br />
<span style="color: #ff6600;"><strong>15 &#8211; Thế giới: Chúng Diệu Quang Ðăng</strong></span><br />
Phật &#8211; Bất Khả Tồi Phục Lực Phổ Chiếu Tràng<br />
<span style="color: #ff6600;"><strong>14 &#8211; Thế giới: Tịch Tĩnh Ly Trần Quang</strong></span><br />
Phật &#8211; Biến Pháp Giới Thắng Âm<br />
<span style="color: #ff0000;"><strong>13 &#8211; Thế giới: Ta Bà</strong><br />
<span style="color: #000000;">Thích Ca Mâu Ni Phật &#8211; Thanh Tịnh Pháp Thân Tỳ Lô Giá Na</span></span><br />
<center><span style="color: #ff6600;"><strong>12 &#8211; Thế giới: Quang Minh Chiếu Diệu</strong></span><br />
Phật &#8211; Siêu Thích Phạm<br />
<span style="color: #ff6600;"><strong>11 &#8211; Thế giới: Hằng Xuất Hiện Ðế Thanh Bảo Quang Minh</strong></span><br />
Phật &#8211; Vô Lượng Công Ðức Pháp<br />
<span style="color: #ff6600;"><strong>10 &#8211; Thế giới: Kim Cang Tràng</strong></span><br />
Phật &#8211; Nhất Thiết Pháp Hải Tối Thắng Vương<br />
<span style="color: #ff6600;"><strong>9 &#8211; Thế giới: Xuất Diệu Âm Thanh</strong></span><br />
Phật &#8211; Thanh Tịnh Nguyệt Quang Minh Tướng Vô Năng Tồi Phục<br />
<span style="color: #ff6600;"><strong>8 &#8211; Thế giới: Xuất Sinh Oai Lực Ðịa</strong></span><br />
Phật &#8211; Quảng Ðại Danh Xưng Trí Hải Tràng<br />
<span style="color: #ff6600;"><strong>7 &#8211; Thế giới: Chúng Hoa Diễm Trang Nghiêm</strong></span><br />
Phật &#8211; Hoan Hỷ Hải Công Ðức Danh Xưng Tự Tại Quang<br />
<span style="color: #ff6600;"><strong>6 &#8211; Thế giới: Tịnh Diệu Quang Minh</strong></span><br />
Phật &#8211; Phổ Quang Tự Tại Tràng<br />
<span style="color: #ff6600;"><strong>5 &#8211; Thế giới: Phổ Phóng Diệu Hoa Quang</strong></span><br />
Phật &#8211; Hương Quang Thiện Lực Hải<br />
<span style="color: #ff6600;"><strong>4 &#8211; Thế giới: Chủng Chủng Quang Minh Hoa Trang Nghiêm</strong></span><br />
Phật &#8211; Kim Cang Quang Minh Vô Lượng Tinh Tấn Lực<br />
<span style="color: #ff6600;"><strong>3 &#8211; Thế giới: Nhất Thiết Bảo Trang Nghiêm Phổ Chiếu Quang</strong></span><br />
Phật &#8211; Tịnh Quang Trí Thắng Tràng<br />
<span style="color: #ff6600;"><strong>2- Thế giới: Chủng Chủng Hương Liên Hoa Diệu Trang Nghiêm</strong></span><br />
Phật &#8211; Sư Tử Quang Biến Chiếu<br />
<span style="color: #ff6600;"><strong>1 &#8211; Thế giới: Tối Thắng Quang Biến Chiếu</strong></span><br />
Phật &#8211; Tịnh Nhãn Ly Cấu Ðăng</center></center>&nbsp;</p>
<p><a href="http://kinhduong.com/wordpress/wp-content/uploads/2016/04/hoaSen.jpg" rel="attachment wp-att-351"><img loading="lazy" decoding="async" class="size-full wp-image-351 alignleft" src="http://kinhduong.com/wordpress/wp-content/uploads/2016/04/hoaSen.jpg" alt="hoaSen" width="288" height="133" /></a>20 tầng thế giới trên nằm trên một thế giới tên là Phổ Chiếu Thập Phương Sí Nhiên Bảo Quang Minh. Và thế giới được trụ trên một đóa hoa sen tên là Nhất Thiết Hương Ma Ni Vương Trang Nghiêm</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Hoa sen Nhất Thiết Hương Ma Ni Vương Trang Nghiêm trụ <a href="http://kinhduong.com/wordpress/wp-content/uploads/2016/04/bienHuongThuy_Small.jpg" rel="attachment wp-att-348"><img loading="lazy" decoding="async" class="size-full wp-image-348 alignright" src="http://kinhduong.com/wordpress/wp-content/uploads/2016/04/bienHuongThuy_Small.jpg" alt="bienHuongThuy_Small" width="161" height="115" /></a>ở chính giữa biển Hương Thủy, tên là Vô Biên Diệu Hoa Quang. Thế giới Ta Bà của chúng ta nằm trong thế giới hay biển Vô Biên Diệu Hoa Quang nầy.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><a href="http://kinhduong.com/wordpress/wp-content/uploads/2016/04/theGioiHoaTang.jpg" rel="attachment wp-att-352"><img loading="lazy" decoding="async" class="size-medium wp-image-352 alignleft" src="http://kinhduong.com/wordpress/wp-content/uploads/2016/04/theGioiHoaTang-300x152.jpg" alt="theGioiHoaTang" width="300" height="152" /></a>Trong quanh biển hương thủy, Vô Biên Diệu Hoa Quang, lại có rất nhiều biển hương thủy khác. Phía đông biển hương thủy Vô Biên Diệu Hoa Quang đó, lại có biển hương thủy tên là Ly Cấu Diễm Tạng, và những biển như sau:</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>1). Biển Ly Cấu Diễm Tạng.<br />
2). Biển Vô Tận Quang Minh Luân.<br />
3). Biển Kim Cang Bảo Diễm.<br />
4). Biển Ðế Thanh Bảo Trang Nghiêm.<br />
5). Biển Kim Cang Luân Trang Nghiêm Ðể.<br />
6). Biển Liên Hoa Nhân Ðà La Võng.<br />
7). Biển Tích Tập Bảo Hương Tạng.<br />
8). Biển Bảo Trang Nghiêm.<br />
9). Biển Kim Cang Bảo Tụ.<br />
10). Biển Thiên Thành Bảo Ðiệp.</p>
<p>Thế giới Hoa Tạng có hai mươi tầng, giống như một tòa cao ốc có hai mươi tầng. Đó là nói theo chiều dọc, nói theo chiều ngang thì rộng lớn vô biên. Thế giới Ta Bà và Tây Phương Cực Lạc thế giới đều ở tầng thứ mười ba, một cõi ở phía Đông, một cõi ở phía Tây, có thể thấy là thế giới quá rộng lớn!</p>
<p>Dùng một đại thế giới làm đơn vị, <i>“đại thế giới”</i> ở đây chẳng phải là một tam thiên đại thiên thế giới. Chư vị phải hiểu: Tam thiên đại thiên thế giới quá nhỏ bé, quý vị thấy trong tầng thứ mười ba, thế giới Ta Bà và Tây Phương Cực Lạc thế giới ở trong cùng một bình diện (plane, mặt phẳng).</p>
<p>Mười vạn ức cõi Phật, chính là mười vạn ức đại thiên thế giới trong một tầng. Hai mươi tầng, mỗi tầng không chỉ có mười vạn ức [cõi nước]. <i>“Mười vạn ức” </i>là nói tới khoảng cách giữa thế giới này và thế giới của A Di Đà Phật. Đi theo phía Tây của thế giới A Di Đà Phật còn có những thế giới khác, theo hướng Đông của thế giới Ta Bà còn có những thế giới chư Phật khác nữa, quý vị mới biết thế giới này đúng là rộng lớn vô biên. Một đại đơn vị ấy được gọi là <i>“thế giới chủng”</i>. Trong thái hư không có vô lượng vô biên thế giới chủng giống như vậy.</p>
<p>Hòa Thượng Thích Quảng Độ khi còn trẻ, ngài có viết một bài thơ như sau:</p>
<p style="padding-left: 30px;">TÂM CỰC LẠC</p>
<p style="padding-left: 30px;">Tây phương Lạc quốc với Sa bà<br />
Đường về khoảng cách độ bao xa ?<br />
Không gian cõi Phật mười muôn ức<br />
Nhưng là khoảnh khắc tại tâm ta</p>
<p style="padding-left: 30px;">Thời gian khoảnh khắc tại tâm ta<br />
Gió thổi vi vu khúc nhạc hòa<br />
Chim hót vang rền tuyên diệu pháp<br />
Lưng trời đổ xuống trận mưa hoa</p>
<p style="padding-left: 30px;">Thời gian khoảnh khắc tại tâm ta<br />
Phật phóng hào quang chói sáng lòa<br />
Chín phẩm sen hồng hương ngát tỏa<br />
Thánh hiền tụ hội số hằng sa.</p>
<p style="padding-left: 30px;">Thời gian khoảnh khắc tại tâm ta<br />
Sen nở vừa xong thấy Phật đà<br />
Cực lạc đây rồi, tâm ta đó<br />
Rời tâm tìm kiếm lại càng xa.</p>
<p style="padding-left: 30px;">Thời gian khoảnh khắc tại tâm ta<br />
Trở lại sinh trong cảnh ác tà<br />
Lăn lộn nổi chìm đời ngũ trược<br />
Nhưng mà ta vẫn lại là ta.</p>
<p>(Mười muôn ức cõi Phật là một trăm vạn triệu cõi Phật; mỗi cõi Phật là một nghìn triệu thế giới, mỗi thế giới gồm một quả đất, một mặt trời, một mặt trăng. Như vậy cách nhau xa lắm. Nhưng đối với Phật pháp vô biên thì có gì là xa, vì vô biên thì không có trung tâm điểm mà chỗ nào cũng là trung tâm cả, thành ra không có xa, không có gần.)</p>
<p style="text-align: center;">====</p>
<p>Trên đây là nói theo &#8220;Sự pháp giới là sự tướng. Sự tướng vô lượng vô biên.&#8221;. Nhưng khi chúng ta nói theo: &#8220;Lý pháp giới, Lý là nhất tâm, đều do một lý biến hiện. &#8221;</p>
<p>Kinh Lăng Nghiêm: “Thập phương hư không giai nhữ tâm nội”<br />
Dịch là: “Mười phương hư không đều ở trong tâm”</p>
<p>Chân tâm chẳng có ngằn mé, tâm bao pháp giới, chẳng phải là pháp giới bao tâm. Do vậy, thế giới trùng trùng, vô lượng vô biên thế giới, <i>“bất xuất nhất tâm”</i> (chẳng ra ngoài nhất tâm). Ta Bà là tự tâm uế, tức là cảnh giới được biến hiện bởi sự ô nhiễm trong tự tâm. Tây Phương Cực Lạc thế giới là cảnh giới được biến hiện bởi tự tâm tịnh. Tâm tịnh ắt cõi tịnh, tâm ô nhiễm ắt cõi nước ô nhiễm, là chuyện như thế đó. Đều chỉ là do thức làm chủ, biến ở trong ấy, biến ra tướng ấy. Tâm tánh hiện tướng, bất luận nó biến như thế nào, chỉ là hiện tướng mà thôi. Tướng ấy biến hóa như thế nào, đều do thức làm chủ.</p>
<p><i>“Thị tri Cực Lạc chi sanh, sanh hồ tự tâm”</i><br />
(Do vậy biết sanh về Cực Lạc là sanh trong tự tâm)</p>
<p>Chúng ta sanh vào các cõi Phật khác cũng là sanh trong tự tâm. Dẫu chúng ta luân chuyển trong lục đạo, biến thành ngạ quỷ, biến thành súc sanh, hay biến thành địa ngục, cũng là sanh trong tự tâm! Lìa ngoài tự tâm, chẳng có một pháp nào khác để có thể được! Đó là nói theo Lý, nói theo chân tướng sự thật.</p>
<p>Quý vị có thể tìm hiểu thêm về Hoa Tạng Trang Nghiêm Thế Giới Hải nầy qua kinh Hoa Nghiêm, phẩm Thế Giới Hoa Tạng.</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Thập Tâm của Chú Đại Bi</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/thap-tam-cua-chu-dai-bi/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 13 Mar 2019 18:30:13 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài Luận]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://langnghiem.com/?p=4756</guid>

					<description><![CDATA[Chú đại bi &#8211; được gọi là đại từ đại bi tâm đà la ni....]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p>Chú đại bi &#8211; được gọi là đại từ đại bi tâm đà la ni. Đại từ bi tâm là cái tâm đầu tiên trong thập tâm của chú đại vi. Thập tâm đó là:<img loading="lazy" decoding="async" class="wp-image-4768 alignleft" src="http://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/03/thaptam.jpg" alt="" width="407" height="296" srcset="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/03/thaptam.jpg 459w, https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2019/03/thaptam-300x218.jpg 300w" sizes="auto, (max-width: 407px) 100vw, 407px" /></p>
