Kinh Hoa Nghiêm – Phẩm Phật Bất Tư Nghị Pháp

Kinh Hoa Nghiêm

Đại Phương Quảng Phật

giảng giải

Phẩm Thứ 33

Hòa Thượng TUYÊN HÓA
Việt dịch: Tỳ Kheo Thích Minh Ðịnh

— o0o —

PHẨM PHẬT BẤT TƯ NGHI PHÁP

Nhĩ thời, đại hội trung hữu chư Bồ-tát tác thị niệm:

Bấy giờ trong đại hội, có chư Bồ Tát nghĩ rằng:

 

Chư Phật quốc độ vân hà bất tư nghị?

Quốc độ của chư Phật, thế nào là bất tư nghì ?

 

Chư Phật Bổn Nguyện vân hà bất tư nghị?

Bổn nguyện của chư Phật, thế nào là bất tư nghì ?

 

Chư Phật chủng tánh vân hà bất tư nghị?

Chủng tánh của chư Phật, thế nào là bất tư nghì ?

 

Chư Phật xuất hiện vân hà bất tư nghị?

Chư Phật xuất hiện, thế nào là bất tư nghì ?

 

Chư Phật thân vân hà bất tư nghị?

Thân của chư Phật, thế nào là bất tư nghì ?

 

Chư Phật âm thanh vân hà bất tư nghị?

Âm thanh của chư Phật, thế nào là bất tư nghì ?

 

Chư Phật trí tuệ vân hà bất tư nghị?

Trí huệ của chư Phật, thế nào là bất tư nghì ?

 

Chư Phật tự tại vân hà bất tư nghị?

Tự tại của chư Phật, thế nào là bất tư nghì ?

 

Chư Phật vô ngại vân hà bất tư nghị?

Vô ngại của chư Phật, thế nào là bất tư nghì ?

 

Chư Phật giải thoát vân hà bất tư nghị?

Giải thoát của chư Phật, thế nào là bất tư nghì ?

 

Nhĩ thời, Thế Tôn tri chư Bồ-tát tâm chi sở niệm, tức dĩ thần lực gia trì, trí tuệ nhiếp thọ, quang minh chiếu diệu, uy thế sung mãn, lệnh thanh liên hoa tạng Bồ-tát trụ Phật vô úy, nhập Phật Pháp giới, hoạch Phật uy đức, thần thông tự tại, đắc Phật vô ngại quảng đại quan sát, tri nhất thiết Phật chủng tánh thứ đệ, trụ bất khả thuyết Phật Pháp phương tiện.

Bấy giờ đức Thế Tôn biết tâm niệm của chư Bồ Tát, bèn dùng thần lực gia trì, trí huệ nhiếp thọ, quang minh chiếu sáng, oai thế tràn đầy, làm cho Thanh Liên Hoa Tạng Bồ Tát an trụ nơi vô úy của Phật, nhập Phật pháp giới, được oai đức thần thông tự tại của Phật, được quán sát quảng đại vô ngại của Phật, biết tuần thứ chủng tánh của tất cả Phật, an trụ trong bất khả thuyết phương tiện Phật pháp.

 

Nhĩ thời, thanh liên hoa tạng Bồ Tát tức năng thông đạt vô ngại Pháp giới, tức năng an trụ ly chướng thâm hạnh, tức năng thành mãn Phổ Hiền đại nguyện, tức năng tri kiến nhất thiết Phật Pháp, dĩ đại bi tâm quan sát chúng sanh, dục lệnh thanh tịnh tinh cần tu tập vô hữu yếm đãi, thọ hành nhất thiết chư Bồ-tát Pháp, ư nhất niệm trung xuất sanh Phật trí, giải liễu nhất thiết vô tận trí môn, tổng trì, biện tài giai tất cụ túc, thừa Phật thần lực, cáo liên Hoa Tạng Bồ Tát ngôn:

Lúc đó Thanh Liên Hoa Tạng Bồ Tát bèn hay thông đạt pháp giới vô ngại, hay an trụ thâm hạnh ly chướng, hay thành mãn Phổ Hiền đại nguyện, hay thấy biết tất cả Phật pháp, do tâm đại bi quán sát chúng sanh, muốn cho họ thanh tịnh tinh tấn tu tập không nhàm lười, thọ hành tất cả pháp Bồ Tát, trong một niệm xuất sanh Phật trí, hiểu rõ tất cả trí môn vô tận, tổng trì biện tài thảy đều đầy đủ, thừa thần lực của chư Phật bảo Liên Hoa Tạng Bồ Tát rằng:

 

Phật tử! chư Phật Thế tôn hữu vô lượng trụ, sở vị: thường trụ, đại bi trụ, chủng chủng thân tác chư Phật sự trụ, bình đẳng ý chuyển tịnh Pháp luân trụ, tứ biện tài thuyết vô lượng pháp trụ, bất tư nghị nhất thiết Phật Pháp trụ, thanh tịnh âm biến vô lượng độ trụ, bất khả thuyết thậm thâm Pháp giới trụ, Hiện-Nhất-Thiết tối thắng thần thông trụ, năng khai thị vô hữu chướng ngại cứu cánh chi Pháp.

Phật tử ! Chư Phật Thế Tôn có vô lượng trụ. Những là: thường trụ đại bi, trụ nhiều loại thân làm những Phật sự, trụ tâm bình đẳng chuyển tịnh pháp luân, trụ tứ biện tài thuyết vô lượng pháp, trụ bất tư nghì tất cả Phật pháp, trụ tiếng thanh tịnh khắp vô lượng cõi, trụ bất khả thuyết pháp giới thậm thâm, trụ hiện tất cả thần thông tối thắng, trụ hay khai thị pháp rốt ráo vô ngại.

 

Phật tử! chư Phật Thế tôn hữu thập chủng Pháp, phổ biến vô lượng vô biên Pháp giới. Hà đẳng vi thập? Sở vị:

Phật tử ! Chư Phật Thế Tôn có mười thứ pháp khắp cùng vô lượng vô biên pháp giới: Những gì là mười? Đó là:

 

1. Nhất thiết chư Phật hữu vô biên tế thân, sắc tướng thanh tịnh, phổ nhập chư thú nhi vô nhiễm trước

Một là tất cả chư Phật có vô biên tế thân sắc tướng thanh tịnh, vào khắp các cõi mà không nhiễm trước.

Một là tất Tất cả chư Phật có thân tướng không bờ mé, mà sắc tướng đó thanh tịnh vô ngại. Chư Phật Thế Tôn vào khắp hết thảy các cõi, mà không có sự ô nhiễm và chấp trước, tuy vào các cõi mà không bị tất cả các cõi chuyển biến.

 

2. Nhất thiết chư Phật hữu vô biên tế vô chướng ngại nhãn, ư nhất thiết Pháp tất năng minh kiến

Hai là tất cả chư Phật có vô biên tế nhãn vô ngại, đều hay thấy rõ tất cả pháp.

Hai là mười phương ba đời tất cả chư Phật, có con mắt không bờ mé, không chướng ngại, có thể thấy khắp tận hư không biến pháp giới. Tất cả tâm của chúng sinh, Ngài đều nhìn thấy được hết, cho nên gọi là không bờ mé. Tất cả Phật pháp, Ngài cũng thấy rõ hết, thấu rõ hết không sót thừa.

 

3. Nhất thiết chư Phật hữu vô biên tế vô chướng ngại nhĩ, tất năng giải liễu nhất thiết âm thanh

Ba là tất cả chư Phật có vô biên tế nhĩ vô ngại, đều hay hiểu rõ tất cả âm thanh.

Ba là tất cả chư Phật, có lỗ tai không bờ mé, không chướng ngại, thảy đều hiểu rõ hết tất cả âm thanh.

 

4. Nhất thiết chư Phật hữu vô biên tế tỳ, năng đáo chư Phật tự tại bỉ ngạn,

Bốn là tất cả chư Phật có vô biên tế tỹ, hay đến bĩ ngạn tự tại tất cả Phật.

Bốn là tất cả chư Phật, có mũi không bờ mé, đến được tự tại bờ bên kia của chư Phật.

 

5. Nhất thiết chư Phật hữu quảng trường thiệt, xuất diệu âm thanh chu biến pháp giới

Năm là tất cả chư Phật có quảng trường thiệt, phát ra âm thanh vi diệu cùng khắp pháp giới.

Năm là tất cả chư Phật, có lưỡi rộng dài, vang ra âm thanh vi diệu, khắp cùng pháp giới.

 

6. Nhất thiết chư Phật hữu vô biên tế thân, ưng chúng sanh tâm, hàm lệnh đắc kiến

Sáu là tất cả chư Phật có vô biên tế thân, ứng theo tâm của chúng sanh, cho họ đều được thấy.

Sáu là tất cả chư Phật, có thân không bờ mé, ứng khắp tâm chúng sinh, đều khiến cho họ đều thấy được.

 

7. Nhất thiết chư Phật hữu vô biên tế ý, trụ ư vô ngại bình đẳng pháp thân

Bảy là chư Phật có vô biên tế ý, trụ nơi vô ngại bình đẳng pháp thân.

Bảy là tất cả chư Phật, có ý không bờ mé, trụ nơi pháp thân bình đẳng vô ngại.

 

8. Nhất thiết chư Phật hữu vô biên tế vô ngại giải thoát, thị hiện vô tận đại thần thông lực

Tám là tất cả chư Phật có vô biên tế giải thoát vô ngại thị hiện sức đại thần thông vô tận.

Tám là tất cả chư Phật, có giải thoát không bờ mé, không có chướng ngại, hay thị hiện đại thần thông lực vô tận.

 

9. Nhất thiết chư Phật hữu vô biên tế thanh tịnh thế giới, tùy chúng sanh lạc hiện chúng Phật thổ, cụ túc vô lượng chủng chủng trang nghiêm, nhi ư kỳ trung bất sanh nhiễm trước

Chín là tất cả chư Phật có vô biên tế thế giới thanh tịnh, theo sở thích của chúng sanh hiện những Phật độ, đầy đủ vô lượng những thứ trang nghiêm, mà ở trong đó chẳng sanh nhiễm trước.

Chín là tất cả chư Phật, có thế giới thanh tịnh không bờ mé, tuỳ chúng sinh ưa thích, hiện ra tất cả cõi Phật, đầy đủ vô lượng đủ thứ sự trang nghiêm, mà ở trong đó cũng không sinh tâm nhiễm ô, cũng không sinh tâm tham trước, chẳng có sự chấp trước nào.

 

10. Nhất thiết chư Phật hữu vô biên tế Bồ-tát hạnh nguyện, đắc viên mãn trí, du hí tự tại, tất năng thông đạt nhất thiết Phật Pháp.

Mười là tất cả chư Phật có vô biên tế Bồ Tát hạnh nguyện, được trí viên mãn du hý tự tại, đều hay thông đạt tất cả Phật pháp.

Mười là tất cả chư Phật lại có hạnh nguyện Bồ Tát không bờ mé, đắc được trí huệ viên mãn, thần thông biến hoá, du hí tự tại, hoàn toàn thông đạt tất cả pháp môn của chư Phật.

 

Phật tử! thị vi Như Lai, ưng, chánh đẳng giác phổ biến Pháp giới vô biên tế thập chủng Phật Pháp.

Phật tử ! Trên đây là mười thứ Phật pháp vô biên tế cùng khắp pháp giới của đức Như lai Ứng Ðẳng Chánh Giác.

Các vị Phật tử! Đó là mười thứ Phật pháp không bờ mé, khắp cùng pháp giới của đức Như Lai Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

========================================

Phật tử! chư Phật Thế tôn hữu thập chủng niệm niệm xuất sanh trí. Hà đẳng vi thập? Sở vị:

Phật tử ! Chư Phật Thế Tôn có mười thứ niệm niệm xuất sanh trí huệ: Những gì là mười? Đó là:

Các vị Phật tử hãy lắng nghe! Chư Phật Thế Tôn có mười thứ niệm niệm sinh ra trí huệ. Những gì là mười thứ niệm? Đó là:

 

1. Nhất thiết chư Phật ư nhất niệm trung, tất năng thị hiện vô lượng thế giới tùng Thiên lai hạ

Một là trong một niệm, tất cả chư Phật đều hay thị hiện vô lượng thế giới, từ cõi trời giáng xuống.

Một là tất cả chư Phật, ở trong một niệm, đều có thể thị hiện vô lượng thế giới, từ trên trời giáng xuống.

 

2. Nhất thiết chư Phật ư nhất niệm trung, tất năng thị hiện vô lượng thế giới Bồ Tát thọ sanh

Hai là trong một niệm, tất cả chư Phật đều hay thị hiện vô lượng thế giới, Bồ Tát thọ sanh.

Hai là tất cả chư Phật ở trong một niệm, đều có thể thị hiện vô lượng thế giới Bồ Tát thọ sanh.

 

3. Nhất thiết chư Phật ư nhất niệm trung, tất năng thị hiện vô lượng thế giới xuất gia học đạo

Ba là trong một niệm, tất cả chư Phật đều hay thị hiện vô lượng thế giới, xuất gia học đạo.

Ba là tất cả chư Phật ở trong một niệm, đều có thể thị hiện vô lượng thế giới, xuất gia học đạo.

 

4. Nhất thiết chư Phật ư nhất niệm trung, tất năng thị hiện vô lượng thế giới Bồ-đề thụ hạ thành đẳng chánh giác

Bốn là trong một niệm, tất cả chư Phật đều hay thị hiện vô lượng thế giới, dưới cội Bồ Ðề thành Ðẳng Chánh Giác.

Bốn là tất cả chư Phật ở trong một niệm, đều có thể thị hiện vô lượng thế giới, dưới cội bồ đề thành Đẳng Chánh Giác.