<ol>
<li>Tâm Đại Từ Bi</li>
<li>Bình Đẳng Tâm</li>
<li>Vô Vi Tâm</li>
<li>Vô nhiễm trước tâm</li>
<li>Quán tâm không</li>
<li>Tâm cung kính</li>
<li>Ty hạ tâm</li>
<li>Vô tạp loạn tâm</li>
<li>Vô kiến thủ tâm</li>
<li>Tâm Vô Thượng Bồ Đề</li>
</ol>
<p>&nbsp;</p>
<p>Ðà la ni dịch là tổng trì, tức là tổng tất cả các pháp, trì vô lượng nghĩa, cũng có thể nói là nhiếp ba nghiệp (thân khẩu ý) thanh tịnh, giữ sáu căn (mắt tai mũi lưỡi thân ý). Nhiếp tâm là nhiếp tâm giữ thân. Nhiếp tâm thì có thể đắc được tam muội, đại định. Giữ thân tâm thì có thể đắc được Ðà la ni.</p>
<p>Làm thế nào có thể nhiếp thân khẩu ý ba nghiệp thanh tịnh ? Tức là thân chẳng phạm giới sát, trộm, dâm ba điều ác, miệng chẳng phạm nói dối, nói thêu dệt, nói hai lưỡi và chưởi mắng bốn điều ác, ý chẳng phạm tham sân si ba điều ác. Chẳng phạm mười điều ác này, mà thực hành mười điều thiện, thì ba nghiệp sẽ thanh tịnh.</p>
<p>Làm thế nào giữ mắt tai mũi lưỡi thân ý sáu căn tự tại diệu dụng ? Nếu ba nghiệp thanh tịnh, thì sáu căn tự nhiên sẽ được thanh tịnh. Thanh tịnh rồi thì tự nhiên thì sẽ đắc được cảnh giới sáu căn dụng với nhau.</p>
<p>Ðà la ni còn dịch là chú. Chú hay sinh thiện diệt ác, bảo hộ hành giả được cát tường như ý. Chú cũng giống như chiếu chỉ của hoàng đế, quan dân nhất định phải tuân lệnh. Lại giống như khẩu lệnh ở trong quân đội, người trong quân đội đều biết rõ, nếu không thì sẽ bị xử phạt, hoặc có sự nguy hiểm đến tính mạng.</p>
<p>Bài viết hôm nay, chúng ta sẽ nói rõ về thập tâm trong chú Đại Bi.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="color: #ff6600;"><strong>Tâm Đại Từ Đại Bi</strong></span>: Lòng Từ thường đem lại niềm vui cho chúng sinh. Bi có công năng làm cho mọi khổ nạn của chúng sinh được tiêu trừ. Cho nên được gọi là &#8220;Từ năng dữ lạc, Bi năng bạt khổ. Đây là cái tâm đầu tiên cho nên khi chúng ta tụng chú Đại Bi, chúng ta trì cúi đầu đảnh lễ các chư Phật, Bồ Tát và các vị thánh hiền, chúng ta đảnh lễ chú đại bi qua câu &#8220;Ma ha ca lô ni ca da&#8221;</p>
<p>Ma Ha có 3 nghĩa: lớn, nhiều và thù thắng.<br />
Ca lô &#8211; Hán dịch là “Bi”<br />
Ni ca &#8211; nghĩa là “Tâm”<br />
Da &#8211; nghĩa là đảnh lễ</p>
<p>Toàn câu chú Ma ha ca lô ni ca da có nghĩa là: “Cúi đầu đảnh lễ thần chú Đại bi tâm Đà la ni.</p>
<p>Người tu hành phát tâm đại thừa thì trước tiên phải phát tâm đại từ đại bi, có nghĩa là phải có cái tình thương yêu. Trong ý niệm lòng Từ Bi bảo hộ, che chở cho mọi loài. Thế nên lòng từ bi của bậc Hiền giả, Bồ tát thường đem đến sự bao bọc, che chở cho mọi loài chúng sinh.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="color: #ff6600;"><strong>Bình Đẳng Tâm</strong></span>: là cái tâm thứ hai trong thập tâm. Trong chú đại bi đây là câu &#8220;Tát bà&#8221;, có nghiã là tất cả cũng có nghiã là bình đẳng.</p>
<p>Tát bà tát bà. Hán dịch là “nhất thiết lợi lạc”. Câu chú này bao hàm cả Bảo thủ nhãn ấn pháp, nghĩa là mang đến mọi thứ lợi lạc cho mọi người. Phàm phu chúng ta luôn luôn mang tất cả lợi lạc về cho riêng mình. Các vị Phật và Bồ Tát thì mang tất cả lợi lạc cho tất cả chúng sanh. Tâm của các vị lúc nào cũng muốn phát tâm bình đẳng. Ngay cả các vị thánh hiền trong kinh chúa trời cũng dạy chúng ta thương yêu người hàng xóm cũng như yêu thương chính mình (Love your neighbor as yourself).</p>
<p>Tâm bình đẳng còn được gọi là bình đẳng tánh trí, có nghiã là trong tâm quý vị không có sự khác biệt giữa ta và vật đối tượng. Đó là tâm không còn sự ràng buộc của chủ thể và đối tượng.</p>
<p>Nên Tát bà biểu tượng cho ý thứ hai trong mười tâm, là “bình đẳng tâm”.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong><span style="color: #ff6600;">Vô Vi Tâm</span></strong> là cái tâm thứ ba trong thập tâm. Trong chú đại bi là câu &#8220;tát bà a tha đậu&#8221;. Tát bà là bình đẳng tâm. A tha đậu là vô vi tâm.</p>
<p>A tha đậu dịch nghĩa là “phú lạc vô bần” giàu có, an lạc, không nghèo nàn về tâm linh, đạo lý, Phật pháp. Còn dịch nghĩa là “như ý bất diệt”.</p>
<p>“Như ý” nghĩa là ước nguyện điều gì cũng đều được thành tựu.<br />
“Bất diệt” nghĩa là sự thành tựu do nguyện ấy vĩnh viễn không tiêu mất.</p>
<p>Trong mười loại tâm thì đây là “vô vi tâm” nghĩa là “phú lạc vô bần” và “như ý bất diệt”.</p>
<p><strong><span style="color: #ff6600;"> </span></strong></p>
<p><span style="color: #ff6600;"><strong>Vô nhiễm trước tâm</strong></span> là tâm chảng bị nhiễm trước lục trần. Tâm này giúp cho quí vị duy trì bản tâm thanh tịnh của chính mình. Khi quí vị khởi tâm niệm tham, sân, si, mạn, nghi… thì tâm quí vị liền bị ô nhiễm, không còn thanh tịnh nữa. Khi tâm quí vị không mong khởi những niệm ô nhiễm ấy, thì tâm quí vị được thanh tịnh.</p>
<p>Trong chú đại bi là câu &#8220;Hê rị ma ha bàn đa sa mế&#8221;.<br />
Hê rị có nghĩa là vô nhiễm trước tâm. Khi tâm không bị ô nhiễm thì ánh sáng đại quang minh được tỏa sáng. Cho nên vô nhiễm trước tâm đi trước với tâm đại quang minh.</p>
<p>Ma Ha có nghiã là đại. Bàn đa sa mế dịch nghĩa là “đại quang minh” hay là “Trường chiếu mệnh” nghĩa là ánh sáng thường chiếu soi rộng khắp mọi nơi.</p>
<p>Toàn câu chú &#8220;Hê rị ma ha bàn đa sa mế&#8221; có nghiã là “Tâm đại quang minh”. Nghĩa là khi tâm của quý vị không còn bị ô nhiễm thì ánh sáng của tâm lực, quang minh của tâm lực thường chiếu rộng khắp, mãi mãi siêu việt cả không gian vô cùng, thời gian vô tận. Từ một vi trần cho đến vô cùng vô tận thế giới đều có sự hiện hữu của ánh sáng ấy.</p>
<p>Vậy tu hành như thế nào mới có được tâm đại quang minh? Đó là tu hành qua tâm thứ 5</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="color: #ff6600;"><strong>Quán tâm không</strong></span> &#8211; Tâm Không Quán &#8211; có nghiã là phải hồi quang phản chiếu. Soay ngược lại. Đừng dùng thức để tu hành, vì dùng thức sẽ mang tới cái tâm phân biệt, cái tâm điên đảo. Nhìn sâu vào chính mình thì mới biết được trên thân thể của chúng ta không có cái vật gì gọi là tâm, không có cái gì gọi là ngã. Mọi thứ trên thế gian đều do cái vô minh, cái ngu si.</p>
<p>Bàn đà sa mế dịch nghĩa là “đại quang minh” hay “trường chiếu minh”, tiêu biểu cho nghĩa thứ năm trong mười nghĩa của tâm, đó là “quán tâm không”. Thông qua “quán tâm không”, hành giả mới có được trí tuệ. Với trí tuệ, hành giả mới có được quang minh. Có được quang minh, mới tỏa chiếu, soi sáng khắp mọi pháp giới được. Tức là không còn tối tăm, mê muội, tức là không còn vô minh.</p>
<p>Sao gọi là “vô minh”, vì tâm của quí vị không có được sự tỏa chiếu soi sáng khắp mọi pháp giới, do vì quí vị không có được “đại quang minh”. Nếu quí vị có được “đại quang minh” thì tâm quí vị liền có được sự tỏa chiếu soi sáng khắp mọi pháp giới, có nghĩa là quí vị đã chuyển hóa được vô minh. Một khi vô minh đã bị chuyển hóa sạch rồi, thì pháp tánh hiển hiện, đây chính là trí tuệ chân thật của quí vị.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong><span style="color: #ff6600;">Tâm Cung Kính</span></strong> &#8211; là tâm kính lễ chư Phật: Hạnh nguyện thứ nhất của ngài Phổ Hiền Bồ Tát là kính lễ chư Phật. Lễ chính là có lễ phép, có lễ độ. Lễ là một hình thức biểu hiện sự cung kính của người này đối với người kia. Quý vị đối với người có lễ phép, người khác đối lại quý vị cũng sẽ có lễ phép. Lễ là một trong Ngũ Thường: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín.</p>
<p>Con người sở dĩ khác với loài cầm thú là vì có lễ. Nếu con người mà không có lễ thì cũng chẳng khác gì loài cầm thú. Vì sao phải lễ phép? Vì chúng ta có tâm cung kính đối với những người chung quanh, nên mới hành lễ. Chúng ta cung kính một người hẳn phải được biểu hiện thành lễ. Đối với Chư Phật, chúng ta càng phải thể hiện sự lễ phép cung kính.</p>
<p>Tại sao chúng ta phải có tâm cung kính? Bởi vì càng cung kính thì càng dễ rời bỏ cái ngã mạn. Khi chúng ta không sanh tâm cung kính khi lễ bái Phật thì đó gọi là sanh mạn lễ. Ngã mạn lễ là thấy người khác lễ bái, mình cũng lễ, nhưng tướng ngã hoàn toàn chưa bỏ, lạy Phật mà chẳng chút tự nhiên, và luôn tự hỏi: Tôi lạy Phật để làm gì? Tôi đâu cần phải lạy ông ta? Do vậy nên lạy một cách không hoan hỷ, rất miễn cưỡng. Hoặc có người thấy người khác lễ Phật, ai cũng lạy mà mình không lạy thì mình nổi bật quá, cảm thấy ngượng nên lạy theo. Tuy lễ Phật nhưng tướng ngã không mất, ngã mạn vẫn còn.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="color: #ff6600;"><strong>Ty hạ tâm</strong></span> &#8211; Tâm khiêm nhường là tâm rất cung kính và tùy thuận bất kỳ người nào mình gặp. Trong chú đại vi là câu &#8220;A thệ dựng&#8221;.</p>
<p>A thệ dựng la tiếng Phạn, dịch nghĩa “vô tỷ pháp”. Không có pháp nào có thể so sánh được với pháp này. Còn có nghĩa là “vô tỷ giáo” nghĩa là không có đạo giáo nào có thể so sánh được.</p>
<p>Câu chú này biểu tượng cho tâm thứ bảy, được gọi là “ty hạ tâm”, là tâm rất cung kính và tùy thuận bất kỳ người nào mình gặp.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong><span style="color: #ff6600;">Vô tạp loạn tâm</span></strong> là tâm không bị tạp loạn, cấu nhiễm. Câu chú này còn biểu tượng cho tâm thứ tám, gọi là “vô tạp loạn tâm”. Đây chính là pháp thanh tịnh, không chút cấu nhiễm, chính là pháp bát nhã tâm của Quán Thế Âm Bồ – tát.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong><span style="color: #ff6600;">Vô kiến thủ tâm</span></strong> là tâm không khấp giữ &#8211; Trong chú đại vi là 2 chữ &#8220;Du bằng&#8221; trong câu &#8220;Tát bà a tha đậu du bằng.&#8221;</p>
<p>Du bằng dịch là “nghiêm tịnh vô ưu”, là thanh tịnh và trang nghiêm. Trang nghiêm lại thêm thanh tịnh, cho nên không có sự lo phiền, ưu não. Câu chú này biểu tượng cho tâm thứ chín “Vô kiến thủ tâm”. Kiến thủ là một trong năm món “ngũ lợi sử”. Nghĩa là khi quí vị vừa trông thấy một vật gì, tâm liền khởi niệm muốn chiếm đoạt, giữ lấy.</p>
<p>Nên với tâm thứ chín – vô kiến thủ tâm là trạng thái không có mảy may vọng động về sự chấp thủ đối với pháp và ngã; đối với chủ thể cũng như khách thể; đối với ngoại cảnh cũng như dòng chuyển biến của thức tâm.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="color: #ff6600;"><strong>Tâm Vô Thượng Bồ Đề</strong></span> &#8211; phát nguyện tâm. Trong chú đại bi là câu &#8220;Ma Ha bồ đề tát đỏa&#8221;, nghĩa là quí vị tự phát nguyện. Con nhất quyết thực hành theo hạnh nguyện của Bồ tát Quán Thế Âm, sẽ giáo hoá cho tất cả chúng sanh. Con nguyện nương theo giáo pháp Ngài đã dạy mà tu hành</p>
<p>Không những phát tâm mà còn “Y giáo phụng hành”. Nương theo lời dạy của Bồ tát Quán Thế Âm cũng như Quán Thế Âm của tự tâm để thực sự tu trì.</p>
<p>Ma ha có nghĩa là phát “đại” nguyện, tâm vô thượng</p>
<p>Bồ đề có nghĩa là “giác đạo”, là giác ngộ được đạo lý chân chính.</p>
<p>Tát đoả. Hán dịch là “đại dũng mãnh giả”. Câu này có nghĩa chư vị Bồ tát là người phát tâm đại bồ đề rất dũng mãnh và phát tâm tu hạnh Bồ đề.</p>
<p>Phát bồ đề tâm nghĩa là gieo trồng nhân giác ngộ, tu bồ đề hạnh là vun trồng, tưới tẩm cho hạt giống bồ đề đã gieo được nảy mầm, rồi mới mong gặt được quả giác ngộ, tức là quả vị Vô thượng bồ đề.</p>
<p style="text-align: center;">===========</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Thập tâm là tướng của Đà la ni. Năng lực của thần chú có thể chữa lành tất cả mọi tật bệnh và làm cho đài gương chiếu tội sáng ngời ngời.</p>
<p>Không những hằng ngày trì tụng chú đại bi, mà phải phát thập tâm. Chúng ta phải đem những đạo lý này hành trì không xao nhãng và không gián đoạn. Chúng ta tu tập theo tinh thần của kinh Đại bi tâm Đà la ni thì chắc chắn sẽ thành tựu đạo nghiệp, đắc thành chánh quả.</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Như Thật Tướng</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/nhu-that-tuong/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 07 Dec 2018 18:54:44 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài Luận]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://langnghiem.com/?p=4650</guid>

					<description><![CDATA[Như thật tướng là không điên đảo tức là giữ trung đạo. Phàm phu có...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><img loading="lazy" decoding="async" class="alignleft  wp-image-4651" src="http://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/12/thatTuong.jpg" alt="" width="455" height="286" srcset="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/12/thatTuong.jpg 713w, https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/12/thatTuong-300x188.jpg 300w" sizes="auto, (max-width: 455px) 100vw, 455px" />Như thật tướng là không điên đảo tức là giữ trung đạo. Phàm phu có bốn thứ điên đảo :</p>
<ol>
<li>Chẳng phải thường mà cho là thường.</li>
<li>Chẳng phải vui mà cho là vui.</li>
<li>Chẳng phải ngã mà cho là ngã.</li>
<li>Chẳng phải tịnh mà cho là tịnh.</li>
</ol>
<p>Bốn thứ điên đảo của hàng nhị thừa.</p>
<ol>
<li>Cái thường mà cho là chẳng thường.</li>
<li>Cái vui mà cho là chẳng vui.</li>
<li>Cái ngã mà cho là chẳng ngã.</li>
<li>Cái tịnh mà cho là chẳng tịnh.</li>
</ol>
<p>Bồ Tát cũng có điên đảo, chỉ có Phật là bậc đại giác. Cho nên, chín pháp giới chúng sinh đều sinh tồn ở trong điên đảo, niệm niệm thay đổi, có lúc cảm thấy tốt, có khi cảm thấy chẳng tốt. Kỳ thật chẳng có phân chia tốt và không tốt, tất cả đều từ nghĩ điên đảo mà ra. Nếu hay giữ trung đạo thì chẳng điên đảo. Học tập Phật pháp tức là muốn không điên đảo, chẳng học tập Phật pháp thì điên đảo. Giữ quy cụ thì chẳng điên đảo, không giữ quy cụ là điên đảo. Chúng ta nên tự phản tỉnh, nếu làm những chuyện điên đảo thì hãy mau sửa đổi !</p>
<p>Bài viết hôm nay sẽ thảo luận về câu &#8220;Như Thật Tướng&#8221;.</p>
<p>&#8220;<span style="color: #ff6600;"><strong>Như</strong></span>&#8221; tức là chẳng rơi vào không, chẳng rơi vào có, ‘’Không‘’, ‘’Giả‘’, ‘’Trung‘’ ba đế như một. Không tức giả, giả tức trung; một giả thì tất cả đều giả, một không thì tất cả đều không, một trung thì tất cả đều trung. Ba đế như một là ‘’Như‘’.</p>
<p>&#8220;<span style="color: #ff6600;"><strong>Thật</strong></span>&#8221; tức chẳng phải bảy phương tiện. Bảy phương tiện tức bảy hiền vị của Thanh Văn. 3 hiền + 4 thiện căn = 7 phương tiện</p>
<p>&#8211; &#8220;<strong>3 hiền</strong>&#8221; là: Ngũ đình tâm quán, Biệt tướng niệm xứ và Tổng tướng niệm xứ</p>
<ul>
<li>Ngũ đình tâm quán là năm phép quán dừng tâm, tức là dùng năm phép quán niệm để đình chỉ năm lỗi của tâm</li>
<li>Biệt tướng niệm xứ là quán niệm từ lãnh vực riêng, tức là tu tập bốn lãnh lãnh vực quán niệm, mỗi lẫn chỉ quán niệm về một lãnh vực</li>
<li>Tổng tướng niệm xứ là quán niệm chung các lãnh vực, tức là tu tập bốn lãnh vực quán niệm, mỗi khi quán niệm về một lãnh vực, cùng lúc cũng quán niệm cả ba lãnh vực kia (vô thường, vô ngã, khổ)</li>
</ul>
<p>&#8211; <strong>4 thiện căn</strong> là: Noãn, Đảnh, Nhẫn và Thế đệ nhất pháp. Được gọi là phép quán về bốn sự thật trí trong các pháp hữu lậu của thế gian.</p>
<p>Vị tu hành Thanh Văn trải qua 7 phương tiện và đạt được tứ thánh quả: Dự lưu, Nhất lai, Bất hoàn và A La Hán. Khi đạt được quả vị tứ quả A La Hán thì chấm dứt phần đoạn sinh tử. Tuy không còn phải tái sinh và trải qua 6 cõi luân hồi, nhưng vọng tưởng niệm niệm vi tế khởi lên chưa đoạn sạch, cho nên gọi là hữu lậu. Chỉ có Phật mới đoạn hết vọng tưởng, cho nên gọi là vô lậu. Thật trong Như Thật Tướng là thật trí trong pháp vô lậu.</p>
<p>Sinh tử có hai thứ : Phần đoạn sinh tử và biến dịch sinh tử. Bảy phương tiện trên là điạ vị của các bậc Thanh Văn tu hành để đoạn sinh tử, song vẫn còn biến dịch sinh tử. Thanh Văn đã dứt phần đoạn sinh tử, Bồ Tát đã dứt biến dịch sinh tử.</p>
<p>&#8220;Thật&#8221; tức là vượt qua quả vị của bảy phương tiện, không còn điên đảo, tức là vọng tưởng niệm niệm vi tế khởi lên được đoạn sạch. Trong kinh Pháp Hoa viết cách tu hành qua quán sát nhất thiết pháp không &#8220;Như Thật Tướng&#8221;.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Đại sư Trí Giả một đời lễ bái Kinh Pháp Hoa. Lúc Đại sư Trí Giả mười mấy tuổi nghe một vị Pháp sư tụng Phẩm Phổ Môn, Ngài vừa nghe qua liền nhớ hết, giống như kiếp trước Ngài đã từng tụng kinh này. Đến lúc Ngài gặp Đại sư Nam Nhạc, Đại sư dạy Ngài đọc tụng Kinh Pháp Hoa, lễ bái Kinh Pháp Hoa, Khi Ngài lễ bái đến Phẩm Dược Vương Bồ Tát Bổn Sự, thì chợt khai ngộ. Đại sư Nam Nhạc liền ấn chứng cho Ngài đã đạt được cảnh giới tiền phương tiện của Pháp Hoa Tam Muội –Triền Đà La Ni.</p>
<p>Trong Kinh Pháp Hoa có đề cập đến ‘’Tất cả pháp không‘’ là tổng tướng, &#8220;Như thật tướng&#8221; đến &#8220;không chướng&#8221; mười tám pháp không là biệt tướng, tất cả tướng nhờ nhân duyên có, từ điên đảo sinh, cho nên thường thích quán các thứ pháp tướng, xem tất cả đều không.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #ff6600;"><strong>18 pháp không đó là</strong></span></p>
<p>&#8220;<strong>Như thật tướng, bất điên đảo, bất động, bất thoái, bất chuyển, như hư không, vô sở hữu tánh. Nhất thiết ngữ ngôn đạo đoạn, bất sanh, bất xuất, bất khởi, vô danh, vô tướng, thật vô sở hữu, vô lượng, vô biên, vô ngại, Vô chướng</strong>&#8220;</p>
<ol>
<li value="1">&#8220;<strong>Như Thật Tướng</strong>&#8221; là không thứ nhất, đã giải thích ở phần trên</li>
</ol>
<ol>
<li value="2">&#8220;<strong>Bất Ðiên đảo</strong>&#8220;: Thường cho là vô thường, vui cho là khổ, ngã cho là chẳng phải ngã, tịnh cho là chẳng phải tịnh; ở trên là điên đảo của hàng nhị thừa. Bồ Tát cũng có điên đảo, chỉ có Phật là bậc đại giác. Cho nên, chín pháp giới chúng sinh đều sinh tồn ở trong điên đảo, niệm niệm thay đổi, có lúc cảm thấy tốt, có khi cảm thấy chẳng tốt. Kỳ thật chẳng có phân chia tốt và không tốt, tất cả đều từ nghĩ điên đảo mà ra. Nếu hay giữ trung đạo thì chẳng điên đảo. Học tập Phật pháp tức là muốn không điên đảo, chẳng học tập Phật pháp thì điên đảo. Giữ quy cụ thì chẳng điên đảo, không giữ quy cụ là điên đảo. Chúng ta nên tự phản tỉnh, nếu làm những chuyện điên đảo thì hãy mau sửa đổi!  Không điên đảo là nội không. Nội không (bên trong) không có sáu nhập: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, đều không, cho đến vô ngã.</li>
</ol>
<ol>
<li value="3">&#8220;<strong>Bất động</strong>&#8221; là định, chẳng sợ gì; ngồi thiền mà được như như bất động, thì chẳng bị cảnh giới chuyển. Ngồi thiền thì dù gặp cọp cũng chẳng sinh tâm sợ sệt, gát việc sinh tử ra ngoài, xem sinh tử nhất như. Có người nói : ‘’Tôi chẳng sợ chết, cho nên chẳng cần học Phật pháp để dứt sinh tử, mà tôi thì chẳng sợ sinh tử, cho nên chẳng cần học Phật pháp.’’ Bạn không sợ sinh tử, chẳng học Phật pháp, sinh tử chẳng dứt, cho nên chẳng bao giờ chấm dứt được. Khi ngồi thiền chẳng vì sinh tử làm lay động, tức là định lực. Không có ngã chấp là bất động. Bất động là ngoại không; ngoại không (bên ngoài) chẳng có sáu trần, không bị sáu trần làm giao động.</li>
</ol>
<ol>