 

5. Nhất thiết chư Phật ư nhất niệm trung, tất năng thị hiện vô lượng thế giới chuyển diệu pháp luân

Năm là trong một niệm, tất cả chư Phật đều hay thị hiện vô lượng thế giới, chuyển diệu Pháp luân.

Năm là hết thảy mười phương ba đời tất cả chư Phật, ở trong một niệm, đều có thể thị hiện vô lượng thế giới, ở trong vô lượng thế giới chuyển diệu pháp luân, làm sư tử hống,

 

6. Nhất thiết chư Phật ư nhất niệm trung, tất năng thị hiện vô lượng thế giới giáo hóa chúng sanh cúng dường chư Phật

Sáu là trong một niệm, tất cả chư Phật đều hay thị hiện vô lượng thế giới, giáo hóa chúng sanh, cúng dường chư Phật.

Sáu là mười phương ba đời tất cả chư Phật, ở trong một niệm, đều có thể thị hiện vô lượng thế giới, giáo hoá vô lượng chúng sinh, cúng dường vô lượng chư Phật.

 

7. Nhất thiết chư Phật ư nhất niệm trung, tất năng thị hiện vô lượng thế giới bất khả ngôn thuyết chủng chủng Phật thân

Bảy là trong một niệm, tất cả chư Phật đều hay thị hiện vô lượng thế giới, bất khả thuyết nhiều loại thân Phật.

Bảy là mười phương ba đời tất cả chư Phật, ở trong một niệm, đều có thể thị hiện vô lượng thế giới, bất khả thuyết đủ thứ thân Phật.

 

8. Nhất thiết chư Phật ư nhất niệm trung, tất năng thị hiện vô lượng thế giới chủng chủng trang nghiêm, vô số trang nghiêm, Như Lai tự tại nhất thiết trí tạng

Tám là trong một niệm, tất cả chư Phật đều hay thị hiện vô lượng thế giới, nhiều thứ trang nghiêm vô số trang nghiêm, tất cả trí tạng tự tại của Như Lai.

Tám là mười phương ba đời tất cả chư Phật, ở trong một niệm, đều có thể thị hiện vô lượng thế giới, đủ thứ vô số vô tận sự trang nghiêm, có thể thị hiện tất cả trí tạng tự tại của Như Lai.

 

9. Nhất thiết chư Phật ư nhất niệm trung, tất năng thị hiện vô lượng thế giới vô lượng vô số thanh tịnh chúng sanh

Chín là trong một niệm, tất cả chư Phật đều hay thị hiện vô lượng thế giới, vô lượng vô số chúng sanh thanh tịnh.

Chín là mười phương ba đời tất cả chư Phật, ở trong một niệm, đều có thể thị hiện vô lượng thế giới, vô lượng vô số chúng sinh thanh tịnh.

 

10. Nhất thiết chư Phật ư nhất niệm trung, tất năng thị hiện vô lượng thế giới tam thế chư Phật chủng chủng căn tánh, chủng chủng tinh tấn, chủng chủng hạnh giải, ư tam thế trung thành đẳng chánh giác.

Mười là trong một niệm, tất cả chư Phật đều hay thị hiện vô lượng thế giới, tam thế chư Phật, có nhiều loại căn tánh, nhiều cách tinh tấn, nhiều thứ hạnh giải, ở trong tam thế thành Ðẳng Chánh Giác.

Mười là mười phương ba đời tất cả chư Phật, ở trong một niệm, đều có thể thị hiện vô lượng thế giới đủ thứ căn tánh mười phương ba đời tất cả chư Phật, đủ thứ tinh tấn, đủ thứ tu hành và hiểu biết, ở trong ba đời quá khứ hiện tại vị lai, thành Đẳng Chánh Giác giáo hoá chúng sinh.

 

Thị vi thập.

Đó là mười.

========================================

Phật tử! chư Phật Thế tôn hữu thập chủng bất thất thời. hà đẳng vi thập? Sở vị:

Phật Tử ! Chư Phật thế tôn có mười điều chẳng lỗi thời: Những gì là mười? Đó là:

Bồ Tát Thanh Liên Hoa Tạng lại nói: Các vị Phật tử! Chư Phật Thế Tôn có mười điều không thất thời. Những gì là mười điều không thất thời? Đó là:

 

1. Nhất thiết chư Phật thành đẳng chánh giác bất thất thời,

Một là tất cả chư Phật thành Ðẳng Chánh Giác chẳng lỗi thời.

Tất cả chư Phật thành Đẳng Chánh Giác không thất thời. Khi chư Phật đến thành Phật thì nhất định thành Phật, không thể nói đến thành Phật mà không thành Phật, hoặc sớm một chút, hoặc chậm một chút, mà là đúng thời.

 

2. Nhất thiết chư Phật thành thục hữu duyên bất thất thời

Hai là tất cả chư Phật thành thục cả có duyên chẳng lỗi thời.

Tất cả chư Phật thành thục chúng sinh có duyên cũng không thất thời. Chúng sinh nào đáng được độ, đúng thời sẽ đi đến độ, đáng giáo hoá thì đi đến giáo hoá.

 

3. Nhất thiết chư Phật thọ Bồ Tát kí bất thất thời

Ba là tất cả chư Phật thọ ký cho chư Bồ Tát chẳng lỗi thời.

Tất cả chư Phật thọ ký cho Bồ Tát cũng không thất thời. Nói bạn ở đời vị lai sẽ làm Phật, Phật hiệu gì?

 

4. Nhất thiết chư Phật tùy chúng sanh tâm thị hiện thần lực bất thất thời

Bốn là tất cả chư Phật theo tâm của chúng sanh mà thị hiện thần lực chẳng lỗi thời.

Mười phương ba đời tất cả chư Phật, tuỳ tâm niệm của chúng sinh mà thị hiện sức thần thông. Chúng sinh muốn thần lực gì, thì Phật thị hiện thần lực đó, cũng không thất thời.

 

5. Nhất thiết chư Phật tùy chúng sanh giải thị hiện Phật thân bất thất thời

Năm là tất cả chư Phật theo chỗ hiểu của chúng sanh mà thị hiện thân Phật chẳng lỗi thời.

Mười phương ba đời tất cả chư Phật, tuỳ sự hiểu biết của chúng sinh, chúng sinh hiểu cái gì thì thị hiện ra cái đó, thị hiện thân Phật cũng không thất thời.

 

6. Nhất thiết chư Phật trụ ư đại xả bất thất thời,

Sáu là tất cả chư Phật trụ nơi đại xả chẳng lỗi thời.

Mười phương ba đời tất cả chư Phật trụ nơi đại xả, cái gì cũng đều xả bỏ được mà không thất thời. Khi xả bỏ, cũng không trước, cũng không sau, vừa đúng thời.

 

7. Nhất thiết chư Phật nhập chư tụ lạc bất thất thời

Bảy là tất cả chư Phật vào các tụ lạc chẳng lỗi thời.

Mười phương ba đời tất cả chư Phật vào các tụ lạc, tức là đi vào xóm làng, cũng không thất thời. Lúc nào nên đi thì đi, không nên đi thì không đi.

 

8. Nhất thiết chư Phật nhiếp chư tịnh tín bất thất thời

Tám là tất cả chư Phật nhiếp thọ các chúng sanh tịnh tính chẳng lỗi thời.

Mười phương ba đời tất cả chư Phật nhiếp trì hết thảy tất cả các thiện nam tín nữ cũng không thất thời, cũng đúng thời.

 

9. Nhất thiết chư Phật điều ác chúng sanh bất thất thời

Chín là tất cả chư Phật đều phục những chúng sanh ác chẳng lỗi thời.

Mười phương ba đời tất cả chư Phật, điều phục chúng sinh ác tính cũng không thất thời.

 

10. Nhất thiết chư Phật hiện bất tư nghị chư Phật thần thông bất thất thời.

Mười là tất cả chư Phật hiện bất tư nghì Phật thần thông chẳng lỗi thời.

Mười phương ba đời tất cả chư Phật, hiện thần thông diệu dụng không thể nghĩ bàn của chư Phật cũng không thất thời.

 

Thị vi thập.

Đó là mười.

========================================

Phật tử! chư Phật Thế tôn hữu thập chủng vô bỉ bất tư nghị cảnh giới. hà đẳng vi thập? Sở vị:

Phật tử ! Chư Phật Thế Tôn có mười thứ cảnh giới vô tỷ bất tư nghì: Những gì là mười? Đó là:

Các vị Phật tử! Chư Phật Thế Tôn có mười thứ cảnh giới không nghĩ bàn không gì so sánh được. Những gì là mười? Đó là:

 

1. Nhất thiết chư Phật nhất già phu tọa, biến mãn thập phương vô lượng thế giới

Một là tất cả chư Phật một lần ngồi kiết già cùng khắp mười phương vô lượng thế giới.

Tất cả chư Phật khi ngồi kiết già, đầy khắp mười phương vô lượng thế giới, vì mười phương vô lượng thế giới đó, đều sung mãn thân Phật.

 

2. Nhất thiết chư Phật thuyết nhất nghĩa cú, tất năng khai thị nhất thiết Phật Pháp

Hai là tất cả chư Phật nói một cú nghĩa đều hay khai thị tất cả Phật pháp.

Tất cả chư Phật nói một câu nghĩa, một ý nghĩa, đều có thể khai thị tất cả Phật pháp, tất cả Phật pháp đều hiển lộ ra.

 

3. Nhất thiết chư Phật phóng nhất quang minh, tất năng biến chiếu nhất thiết thế giới

Ba là tất cả chư Phật phóng một quang minh đều chiếu khắp tất cả thế giới.

Tất cả chư Phật phóng một luồng quang minh, đều có thể chiếu khắp tất cả thế giới.

 

4. Nhất thiết chư Phật ư nhất thân trung, tất năng thị hiện nhất thiết chư thân

Bốn là tất cả chư Phật ở nơi một thân đều hay thị hiện tất cả thân.

Tất cả chư Phật ở trong một thân Phật, đều có thể tuỳ loại thị hiện đủ thứ hoá thân.

 

5. Nhất thiết chư Phật ư nhất xứ trung, tất năng thị hiện nhất thiết thế giới

Năm là tất cả chư Phật ở trong một xứ đều hay thị hiện tất cả thế giới.

Tất cả chư Phật ở tại một nơi, đều có thể thị hiện tất cả thế giới.

 

6. Nhất thiết chư Phật ư nhất trí trung, tất năng quyết liễu Nhất thiết chư pháp vô sở quái ngại

Sáu là tất cả chư Phật ở trong một trí đều hay quyết rõ tất cả các pháp không bị ngăn ngại.

Tất cả chư Phật ở trong một trí huệ, đều có thể quyết rõ tất cả các pháp, tất cả Phật pháp đều minh bạch hết, không có sự quái ngại nào.

 

7. Nhất thiết chư Phật ư nhất niệm trung, tất năng biến vãng thập phương thế giới

Bảy là tất cả chư Phật ở trong một niệm đều hay qua khắp mưới phương thế giới.

Tất cả chư Phật ở trong một niệm, đều có thể đến khắp mười phương thế giới. Phật có cảnh giới không thể nghĩ bàn này.

 

8. Nhất thiết chư Phật ư nhất niệm trung, tất hiện Như Lai vô lượng uy đức

Tám là tất cả chư Phật ở trong một niệm đều hiện Như Lai vô lượng oai đức.

Tất cả chư Phật ở trong một niệm, đều có thể hiện ra vô lượng oai đức của Như Lai.

 

9. Nhất thiết chư Phật ư nhất niệm trung, phổ duyên tam thế Phật cập chúng sanh, tâm vô tạp loạn

Chín là tất cả chư Phật ở trong một niệm duyên khắp tam thế: Phật và chúng sanh, tâm không tạp loạn.

Tất cả chư Phật ở trong một niệm, biết được cảnh giới mười phương ba đời tất cả chư Phật và mười phương ba đời tất cả chúng sinh, mà tâm không tạp loạn.

 

10. Nhất thiết chư Phật ư nhất niệm trung, dữ khứ, lai, kim Nhất thiết chư Phật thể đồng vô nhị.

Mười là tất cả chư Phật ở trong một niệm cùng với tam thế tất cả Phật đồng một thể không hai.

Tất cả chư Phật ở trong một niệm, đồng một thể không hai với tất cả chư Phật ba đời quá khứ hiện tại và vị lai.

 

Thị vi thập.

Đó là mười.

Đó là mười cảnh giới không thể nghĩ bàn.

========================================

Phật tử! chư Phật Thế tôn năng xuất sanh thập chủng trí. hà giả vi thập? Sở vị:

Phật tử ! Chư Phật thế tôn hay xuất sanh mười thứ trí huệ. Những gì là mười? Đó là:

Các vị Phật tử! Chư Phật Thế Tôn hay sinh ra mười thứ trí huệ. Những gì là mười? Đó là:

 

1. Nhất thiết chư Phật tri nhất thiết pháp vô sở thú hướng, nhi năng xuất sanh hồi hướng nguyện trí

Một là tất cả chư Phật biết tất cả pháp không chỗ xu hướng, mà hay xuất sanh “hồi hứơng nguyện trí”.

Tất cả chư Phật biết tất cả pháp vốn là tịch tĩnh, không có một thú hướng, mà hay sinh ra trí nguyện hồi hướng cho chúng sinh, hồi hướng về bồ đề, hồi hướng về thật tế.

 

2. Nhất thiết chư Phật tri nhất thiết pháp giai vô hữu thân, nhi năng xuất sanh thanh tịnh thân trí

Hai là tất cả chư Phật biết tất cả pháp đều không có thân mà hay xuất sanh “thanh tịnh thân trí”.

Tất cả chư Phật biết tất cả pháp đều không có thân, mà hay sinh ra tất cả trí thân thanh tịnh.

 

3. Nhất thiết chư Phật tri nhất thiết pháp bản lai vô nhị, nhi năng xuất sanh năng giác ngộ trí

Ba là tất cả chư Phật biết tất cả pháp bổn lai không hai, mà hay xuất sanh “năng giác ngộ trí”.

Tất cả chư Phật biết tất cả pháp vốn không hai, thậm chí một cũng không có, làm gì có hai? Nhưng Phật nhờ pháp này, để giác ngộ nguồn gốc tự tánh của diệu chân như tánh.

 

4. Nhất thiết chư Phật tri nhất thiết pháp vô ngã vô chúng sanh, nhi năng xuất sanh điều chúng sanh trí

Bốn là tất cả chư Phật biết tất cả pháp vô ngã vô chúng sanh, mà hay xuất sanh “điều chúng sanh trí”.

Tất cả chư Phật đương nhiên biết tất cả pháp vô ngã, vô chúng sinh. Chỗ này hỏi chúng ta chúng sinh, có biết tất cả pháp vô ngã, vô chúng sinh chăng! Phật đương nhiên chắc chắn biết, vậy tại sao phải nói ra? Là để xem chúng ta có biết chăng, có ngã chăng, có chúng sinh chăng. Nếu không có “ngã”, thì không thể nói thị phi với người khác, vì chẳng có ngã, thì ai mắng tôi? Tôi là ai? Ai chẳng cung kính tôi? Ai huỷ báng tối? Nếu tất cả tất cả đều vô ngã, thì còn có gì để tranh? Tại sao phải tranh? Vì cái ngã tác quái. Cái “ngã” này nhất định phải đả đảo nó, vì có ngã, cho nên phải đả đảo nó. Có ngã tướng thì có tướng người. Có tướng người thì có tướng chúng sinh. Có tướng chúng sinh thì có tướng thọ mạng. Không chúng sinh thì không còn tướng thọ mạng. Nhưng Phật dùng pháp môn phương tiện thiện xảo, để điều phục chúng sinh, Phật có trí huệ này.

 

5. Nhất thiết chư Phật tri nhất thiết pháp bản lai vô tướng, nhi năng xuất sanh liễu chư tướng trí

Năm là tất cả chư Phật biết tất cả pháp bổn lai vô tướng, mà hay xuất sanh “liễu chư tướng trí”.

Tất cả chư Phật biết tất cả pháp vốn vô tướng. Pháp có tướng gì? Bạn nói nó là màu xanh? Hay là màu vàng? Màu đỏ, hay là màu đen? Trong xanh vàng đỏ trắng đen là màu nào? Pháp chẳng có một tướng nào, thì sao lại có màu sắc gì! Phật biết pháp không hình, không tướng, mà hay sinh ra trí huệ thấu rõ các tướng.

 

6. Nhất thiết chư Phật tri nhất thiết thế giới vô hữu thành hoại, nhi năng xuất sanh liễu thành hoại trí

Sáu là tất cả chư Phật biết tất cả thế giới không có thành hoại, mà hay xuất sanh “liễu thành hoại trí”.

Tất cả chư Phật biết tất cả thế giới không có thành hoại. Thế giới này vốn có thành trụ hoại không. Nhưng sau khi thành trụ hoại không, lại như thế nào? Vẫn là thành trụ hoại không, cho nên thành trụ hoại không vốn là không, đừng chấp trước vào nó. Phật biết nó chẳng có thành hoại, mà hay sinh ra trí huệ thành hoại, thấu rõ đạo lý thành hoại này.

 

7. Nhất thiết chư Phật tri nhất thiết pháp vô hữu tạo tác, nhi năng xuất sanh tri nghiệp quả trí

Bảy là tất cả chư Phật biết tất cả pháp không có tạo tác, mà hay xuất sanh “tri nghiệp quả trí”.

Tất cả chư Phật biết tất cả pháp không có tạo tác, pháp có tạo tác gì? Pháp vốn là tịch tĩnh, không có gì tạo tác, mà Phật biết được con người khởi hoặc, tạo nghiệp, thọ báo, một niệm chẳng giác sinh ra ba đời, cảnh giới làm duyên trường lục thô.

 

8. Nhất thiết chư Phật tri nhất thiết pháp vô hữu ngôn thuyết, nhi năng xuất sanh liễu ngôn thuyết trí

Tám là tất cả chư Phật biết tất cả pháp không có ngôn thuyết, mà hay xuất sanh “liễu ngôn thuyết trí”.

Tất cả chư Phật biết tất cả pháp vốn chẳng có gì để nói. Phật nói pháp, chỉ là nói pháp chẳng có lời nói, nhưng hay sinh ra trí huệ thấu rõ lời nói.

 

9. Nhất thiết chư Phật tri nhất thiết pháp vô hữu nhiễm tịnh, nhi năng xuất sanh tri nhiễm tịnh trí

Chín là tất cả chư Phật biết tất cả pháp không có nhiễm tịnh, mà hay xuất sanh “tri nhiễm tịnh trí”.

Tất cả chư Phật biết tất cả pháp chẳng có nhiễm tịnh, mà hay sinh ra trí huệ biết nhiễm tịnh.

 

10. Nhất thiết chư Phật tri nhất thiết pháp vô hữu sanh diệt, nhi năng xuất sanh liễu sanh diệt trí.

Mười là tất cả chư Phật biết tất cả pháp không có sanh diệt, mà hay xuất sanh “liễu sanh diệt trí”.

Tất cả chư Phật biết tất cả pháp chẳng sinh, chẳng diệt, mà hay sinh ra trí biết rõ sinh diệt.

 

Thị vi thập.

Đó là mười.

========================================

Phật tử! chư Phật Thế tôn hữu thập chủng phổ nhập Pháp. Hà đẳng vi thập? Sở vị:

Phật tử ! Chư Phật thế tôn có mười thứ phổ nhập pháp: Những gì là mười? Đó là:

Các vị Phật tử! Chư Phật Thế Tôn có mười thứ pháp vào khắp. Những gì là mười? Đó là:

 

1. Nhất thiết chư Phật hữu tịnh diệu thân, phổ nhập tam thế

Một là tất cả chư Phật có thân tịnh diệu vào khắp tam thế.

Tất cả chư Phật có thân thanh tịnh vi diệu, vào khắp ba đời: Quá khứ, hiện tại, vị lai.

 

2. Nhất thiết chư Phật giai tất cụ túc tam chủng tự tại, phổ hóa chúng sanh

Hai là tất cả chư Phật, đều đầy đủ ba thứ tự tại, giáo hoá khắp chúng sanh.

Tất cả chư Phật thảy đều đầy đủ ba thứ tự tại, khắp giáo hoá chúng sinh. Ba thứ tự tại có thể nói là:
– Thân tự tại
– Tâm tự tại
– Miệng tự tại.

Thân miệng ý ba nghiệp đều tự tại, thanh tịnh. Khiến cho tất cả cũng đắc được tự tại này. Ba thứ tự tại cũng có thể nói: Ăn cơm, mặc áo, ngủ nghỉ, ba thứ này đều tự tại, đây là có đạo lý, tự tại như thế nào? Ăn cơm tự tại, ăn hay không ăn đều không quan trọng. Ăn cũng không no, không ăn cũng không đói. Bạn nói đây chẳng tự tại chăng? Một khi nhập định, bao lâu không ăn cơm cũng chẳng có vấn đề gì. Không nhập định cũng chẳng có vấn đề gì. Mặc áo tự tại, mặc hay không mặc y áo đều được. Ai ai cũng đều phải mặc y phục, Phật chẳng mặc y phục cũng chẳng có vấn đề gì, tại sao? Vì Ngài chẳng còn tướng ta. Xem Phật chẳng mặc y phục, hoặc có mặc y phục, đó đều là tâm phân biệt của chúng sinh, kỳ thật Ngài :

“Trọn ngày ăn cơm chưa ăn một hạt gạo,
Trọn ngày mặc y chưa từng mặc một sợi tơ”.

Mỗi ngày mặc y, cho đến một sợi tơ, một sợi chỉ cũng chẳng mặc. Bạn nói đó chẳng phải là tự tại chăng? Chẳng giống như chúng ta mọi người phải cầm y phục lên để mặc vào, nếu không thì cảm thấy chịu không được, còn vấn đề nóng, lạnh nữa. Phật chẳng cảm thấy lạnh, cũng chẳng cảm thấy nóng. Mặc mà chưa từng mặc, ăn mà chưa từng ăn. Còn cả đêm ngủ nghỉ, chẳng nhắm mắt. Khi ngủ chẳng nhắm mắt, chẳng nhắm mắt thì ngủ rồi, thật là tự tại. Ba nghiệp đều tự tại, ba nghiệp đều thanh tịnh, liền khắp giáo hoá chúng sinh.

 

3. Nhất thiết chư Phật giai tất cụ túc chư Đà-la-ni, phổ năng thọ trì nhất thiết Phật Pháp

Ba là tất cả chư Phật đều đầy đủ những đà la ni, hay khắp thọ trì tất cả Phật pháp.

Tất cả chư Phật thảy đều đầy đủ các đà la ni, tổng tất cả pháp, trì vô lượng nghĩa, khắp thọ trì tất cả Phật pháp.

 

4. Nhất thiết chư Phật giai tất cụ túc tứ chủng biện tài, phổ chuyển nhất thiết thanh tịnh Pháp luân

Bốn là tất cả chư Phật đều đầy đủ bốn thứ biện tài, chuyển khắp tất cả pháp luân thanh tịnh.

Tất cả chư Phật thảy đều đầy đủ bốn thứ biện tài. Bốn thứ biện tài là:
– Từ vô ngại biện
– Pháp vô ngại biện
– Nghĩa vô ngại biện
– Lạc thuyết vô ngại biện.

Phật đầy đủ bốn vô ngại biện, chuyển khắp tất cả bánh xe pháp thanh tịnh.

 

5. Nhất thiết chư Phật giai tất cụ túc bình đẳng đại bi, hằng bất xả ly nhất thiết chúng sanh

Nam là tất cả chư Phật đều đầy đủ bình đẳng đại bi, hằng chẳng bỏ lìa tất cả chúng sanh.

Tất cả chư Phật thảy đều đầy đủ đại bi bình đẳng, luôn nghĩ nhớ đến tất cả chúng sinh, tất cả chư Phật luôn chẳng xả bỏ tất cả chúng sinh.

 

6. Nhất thiết chư Phật giai tất cụ túc thậm thâm Thiền định, hằng phổ quan sát nhất thiết chúng sanh

Sáu là tất cả chư Phật đều đầy đủ thận thân thiền định, hằng khắp quán sát tất cả chúng sanh.

Tất cả chư Phật thảy đều đầy đủ thiền định thâm sâu, luôn quán sát khắp tất cả chúng sinh. Còn chúng ta thì thích lo việc nhàn hạ, cứ đi tìm bên ngoài, giống như máy chụp hình. Hiện tại đã phát minh máy chụp hình, chụp là có hình liền, đó là phát minh của khoa học. Tương lai sẽ còn có nhiều điều mà khoa học chưa phát minh ra được.

Trước kia tại Kim Sơn Thánh Tự chẳng phải tôi đã từng nói với quý vị, năm trăm năm sau, mỗi thân người đều có máy truyền hình, đều có máy điện thoại, bây giờ thì chưa có, đến lúc đó, bạn sẽ biết lời tôi nói là đúng. Nếu không tin, bạn hãy sống đến năm trăm năm sau, bạn sẽ thấy. Nếu như bạn sống đến năm trăm tuổi, thì không thể nói lời tôi nói là giả. Chư Phật luôn quán sát khắp tất cả chúng sinh, trong đó có bạn, tôi, và những người khác.

 

7. Nhất thiết chư Phật giai tất cụ túc lợi tha thiện căn, điều phục chúng sanh vô hữu hưu tức

Bảy là tất cả chư Phật đều đầy đủ thiện căn lợi tha, đều phục chúng sanh không có thôi dứt.

Tất cả chư Phật thảy đều đầy đủ căn lành lợi tha, chư Phật điều phục hết thảy chúng sinh không có lúc nào ngừng nghỉ.

 

8. Nhất thiết chư Phật giai tất cụ túc vô sở ngại tâm, phổ năng an trụ nhất thiết pháp giới

Tám là tất cả chư Phật đều đầy đủ tâm vô ngại, hay khắp an trụ tất cả pháp giới.

Tất cả chư Phật thảy đều đầy đủ tâm không chướng ngại, khắp an trụ tất cả pháp giới, chuyển bánh xe pháp.

 

9. Nhất thiết chư Phật giai tất cụ túc vô ngại thần lực, nhất niệm phổ hiện tam thế chư Phật

Chín là tất cả chư Phật đều đầy đủ thần lực vô ngại, một niệm hiện khắp tam thế chư Phật.

Mười phương ba đời tất cả chư Phật, thảy đều đầy đủ thần lực vô ngại, ở trong một niệm, hiện khắp pháp thân của chư Phật ba đời quá khứ, hiện tại, và vị lai.

 

10. Nhất thiết chư Phật giai tất cụ túc vô ngại trí tuệ, nhất niệm phổ lập tam thế kiếp số.

Mười là tất cả chư Phật đều đầy đủ trí huệ vô ngại, một niệm lập khắp tam thế kiếp số.

Tất cả chư Phật thảy đều đầy đủ trí huệ viên mãn vô ngại, ở trong một niệm, khắp lập số kiếp ba đời. Tất cả kiếp số đều do ở trong một niệm kiến lập nên.