<li value="4">&#8220;<strong>Bất thối</strong>&#8221; trí bi chẳng thối chuyển, thân tâm tịch diệt chẳng có vọng tưởng, cho nên có đại trí đại huệ. Tức cũng là liễu tính bình đẳng, chẳng sinh thối lùi. Không thối lùi là nội ngoại không. Chẳng thối chuyển làm phàm phu, chẳng thối chuyển làm hàng nhị thừa.</li>
</ol>
<ol>
<li value="5">&#8220;<strong>Bất chuyển</strong>&#8221; chẳng thọ luân hồi sở chuyển, chẳng lưu chuyển ở trong sinh tử của phàm phu, cũng chẳng ở trong nhị thừa chuyển phàm làm Thánh. Không chuyển là không không, không hay phá tất cả pháp, tức chẳng có ngã chấp (chấp cái ta), chẳng có pháp chấp, tức là pháp không, quét tất cả pháp, lìa tất cả tướng, cho nên không chuyển.</li>
</ol>
<ol>
<li value="6">&#8220;<strong>Như hư không</strong>&#8221; giống như hư không, Kinh Hoa Nghiêm có nói :‘’Nếu ai muốn biết cảnh giới của Phật, Hãy tịnh ý mình như hư không‘’. Chẳng có một vật gì tức là ‘’hư không‘’, hết thảy mọi vật đều bị hư không bao hàm. ‘’Như hư không’’ là đại biểu cho danh từ, tuy có danh từ, song chẳng có tự tánh, đừng có đầu lại thêm đầu, đi khắp nơi tìm hư không. ’Như hư không là thái không.</li>
</ol>
<ol>
<li value="7">&#8220;<strong>Vô sở hữu tánh&#8221;</strong> là chẳng có tự tánh’, chẳng có tha tánh, chẳng có cộng tánh, chẳng có nhân tánh cũng chẳng có quả tánh, tất cả đều không, Vô sở hửu tánh’ tức là tất kính không</li>
</ol>
<ol>
<li value="8">&#8220;<strong>Nhất thiết ngữ ngôn đạo đoạn&#8221;</strong> là ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt. Do đó, có câu: &#8220;Miệng muốn nói mà lời đã hết, Tâm muốn duyên mà suy nghĩ chẳng còn nữa&#8221;.<br />
Ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt. Do đó :<br />
‘’Tất cả pháp hữu vi<br />
Như mộng huyễn bọt bóng<br />
Như sương cũng như điện<br />
Hãy quán chiếu như thế.’’</li>
</ol>
<ol>
<li value="9">&#8220;<strong>Bất sanh&#8221; </strong>chẳng sinh vô minh, chẳng sinh trí huệ, tức chẳng sinh vô minh, cũng chẳng sinh trí huệ, tức là vào cảnh giới : ‘’Không nghĩ thiện, không nghĩ ác.’’ Chẳng có vô minh, chẳng có trí huệ, là bổn lai tự tánh đại quang minh tạng, cho nên chẳng có chỗ phá, cũng chẳng có chỗ năng phá, đó là lý thể ‘’Không sinh‘’. Trong cảnh giới nầy : Hành, vị, nhân, quả, thảy đều chẳng sinh. Không sinh là hữu vi không, pháp hữu vi do nhân duyên hòa hợp mà sinh, không hòa hợp thì không sinh, cho nên gọi là hữu vi không.</li>
</ol>
<ol>
<li value="10">&#8220;<strong>Bất xuất</strong>&#8221; tức là không nhập, chẳng xuất chẳng nhập, chẳng ra chẳng vào. Bổn thể của Như Lai tu là, đạt đến chỗ cứu kính, cho nên chẳng xuất chẳng nhập, chẳng có vô minh cũng chẳng có trí huệ đáng nói.  Bất xuất là vô vi không, ‘’vô vi vô khởi diệt, chẳng thật như không hoa‘’, vô vi tức là xuất ly, xuất ly tất cả pháp, xuất ly đã không, cho nên ‘’không xuất‘’.</li>
</ol>
<ol>
<li value="11">&#8220;<strong>Bất khởi</strong>&#8221; là vô thủy không, trong Kinh Ðại Bát Nhã có đề cập đến vô thủy không, vì ‘’khai thủy‘’ bất khả đắc, cho nên gọi là vô thủy không, chứng được lý thể như thế, thì khiến cho tất cả phương tiện quyền pháp đều vắng lặng.</li>
</ol>
<ol>
<li value="12">&#8220;<strong>Vô danh</strong>&#8221; chẳng có một tên gọi để đại biểu đạo lý nầy. Từ không điên đảo, đến không khởi, chẳng có một cái tên nào để gọi, đó là tánh không.</li>
</ol>
<ol>
<li value="13">&#8220;<strong>Vô tướng</strong>&#8221; là tướng không. Không tên không tướng, cũng có thể giải thích là thật vô sở hữu (chẳng có gì cả). Vô Tướng là chẳng có bất cứ tướng nào, có thể làm cho nó biểu hiện ra. Từ điên đảo đến chẳng khởi, chẳng có bất cứ hình tướng nào có thể hình dung, đó là tướng không.</li>
</ol>
<ol>
<li value="14">&#8220;<strong>Thật vô sở hữu</strong>&#8221; là chẳng thể được không, quán thể khen ngợi trung đạo, chẳng rơi vào không, chẳng rơi vào có, chẳng có một vật.</li>
</ol>
<ol>
<li value="15">&#8220;<strong>Vô lượng</strong>&#8221; là có pháp không, có lượng tức có pháp, có lượng không tức có pháp không. Vô lượng tức là pháp vô số lượng. Pháp có số lượng như là năm ấm : Sắc, thọ, tưởng, hành, thức; sáu căn, sáu trần, hợp lại gọi là mười hai nhập (còn gọi là mười hai xứ), thêm vào sáu thức là mười tám giới. Ở trên đây đều là pháp có số mục. Quán trung đạo là vô số lượng, tức là toàn số mục, là không thiếu không thừa.</li>
</ol>
<ol>
<li value="16">&#8220;<strong>Vô biên</strong>&#8221; là chẳng có pháp không, pháp là biên, chẳng có pháp tức vô biên. Vô biên là không bờ không bến. Tất cả các pháp trong tiểu thừa đều có nhất định, cho nên có biên tế. Chẳng có pháp nhất định mới là vô bờ vô bến.</li>
</ol>
<ol>
<li value="17">&#8220;<strong>Vô ngại</strong>&#8221; là hữu pháp vô pháp không, hữu pháp không không, đều rõ bất khả đắc, cho nên là vô ngại, cũng là trung đạo quán trí vào khắp tất cả các pháp, mà chẳng có chướng ngại.</li>
</ol>
<ol>
<li value="18">&#8220;<strong>Vô chướng</strong>&#8220;, tức giáo không, phương ngại giá chướng đều bất khả đắc, cho nên không chướng. Chẳng có một pháp nào có thể che đậy chướng ngại trung đạo quán trí.</li>
</ol>
<p>&#8220;<strong>Đãn dĩ nhân duyên hữu</strong>&#8221; &#8211; có nghiã là tất cả pháp chỉ nhờ nhân duyên mà có, từ điên đảo mà sinh ra. Ðạo lý bên trong là vô cùng vô tận, giảng kinh chỉ là lược thuật đại khái mà thôi. ‘’Quán tất cả pháp không‘’, mười tám câu kinh văn sau, có thể y chiếu mười tám (cái) không của Kinh Ðại Bát Nhã để giải thích; lại có thể dùng tất cả pháp để giải thích. Tất cả pháp như thật tướng, tất cả pháp không điên đảo, tất cả pháp bất động, tất cả pháp không thối lùi, tất cả pháp không chuyển, tất cả pháp như hư không, tất cả pháp vô sở hữu, tất cả pháp ngữ ngôn đạo đoạn, tất cả pháp không sinh, tất cả pháp không xuất, tất cả pháp không khởi, tất cả pháp không tên, tất cả pháp không tướng, tất cả pháp thật vô sở hữu, tất cả pháp vô lượng, tất cả pháp vô biên, tất cả pháp không ngại, tất cả pháp không chướng.</p>
<p>Ðừng điên đảo, thêm vào sự phân biệt có không của các pháp, đây là pháp thật, kia là pháp giả, đây là có sinh, kia là chẳng sinh. Nên ở chỗ vắng vẻ tu nhiếp tâm mình, an trụ bất động, đứng vững bất động như núi Tu Di. Yên lặng quán tất cả các pháp đều chẳng có, giống như hư không, chẳng có tự thể, cho nên chẳng kiên cố. ‘’Không sinh không xuất‘’, ‘’không động không lùi‘’, ‘’thường trụ một tướng‘’, thường trụ ở tướng chẳng có chẳng không, đó gọi là chỗ tu hành của Bồ Tát.</p>
<p>Nếu quý vị thường xuyên tụng kinh Pháp Hoa, thì nên thiền quán 18 pháp không, trong phẩm An Lạc. Quý vị sẽ sớm ngày đắc được Pháp Hoa Tam Muội</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Phương Pháp Trị Bệnh</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/phuong-phap-tri-benh/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 06 Dec 2018 22:24:24 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài Luận]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://langnghiem.com/?p=4636</guid>

					<description><![CDATA[Hành giả phải biết bị bệnh có ba thứ khác nhau: 1. Một là bệnh...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><img loading="lazy" decoding="async" class="alignleft  wp-image-4637" src="http://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/12/sick.jpg" alt="" width="335" height="230" srcset="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/12/sick.jpg 597w, https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/12/sick-300x206.jpg 300w" sizes="auto, (max-width: 335px) 100vw, 335px" />Hành giả phải biết bị bệnh có ba thứ khác nhau:<br />
1. Một là bệnh ngũ căn thêm bớt. Ngũ căn đó là thân, lưỡi, mũi, tai và mắt<br />
2. Hai là bệnh do các quỉ thần làm, và do việc ma xúc não mà bị bệnh;<br />
3. Ba là nghiệp báo gây bệnh.</p>
<p>Các bệnh như thế khi mới bệnh thì phải trị ngay thì rất dễ lành. Nếu để lâu thì bệnh thành, thân gầy ốm, trị khó hết<br />
Về phương pháp trị bệnh, đã biết rõ bệnh từ nguồn gốc nào phát khởi thì phải làm theo cách thức mà trị.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>1. Một là bệnh ngũ căn thêm bớt.</strong></p>
<p>Thân bệnh, là thân thể đau ngứa, ghẻ nhọt, nhức mỏi&#8230;<br />
Lưỡi bệnh, là lưỡi sưng lở, đau rát ăn uống mất vị.<br />
Mũi bệnh, là mũi nghẹt, sổ mũi, sưng đau, v.v&#8230;<br />
Tai bệnh, là tai ù, điếc, hoặc kêu o o&#8230;<br />
Mắt bệnh là ma ét mờ đau xốn, sưng chảy ghèn, nước mắt v.v&#8230;</p>
<p>Cách trị bệnh có nhiều. Một là khí tức trị bệnh, đó là sáu cách thở và mười hai tưởng trong tâm . Thế nào là sáu cách:</p>
<p style="padding-left: 30px;">1. Xuy (thổi) &#8211; để đuổi lạnh<br />
2. Hô (thở ra hét) &#8211; để đuổi nóng<br />
3. Hy (cười hy hy) &#8211; để đuổi đau và dùng để trị phong.<br />
4. Ha (là hơi) &#8211; để đuổi phiền và để hạ khí<br />
5. Hư (hà hơi) &#8211; để tan đàm, lại để tiêu mãn.<br />
6. Thẩn (thở dài) &#8211; để bổ lao.</p>
<p>Sáu hơi thở này đều ở trong mỗi phương tiện chuyển trắc (đổi cách) mà làm. Nếu trị năm tạng:</p>
<ul>
<li>Xuy và Hô có thể trị tim.</li>
<li>Hư để trị gan</li>
<li>Ha để trị phổi</li>
<li>Hy để trị tỳ</li>
<li>Thẩn để trị thận.</li>
</ul>
<p>Lại nữa, có mười hai tức để trị được các bệnh:</p>
<ul>
<li>Một là thượng tức &#8211; trị trầm nặng</li>
<li>Hai là hạ tức &#8211; trị hư huyền</li>
<li>Ba là mãn tức &#8211; trị gầy khô</li>
<li>Bốn là tiêu tức &#8211; trị thủng mãn</li>
<li>Năm là tăng trưởng tức &#8211; trị tổn</li>
<li>Sáu là diệt hoại tức &#8211; trị tăng</li>
<li>Bảy là noãn tức &#8211; trị lạnh</li>
<li>Tám là lãnh tức &#8211; trị nóng</li>
<li>Chín là xung tức &#8211; trị ủng kết chẳng thông</li>
<li>Mười là trì tức &#8211; trị rung động</li>