 

Thị vi thập.

Đó là mười.

Đó là mười thứ vào khắp của chư Phật.

========================================

Phật tử! chư Phật Thế tôn hữu thập chủng nan tín thọ quảng đại Pháp. Hà đẳng vi thập? Sở vị:

Phật tử ! Chư Phật Thế Tôn có mười pháp quảng đại khó tin thọ: Những gì là mười? Đó là:

Các vị Phật tử! Chư Phật Thế Tôn lại có mười pháp rộng lớn, không dễ gì tin thọ. Những gì là mười? Đó là:

 

1. Nhất thiết chư Phật tất năng tồi diệt Nhất thiết chư ma

Một là tất cả chư Phật đều hay trừ diệt tất cả loại ma.

Tất cả chư Phật đều tiêu diệt được tất cả các ma.

 

2. Nhất thiết chư Phật tất năng hàng phục nhất thiết ngoại đạo

Hai là tất cả chư Phật đều hay hàng phục tất cả ngoại đạo.

Tất cả chư Phật đều hàng phục được tất cả ngoại đạo.

 

3. Nhất thiết chư Phật tất năng điều phục nhất thiết chúng sanh hàm lệnh hoan duyệt

Ba là tất cả chư Phật đều hay điều phục tất cả chúng sanh đều làm cho họ vui đẹp.

Tất cả chư Phật đều điều phục được tất cả chúng sinh, đều khiến cho họ vui thích.

 

4. Nhất thiết chư Phật tất năng vãng nghệ nhất thiết thế giới hóa đạo quần phẩm

Bốn là tất cả chư Phật đều hay qua đến tất cả thế giới hóa đạo mọi loài.

Tất cả chư Phật đều đi đến được tất cả thế giới, để giáo hoá các chúng sinh.

 

5. Nhất thiết chư Phật tất năng trí chứng thậm thâm Pháp giới

Năm là tất cả chư Phật đều hay trí chứng pháp giới thậm thâm.

Tất cả chư Phật đều có trí huệ, khế hợp với lý thể pháp giới.

 

6. Nhất thiết chư Phật tất giai năng dĩ vô nhị chi thân hiện chủng chủng thân sung mãn thế giới

Sáu là tất cả chư Phật đều hay dùng thân vô nhị hiện những thân tràn đầy thế giới.

Tất cả chư Phật đều dùng thân không hai, hiện đủ thứ thân, đầy khắp thế giới.

 

7. Nhất thiết chư Phật tất giai năng dĩ thanh tịnh âm thanh khởi tứ biện tài thuyết Pháp vô đoạn, phàm hữu tín thọ công bất đường quyên

Bảy là tất cả chư Phật đều hay dùng âm thanh, thanh tịnh khởi bốn biện tài thuyết pháp không dứt, phàm có tinh thọ thời chẳng luống công.

Tất cả chư Phật thảy đều dùng âm thanh thanh tịnh vi diệu, khởi bốn thứ biện tài vô ngại, luôn luôn nói pháp không dứt, nếu có người tin thọ phụng hành, thì công chẳng luống mất.

 

8. Nhất thiết chư Phật giai tất năng ư nhất mao khổng trung xuất hiện chư Phật, dữ nhất thiết thế giới vi trần số đẳng, vô hữu đoạn tuyệt

Tám là tất cả chư Phật đều hay ở trong một lỗ lông xuất hiện chư Phật số đồng với số tất cả thế vi trần, không lúc nào đoạn tuyệt.

Tất cả chư Phật thảy đều có thể ở trong một lỗ lông, hiện ra chư Phật, số nhiều đồng với số hạt bụi của tất cả thế giới, liên tục không có đoạn tuyệt.

 

9. Nhất thiết chư Phật giai tất năng ư nhất vi trần trung thị hiện chúng sát, dữ nhất thiết thế giới vi trần số đẳng, cụ túc chủng chủng thượng diệu trang nghiêm, hằng ư kỳ trung chuyển diệu pháp luân giáo hóa chúng sanh, nhi vi trần bất Đại, thế giới bất tiểu, thường dĩ chứng trí an trụ pháp giới

Chín là tất cả chư Phật đều hay ở trong một vi trần thị hiện các cõi đồng với số tất cả thế giới vi trần, đầy đủ các thứ trang nghiêm thượng diệu, hằng ở trong đó chuyển diệu pháp luân giáo hoá chúng sanh mà vi trần chẳng lớn, thế giới chẳng nhỏ, thường dùng chứng trí an trụ pháp giới.

Tất cả chư Phật thảy đều có thể ở trong một hạt bụi, thị hiện hết thảy cõi Phật, nhiều đồng với số hạt bụi của tất cả thế giới, mà đều đầy đủ các thứ trang nghiêm tốt đẹp. Chư Phật thường ở trong đó chuyển bánh xe pháp, giáo hoá chúng sinh, mà hạt bụi đó cũng chẳng lớn thêm, thế giới chẳng nhỏ lại. Đó là diệu trí an trụ pháp giới của chư Phật đắc được.

 

10. Nhất thiết chư Phật giai tất liễu đạt thanh tịnh pháp giới, dĩ trí quang minh phá thế si ám, lệnh ư Phật Pháp tất đắc khai hiểu, tùy trục Như Lai trụ thập lực trung.

Mười là tất cả chư Phật đều liễu đạt pháp giới thanh tịnh, dùng trí quang minh phá si ám của thế gian, làm cho đều được khai hiểu nơi Phật pháp, theo dõi Như Lai, trụ trong Thập lực.

Tất cả chư Phật thảy đều thấu đạt pháp giới thanh tịnh. Dùng trí huệ quang minh, phá tan si ám của thế gian, khiến cho chúng sinh đều minh bạch Phật pháp, tuỳ theo Phật trụ ở trong mười lực của Phật.

 

Thị vi thập.

Đó là mười.

Đó là mười thứ pháp rộng lớn khó tin thọ.

========================================

Phật tử! chư Phật Thế tôn hữu thập chủng Đại công đức, ly qua thanh tịnh. Hà đẳng vi thập? Sở vị:

Phật tử ! Chư Phật Thế Tôn có mười công đức lớn rời lỗi hoàn toàn thanh tịnh. Những gì là mười? Đó là:

Bồ Tát Thanh Liên Hoa Tạng lại gọi một tiếng các vị đệ tử của Phật! Chư Phật Thế Tôn có mười thứ đại công đức lìa lỗi thanh tịnh. Mười thứ công đức này là lìa lỗi thanh tịnh, lìa lỗi tức là lìa khỏi tất cả lỗi lầm, những việc làm, lời nói, đều không còn lỗi lầm nữa, đều là thanh tịnh. Mười thứ công đức đó là:

 

1. Nhất thiết chư Phật cụ đại uy đức, ly qua thanh tịnh

Một là tất cả chư Phật đủ oai đức lớn, rời lỗi thanh tịnh.

Tất cả chư Phật đủ đại oai đức, đại phước đức, lìa lỗi thanh tịnh.

 

2. Nhất thiết chư Phật tất ư tam thế Như Lai gia sanh, chủng tộc điều thiện, ly qua thanh tịnh

Hai là tất cả chư Phật đều sanh nơi nhà tam thế Như Lai, chủng tộc điều thiện, rời lỗi thanh tịnh.

Tất cả chư Phật đều từ trong nhà Như Lai, ba đời sinh ra, chủng tộc điều thiện lìa lỗi thanh tịnh.

 

3. Nhất thiết chư Phật tận vị lai tế tâm vô sở trụ, ly qua thanh tịnh

Ba là tất cả chư Phật tột vị lai tế tâm vô sở trụ, rời lỗi thanh tịnh.

Tất cả chư Phật hết thuở vị lai, tâm vô sở trụ, lìa lỗi thanh tịnh.

 

4. Nhất thiết chư Phật ư tam thế Pháp giai vô sở trước, ly qua thanh tịnh

Bốn là tất cả chư Phật nơi pháp tam thế đều vô sở trước, rời lỗi thanh tịnh.

Tất cả chư Phật với pháp ba đời, đều không chấp trước, lìa lỗi thanh tịnh.

 

5. Nhất thiết chư Phật tri chủng chủng tánh giai thị nhất tánh, vô sở tòng lai, ly qua thanh tịnh

Năm là tất cả chư Phật biết những loại tánh, đều là một tánh, không từ đâu đến, rời lỗi thanh tịnh.

Tất cả chư Phật biết đủ thứ tánh đều là một tánh, không từ đâu đến, cũng không đi về đâu, lìa lỗi thanh tịnh.

 

6. Nhất thiết chư Phật tiền tế, hậu tế phước đức vô tận, đẳng ư Pháp giới, ly qua thanh tịnh

Sáu là tất cả chư Phật, tiền tế hậu tế phước đức vô tận đồng với pháp giới, rời lỗi thanh tịnh.

Tất cả chư Phật thuở trước thuở sau, phước đức của Ngài vô tận, nhiều đồng với pháp giới, lìa lỗi thanh tịnh.

 

7. Nhất thiết chư Phật vô biên thân tướng biến thập phương sát, tùy thời điều phục nhất thiết chúng sanh, ly qua thanh tịnh

Bảy là tất cả chư Phật vô biên thân tướng khắp mười phương cõi, tùy thời điều phục tất cả chúng sanh, rời lỗi thanh tịnh.

Tất cả chư Phật hiện vô biên sắc tướng, đầy khắp mười phương cõi nước chư Phật, tuỳ thời điều phục tất cả chúng sinh. Việc làm đó lìa lỗi thanh tịnh không chấp tướng.

 

8. Nhất thiết chư Phật hoạch tứ vô úy, ly chư khủng bố, ư chúng hội trung Đại sư tử hống, minh liễu phân biệt Nhất thiết chư pháp, ly qua thanh tịnh

Tám là tất cả chư Phật được bốn đức vô úy lìa những khủng bố, ở trong chúng hội đại sư tử hống, phân biện rành rẽ tất cả các pháp, rời lỗi thanh tịnh.

Tất cả chư Phật đắc được bốn thứ vô uý, lìa các tất cả sự sợ hãi. Ở trong chúng hội làm đại sư tử hống, thấu rõ phân biệt được tất cả các pháp, lìa lỗi thanh tịnh.

 

9. Nhất thiết chư Phật ư bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp nhập Bát Niết Bàn, chúng sanh văn danh hoạch vô lượng phước, như Phật hiện tại công đức vô dị, ly qua thanh tịnh

Chín là tất cả chư Phật trong bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp nhập Niết Bàn, chúng sanh nghe danh hiệu được phước vô lượng như Phật hiện tại công đức không khác, rời lỗi thanh tịnh.

Tất cả chư Phật ở trong bất khả thuyết bất khả thuyết nhiều kiếp về trước, đã vào Bát Niết Bàn, chúng sinh nghe thấy được danh hiệu của Phật, vẫn đắc được vô lượng phước báo, như Phật hiện tại công đức không khác, lìa lỗi thanh tịnh.

 

10. Nhất thiết chư Phật viễn tại bất khả thuyết bất khả thuyết thế giới trung, nhược hữu chúng sanh nhất tâm chánh niệm tức giai đắc kiến, ly qua thanh tịnh.

Mười là tất cả chư Phật ở xa trong bất khả thuyết bất khả thuyết thế giới, nếu có chúng sanh nhất tâm chánh niệm thời đều được thấy, rời lỗi thanh tịnh.

Tất cả chư Phật ở xa trong bất khả thuyết bất khả thuyết thế giới, nếu có chúng sinh, nhất tâm chánh niệm, thì đều được thấy, lìa lỗi thanh tịnh.

 

Thị vi thập.

Đó là mười.

========================================

Phật tử! chư Phật Thế tôn hữu thập chủng cứu cánh thanh tịnh. Hà đẳng vi thập? Sở vị:

Phật tử ! Chư Phật Thế Tôn có mười điều rốt ráo thanh tịnh. Những gì là mười? Đó là:

Phật tử! Chư Phật Thế Tôn có mười thứ rốt ráo thanh tịnh. Những gì là mười? Đó là:

 

1. Nhất thiết chư Phật vãng tích đại nguyện cứu cánh thanh tịnh,

Một là tất cả chư Phật đại nguyện thuở xưa rốt ráo thanh tịnh.

Tất cả chư Phật thuở xưa đã phát đại nguyện rốt ráo thanh tịnh. Điều này pháp sư tôi không thể không giảng kinh cho các vị nghe, vì tôi không giảng kinh thì thất nghiệp. Công việc của tôi là giảng kinh, cho nên về lại Vạn Phật Thánh Thành thì giảng kinh. Giảng cho ai nghe? Cho vạn Phật nghe. Do đó tất cả chư Phật tức là vạn Phật; vạn Phật tức là tất cả chư Phật.

 

2. Nhất thiết chư Phật sở trì phạm hạnh cứu cánh thanh tịnh

Hai là tất cả chư Phật giữ gìn phạm hạnh rốt ráo thanh tịnh.

Tất cả chư Phật tu phạm hạnh rốt ráo thanh tịnh. Phạm hạnh tức là hạnh thanh tịnh. Hạnh thanh tịnh này, tu đến rốt ráo, tu đến cực điểm, một chút nhiễm ô cũng không có, thì rốt ráo thanh tịnh. Thế nào là thanh tịnh? Thanh tịnh tức là tự tánh như hư không, chẳng có gì cả. Nếu có một chút thì chẳng thanh tịnh. Bạn nói:
– “Gì cũng chẳng có, thì xong rồi, giống như hư không, như vậy chẳng phải quá nguy hiểm chăng? Ít nhất cũng phải có ‘cái ta’! Cho đến cái ta cũng không có, như vậy lại có ý nghĩa gì nữa chứ?”