<li>Mười một là hòa tức &#8211; trị bốn căn chẳng hòa</li>
<li>Mười hai là bổ tức &#8211; giúp bồi bổ bốn căn</li>
</ul>
<p>Mười hai thứ tức này đều tưởng trong tâm mà dùng, để đối trị các bệnh.</p>
<p>Khéo dùng tức này có thể trị khắp các bệnh. Dùng sai chỗ đều sinh ra các bệnh. Hãy suy ra mà biết. Các Sư dùng tức trị bệnh có rất nhiều phương pháp, v.v&#8230; chẳng thể nói hết. Nay lược bày một, hai điều để biết đại ý.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>2. Hai là bệnh do các quỉ thần làm, và do việc ma xúc não mà bị bệnh</strong></p>
<p>Ma Quỷ có bốn thứ: Một là ma phiền não. Hai là ma Ấm nhập giới. Ba là ma chết. Bốn là ma Thiên tử cõi Dục.</p>
<p>1. Ma phiền não, tức là ba độc, chín mươi tám sử, thủ hữu lưu ách phược cái, triền não kiết, v.v&#8230; đều phá hoại việc tu đạo</p>
<p>2. Hai là ma Ấm giới nhập là năm Ấm, mười hai nhập, mười tám giới tất cả gọi là sắc hệ phược chúng sinh. Ấm ngăn che gốc lành thanh tịnh công đức trí tuệ của hành giả, làm cho không lớn lên được nên gọi là Ma. Ðó là Ấm nhập cõi dục cho đến Ấm giới nhập Sắc và Vô Sắc cũng giống như thế. Nếu hành giả tâm không dứt thọ trước thì đều gọi là Ma. Nếu chẳng thọ chẳng đắm, quán như hư không thì chẳng bị che chướng, tức là phá nghiệp ma.</p>
<p>3. Ba là ma chết, là tất cả sinh tử nghiệp báo trôi lăn chẳng dứt đều gọi là Ma. Lại nữa, nếu hành giả muốn phát tâm tu đạo liền bị bệnh mà chết, hoặc bị người khác hại, chẳng thể tu đạo, liền bị bỏ phế. Nay tu tập Thánh đạo cho đến đời sau, nhân duyên chuyển khác, quên mất bản tâm đều gọi là việc ma. Lại nữa, khi hành giả phải tu đạo thì lo chết chẳng sống liền yêu đắm thân ấy mà chẳng tu đạo, cũng thuộc về ma chết.</p>
<p>4. Bốn là ma trời, tức là Ba-tuần. Ma này là kẻ thù của Phật pháp, thường sợ hành giả ra khỏi cõi ma nên sai các quỉ thần quyến thuộc làm các thứ não loạn phá hoại gốc lành của hành giả, đó là ma trời Tha Hóa Tự Tại.</p>
<p>4 loại ma quỷ nầy thường tới phá các vị tu hành. Nếu quý vị muốn biết thêm chi tiết thì nên đọc quyển thứ 9 và 10 trong kinh Lăng Nghiêm. 2 quyển nầy nói rõ về 50 ma cảnh.</p>
<p>Phương pháp trị bệnh là dùng chú thuật trị bệnh. Muôn pháp đều có đối trị, dùng tướng mà nhàm chán, khéo biết pháp thuật ấy mà dùng, đều lành bệnh cả. Chú pháp ấy từ các kinh trong Mật Tông. Thuật pháp thì các Sư dấu kín, phần nhiều chẳng truyền bừa. Trong đại tạng kinh thì có Chú Lăng Nghiêm, Thập Chú, Chú Đại Bi và các bài chú trong Kinh Pháp Hoa, Kinh Hoa Nghiêm, v.v..</p>
<p>Nếu không học mật chú thì phải dùng ba pháp thiền định để trừ bỏ ma nghiệp.</p>
<ul>
<li>Một là phải biết chỗ thấy, nghe, hay, biết là không thật có, chẳng thọ nhận, chẳng mê đắm, cũng chẳng lo sợ, cũng chẳng phân biệt thì nó liền không hiện.</li>
<li>Hai là chỉ quán trở lại tâm thấy, nghe, hay, biết kia chẳng thấy có chỗ sinh, làm sao não loạn được. Khi quán như thế thì chẳng thọ, chẳng phân biệt, chúng liền tự tan biến</li>
<li>Ba là nếu thực hành quán này chẳng bỏ đi ngay, chỉ nên chánh niệm chớ sợ hãi, chẳng mê đắm, thân mạng, chánh tâm bất động, biết ma giới Như thì Phật giới Như, Ma giới Như thì Phật giới Như, một Như không hai Như. Không bỏ Ma giới, không theo ma giới, tức Phật pháp hiện tiền, Ma tự tan biến. Ðã chẳng thấy đến đi, cũng chẳng lo mừng. Nếu ma quỷ hiện hình thành hổ báo đến ăn thịt quý vị, phải biết đó việc đó là không thật, phải biết đó là giả dối. Biết như thế thì tâm không còn sợ hãi.</li>
</ul>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>3. Ba là nghiệp báo gây bệnh.</strong></p>
<p>Nếu là nghiệp bệnh thì phải nhờ tu phước sám hối chuyển đọc tụng thì bệnh sẽ tự hết. Hai là dụng tâm chủ cảnh mà trị bệnh. Tâm phụ trách quả báo trong một thời kỳ, ví như vua đến chỗ nào thì giặc phải tan. Tâm vương cũng thế, hễ chỗ nào có bệnh sinh trụ tâm trong ấy trải lâu chẳng tan thì bệnh liền dứt hết. Lại có thầy nói dụng tâm trụ vào Ưu-đà-na, Hán dịch là Ðan điền, cách rún 2,5 tấc về phía dưới (2,5 lóng tay) thì trị được nhiều bệnh. Dụng tâm trong ngồi thiền để trị bệnh thì phải có đủ mười pháp thì đều có ích lợi. Mười pháp đó là:</p>
<p>Một là tin. Hai là dụng. Ba là siêng năng. Bốn là thường trụ trong duyên. Năm là biết do đây mà khởi. Sáu là phương tiện. Bảy là làm lâu. Tám là biết lấy bỏ. Chín là khéo giữ gìn. Mười là biết ngăn che.</p>
<p>1. Tin, nghĩa là tin pháp này có thể trị bệnh</p>
<p>2. Dụng, tức là lúc nào cũng dùng</p>
<p>3. Siêng, là chuyên tinh dùng chẳng thôi, lấy hạn được làm mức</p>
<p>4. Thường trụ trong duyên, là tế tâm niệm niệm, y pháp chẳng ta tán loạn</p>
<p>5. Riêng biết bệnh do đâu khởi lên, là biết nguyên nhân bệnh khởi như trên nói</p>
<p>6. Phương tiện, là lấy bỏ duyên tưởng vận tâm khéo léo thành tựu, chẳng thất nghi</p>
<p>7. Làm lâu, nếu dụng mà chưa có ích ngay thì chẳng kể ngày tháng thường thực hành chẳng bỏ</p>
<p>8. Biết lấy bỏ, nghĩa là biết có ích thì siêng làm, dùng có lại thì bỏ đi, dần dần chuyển tâm mà trị</p>
<p>9. Biết giữ gìn, nghĩa là khéo biết duyên lạ phạm xúc</p>
<p>10. Ngăn che, nghĩa là được lợi ích thì chẳng nói ra ngoài, chưa được và tổn hại thì chẳng chê bai nghi ngờ.</p>
<p>Nếu y theo mười pháp này mà trị thì chắc chắn có công hiệu.</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Quà lễ trong mùa Giáng Sinh</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/qua-le-trong-mua-giang-sinh/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 03 Dec 2018 19:33:02 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài Luận]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://langnghiem.com/?p=4617</guid>

					<description><![CDATA[Lễ Giáng Sinh, còn được gọi là ngày Noel hay Christmas là một ngày lễ...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><img loading="lazy" decoding="async" class="alignleft  wp-image-4620" src="http://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/12/christmasPresents.jpg" alt="" width="308" height="197" srcset="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/12/christmasPresents.jpg 729w, https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/12/christmasPresents-300x192.jpg 300w" sizes="auto, (max-width: 308px) 100vw, 308px" />Lễ Giáng Sinh, còn được gọi là ngày Noel hay Christmas là một ngày lễ kỷ niệm Chúa Giêsu sinh ra đời. Theo truyền thống, Giáng sinh trước hết là một dịp đoàn tụ gia đình, để mỗi người nói lên tình yêu và tỏ sự quan tâm tới những người thân trong gia đình, họ hàng và với bạn bè, hàng xóm. Những người con học hay đi làm xa về nhà thăm gia đình.</p>
<p>Ngày lễ giáng sinh thường được ăn mừng vào tối ngày 24 tháng 12 và được cử hành chính thức vào ngày 25 tháng 12. Sau buổi thánh lễ vào chiều ngày 24 tháng 12, thường được nối tiếp là một bữa ăn tối chung trong gia đình. Sáng sớm ngày 25 tháng 12, cả gia đình thức dậy trao và mở quà tặng. Giáng Sinh là ngày lễ lớn nhất ở Hoa Kỳ, tương tự với Tết Nguyên Đán ở Việt Nam, đều nhấn mạnh đến ý nghĩa sum họp gia đình.</p>
<p>Ngày nay, ở Việt Nam, dù không phải là ngày nghỉ chính thức nhưng Giáng sinh dần dần được coi như một ngày lễ chung, thường được tổ chức vào tối 24 và kéo sang ngày 25 tháng 12. Một số công ty, tổ chức tư nhân cũng bắt đầu cho nhân viên nghỉ trong ngày Giáng sinh. Lễ Giáng sinh ở Việt Nam là một dịp sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Trong đêm Giáng Sinh, những đôi tình nhân âu yếm tặng quà cho nhau, trẻ em háo hức chờ sự xuất hiện của ông già Noel, gia đình bè bạn rủ nhau hội hè, yến tiệc, &#8230; và đặc biệt là những người Công giáo thì chuẩn bị tham dự thánh lễ tại thánh đường giáo xứ hoặc giáo họ.</p>
<p>Sáng ngày 25 tháng 12, mọi người trao quà tặng cho nhau. Những món quà có giá trị tùy theo túi tiền và tấm lòng của người tặng. Giá trị món quà tùy theo sự cảm ứng của người nhận. Thí dụ như một sợi dây chuyền vàng kim cương của một đại gia tặng để lấy lòng người đẹp thì làm sao so sánh với một bài thơ của một người con tặng cho mẹ trong ngày Giáng Sinh. Suốt năm vừa qua, người con nhỏng nhẻo và đòi mẹ cưng chìu mọi thứ. Đó là tánh ích kỷ của người con đối với mẹ. Tới gần ngày Giáng Sinh, người con hồi quang phản chiếu và càng thấy thương mẹ mình nhiều hơn. Với tấm lòng đó, người con làm một bài thơ tặng mẹ và tặng mẹ một ngày yên tỉnh nghĩ ngơi, không nấu ăn dọn dẹp. Một món quà Giáng Sinh đầy ý nghiã.</p>
<p>Ý nghiã món quà không phải là món quà tặng cho (giving to) mà là món quà buông thả (giving up). Buông thả cái gì? Đó là buông thả tánh tình ích kỷ, tham lam, tự lợi tự tha trong mùa lễ Giáng Sinh. Cho nên trong mùa lễ Giáng Sinh, trước khi chạy ra tiệm mua quà tặng cho người thân, hãy hít một hơi thở thanh tịnh và hồi quang phản chiếu lại cái tánh tham của mình trong năm vừa qua. Khi quý vị nhận ra cái tánh tham như tham ăn, tham ngủ, tham tài, &#8230; , quý vị sẽ nhận ra những tánh tham đó mang lại những thiệt thòi gì, đối với người thân của quý vị. Quý vị sẽ hiểu được món quà gì, xứng đáng nhất, để tặng cho người thân của quý vị.</p>
<p>Trong buổi sáng Giáng Sinh năm nay, đừng làm người mở quà và nói câu cám ơn. Hãy làm người nói câu cám ơn khi trao tặng quà.</p>
<p>&nbsp;</p>
<h2 style="text-align: center;"><em><span style="color: #ff0000;">Thanks for Giving</span></em></h2>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Lăng Nghiêm Tự</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/lang-nghiem-tu/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 29 Nov 2018 19:09:31 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Lăng Nghiêm]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://langnghiem.com/?p=4604</guid>

					<description><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự không phải là một ngôi chùa hay một nơi, một chổ. Vậy...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><img loading="lazy" decoding="async" class="alignleft  wp-image-4609" src="http://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/11/langNghiemTu.jpg" alt="" width="218" height="161" srcset="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/11/langNghiemTu.jpg 501w, https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/11/langNghiemTu-300x222.jpg 300w" sizes="auto, (max-width: 218px) 100vw, 218px" />Lăng Nghiêm Tự không phải là một ngôi chùa hay một nơi, một chổ. Vậy Lăng Nghiêm Tự ở đâu, và các vị tu hành tu hành nơi đâu? Câu trả lời đó nằm tại trong ý nghiã của chữ &#8220;Lăng Nghiêm Tự&#8221;.</p>
<p>Lăng Nghiêm (Śūraṃgama) là tiếng Sanskrit, có nghĩa là bền chắc nhất trong tất cả mọi thứ. Tất cả mọi thứ, mọi vật thể, như núi, sông, đất đai, nhà cửa, người, vật, các loài sinh từ bào thai, từ trứng, từ nơi ẩm thấp hoặc loài hóa sinh. Tất cả những thứ đều phải được thể nghiệm qua chiều sâu và tính vững chãi mới có thể đạt được bản thể của định, bản thể của “mật nhơn.”. Khi hành giả đạt được “đại định” của “mật nhơn”, người ấy là một bằng chứng của “liễu nghĩa.”. Khi một hành giả đã đạt được liễu nghĩa, nghĩa là hành giả ấy đã tu tập lục độ vạn hạnh của bồ-tát, đã chứng được “đại hạnh.”. Chứng được “đại hạnh” rồi sau đó mới thành tựu được loại định cứu cánh kiên cố nhất trong các hiện tượng, đó là “đại quả”, kết quả lớn nhất trong tất cả các kết quả. Đó là quả vị Lăng Nghiêm Đại Định.</p>
<p>&#8220;Tự&#8221; là gì? Chữ Tự có nghiã là chùa, tiếng Anh là Temple. Ngài Đạt La Ma (Dalai Lama) giảng giải ý nghiã chữ Temple như sau:</p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" class="size-medium wp-image-4600 alignright" src="http://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/11/dalaiLama-300x193.jpg" alt="" width="300" height="193" srcset="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/11/dalaiLama-300x193.jpg 300w, https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/11/dalaiLama.jpg 640w" sizes="auto, (max-width: 300px) 100vw, 300px" /></p>
<p>Tâm là chùa, chùa là tâm. Chùa nằm tại tâm. Trong tâm có chùa. Vậy Lăng Nghiêm Tự đó là gì? Đó là chân tâm, vốn không thể thấy được. Tâm nằm trong lồng ngực mà quý vị có thể trông thấy được, đó chỉ là trái tim, nhiệm vụ nó là để giúp cho quý vị sống còn. Đó không phải là chân tâm. Trái tim ấy chắc chắn không thể nào dẫn quý vị đến sự hiểu biết chân chính. Nếu trái tim trong lồng ngực quý vị là chân tâm, thì lẽ ra nó phải cùng đồng hành với quý vị khi chết đi. Vậy mà sau khi chết thân xác quý vị còn đó mà trái tim vẫn nằm yên trong thân. Thế nên trái tim thịt ấy không phải là chân tâm.</p>
<p>Các ngôi chùa mà quý vị đã đi hành hương viếng thăm là những ngôi nhà che mưa che nắng để quý vị tu hành. Những nơi đó cũng như trái tim của quý vị, nhiệm vụ nó là để giúp cho quý vị sống. Các ngôi chùa đó thường phải tu bổ chăm sóc, nó không giống như Lăng Nghiêm Tự, kiên cố bất sanh bất diệt. Lăng Nghiêm Tự là tâm chân thật và Tâm chân thật của quý vị chính là Phật tánh. “Thế Phật tánh ở nơi đâu?”</p>
<p>Phật tánh chẳng ở trong, chẳng ở ngoài, chẳng ở giữa. Kinh văn sẽ giải thích đạo lý này rất chi tiết. Trong kinh cũng sẽ giải thích “Thập phiên hiển kiến” (mười lần chỉ bày tánh thấy), đó là “chân tâm.” Đây là nguyên nhân thứ ba khiến Đức Phật tuyên thuyết bộ kinh này, là để chỉ bày rõ cho chúng sinh Thường Trụ Chân Tâm Tánh Tịnh Minh Thể (thể tánh thanh tịnh sáng suốt thường trụ của chân tâm). Chơn tâm này vốn không đi, không đến, không biến đổi, không dao động. Chơn tâm ấy là bản thể, không bị nhiễm ô. Bản chất của chân tâm hoàn toàn thanh tịnh. Thể tánh của chân tâm hoàn toàn sáng suốt.</p>
<p>Vậy quý vị có nên rời bỏ chùa để lên núi vào hang đá tu hành hay không? Dĩ nhiên là không. Hang động cũng là nơi che mưa che gió. Hang động cũng là tướng, vẫn trải qua sanh trụ hoại không. Đó là tu hành với tâm phân biệt và vọng tưởng. Đem tâm phân biệt (thức) và vọng tưởng mà tu học Phật pháp cũng giống như nấu cát mà mong thành cơm, không thể nào thành tựu được, dù quý vị có tu hành như thế trải qua vô số kiếp, cũng không thể nào thoát khỏi vòng luân hồi, chẳng thể nào thành Phật được.</p>
<p>Yếu chỉ tu hành tại Lăng Nghiêm Tự là phá hủy và làm tiêu tan những vọng tưởng điên đảo này và phá trừ những mê lầm rất vi tế nhỏ nhiệm từ tâm thức. Giáo thể của Lăng Nghiêm Tự cũng căn cứ vào duy thức môn và khi quy về Như Lai Tạng. Tánh quy về chân như, thì không liên quan đến hiện tượng nữa mà nói thẳng đến bản thể nên gọi là quy tánh môn. Quy tánh môn là hoàn toàn viên dung không ngăn ngại, vì thức tâm có thể tánh nhất định, nên tất cả đều quy về chơn tánh. Vậy quy tánh là giáo thể Lăng Nghiêm Tự. Quy tánh môn là quay về với thể tánh của chúng sinh. Khi các môn dung nhiếp với nhau không ngăn ngại, sự lý vô ngại chính là giáo thể của Lăng Nghiêm Tự.</p>
<p>Tu hành tại Lăng Nghiêm Tự không phải tu hành theo Nhị Thừa (Thanh văn, Duyên giác), cũng không phải quyền thừa, mà là Thật Thừa. Thật Thừa là gì? Đó là nhất thừa thật pháp, đó tức là: hoa nở sen hiện, cũng gọi là khai quyền hiển thật. Hoa rụng sen thành, tức gọi là bỏ quyền lợi thật, xả bỏ quyền pháp, tuyên lưu ra diệu pháp chân thật. <strong>Thật</strong> giáo thượng thừa tức là viên đốn nhất <strong>Thừa</strong>, cho nên gọi là Thật Thừa, một giáo lý bất biến, hằng vĩnh.</p>
<p>Lăng Nghiêm Tự là ngôi chùa không có tướng thì làm sao mà suy hoại, làm sao mà phá vỡ. Người đời bên ngoài chấp <em>tướng</em>, bên trong chấp <em>không</em>. Nếu có thể nơi tướng ly khai tướng, nơi không rời không, đó chính là không chấp nơi không, không chấp nơi có. Cũng chính là trong ngoài không mê, không mê sẽ không chấp trước, không chấp trước thì không có mê. Nếu có thể hiểu rõ diệu pháp này thì trong một niệm tâm có thể sáng suốt khai ngộ</p>
<p>Cho nên chỗ nào quý vị đi đến, thì chỗ đó là Lăng Nghiêm Tự. Ngay cả trên mạng, trên website nầy, Lăng Nghiêm Tự tại đây đâu có hình thể để quý vị nắm lấy, nhưng nó đang hiện hữu trước mặt quý vị. Chỉ cần quý vị đón nhận nó, thì bạn không cần tốn kiếm một đồng xu, mà quý vị cũng có một Lăng Nghiêm Tự để quý vị tu hành.</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Hạnh Hoan Hỉ trong Thập Hạnh</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/hanh-hoan-hi-trong-thap-hanh/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 28 Nov 2018 18:38:12 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài Luận]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://langnghiem.com/?p=4586</guid>

					<description><![CDATA[Người tu đạo, phải y theo Phật trí để tu hành, đây là năng y....]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p>Người tu đạo, phải y theo Phật trí để tu hành, đây là năng y. Thập hạnh là sở y, sở y chiếu mười hạnh môn để tu hành. Thập hạnh tức là thập độ. Bồ Tát phải tu hành thập độ (pháp môn Ba La Mật), khi công đức viên mãn, thì mới chứng nhập ba bậc Hiền (thập trụ, thập hạnh, thập hồi hướng), sau đó chứng nhập mười bậc Thánh (thập địa). Những gì là thập hạnh ?<img loading="lazy" decoding="async" class="wp-image-4591 alignleft" src="http://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/11/giving.jpg" alt="" width="344" height="278" srcset="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/11/giving.jpg 470w, https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/11/giving-300x243.jpg 300w" sizes="auto, (max-width: 344px) 100vw, 344px" /></p>
<ol>
<li>Hạnh hoan hỉ là pháp môn bố thí của Bồ Tát tu, chẳng những tự mình hoan hỉ, mà cũng khiến cho chúng sinh hoan hỉ.</li>
<li>Hạnh nhiêu ích là pháp môn trì giới của Bồ Tát tu, đều là lợi ích chúng sinh, khiến cho chúng sinh đắc được ấm no và đầy đủ.</li>
<li>Hạnh vô vi nghịch là pháp môn nhẫn nhục của Bồ Tát tu, chẳng trái ngược với mình, cũng chẳng trái ngược với chúng sinh.</li>
<li>Hạnh vô khuất nhiễu là pháp môn tinh tấn của Bồ Tát tu, cũng chẳng khiến cho mình khuất nhiễu, cũng chẳng khiến cho chúng sinh khuất nhiễu.</li>
<li>Hạnh vô si loạn là pháp môn thiền định của Bồ Tát tu, thân tâm chẳng điên đảo, vì có định lực, nên hạnh chẳng loạn.</li>
<li>Hạnh thiện hiện là pháp môn Bát Nhã của Bồ Tát tu, thấu rõ pháp thế gian là vô thường, khổ, không, vô ngã; và hiểu rõ pháp xuất thế là thường, lạc, ngã, tịnh.</li>
<li>Hạnh vô trước là pháp môn phương tiện của Bồ Tát tu, có cảnh giới sự lý chẳng trì trệ, dùng phương tiện khéo léo để độ chúng sinh.</li>
<li>Hạnh nan đắc là pháp môn nguyện của Bồ Tát tu, là đại nguyện đại hạnh, đại từ đại bi, độ khắp chúng sinh.</li>
<li>Hạnh thiện pháp là pháp môn lực của Bồ Tát tu, có trí huệ lực, mới thực hành tất cả pháp lành, có lực ngu si thì muốn làm tất cả pháp ác.</li>
<li>Hạnh chân thật là pháp môn trí của Bồ Tát tu, lời nói việc làm đều chẳng hư vọng, tất cả đều chân thật.</li>
</ol>
<p>Ðây là mười hạnh môn của Bồ Tát tu, cũng là mười pháp tiêu chuẩn của người tu đạo, mọi người thực hành, thì mọi người đều là Bồ Tát.</p>
<p>Bài viết hôm nay sẽ thảo luận về bậc cấp đầu tiên của Thập Hạnh, đó là Hạnh Hoan Hỉ. Trong kinh đức Phật nói: &#8220;A-nan! Thị Thiện nam tử, thành Phật tử dĩ. Cụ túc vô lượng, Như Lai diệu đức. Thập phương tùy thuận, danh Hoan Hỉ Hạnh. &#8220;</p>
<p><strong>Giảng</strong>: A Nan! Thiện Nam tử ấy, đã thành con Phật, đầy đủ vô lượng diệu của đức Như Lai, tùy thuận mười phương chúng sanh, phương tiện tiếp dẫn, gọi là Hoan Hỉ Hạnh.</p>