Có cái ta thì chẳng thanh tịnh, chẳng có cái ta mới thanh tịnh. Chẳng còn cái ta thì chẳng còn phiền não nữa. Chẳng còn phiền não, thì cũng chẳng còn vọng tưởng. Chẳng còn vọng tưởng, thì chẳng còn chấp trước. Chẳng còn chấp trước, thì đắc được giải thoát. Cho nên đắc được giải thoát, tức là rốt ráo thanh tịnh. Nếu bạn không tin, thì hãy thử xem, nếu thật giống như hư không, thì còn có gì làm nhiễm ô bạn nữa?

 

3. Nhất thiết chư Phật ly thế chúng hoặc cứu cánh thanh tịnh

Ba là tất cả chư Phật rời những mê lầm thế gian rốt ráo thanh tịnh.

Tất cả chư Phật đều lìa khỏi tất cả cảnh giới mê hoặc con người của thế gian. Hoặc tức là khiến cho bạn chẳng minh bạch, khiến cho bạn nhiễm ô. Những cái gì khiến cho bạn nhiễm ô? Tức là tình và ái. Vô minh phiền não khiến cho bạn chẳng đắc được thanh tịnh. Nếu bạn lìa khỏi các hoặc của thế gian, tất cả thứ mê hoặc con người, thì sẽ đắc được rốt ráo thanh tịnh.

 

4. Nhất thiết chư Phật trang nghiêm quốc độ cứu cánh thanh tịnh

Bốn là tất cả chư Phật trang nghiêm cõi nước rốt ráo thanh tịnh.

Tất cả chư Phật đều dùng mỗi mỗi cõi Phật mà tự trang nghiêm, trang nghiêm cõi nước chư Phật tức cũng là trang nghiêm cõi nước của chính mình. Trang nghiêm cõi nước chính mình, tức cũng là trang nghiêm cõi nước của chư Phật, cho nên tất cả chư Phật với chúng ta chúng sinh hợp mà làm một. Chúng ta tức là chư Phật, chư Phật tức là chúng ta, không hai không khác, rốt ráo thanh tịnh.

 

5. Nhất thiết chư Phật sở hữu quyến thuộc cứu cánh thanh tịnh

Năm là tất cả chư Phật có những quyến thuộc rốt ráo thanh tịnh.

Tất cả chư Phật có quyến thuộc rốt ráo thanh tịnh.

 

6. Nhất thiết chư Phật sở hữu chủng tộc cứu cánh thanh tịnh

Sáu là tất cả chư Phật chỗ có chủng tộc rốt ráo thanh tịnh.

Tất cả chư Phật có chủng tộc rốt ráo thanh tịnh.

 

7. Nhất thiết chư Phật sắc thân tướng hảo cứu cánh thanh tịnh

Bảy là tất cả chư Phật sắc thân tướng hảo rốt ráo thanh tịnh.

Tất cả chư Phật sắc thân tướng tốt, ba mươi hai tướng tám mươi vẻ đẹp, đều rốt ráo thanh tịnh.

 

8. Nhất thiết chư Phật Pháp thân vô nhiễm cứu cánh thanh tịnh

Tám là tất cả chư Phật pháp thân vô nhiễm rốt ráo thanh tịnh.

Tất cả chư Phật pháp thân không nhiễm, đầy khắp mọi nơi, cho nên nói rốt ráo thanh tịnh.

 

9. Nhất thiết chư Phật nhất thiết trí trí vô hữu chướng ngại cứu cánh thanh tịnh

Chín là tất cả chư Phật nhứt thiết chủng trí không có chướng ngại rốt ráo thanh tịnh.

Tất cả chư Phật trí nhất thiết trí, không có chướng ngại gì hết, đắc được rốt ráo thanh tịnh.

 

10. Nhất thiết chư Phật giải thoát tự tại, sở tác dĩ biện, đáo ư bỉ ngạn, cứu cánh thanh tịnh.

Mười là tất cả chư Phật giải thoát tự tại chỗ làm đã xong đến bĩ ngạn rốt ráo thanh tịnh.

Tất cả chư Phật giải thoát tự tại, việc làm đã làm xong, chẳng còn thọ thân sau nữa, đến được bờ bên kia, rốt ráo thanh tịnh.

 

Thị vi thập.

Đó là mười.

Đó là mười thứ thanh tịnh của Phật.

========================================

Phật tử! chư Phật Thế tôn ư nhất thiết thế giới, nhất thiết thời, hữu thập chủng Phật sự. hà đẳng vi thập?

Phật tử ! Chư Phật Thế Tôn nơi tất cả thế giới, tất cả thế gian, có mười thứ Phật sự. Những gì là mười? Đó là:

Các vị Phật tử! Các vị biết chăng? Chư Phật Thế Tôn ở tại tất cả thế giới tất cả thời, tất cả mọi nơi, thường làm mười thứ Phật sự. Những gì là mười thứ Phật sự?

 

1. Nhất giả, nhược hữu chúng sanh chuyên tâm ức niệm, tức hiện kỳ tiền

Một là nếu có chúng sanh chuyên tâm nghĩ nhớ thời Phật hiện ra trước họ.

Một là: Nếu có chúng sinh, chuyên tâm nghĩ nhớ. Nghĩ nhớ đến ai? Chẳng phải chuyên tâm nghĩ nhớ đến ba má, mà là chuyên tâm nghĩ nhớ đến tất cả chư Phật, thì mười phương chư Phật sẽ hiện ra ở trước bạn. Có người nói:

– “Tôi cũng thường thường niệm Phật, tại sao chẳng thấy Phật hiện ra ở trước mặt tôi?”

Xin hỏi bạn, bạn có khởi vọng tưởng chăng? Một mặt bạn niệm Phật, một mặt bạn nghĩ: – “Tôi niệm Phật, bạn trai của tôi có thường niệm Phật chăng? Tôi niệm Phật, bạn gái của tôi có thường nhớ đến tôi chăng? Tôi niệm Phật, không biết có phát tài không? Tôi niệm Phật, muốn được trường thọ sống lâu, không biết có được không?”

Cứ khởi những vọng tưởng tâm tham, vọng tưởng tâm sân, vọng tưởng tâm si như thế. Bạn nói thử xem đó gọi là niệm Phật chăng? Đó chẳng phải là bạn niệm Phật, mà giống như bạn đang mắng Phật. Một mặt bạn niệm Phật, một mặt khởi vọng tưởng. Sức lực vọng tưởng đó lớn hơn nhiều so với niệm Phật. Phật muốn hiện ra ở trước mặt bạn, nhưng vọng tưởng của bạn chướng ngại, Phật hiện ra ở trước mặt bạn, bạn cũng nhìn không thấy. Tâm của bạn phải thanh tịnh, thì mặt trăng mới hiện ra, ý của bạn định thì bầu trời xanh không có mây, chuyên tâm nghĩ nhớ, thì chư Phật mới hiện tiền. Nhưng có chúng sinh nhìn thấy được, có chúng sinh nhìn chẳng thấy. Nhìn thấy được, thì Phật cũng hiện tiền, không nhìn thấy được, thì Phật cũng vẫn hiện tiền.

 

2. Nhị giả, nhược hữu chúng sanh tâm bất điều thuận, tức vi thuyết Pháp

Hai là nếu có chúng sanh tâm chẳng điều thuận thời Phật vì họ mà thuyết pháp.

Hai là: Nếu có chúng sinh, tâm chẳng điều thuận, mình không thể điều phục thân tâm của mình, sinh ra rất nhiều phiền não, lúc đó mười phương chư Phật sẽ vì loại chúng sinh này nói pháp, khiến cho trong tâm họ được điều thuận.

 

3. Tam giả, nhược hữu chúng sanh năng sanh tịnh tín, tất lệnh hoạch đắc vô lượng thiện căn

Ba là nếu có chúng sanh hay sanh tịnh tín thời Phật làm cho họ được vô lượng thiện căn.

Ba là: Nếu có chúng sinh, sinh tâm tin thanh tịnh. Tin thanh tịnh tức là tâm tin thanh tịnh, chẳng có tạp niệm nào hết, cũng không có tâm hoài nghi nào cả. Nếu có chúng sinh, sinh ra tâm tin thanh tịnh, thì chư Phật Thế Tôn sẽ khiến cho người đó, đắc được vô lượng căn lành.

 

4. Tứ giả, nhược hữu chúng sanh năng nhập pháp vị, tất giai hiện chứng, vô bất liễu tri

Bốn là nếu có chúng sanh hay nhập pháp vị thời đều hiện chứng không pháp nào chẳng biết.

Bốn là: Nếu có chúng sinh tu hành pháp này, thì đắc được vô sinh pháp nhẫn, liền nhập vào pháp vị, thì chư Phật liền khiến cho họ đời này sẽ đắc được hiện chứng, chẳng có gì mà không biết, chẳng có gì mà không rõ, sẽ chứng được cảnh giới này.

 

5. Ngũ giả, giáo hóa chúng sanh vô hữu bì yếm

Năm là giáo hóa chúng sanh không hề nhàm mỏi.

Năm là: Chư Phật Thế Tôn giáo hoá chúng sinh không có nhàm mỏi, không bao giờ nói: “Tôi không giáo hoá chúng sinh, đủ rồi, nhàm mỏi quá rồi”. Chư Phật Thế Tôn, chẳng nghĩ như thế.

 

6. Lục giả, du chư Phật sát, vãng lai vô ngại

Sáu là du hành các cõi Phật, qua lại vô ngại.

Sáu là: Chư Phật Thế Tôn du hành đến mười phương, tất cả các cõi nước của chư Phật, đến đi vô ngại. Muốn đi đến đâu, thì đi đến đó. Đi cũng chẳng đi, đến cũng chẳng đến. Tại sao? Vì vô ngại. Đến đi vô ngại, đến đi tự tại.

 

7. Thất giả, đại bi bất xả nhất thiết chúng sanh

Bảy là đại bi chẳng bỏ tất cả chúng sanh.

Bảy là: Chư Phật Thế Tôn làm Phật sự thường dùng tâm đại bi. Tâm đại bi hay ban tất cả vui cho chúng sinh, dứt trừ tất cả khổ của chúng sinh, chẳng xả bỏ tất cả chúng sinh.

 

8. Bát giả, hiện biến hóa thân, hằng bất đoạn tuyệt

Tám là hiện thân biến hóa hằng không đoạn tuyệt.

Tám là: Chư Phật Thế Tôn thường thường hiện thân thần thông biến hoá, tự tại vô ngại, cảnh giới đó vĩnh viễn liên tục, chẳng có gián đoạn.

 

9. Cửu giả, thần thông tự tại, vị thường hưu tức

Chín là thần thông tự đại chưa từng thôi nghỉ.

Chín là: Chư Phật Thế Tôn thường dùng thần thông tự tại vô ngại, vĩnh viễn cũng chẳng ngừng nghỉ, thời thời đều muốn cứu độ tất cả chúng sinh.

 

10. Thập giả, an trụ pháp giới, năng biến quan sát.

Mười là an trụ pháp giới hay khắp quán sát.

Mười là: Chư Phật Thế Tôn thường an trụ nơi pháp giới, hay quán sát khắp nhân duyên của tất cả chúng sinh trong pháp giới.

 

Thị vi thập.

Đó là mười.

Đó là mười thứ Phật sự của chư Phật Thế Tôn làm.

========================================

Phật tử! chư Phật Thế tôn hữu thập chủng vô tận trí hải Pháp. Hà đẳng vi thập? Sở vị:

Phật tử ! Chư Phật Thế Tôn có mười thứ pháp trí hải vô tận. Những gì là mười? Đó là:

Bồ Tát Thanh Liên Hoa Tạng lại nói: Các vị đệ tử của Phật! Chư Phật Thế Tôn có mười pháp biển trí huệ vô cùng tận. Những gì là mười? Đó là:

 

1. Nhất thiết chư Phật vô biên Pháp thân vô tận trí hải Pháp

Một là tất cả chư Phật vô biên pháp thân, pháp trí hải vô tận.

Tất cả chư Phật, pháp thân vô biên, vô tại vô bất tại, cho nên nói là vô biên, chẳng khi nào cùng tận, chẳng khi nào hết được, có pháp môn biển trí huệ này.

 

2. Nhất thiết chư Phật vô lượng Phật sự vô tận trí hải Pháp,

Hai là tất cả chư Phật vô lượng Phật sự, pháp trí hải vô tận.

Tất cả chư Phật, làm vô lượng Phật sự, tu pháp biển trí huệ vô tận.

 

3. Nhất thiết chư Phật Phật nhãn cảnh giới vô tận trí hải Pháp

Ba là tất cả chư Phật cảnh giới Phật nhãn, pháp trí hải vô tận.

Tất cả chư Phật, cảnh giới Phật nhãn, có pháp biển trí huệ vô tận.

 

4. Nhất thiết chư Phật vô lượng vô số nan tư thiện căn vô tận trí hải Pháp

Bốn là tất cả chư Phật vô lượng vô số nan tư thiện căn, pháp trí hải vô tận. .

Tất cả chư Phật, có vô lượng vô số căn lành không thể nghĩ bàn, pháp biển trí huệ vô tận.

 

5. Nhất thiết chư Phật phổ vũ nhất thiết cam lồ diệu pháp vô tận trí hải Pháp

Năm là tất cả chư Phật mưa khắp tất cả cam lồ diệu pháp, pháp trí hải vô tận.

Tất cả chư Phật, khắp mưa tất cả diệu pháp cam lồ, để thấm nhuần tất cả chúng sinh, pháp biển trí huệ vô tận.

 

6. Nhất thiết chư Phật tán Phật công đức vô tận trí hải Pháp

Sáu là tất cả chư Phật tán thán Phật công đức, pháp trí hải vô tận.