<p>&#8220;<strong>Tùy thuận mười phương chúng sanh</strong>&#8221; là tu hành phải lợi ích cho tất cả mọi người, đây gọi là lập công. Ðức tức là âm chất, nghĩa là lợi ích cho người, mà không mong người biết. Do đó : “Âm chất đức hạnh”. Trước hết phải lập công, công hạnh viên mãn, thì mới có đức hạnh. Có đức hạnh rồi thì mới dám nhận cúng dường. Phàm là Bồ Tát tu hạnh hoan hỉ, phải làm một vị đại thí chủ, đem tất cả của cải tài vật của mình, bố thí hết cho những chúng sinh cần. Bất cứ là ngoại tài hoặc nội tài, Ngài đều bố thí không sẻn tiếc, Do đó : “Tam luân thể không”. Nghĩa là chẳng có người bố thí, chẳng có người nhận, cũng chẳng có vật thí, tư tưởng như vậy mới là chân bố thí. Bố thí có 3 loại:</p>
<ol>
<li>Bố thí tài (tu phước) &#8211; giving of wealth.</li>
<li>Bố thí pháp (tu huệ) &#8211; giving of Dharma.</li>
<li>Bố thí vô uý (tu giới) &#8211; giving of fearlessness</li>
</ol>
<p>Có rất nhiều vị tu hành trước khi xuất gia đều tu hành cả 3 loại bố thí trên. Nhưng sau khi xuất gia, đọc kinh và nghe nói bố thí pháp là cao cả trên hết. Không hiểu toàn ý của kinh, lấy bố thí pháp làm trọng và không còn tu 2 loại bố thí kia,: bố thí tài và bố thí vô uý.<br />
“Siêng tu giới định huệ, Diệt trừ tham sân si”</p>
<p>Nếu chỉ tu huệ thì chỉ có thể diệt trừ si. Còn tham và sân thì chừng nào tu hành. Cho nên nhiều khi càng tu hành thì càng mê Tướng. Mê có chùa đẹp có chùa to lớn. Cho rằng chùa càng lớn thì độ càng nhiều người. Họ quên rằng tu pháp là tu huệ, dùng Phật pháp độ người. Đâu có kinh nào nói rằng dùng tướng để độ người. <span class="st">Người chân chánh học <em>Phật</em> pháp <em>thì</em> phải lìa <em>tướng</em>, lìa <em>tướng</em> tức là bồ đề. </span>Trong 55 địa vị tu hành Bồ Tát: Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Tứ Gia Hạnh, Thập Địa, Đẳng Giác. Đâu có địa vị hay giai cấp nào là Thập Tướng &#8211; Chùa To</p>
<p>Nếu các vị hỏi các Phật Tử lý do Phật Tử cúng dường. Các Phật Tử sẽ trả lời là lúc ban đầu cầu Phước, sau là mong các tăng ni có chổ tu hành. Có nhiều vị tu hành xây chùa để cho các tăng ni ở thì đó là đều tốt. Nhưng khi đã có nơi tu hành rồi lại càng muốn xây cho to cho đẹp. Có nhiều chùa xây dựng trên 30 năm mà vẫn còn tổ chức gây quỹ. Xây dựng chùa nữa chừng thì dừng không được, xây tiếp cũng không xông. Chùa càng lớn, nợ càng nhiều.</p>
<p>Nếu quý vị tu hành nghĩ rằng, quý vị tu hành tại ngôi chùa to lớn thì sẽ có nhiều Phật Tử. Quý vị mê lầm rồi. Không tin cuối tuần nay, chuà quý vị tổ chức 3 buổi lễ.</p>
<ul>
<li>Một nơi là tại ngôi chùa. Một vị ngồi trên ghế thuyết pháp</li>
<li>Một nơi là tại ngôi chùa lớn.</li>
<li>Một nơi là tại một công viên lớn. Một vị ngồi dưới góc cây ngồi thiền, hay niệm Phật</li>
</ul>
<p>Sau 2 ngày Thứ Bảy và Chủ Nhật, quý vị đếm coi có bao nhiêu Phật Tử ghé thăm tại 3 chỗ. Qua số người ghé qua, quý vị sẽ hiểu rõ Phật Tử nơi thành phố của quý vị. Và trong tương lai quý vị sẽ dùng đúng phương tiện để tu hành và làm đúng theo Hoan Hỉ Hạnh. Đó là &#8220;Tùy thuận mười phương chúng sanh&#8221;.</p>
<p>Không hoàn thành Hoan Hỉ Hạnh mà lại mang nợ của chúng sanh. Vì sao mang nợ chúng sanh? Tại vì chúng sanh bố thí tài là những phàm phu, luôn luôn mê đắm tiền tài, tuy tụng kinh Bát Nhã, nhưng không thể áp dụng Kinh Bát Nhã. Có nghĩ là họ vẫn còn luống tiết số tiền đã cúng dường, vẫn thấy mình cúng dường, vẫn thấy các tăng ni thọ nhận, vẫn cầu phước thọ. Người cho không thật tâm hoan hỷ thì việc bố thí đó sẽ trở thành nhân quả nợ nần. Các vị có bao giờ nghĩ rằng, thọ nhận cúng dường từ những Phật Tử đó thì kiếp sau quý vị sẽ làm trâu làm bò để trả nợ hay không?</p>
<p>Vậy các chùa cũ đã xây dựng lên do tiền và sức lực của các Phật Tử có cần phải trả ân thí chủ hay không? Câu trả lời nầy tùy vị chủ trì nào đứng ra tạo dựng công việc xây cất. Nếu là một vị Ðại Bồ-tát thì không cần phải trả ân thí chủ. Vì sao?</p>
<p>Vì đã trả đủ rồi. Vì Ðại Bồ-tát là vị đại thí chủ bố thí các thiện pháp cho chúng hữu tình. Nghĩa là bố thí cho chúng hữu tình mười nẻo nghiệp thiện, năm giới Cận sự, tám giới Cận trụ, bốn Tĩnh lự, bốn Vô lượng, bốn Ðịnh vô sắc, bốn trí Thánh đế, bốn Niệm trụ, bốn Chánh đoạn, bốn Thần túc, năm Căn, năm Lực, bảy chi Ðẳng giác, tám chi Thánh đạo, sáu pháp Ba-la-mật-đa, mười tám pháp không, mười lực của Phật, bốn điều không sợ, bốn sự hiểu biết thông suốt, đại Từ, đại Bi, đại Hỷ, đại Xả, mười tám pháp Phật bất cộng, trí Nhất thiết, trí Ðạo tướng, trí Nhất thiết tướng. Vì Bồ-tát bố thí cho các hữu tình vô lượng, vô số, vô biên thiện pháp như vậy nên gọi là đại thí chủ. Do đó đã trả ân cho thí chủ, phước điền chân thật thanh tịnh sinh vô lượng phước.Vì vậy khi các chúng sanh có duyên kiếp này gặp lại vị đại Bồ Tát đó, họ đều hoan hỷ cúng dường xây dựng chùa và tượng Phật.</p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" width="300" height="190" class="size-medium wp-image-4595 alignleft" src="http://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/11/toGive-300x190.jpg" srcset="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/11/toGive-300x190.jpg 300w, https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/11/toGive.jpg 640w" sizes="auto, (max-width: 300px) 100vw, 300px" /></p>
<p>Muốn chúng sanh hoan hỷ thì trước nhất là quý vị phải hành hạnh hoan hỷ. Kinh Kim Cang nói rằng: &#8220;Sắc, thọ tưởng rồi mới hành&#8221;. Sắc là lià bỏ cái mê sắc mê tướng. Thọ là không còn thọ hưởng ái lạc tiền tài phú quý. Tưởng là không còn mơ tưởng chùa to tài sắc. Tưởng là không còn mơ mộng trong cuộc sống hằng ngày và ngay cả trong mơ mộng khi ngủ. Lúc đó thì quý vị mới bước tới &#8220;Hành&#8221; trong sắc thọ tưởng hành. Hành là hành động trong buông bỏ cái ngã cái tôi cái lợi ích riêng tư. Chỉ còn để lại những hành động hoan hỷ cứu độ tất cả chúng sanh.</p>
<p>Không muốn lợi ích cho chính mình, căn bản là chẳng có sự mong cầu, vì rằng đạt đến vô cầu phẩm tự cao, đương nhiên cũng không lo, tại sao chúng ta sầu lo? Vì có sự tham cầu, có tham cầu thì có sầu lo. Quý vị không tham cầu danh văn lợi dưỡng, cũng không tham cầu năm dục – tài, sắc, danh, ăn, ngủ. Quý vị đối với những thứ nầy đều giải thoát, càng không tham sự cúng dường. Chỉ chuyên bố thí cho tất cả chúng sinh, vì quý vị chuyên nhất tu bố thí, bất luận cúng dường gì, quý vị đều đem cho hết thảy chúng sinh.</p>
<p>Quý vị phải phát đại tâm nguyện, đại từ, đại bi, đại bố thí, là vì cứu độ tất cả chúng sinh, khiến cho được lìa khổ, ái hộ tất cả chúng sinh, khiến cho chúng sinh được an vui. Do đó, quý vị lại cầu thêm một bước nữa, làm thế nào tại thế gian lợi ích chúng sinh, lại làm thế nào lợi ích chúng sinh xuất thế gian. Luôn luôn tu hạnh Bồ Tát nầy, chưa từng sinh tâm nhàm mỏi, như vậy lâu dần sẽ thành tựu tâm rất tự nhiên chẳng có sự nhàm mỏi.</p>
<p>Đắc được tâm không nhàm mỏi rồi, thì gieo xuống sức tinh tấn không giải đãi, đối với tất cả Kinh điển luận thuyết đại thừa, càng không có tâm sợ hãi khiếp nhược làm chướng ngại, cũng chẳng sợ Phật pháp như biển cả, không dám đi nhiếp thọ. Phàm là Kinh điển của Phật nói, một khi thấy thì mắt sẽ tỏ rõ, chiếu thấu thật tướng các pháp, vào sâu tạng Kinh, trí huệ như biển, thành tựu trí huệ nghiên cứu tất cả Kinh luận.</p>
<p>Quý vị đắc được trí huệ vào sâu tạng Kinh, trí huệ như biển rồi, đối với tất cả sự lý, kế hoạch đều rất tỉ mỉ, nghĩ việc gì đáng làm, việc gì không đáng làm, đều phân biệt nhận thức được rõ ràng. Gặp chúng sinh thượng căn thượng trí, chúng sinh trung căn trung trí, hạ căn ngu si, quý vị đều tuỳ theo sức của mình, hiểu rõ ưa thích chán ghét tập tánh của chúng sinh, nên dùng phương pháp và thân phận gì mới có thể độ được họ, đều tuỳ thuận giáo hoá chúng sinh. Vì quý vị đã thành tựu trí huệ thế gian pháp.</p>
<p>Quý vị thành tựu trí huệ thế gian rồi, có lực quyết định “biết thời biết lượng”, biết rõ cơ duyên của tất cả chúng sinh đã thành thục chưa, những chúng sinh đó đáng được độ trước, nên dùng pháp gì, những chúng sinh cơ duyên chưa thành thục, thì chưa nên độ. Tuỳ thời quý vị đều cảnh sách chính mình, phát tâm hổ thẹn, dùng “sự hổ thẹn” để “trang nghiêm” chính mình, tu phước tu huệ, tích tụ phước đức.</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Người &#8211; Thịt</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/nhan-thit/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 22 Nov 2018 22:02:04 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài Luận]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://langnghiem.com/?p=4495</guid>

					<description><![CDATA[“Trong chữ thịt có hai người Bên trong chiếu người bên ngoài Chúng sinh còn...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><img loading="lazy" decoding="async" class="alignleft  wp-image-4500" src="http://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/11/nhanThit.jpg" alt="" width="340" height="195" srcset="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/11/nhanThit.jpg 412w, https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/11/nhanThit-300x172.jpg 300w" sizes="auto, (max-width: 340px) 100vw, 340px" />“Trong chữ thịt có hai người<br />
Bên trong chiếu người bên ngoài<br />
Chúng sinh còn ăn thịt chúng sinh<br />
Suy gẫm kỹ thì người ăn người”.</p>
<p>Trong chữ thịt có hai người, một là người ăn thịt, một là người bị ăn. Người ăn thịt thì đầu ở ngoài thịt; người bị ăn thì đầu ở trong thịt. Đời này bạn ăn thịt tôi, đời sau tôi sẽ ăn thịt bạn, đó là nhân quả trả vay.</p>
<p>Cho nên thế giới không có ngày nào hoà bình, khi nào oán cừu đến thì sẽ xảy ra chiến tranh; nhân cơ hội đó, chúng sinh tàn sát lẫn nhau, đó đây vay trả lẫn nhau, chẳng phải vay nợ, thì là trả nợ. Đây là nhân quả báo ứng, tơ hào không sai.</p>
<p>Người bên ngoài chữ thịt, thì ăn người bên trong chữ thịt. Người nầy cũng có thể là bạn bè của bạn trong đời trước, đời này đã thay hình đổi dạng, bạn ăn thịt của nó, liền kết thêm oán cừu. Tương lai, nó sẽ phục thù, chắc chắn sẽ đến ăn thịt của bạn, thì mới hả giận. Do đó có câu: “Oán oán tương báo”, vĩnh viễn không khi nào chấm dứt. Nếu bạn không ăn thịt, thì tất cả mọi oán cừu sẽ được hoá giải, hoá địch thành bạn.</p>
<p>Người ở trong thịt, cũng có thể là người thân của bạn trong quá khứ, hoặc là anh em chị em không chừng, hoặc là cha mẹ con cái. Tóm lại, có thể là người thân cốt nhục. Họ đã thay mắt đổi mày, bạn có thể nhẫn tâm ăn thịt của họ chăng?</p>
<p>Cho nên Phật giáo đề xướng bình đẳng, từ bi, không nhẫn tâm ăn thịt chúng sinh. Vậy, làm thế nào để trở thành tập quán không ăn thịt? Phương pháp rất là đơn giản, khi nào bạn muốn ăn thịt, thì liền quán tưởng hình chữ trên và nghĩ rằng: “Đây là thịt tử thi, hôi quá không thể ngửi”. Quán tưởng như thế, thì ba ngày sau làm gì mà còn tâm hồn ăn thịt nữa! Người thích ăn thịt, đừng ngại hãy thử xem biện pháp nầy.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" width="816" height="438" class="size-medium wp-image-4496 aligncenter" src="http://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/11/nguoiMeat.jpg" srcset="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/11/nguoiMeat.jpg 816w, https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/11/nguoiMeat-300x161.jpg 300w, https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/11/nguoiMeat-768x412.jpg 768w" sizes="auto, (max-width: 816px) 100vw, 816px" /></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>108 Hạt trong chuỗi niệm Phật</title>
		<link>https://langnghiem.com/vi/108-hat-trong-chuoi-niem-phat/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lăng Nghiêm Tự]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 28 Sep 2018 20:55:27 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Bài Luận]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://langnghiem.com/?p=4403</guid>

					<description><![CDATA[Phần đông quý vị niệm Phật qua câu &#8220;Nam Mô Phật&#8221;. Ba danh hiệu mà...]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: left;"><img loading="lazy" decoding="async" class="alignleft  wp-image-4404" src="http://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/09/108balls.jpg" alt="" width="351" height="197" srcset="https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/09/108balls.jpg 500w, https://langnghiem.com/wordpress/wp-content/uploads/2018/09/108balls-300x169.jpg 300w" sizes="auto, (max-width: 351px) 100vw, 351px" />Phần đông quý vị niệm Phật qua câu &#8220;Nam Mô Phật&#8221;. Ba danh hiệu mà các Phật Tử hầu như có nghe qua là: &#8220;Phật, Như Lai, Thế Tôn.&#8221; Có vài kinh viết ra 10 danh hiệu: &#8220;Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế gian giải, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật và Thế Tôn&#8221;</p>
<p>Nếu nói ra hết thì gồm có 108 danh hiệu, được gọi là Phật Nhất Bách Bát Danh. Khi quý vị dùng chuỗi niệm Phật thì quý vị có thể niệm hồng danh của đức Phật A Di Đà 108 lần hay niệm 108 danh hiệu Phật (phần dưới đây)</p>
<p>Phần đông các Phật Tử chưa nghe qua 108 danh Phật, cho nên con số 108 hạt trong chuỗi niệm Phật trở thành những bài toán học. Như bài toán  36&#215;3=108.  Hay Lục căn + lục Thức + lục Trần = 18</p>
<p>Chuỗi niệm Phật là để niệm Phật, đừng dùng tâm phân biệt, tâm toán số lý lẽ để niệm Phật. Chỉ nhất tâm niệm Phật, niệm 108 danh xưng của đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Mỗi  hạt một danh xưng. Sau đây là một bài kinh niệm Phật mà chúng tôi sử dụng cùng với 108 chuỗi hạt</p>
<p style="text-align: center;">==========</p>
<p>Quy mạng Nhất Thiết Trí<br />
Thầy hết thảy thế gian<br />
Vua pháp lớn Mâu-ni<br />
Một trăm tám danh hiệu (108)</p>
<p>Biển công đức vô biên<br />
Ðầy đủ mọi an lành<br />
Hay trừ các phiền não<br />
Tội nghiệp chúng hữu tình</p>
<p>Con nay quy mạng lễ<br />
Hết thảy Ðại Kiết Tường<br />
Cứu độ các quần sanh<br />
Khiến được an vui lớn</p>
<p>Con nay quy mạng lễ<br />
Ðấng Nhị túc bi mẫn<br />
Viên mãn khắp chúng sanh<br />
Hết thảy việc tốt lành</p>
<p>Con nay quy mạng lễ<br />
Ðấng Vô thượng Vô tướng<br />
Thành tựu Trời trong Trời<br />
Nghĩa bí mật sáng tỏ</p>
<p>Như Lai, Chánh đẳng giác<br />
Lợi lạc chốn thế gian<br />
Trăm tám tên tối thượng<br />
Con nay nhóm lại nói</p>
<ol>
<li>Nam mô Nhất Thiết Nghĩa Thành Tựu.</li>
<li>Nam mô Chánh Ðẳng Giác.</li>
<li>Nam mô Nhất Thiết Trí.</li>
<li>Nam mô Ðại Thích Tử.</li>
<li>Nam mô Nhất Thiết Pháp Tự Tại Vô Úy.</li>
<li>Nam mô Ðại Kim Tiên.</li>
<li>Nam mô Công Ðức Hải.</li>
<li>Nam mô Như Lai.</li>
<li>Nam mô Ứng Cúng.</li>
<li>Nam mô Thiện Thệ.</li>
<li>Nam mô Thế Tôn.</li>
<li>Nam mô Nhất Thiết Thế Gian Giải.</li>
<li>Nam mô Ly Nhất Thiết Cấu Nhiễm.</li>
<li>Nam mô Tối Thượng Pháp Ðăng.</li>
<li>Nam mô Vô Uý Tịnh Phạn Vương Tử.</li>
<li>Nam mô Cam Giá Vương Chủng.</li>
<li>Nam mô Cù Ðàm.</li>
<li>Nam mô Nhật Tộc.</li>
<li>Nam mô Kiết Tường Ðại mâu Ni.</li>
<li>Nam mô Lãm Nghĩ La Sa Tộc.</li>
<li>Nam mô Thiên Nhơn Sư.</li>
<li>Nam mô Thập Lực Hàng Ma Quân.</li>
<li>Nam mô Ly Quá Trừ Ðộc.</li>
<li>Nam mô Ðiều Ngự Trượng Phu.</li>
<li>Nam mô Diệu Giải Thoát.</li>
<li>Nam mô Trừ Chướng Ám.</li>
<li>Nam mô Chỉ Tức Hàng Chư Căn.</li>
<li>Nam mô Thanh Tịnh Giới.</li>
<li>Nam mô Vô Cấu Vương.</li>
<li>Nam mô Diệt Tội Vô Ngã Tướng.</li>
<li>Nam mô Vô Kinh Vô Bố Uý.</li>
<li>Nam mô Ðệ Nhất Pháp Viên Mãn.</li>
<li>Nam Mô Vô Biên Vô Khả Dụ.</li>
<li>Nam mô Ðại Luận Sư.</li>
<li>Nam mô Hy Hữu Bất Tư Nghị Tịnh Tấn.</li>
<li>Nam mô Tam Giới Thân Từ Phụ.</li>
<li>Nam mô Tam Minh Tri Tam Thế.</li>
<li>Nam mô Diệt Tam Ðộc.</li>
<li>Nam mô Cụ Túc Tam Biến Thông.</li>
<li>Nam mô Thuyết Tam Thừa Bồ Ðề.</li>
<li>Nam mô Vô Tướng Diệt Vô Lão.</li>
<li>Nam mô Vô Ngã Vô Nhị Chấp.</li>
<li>Nam mô Vô Oán Vô Hý Luận.</li>
<li>Nam mô Vô Nghiệp Vô Bố.</li>
<li>Nam mô Thí Nguyện Vô Uý.</li>
<li>Nam mô Pháp Sư Tử Nhị Túc Tôn.</li>
<li>Nam mô Ðiều Phục Trừ Phiền Não.</li>
<li>Nam mô Tối Thượng Ý Thanh Tịnh.</li>
<li>Nam mô Minh Hạnh Túc.</li>
<li>Nam mô Tự Tại Biến Hoá Vương.</li>
<li>Nam mô Ðiều Phục Tâm Thanh Tịnh.</li>
<li>Nam mô Ly Trần Vô Thượng Sĩ.</li>
<li>Nam mô Chỉ Tức Nhất Thiết Tội.</li>
<li>Nam mô Ðắc Thanh Lương.</li>
<li>Nam mô Ðắc Tịch Tịnh.</li>
<li>Nam mô Cứu Ðộ Thế Gian Sư.</li>
<li>Nam mô Dõng Mãnh Ðại Thanh Tịnh Trí.</li>
<li>Nam mô Viên Mãn Kiết Tường Tướng.</li>
<li>Nam mô Năng Trừ Oán.</li>
<li>Nam mô Sa Môn Nguyệt.</li>
<li>Nam mô Thích Sư Tử.</li>
<li>Nam mô Tác Thiện Thanh Tịnh Nghiệp.</li>
<li>Nam mô Lục Phật Pháp Trang Nghiêm.</li>
<li>Nam mô Lục Căn Thanh Tịnh Nhãn.</li>
<li>Nam mô Ðệ Nhất Lục Thần Thông.</li>
<li>Nam mô Lục Thú Hải Ðáo Bỉ Ngạn.</li>
<li>Nam mô Vô Sư Tự Nhiên Giác.</li>
<li>Nam mô Thiện Thệ Ðức Thành Tựu.</li>
<li>Nam mô Nhất Thiết Thế Gian Vi Ái Lạc.</li>
<li>Nam mô Vô Ðẳng Ðại Trí Tuệ.</li>
<li>Nam mô Hằng Nhập Tam Ma Ðịa.</li>
<li>Nam mô Nhất Thiết Hữu Tình Lợi Ích Chủ.</li>
<li>Nam mô Chơn Thật Hàng Chư Căn.</li>
<li>Nam mô Nhất Thiết Thế Gian Tôn.</li>
<li>Nam mô Phổ Biến Hữu Tình Tinh Tấn Giả.</li>
<li>Nam mô Vĩnh Quá Luân Hồi Khổ.</li>
<li>Nam mô Viên Mãn Chư Sở Cầu.</li>
<li>Nam mô Hàng Phục Ðắc Tối Thắng Thuyết Tứ Ðế.</li>
<li>Nam mô Ðáo Bỉ Ngạn Ðộ Tha Ðại Long Vương.</li>
<li>Nam mô Ðắc Tối Thượng Niết Bàn.</li>
<li>Nam mô Tôn Sư Ðại Phạm Hạnh.</li>
<li>Nam mô Ðệ Nhất Tịch Tịnh Lạc.</li>
<li>Nam mô Bí Mật Tối Thắng Ðại Trượng Phu.</li>
<li>Nam mô Ðiều Phục Thinh Văn Giả.</li>
<li>Nam mô Lợi ích Chư Hữu Tình.</li>
<li>Nam mô Thế gian Cúng Dường Xuất Thế Trí.</li>
<li>Nam mô Thánh Trí Chiếu Thế Gian.</li>
<li>Nam mô Ly Thế Pháp Lợi Dưỡng.</li>
<li>Nam mô Xuất Thế Vi Như Lai.</li>
<li>Nam mô Ðại Pháp Chủ.</li>
<li>Nam mô Ðại Pháp Vương.</li>
<li>Nam mô Ðiều Ngự Minh.</li>
<li>Nam mô Cứu Ðộ Ðệ Nhất Nhị Túc Tôn.</li>
<li>Nam mô Hành Nhẫn Nhục.</li>
<li>Nam mô Thiện Ý Ðoan Nghiêm Tướng.</li>
<li>Nam mô Thiện Trì Thiện Giới Tướng.</li>
<li>Nam mô Kim Sắc Quang Thiện Thệ.</li>
<li>Nam mô Thiện Du Ái Tôn Trọng.</li>
<li>Nam mô Nhơn Sư Tử Kiết Tường Vân.</li>
<li>Nam mô Phật Ðà.</li>
<li>Nam mô Vô Uý Ðộc Trừ Ám.</li>
<li>Nam mô Vô Biên Lợi Thế Gian.</li>
<li>Nam mô Vô Ðẳng Tam Hữu Sư.</li>
<li>Nam mô Năng Ðoạn Chư Kiết Phược.</li>
<li>Nam mô Vô Ngã Tối Ðệ nhất.</li>
<li>Nam mô Phổ Chiếu Nhất Thiết Nhãn.</li>
<li>Nam mô Chứng Lý Tịnh Tuệ Nhãn.</li>
<li>Nam mô Tam Tuệ Chơn Thật Nhãn</li>
</ol>
<p>&nbsp;</p>
<p>Ðây tên công đức Ðấng Mâu-Ni<br />
Con nay đọc tụng và lễ niệm<br />
Rộng đem hồi thí khắp quần sanh<br />
Cùng được chứng thành quả Bồ-Ðề.</p>
<p style="text-align: center;">HẾT</p>
<p style="text-align: center;">&#8212; o0o &#8212;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Một trăm lẽ tám (108) danh hiệu như thế, nếu như có người đối với danh hiệu đó sớm hôm, phát tâm chí thành, hoặc đọc tụng, hoặc lễ niệm, hoặc nhớ nghĩ, trì niệm, hoặc lắng nghe, thì sẽ gặt hái được phước đức kiết tường tối thượng. Hết thảy phiền não đã có và các tội nghiệp sẽ mau được thanh tịnh. Không thọ luân hồi, sẽ được giải thoát, cho đến thành Phật.</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>