Tất cả chư Phật, khen công đức của Phật, biển pháp trí huệ vô tận.

 

7. Nhất thiết chư Phật vãng tích sở tu chủng chủng nguyện hạnh vô tận trí hải Pháp

Bảy là tất cả chư Phật ngày trước đã tu những nguyện hạnh, pháp trí hải vô tận.

Tất cả chư Phật, thuở xưa tu đủ thứ đại nguyện, đủ thứ đại hạnh, pháp biển trí huệ vô tận.

 

8. Nhất thiết chư Phật tận vị lai tế hằng tác Phật sự vô tận trí hải Pháp

Tám là tất cả chư Phật tận vị lai tế hằng làm Phật sự, pháp trí hải vô tận.

Tất cả chư Phật, suốt thuở vị lai luôn làm Phật sự, pháp biển trí huệ vô tận.

 

9. Nhất thiết chư Phật liễu tri nhất thiết chúng sanh tâm hành vô tận trí hải Pháp

Chín là tất cả chư Phật biết rõ tâm hành của tất cả chúng sanh, pháp trí hải vô tận.

Tất cả chư Phật, biết rõ tất cả tâm và hành vi của tất cả chúng sinh, pháp biển trí huệ vô tận.

 

10. Nhất thiết chư Phật phước trí trang nghiêm vô năng qua giả vô tận trí hải Pháp.

Mười là tất cả chư Phật phước trí trang nghiêm không ai hơn, pháp trí hải vô tận.

Tất cả chư Phật, phước đức trí huệ trang nghiêm, không ai có thể hơn được, pháp biển trí huệ vô tận.

 

Thị vi thập.

Đó là mười.

Đó là mười pháp biển trí huệ vô tận của chư Phật Thế Tôn.

========================================

Phật tử! chư Phật Thế tôn hữu thập chủng thường Pháp. Hà đẳng vi thập? Sở vị:

Phật tử ! Chư Phật Thế Tôn có mười thứ thường pháp. Những gì là mười? Đó là:

Các vị Phật tử! Chư Phật Thế Tôn lại có mười thứ thường pháp, chư Phật Thế Tôn thời thời đều có pháp này. Những gì là mười? Đó là:

 

1. Nhất thiết chư Phật thường hành Nhất thiết chư Ba-la-mật

Một là tất cả chư Phật thường thật hành tất cả những Ba la mật.

Tất cả chư Phật giờ giờ phút phút đều thường tu hành tất cả pháp Ba la mật (đến bờ kia).

 

2. Nhất thiết chư Phật ư nhất thiết Pháp thường ly mê hoặc

Hai là tất cả chư Phật nơi tất cả pháp, thường rời hẳn mê lầm.

Tất cả chư Phật đối với tất cả pháp, thường lìa mê hoặc, tức là nhận thức được tất cả các pháp. Phật nói tất cả pháp, mà chẳng bị tất cả pháp nói. Phật giáo hoá chúng sinh, mà chẳng bị chúng sinh giáo hoá.

 

3. Nhất thiết chư Phật thường cụ đại bi

Ba là tất cả chư Phật thường đủ đức đại bi.

Tất cả chư Phật thường đầy đủ tâm đại bi.

 

4. Nhất thiết chư Phật thường hữu thập lực

Bốn là tất cả chư Phật thường có đủ Thập lực.

Tất cả chư Phật thường có mười thứ Phật lực.

 

5. Nhất thiết chư Phật thường chuyển pháp luân

Năm là tất cả chư Phật thường chuyển Pháp luân.

Tất cả chư Phật thường chuyển bánh xe pháp vi diệu vô thượng.

 

6. Nhất thiết chư Phật thường vi chúng sanh thị thành chánh giác

Sáu là tất cả chư Phật thường vì chúng sanh mà thị hiện thành Chánh giác.

Tất cả chư Phật thường vì chúng sinh thị hiện thành Chánh Giác.

 

7. Nhất thiết chư Phật thường lạc điều phục nhất thiết chúng sanh,

Bảy là tất cả chư Phật thường thích điều phục tất cả chúng sanh.

Tất cả chư Phật thường thích điều phục tất cả chúng sinh.

 

8. Nhất thiết chư Phật tâm thường chánh niệm bất nhị chi pháp

Tám là tất cả chư Phật tâm thường chánh niệm pháp Bất nhị.

Tất cả chư Phật tâm thường chánh niệm không hai.

 

9. Nhất thiết chư Phật hóa chúng sanh dĩ, thường thị nhập ư Vô-Dư Niết-Bàn,

Chín là tất cả chư Phật giáo hóa chúng sanh xong rồi thường thị hiện nhập Vô dư Niết bàn.

Tất cả chư Phật giáo hoá chúng sinh rồi, thường thị hiện vào Vô Dư Niết Bàn, tức đại Niết Bàn

 

10. Chư Phật cảnh giới vô biên tế cố.

Mười là tất cả chư Phật cảnh giới thường không biên tế.

Là cảnh giới của chư Phật không có bờ mé.

 

Thị vi thập.

Đó là mười.

Đó là mười thứ thường pháp.

========================================

Phật tử! chư Phật Thế tôn hữu thập chủng diễn thuyết vô lượng chư Phật Pháp môn. Hà đẳng vi thập? Sở vị:

Phật tử ! Chư Phật Thế Tôn có mười môn diễn thuyết vô lượng. Những gì là mười? Đó là:

Các vị Phật tử! Chư Phật Thế Tôn lại có mười thứ diễn nói vô lượng pháp môn của chư Phật. Những gì là mười? Đó là:

 

1. Nhất thiết chư Phật diễn thuyết vô lượng chúng sanh giới môn

Một là tất cả chư Phật diễn thuyết vô lượng chúng sanh giải thoát môn.

Tất cả chư Phật diễn nói pháp môn vô lượng cõi chúng sinh, vô lượng chúng sinh đủ thứ loài.

 

2. Nhất thiết chư Phật diễn thuyết vô lượng chúng sanh hạnh môn

Hai là tất cả chư Phật diễn thuyết vô lượng chúng sanh hạnh môn.

Tất cả chư Phật diễn nói pháp môn vô lượng hành vi của chúng sinh.

 

3. Nhất thiết chư Phật diễn thuyết vô lượng chúng sanh nghiệp quả môn

Ba là tất cả chư Phật diễn thuyết vô lượng chúng sanh nghiệp quả môn.

Tất cả chư Phật diễn nói pháp môn vô lượng nghiệp quả của chúng sinh, chúng sinh tạo nghiệp gì, thì thọ quả báo đó.

 

4. Nhất thiết chư Phật diễn thuyết vô lượng hóa chúng sanh môn

Bốn là tất cả chư Phật diễn thuyết vô lượng hóa chúng sanh môn.

Tất cả chư Phật lại diễn nói pháp môn vô lượng giáo hoá chúng sinh.

 

5. Nhất thiết chư Phật diễn thuyết vô lượng tịnh chúng sanh môn

Năm là tất cả chư Phật diễn thuyết vô lượng tịnh chúng sanh môn.

Tất cả chư Phật lại diễn nói pháp môn vô lượng tịnh chúng sinh.

 

6. Nhất thiết chư Phật diễn thuyết vô lượng Bồ Tát hạnh môn,

Sáu là tất cả chư Phật diễn thuyết vô lượng Bồ Tát hạnh môn.

Tất cả chư Phật lại diễn nói pháp môn vô lượng hạnh của Bồ Tát tu.

 

7. Nhất thiết chư Phật diễn thuyết vô lượng Bồ Tát nguyện môn

Bảy là tất cả chư Phật diễn thuyết vô lượng Bồ Tát nguyện môn.

Tất cả chư Phật lại diễn nói pháp môn vô lượng nguyện của Bồ Tát đã phát ra.

 

8. Nhất thiết chư Phật diễn thuyết vô lượng nhất thiết thế giới thành hoại kiếp môn

Tám là tất cả chư Phật diễn thuyết vô lượng tất cả thế giới thành kiếp hoại kiếp môn.

Tất cả chư Phật lại diễn nói pháp môn vô lượng kiếp thành hoại của tất cả thế giới.

 

9. Nhất thiết chư Phật diễn thuyết vô lượng Bồ Tát thâm tâm tịnh Phật sát môn

Chín là tất cả chư Phật diễn thuyết vô lượng Bồ Tát thâm tâm tịnh Phật sát môn.

Tất cả chư Phật lại diễn nói pháp môn vô lượng thâm tâm Bồ Tát tịnh cõi nước chư Phật.

 

10. Nhất thiết chư Phật diễn thuyết vô lượng nhất thiết thế giới tam thế chư Phật ư bỉ bỉ kiếp thứ đệ xuất hiện môn

Mười là tất cả chư Phật diễn thuyết vô lượng tất cả thế giới tam thế chư Phật nơi những kiếp đó thứ đệ xuất hiện môn.

Tất cả chư Phật lại diễn nói pháp môn vô lượng tất cả thế giới của ba đời chư Phật, ở nơi kiếp đó lần lược xuất hiện ra đời.

 

Nhất thiết chư Phật diễn thuyết Nhất thiết chư Phật trí môn.

Tất cả chư Phật diễn thuyết vô lượng nhứt thiết chư Phật trí môn.

Tất cả chư Phật diễn nói pháp môn trí huệ của tất cả chư Phật.

 

Thị vi thập.

Đó là mười.

========================================

Phật tử! chư Phật Thế tôn hữu thập chủng vi chúng sanh tác Phật sự. Hà đẳng vi thập? Sở vị:

Phật tử ! Chư Phật Thế Tôn có mười điều vì chúng sanh làm Phật sự: Những gì là mười? Đó là:

Bồ Tát Thanh Liên Hoa Tạng lại gọi một tiếng: Các vị Phật tử! Chư Phật Thế Tôn lại có mười thứ pháp môn, vì chúng sinh làm Phật sự. Những gì là mười? Đó là:

 

1. Nhất thiết chư Phật thị hiện sắc thân vi chúng sanh tác Phật sự

Một là tất cả chư Phật thị hiện sắc thân vì chúng sanh mà làm Phật sự.

Tất cả chư Phật thị hiện sắc thân, vì chúng sinh làm Phật sự. Pháp thân chư Phật khắp cùng tất cả mọi nơi. Báo thân thì vì chúng sinh làm đại Phật sự. Hoá thân thì tuỳ duyên ứng phó, thị hiện tám tướng thành đạo, đó đều là vì chúng sinh làm đại Phật sự. Khiến cho tất cả chúng sinh, vì cảnh giới này mà phát tâm bồ đề, đây gọi là làm Phật sự.

 

2. Nhất thiết chư Phật xuất diệu âm thanh vi chúng sanh tác Phật sự

Hai là tất cả chư Phật phát diệu âm thanh vì chúng sanh mà làm Phật sự.

Tất cả chư Phật vang ra diệu âm thanh, vì chúng sinh làm Phật sự. Tại sao âm thanh của Phật viên mãn? Vì dùng âm thanh để làm Phật sự, hoá độ chúng sinh. Vì “Phương này chân giáo thể, thanh tịnh tại âm thanh”. Âm thanh đó khiến cho chúng sinh phát tâm bồ đề, đó gọi là dùng âm thanh để vì chúng sinh làm Phật sự.

 

3. Nhất thiết chư Phật hữu sở thọ vi chúng sanh tác Phật sự

Ba là tất cả chư Phật có chỗ thọ vì chúng sanh mà làm Phật sự.

Tất cả chư Phật có thọ nhận, tức là thọ nhận sự cúng dường của tất cả chúng sinh, cũng là vì chúng sinh làm Phật sự.

 

4. Nhất thiết chư Phật vô sở thọ vi chúng sanh tác Phật sự

Bốn là tất cả chư Phật không chỗ thọ vì chúng sanh mà làm Phật sự.

Tất cả chư Phật không thọ nhận, ở đó không thọ nhận sự cúng dường của chúng sinh, cũng là vì chúng sinh làm đại Phật sự. Chư Phật có thọ nhận, là khiến cho chúng sinh trồng phước điền, sinh tâm đại hoan hỉ mà làm Phật sự. Chư Phật không thọ nhận, là khiến cho chúng sinh, sinh tâm đại hổ thẹn, nói: “Phật đều không thọ nhận sự cúng dường của tôi”. Điều này có thể nói không thọ cũng là thọ, vì chúng sinh mà làm Phật sự.

 

5. Nhất thiết chư Phật dĩ địa, thủy, hỏa, phong vi chúng sanh tác Phật sự

Năm là tất cả chư Phật dùng địa, thủy, hỏa, phong vì chúng sanh mà làm Phật sự.

Tất cả chư Phật dùng đất nước gió lửa, vì chúng sinh làm Phật sự. Chúng ta hãy nhìn xem, đất nước gió lửa bốn đại của thế gian này, đều là áo diệu không thể nghĩ bàn, đều vô cùng vô tận. Chư Phật cũng dùng đất nước gió lửa, vì chúng sinh làm đại Phật sự.

 

6. Nhất thiết chư Phật thần lực tự tại thị Hiện-Nhất-Thiết sở duyên cảnh giới vi chúng sanh tác Phật sự

Sáu là tất cả chư Phật thần lực tự tại thị hiện tất cả cảnh giới sở duyên vì chúng sanh mà làm Phật sự.

Tất cả chư Phật thần lực tự tại, biến hoá vô cùng, thị hiện sự tiếp xúc, thuận duyên tất cả cảnh giới, cũng là vì chúng sinh làm Phật sự.

 

7. Nhất thiết chư Phật chủng chủng danh hiệu vi chúng sanh tác Phật sự

Bảy là tất cả chư Phật nhiều thứ danh hiệu vì chúng sanh mà làm Phật sự.

Tất cả chư Phật có đủ thứ danh hiệu. Mỗi một vị Phật ban đầu có một vạn danh hiệu, cho nên chúng ta gọi Vạn Phật Thánh Thành. Đây chẳng phải là một vạn vị Phật, mới gọi là Vạn Phật Thánh Thành, mà một vị Phật cũng gọi là Vạn Phật Thánh Thành, một vạn vị Phật cũng gọi là Vạn Phật Thánh Thành, và vạn vạn vị Phật cũng gọi là Vạn Phật Thánh Thành. Vạn vạn là vô cùng vô tận, đều gọi là Vạn Phật Thánh Thành. Ai đến thì người đó có cơ hội thành Phật. Đến được Vạn Phật Thánh Thành, thì nhất định sẽ thành Phật. Nếu không muốn thành Phật, thì không đến được Vạn Phật Thánh Thành, cho nên Vạn Phật Thánh Thành, tức là danh hiệu của tất cả chư Phật. Tất cả chư Phật có đủ thứ danh hiệu, cũng là vì chúng sinh làm đại Phật sự.

 

8. Nhất thiết chư Phật dĩ Phật sát cảnh giới vi chúng sanh tác Phật sự,

Tám là tất cả chư Phật dùng cảnh giới chư Phật vì chúng sanh mà làm Phật sự.

Tất cả chư Phật dùng cảnh giới cõi Phật, vì chúng sinh làm Phật sự, mỗi một vị Phật có một cõi nước, ở trong đó giáo hoá chúng sinh, vì chúng sinh làm đại Phật sự.

Vào thời kỳ mạt pháp này, kiến lập nên Vạn Phật Thánh Thành, có được một đạo tràng lớn từ dưới đất vọt lên, thật có thể nói là trời đất kiến tạo, tất cả những thiết bị đều hiện thành. Chúng ta đến đây, thành tựu đạo tràng này rất dễ dàng, và còn dự bị thành lập một cơ sở trường đại học pháp giới, tạo nên trên thế giới này thật có lương tâm đạo đức, học sinh hiểu được làm thế nào để làm người, đó thật là không thể nghĩ bàn. Chúng ta quán sát cảnh giới này, thật là không thể nghĩ bàn, nếu chẳng phải mười phương ba đời tất cả chư Phật, đến trợ giúp chúng ta làm đại Phật sự, làm sao thành tựu được như vậy? Chúng ta mọi người nên minh bạch như vậy. Đó tức là Phật thị hiện một đạo tràng lớn như thế, kêu chúng ta tất cả mọi người, ở đây dụng công tu hành. Cho nên lạnh một chút, mới thấy được chân tâm của chúng ta. Chúng ta phải làm “Đèn cầy ở trong gió”, gió càng lớn thì đèn của chúng ta càng sáng. “Vàng thật trong lửa mạnh”, lò lửa càng lớn thì mới luyện ra vàng thật, thuần vàng, không có chút xen tạp nào. Chúng ta phải có chí hướng như thế. Chẳng phải tôi đã từng nói với quý vị, phải:

“Rét chết đứng ngược gió
Đói chết không khuất phục”.

Phật giáo đồ, tuyệt đối phải có chí khí chân chánh, đừng nương tựa vào người khác. Tôi nói với quý vị lời này, đều là chân thật, chúng ta nhất định phải làm như vậy. Cho nên, trời lạnh như thế này, mà vẫn giảng kinh thuyết pháp, không sợ lạnh. Hoặc là số tôi chịu khổ, từ trước tới nay đều ở trong thùng băng, ở đã quen rồi, cho nên thích lạnh. Đây cũng là bản sắc của người Đông bắc, xưa kia tôi ở Hợp Nhĩ Tân, là nơi lạnh nhất, lạnh đến độ có nằm mơ cũng không mơ tưởng được, lạnh như thế nào? Nhổ nước miếng, chưa rơi xuống đất thì đứt làm ba đoạn. Một bãi nước miếng thành ba đoạn, lạnh như thế đó.

Chư Phật Bồ Tát đang ở đó làm đại Phật sự, dự bị hiện thành đạo tràng cho chúng ta, chúng ta thể nghiệm đến chư Phật Bồ Tát từ bi như thế, nhất định phải tu hành cho tốt, dụng công cho tốt, đừng cô phụ lòng từ bi của tất cả chư Phật. Chư Phật và chúng sinh chỉ sai khác một chút, một chút nào? Tức là chư Phật thì phá được vô minh rồi, còn chúng sinh thì bảo hộ vô minh. Chư Phật chẳng còn sự chấp trước, chúng sinh thì chuyên môn chấp trước, sự khác biệt là chỗ này.

 

9. Nhất thiết chư Phật nghiêm tịnh Phật sát vi chúng sanh tác Phật sự,

Chín là tất cả chư Phật nghiêm tịnh cõi Phật vì chúng sanh mà làm Phật sự.

Tất cả chư Phật nghiêm tịnh cõi Phật, vì chúng sinh làm Phật sự. Nghiêm là trang nghiêm, tịnh là thanh tịnh. Khiến cho hết thảy cõi nước chư Phật, đều thanh tịnh trang nghiêm, đây cũng là vì tất cả chúng sinh làm đại Phật sự.

 

10. Nhất thiết chư Phật tịch mịch vô ngôn vi chúng sanh tác Phật sự

Mười là tất cả chư Phật vắng lặng không lời vì chúng sanh mà làm Phật sự.

Lại nữa, tất cả chư Phật im lặng không nói, vì chúng sinh làm Phật sự. Kỳ thật vô vi mà vô bất vi, không nói mà nói, đó là chư Phật làm đại Phật sự.

 

Thị vi thập.

Đó là mười.

Đó là mười thứ pháp môn vì chúng sinh làm Phật sự.

========================================

Phật tử! chư Phật Thế tôn hữu thập chủng tối thắng Pháp. Hà đẳng vi thập? Sở vị:

Phật tử ! Chư Phật Thế Tôn có mười pháp tối thắng. Những gì là mười? Đó là:

Bồ Tát Thanh Liên Hoa Tạng lại gọi một tiếng: Các vị đệ tử của Phật! Tôi vì các vị giảng đạo lý Kinh Hoa Nghiêm, các vị nên phấn chấn tinh thần lên. Các vị có biết chư Phật Thế Tôn có mười pháp môn tối thắng chăng? Những gì là mười? Đó là:

 

1. Nhất thiết chư Phật đại nguyện kiên cố bất khả tự hoại, sở ngôn tất tác, ngôn vô hữu nhị,

Một là tất cả chư Phật đại nguyện kiên cố chẳng gì ngăn trở phá hoại được, nói ra tất thật hành, lời nói không có hai.

Tất cả chư Phật đại nguyện đã phát ra rất kiên cố, không thể thay đổi, chẳng giống như chúng ta phát nguyện rồi, về sau hối hận, lại muốn thu hồi nguyện lực, như vậy thì chẳng kiên cố. Đại nguyện của chư Phật kiên cố không thể trở ngại phá hoại được. Trở ngại như thế nào cũng không trở ngại được, phá hoại như thế nào cũng không phá hoại được, kiên cố giống như kim cang. Chư Phật đã nói thì làm, trừ khi Ngài không nói, đã nói ra thì nhất định phải làm, không thể nào nói dối. Chẳng phải nói rồi không làm, chư Phật lời nói không hai. Lời nói ra rồi, chỉ là một câu, không thể ngược lại, nói rồi lại nói: “Ta chẳng có nói”, không bao giờ ngược lại như vậy.

 

2. Nhất thiết chư Phật vi dục viên mãn nhất thiết công đức, tận vị lai kiếp tu Bồ Tát hạnh bất sanh giải quyện

Hai là tất cả chư Phật vì muốn viên mãn tất cả công đức nên tột kiếp vị lai tu hạnh Bồ Tát chẳng mỏi lười.

Tất cả chư Phật làm thế nào mà thành Phật? Tức là công đức viên mãn, phước đủ huệ đủ, mới thành Phật. Ngài vì viên mãn tất cả công đức, hết kiếp thuở vị lai, tu Bồ Tát hạnh. Trước khi Phật chưa thành Phật, phát nguyện hết kiếp thuở vị lai, tu hành Bồ Tát hạnh, lợi ích tất cả chúng sinh, tự giác giác tha, tự độ độ tha, tự lợi lợi tha. Ngài tu Bồ Tát hạnh, không sinh giải đãi, càng tu càng dũng mãnh tinh tấn, chẳng giống như chúng ta, tu pháp gì cũng đều giải đãi. Lạy Phật thì cảm thấy mệt mỏi quá, bèn muốn nghỉ. Tụng kinh cũng giải đãi như thế. Chư Phật tu pháp, chẳng có lúc nào giải đãi.

 

3. Nhất thiết chư Phật vi dục điều phục nhất chúng sanh cố, vãng bất khả thuyết bất khả thuyết thế giới, như thị nhi vi nhất thiết chúng sanh nhi vô đoạn tuyệt

Ba là tất cả chư Phật vì muốn điều phục tất cả chúng sanh nên qua đến bất khả thuyết bất khả thuyết thế giới để vì chúng sanh không lúc nào đoạn tuyệt.

Tất cả chư Phật vì muốn điều phục tất cả chúng sinh, khiến cho chúng sinh đều giữ quy cụ, nên đi đến bất khả thuyết bất khả thuyết thế giới như vậy, để giáo hoá tất cả chúng sinh, mà không đoạn tuyệt. Dùng từ bi Bồ Tát hạnh để lợi ích chúng sinh, thật là tối thắng.

 

4. Nhất thiết chư Phật ư tín, ư hủy nhị chủng chúng sanh, đại bi phổ quán, bình đẳng vô dị

Bốn là tất cả chư Phật đối với hai hạng chúng sanh: kính tin và hủy báng, tâm đại bi xem đồng bình đẳng không khác.

Tất cả chư Phật đối với hai loại chúng sinh tin và huỷ báng, đều dùng tâm đại bi quán khắp, bình đẳng thường xót chúng sinh không khác. Cho nên, bạn hoan hỉ Phật, Ngài cũng chẳng hoan hỉ, bạn phỉ báng Phật, Ngài cũng chẳng sinh tâm nóng giận. Chẳng phải tôi thường nói với các vị:

“Khen chê không động tâm”.

Đó là thái độ của Phật. Bất cứ ai nói chúng ta không tốt, là muốn cho chúng ta tốt. Nếu họ không muốn chúng ta tốt, thì hà tất phải nói chúng ta không tốt? Đây là thái độ đối với sự phỉ báng nên có. Còn người khác khen mình thì thế nào? Phải nghĩ như vầy:

– “Họ muốn cho mình làm tốt hơn, nếu không hy vọng mình làm tốt hơn, thì tại sao họ phải khen ngợi mình?” Cho nên tôi thường nói với các vị:

– “Bất cứ ai phỉ báng sư phụ của các vị, các vị là những đệ tử quy y, phải cảm ơn người đó, tại sao? Các vị phải nghĩ như vầy

– “Tôi quy y với vị sư phụ này, đại khái từ vô lượng kiếp đến nay, có vô lượng tội nghiệp, chưa tiêu diệt hết. Hiện tại có người làm thiện tri thức của ông ấy, trợ giúp cho ông ấy tiêu một chút tội nghiệp, đó chẳng phải là nên cảm ơn chăng?”

Vã lại, hoặc là họ thử nghiệm bạn, xem thử có người phỉ báng sư phụ của bạn, bạn có động tâm chăng? Nếu chẳng động tâm thì:

“Mắt thấy hình sắc bên trong chẳng hay
Tai nghe chuyện đời tâm chẳng biết
Thấy việc tỉnh việc ra khỏi thế gian
Thấy việc mê việc đoạ trầm luân”.

Nếu được như thế, tức là tâm chẳng động, hãy xem công phu của bạn, xem định lực của bạn.

Hơn nữa bạn cũng nên nghĩ rằng:

– “Tại sao người này phỉ báng sư phụ của tôi? Vì họ sợ mình không có cơm ăn, nếu họ mắng sư phụ của tôi, thì sẽ có cơm ăn, tức là chúng ta gián tiếp bố thí cho họ”. Nếu bạn có những sự quán sát như thế, thì gọi là sức quán sát khắp, sẽ không có phiền não gì hết, phiền não cũng chẳng còn. Bình đẳng không khác, khen chê không động tâm.

Con người có lúc khen lúc chê. Có lúc bạn được họ khen, có lúc bạn bị họ chê, là muốn cho bạn tốt, nếu nghĩ như thế thì chẳng có phiền não gì cả. Tôi nói về đạo lý này không nhất định là đúng. Các vị bất cứ người nào, nếu cảm thấy có câu nào không viên mãn, thì có thể nói cho tôi biết, về sau tôi sẽ nói cho được viên mãn.

Đạo lý bộ Kinh Hoa Nghiêm này vô cùng vô tận. Một thứ đạo lý có thể sinh ra vô lượng vô biên đạo lý; vô lượng vô biên đạo lý cũng giống như một đạo lý, do đó:

“Đâu chẳng từ pháp giới này mà ra
Chẳng có gì không trở về pháp giới này”.

Bộ Kinh pháp giới này là nói về đạo lý pháp giới. Hy vọng mỗi vị có đạo lý càng tốt hơn, đừng ngại đề ra nói với mọi người.

Các vị mọi người hãy nói: “Vạn Phật Thánh Thành đến như thế nào?” Vạn Phật Thánh Thành là từ những người chúng ta tu hành mà đến. Chúng ta tu hành không thể tự khen mình chê người khác, nói chúng ta tu hành là đúng. Nhưng có bao nhiêu là “thật”? Chúng ta có bao nhiêu chân tâm, thì có sự cảm ứng chư Phật Bồ Tát bấy nhiêu, cho nên bèn giao Vạn Phật Thành Thành cho chúng ta quản lý. Các vị có tin chăng? Cho nên bất cứ vị nào, đối với người của Vạn Phật Thành Thành đều phải cung kính. Các vị đừng nói đây không tốt, kia không tốt. Người tại Vạn Phật Thánh Thành, đều có lai lịch, đều chẳng phải là người bình thường, bất quá lai lịch gì, hiện tại tôi không thể nói cho các vị biết. Nói với các bạn thì bạn lại chẳng chịu tu hành. Tóm lại, bạn phải biết người ở tại Vạn Phật Thành, chẳng hề đơn giản, đều có đại nhân duyên, mới đến Vạn Phật Thành, bằng không, không thể đến được. Các vị hãy xem những hoa cỏ cây cối ở đây, đều đang ở đó thuyết pháp!

Tôi đã nói với các vị nhiều lần rồi, sáng sớm khởi từ phương đông, thì phóng màu xanh quang xanh, giữa trưa phương nam, thì phóng màu hồng quang hồng, màu đỏ quang đỏ. Đợi đến khi mặt trời lặn, phương tây phóng màu trắng quang trắng, đến tối thì phóng màu vàng quang vàng, bình thường lại có màu tía quang tía, lại có ngàn vạn biến hoá, có nhiều hào quang chiếu đến chúng ta những người ở đây, nói không hết được! Cho nên, ở đây có người nào đó chân có bệnh, hoặc người nào đó bị đinh làm bị thương, thì đó là việc rất tốt. Bị đinh làm bị thương chút chút, miễn khỏi đoạ vào địa ngục núi đao, miễn khỏi tai nạn lớn, đây gọi là tiểu nghiệt khỏi đại kiếp. Các vị nên nhớ, đừng khởi vọng tưởng về người nữ, tai nạn là từ đây mà ra. Biết mình đúng thì càng đi làm chuyện đúng, về sau nên nhớ đừng nói chuyện thị phi người khác, đừng cứ giặt đồ dơ cho kẻ khác, phải giặt đồ dơ của mình. Nhất là phải giặt rửa tâm của mình, làm cho tâm của mình sạch sẽ, thì:

“Tâm tịnh nước hiện trăng
Ý định trời không mây”.

Hôm qua tôi đã nói với quý vị, các vị còn nhớ chăng? Hôm nay tâm tịnh chăng? Nếu tâm của bạn tịnh, thì nước sẽ hiện trăng. Ý định thì bầu trời chẳng có mây. Nếu chưa làm được, thì ngày mai sẽ khảo nghiệm, chẳng phải nói suông cho các vị nghe đâu.

Tôi còn phải nói với các vị một tin tức nữa, tôi đã giảng kinh nhiều năm, những khoá trình này đều liệt vào khoá trình của đại học Phật giáo pháp giới. Nhiều năm như thế, trong số các vị đó, cũng có những người không thiếu một ngày nào, như vậy sớm sẽ được tốt nghiệp. Tương lai chúng ta có tiến sĩ Phật học, thạc sĩ Phật học, học sĩ Phật học, nhất là từ năm tới khi bắt đầu giảng kinh, bất cứ ai cũng đều phải biên chép, không thể chỉ nghe băng, nghe phiên dịch là được. Đây là việc tồi tệ nhất, khi bắt đầu thì tôi đã nhàm chán. Về sau chúng ta không cần máy thu băng nữa, phải bằng công phu chân thật, đem sức lực của mình ra, đem trí huệ của mình ra, phải học Phật pháp chân chánh, đừng nương tựa vào máy thu băng.

 

5. Nhất thiết chư Phật tùng sơ phát tâm nãi chí thành Phật, chung bất thoái thất Bồ-đề chi tâm

Năm là tất cả chư Phật từ lúc sơ phát tâm nhẫn đến thành Phật trọn không thối thất tâm Bồ Ðề.

Tất cả chư Phật bao quát khá khứ, hiện tại, vị lai, ba đời tất cả chư Phật. Chư Phật đời vị lai tức là bạn, tôi, và tất cả chúng sinh, đều bao quát hết. Cho nên chúng ta hiện tại, cũng đều là làm các Phật sự. Những gì chúng ta tạo, làm, đều là học theo chư Phật, làm việc của chư Phật đã làm. Chư Phật từ lúc ban đầu một niệm phát bồ đề tâm, cho đến khi thành tựu Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, Phật quả bồ đề, trọn không thối thất tâm bồ đề, lúc nào cũng chẳng thối lùi về sau, mỗi ngày tinh tấn hơn mỗi ngày, mỗi ngày phát bồ đề tâm hơn mỗi ngày.

 

6. Nhất thiết chư Phật tích tập vô lượng chư thiện công đức, giai dĩ hồi hướng nhất thiết trí tánh, ư chư thế gian chung vô nhiễm trước

Sáu là tất cả chư Phật chứa nhóm vô lượng những công đức lành đều đem hồi hướng tánh nhứt thiết trí, với các thế gian trọn không nhiễm trước.

Tất cả chư Phật tích tập vô lượng các công đức lành, từ ít thành nhiều, từ nhỏ thành lớn, từ gần mà thành xa, tích tập vô lượng vô biên công đức lành. Công đức lành của Ngài tu được, đều hồi hướng về tánh nhất thiết trí. Ngài đối với tất cả pháp thế gian, không nhiễm trước một tí nào cả. Nhiễm trước tức là mê, nghĩa là không biết thế nào là đúng, thế nào là sai; thế nào là chánh quyết, thế nào không chánh quyết. Bị những pháp thế gian làm nhiễm trước. Phật chẳng như thế, Ngài hồi hướng về tánh nhất thiết trí, chẳng bị pháp thế gian nhiễm trước.

 

7. Nhất thiết chư Phật ư chư Phật sở tu học tam nghiệp, duy hành Phật hạnh, phi nhị thừa hạnh, giai vi hồi hướng nhất thiết trí tánh, thành ư Vô thượng chánh đẳng bồ-đề

Bảy là tất cả chư Phật ở chỗ chư Phật tu học ba nghiệp, chỉ thật hành hạnh Phật chẳng phải hạnh Nhị thừa, đều để hồi hướng tánh Nhứt thiết trí, thành tựu Vô thượng Chánh đẳng Bồ Ðề.

Tất cả chư Phật, tại đạo tràng của mười phương chư Phật ba đời, tu học ba nghiệp, tu học thân nghiệp thanh tịnh, ý nghiệp thanh tịnh, lời nghiệp thanh tịnh. Chỉ tu hành hạnh của Phật tu, chứ chẳng tu hành hạnh của hàng Thanh Văn Duyên Giác nhị thừa tu, đều vì hồi hướng về tánh nhất thiết trí, hồi hướng thành tựu quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

 

8. Nhất thiết chư Phật phóng đại quang minh, kỳ quang bình đẳng chiếu nhất thiết xứ, cập chiếu Nhất thiết chư Phật chi Pháp, lệnh chư Bồ-tát tâm đắc thanh tịnh, mãn nhất thiết trí

Tám là tất cả chư Phật phóng đại quang minh, quang minh này bình đẳng chiếu tất cả chỗ và chiếu tất cả Phật pháp, làm cho chư Bồ Tát tâm được thanh tịnh viên mãn Nhứt Thiết trí.

Tất cả chư Phật phóng đại quang minh, quang minh đó bình đẳng, chiếu khắp tất cả mọi nơi. Và chiếu đến tất cả pháp của chư Phật nói, chiếu soi vô ngại, khiến cho tất cả Bồ Tát, đều đắc được tâm thanh tịnh, viên mãn nhất thiết trí.

 

9. Nhất thiết chư Phật xả ly thế lạc, bất tham bất nhiễm, nhi phổ nguyện thế gian ly khổ đắc lạc, vô chư hí luận

Chín là tất cả chư Phật rời bỏ sự vui thế gian chẳng tham chẳng nhiễm, mà nguyện khắp thế gian lìa khổ được vui không có những hý luận.

Tất cả chư Phật xả lìa tất cả khoái lạc của thế gian, chẳng tham danh văn lợi dưỡng của thế gian, chẳng nhiễm trước tình ái của thế gian, mà nguyện khắp thế gian lìa khổ được vui. Bạn hãy nhìn xem chư Phật, muốn khiến cho thế gian lìa khổ được vui.

Cho nên chúng ta tại Vạn Phật Thành, Kim Sơn Thánh Tự tại sao phải ngày ngày nghe pháp? Tại sao phải thuyết pháp? Tại sao phải cầu pháp? Là vì muốn cho tất cả chúng sinh, lìa khổ được vui, đây cũng là công việc của chư Phật làm. Cho nên trong đạo tràng Vạn Phật Thánh Thành, chẳng có chút nói cười nào, tất cả những việc làm, đều là chân thật không hư, thật thật tại tại, chẳng có chút hư vọng nào.

 

10. Nhất thiết chư Phật mẫn chư chúng sanh thọ chủng chủng khổ, thủ hộ Phật chủng, hành Phật cảnh giới, xuất ly sanh tử, đãi thập lực địa.

Mười là tất cả chư Phật thương các chúng sanh chịu những sự khổ, giữ gìn Phật chủng, đi nơi cảnh giới Phật, xuất ly sanh tử, đến bực Thập lực.

Hết thảy tất cả chư Phật thương các chúng sinh, thương tức là thương xót, nghĩa là lòng từ bi, ái hộ đối với chúng sinh. Phật cảm thấy tất cả chúng sinh thọ đủ thứ thống khổ mà thương xót. Do đó, phải giữ gìn giống Phật, tu hành cảnh giới Phật, xa lìa sinh tử, xa lìa tất cả điên đảo mộng tưởng, đắc được bậc mười thứ lực của Phật.

 

Thị vi thập.

Đó là mười.

========================================

Phật tử! chư Phật Thế tôn hữu thập chủng vô chướng ngại trụ. Hà đẳng vi thập? Sở vị:

Phật tử ! Chư Phật Thế Tôn có mười điều vô chướng ngại trụ. Những gì là mười? Đó là:

Bồ Tát Thanh Liên Hoa Tạng lại gọi một tiếng Phật tử! Chư Phật Thế Tôn lại có mười thứ vô chướng ngại trụ. Những gì là mười? Đó là:

 

1. Nhất thiết chư Phật giai năng vãng nhất thiết thế giới vô chướng ngại trụ,

Một là tất cả chư Phật đều hay qua đến tất cả thế giới, vô chướng ngại trụ.

Tất cả chư Phật đều có thể đến tất cả thế giới, vô chướng ngại trụ.

 

2. Nhất thiết chư Phật giai năng trụ nhất thiết thế giới vô chướng ngại trụ

Hai là tất cả chư Phật đều hay trụ ở tất cả thế giới, vô chướng ngại trụ.

Tất cả chư Phật đều có thể trụ ở trong tất cả thế giới, vô chướng ngại trụ.

 

3. Nhất thiết chư Phật giai năng ư nhất thiết thế giới hành, trụ, tọa, ngọa vô chướng ngại trụ

Ba là tất cả chư Phật đều hay ở nơi tất cả thế giới đi, đứng, nằm, ngồi, vô chướng ngại trụ.

Lại nữa, tất cả chư Phật lại có thể ở trong tất cả thế giới, hoặc đi, hoặc đứng, hoặc nằm, hoặc ngồi, vô chướng ngại trụ.

 

4. Nhất thiết chư Phật giai năng ư nhất thiết thế giới diễn thuyết Chánh Pháp vô chướng ngại trụ

Bốn là tất cả chư Phật đều hay ở nơi tất cả thế giới diễn thuyết chánh pháp, vô chướng ngại trụ.

Lại nữa, tất cả chư Phật đều có thể diễn nói chánh pháp trong tất cả thế giới, vô chướng ngại trụ.

 

5. Nhất thiết chư Phật giai năng ư nhất thiết thế giới trụ Đâu suất thiên cung vô chướng ngại trụ

Năm là tất cả chư Phật đều hay ở nơi tất cả thế giới trụ ở cung trời Ðâu Suất, vô chướng ngại trụ.

Tất cả chư Phật lại có thể ở cung trời Đâu Suất, hậu bổ Phật vị, trong tất cả thế giới, vô chướng ngại trụ.

 

6. Nhất thiết chư Phật giai năng nhập Pháp giới nhất thiết tam thế vô chướng ngại trụ

Sáu là tất cả chư Phật đều hay nhập pháp giới tất cả tam thế, vô chướng ngại trụ.

Tất cả chư Phật đều có thể vào pháp giới tất cả ba đời, tức đời quá khứ, đời hiện tại, đời vị lai, vô chướng ngại trụ.

 

7. Nhất thiết chư Phật giai năng tọa Pháp giới nhất thiết đạo tràng vô chướng ngại trụ

Bảy là tất cả chư Phật đều hay ngồi pháp giới tất cả đạo tràng, vô chướng ngại trụ.

Tất cả chư Phật đều có thể ngồi ở tại tất cả đạo tràng trong pháp giới, vô chướng ngại trụ.

 

8. Nhất thiết chư Phật giai năng niệm niệm quán nhất thiết chúng sanh tâm hành dĩ tam chủng tự tại giáo hóa điều phục vô chướng ngại trụ

Tám là tất cả chư Phật đều hay niệm niệm quán tâm hành của tất cả chúng sanh, dùng ba môn tự tại giáo hóa điều phục, vô chướng ngại trụ.

Lại nữa, tất cả chư Phật đều có thể niệm niệm quán tâm hạnh của tất cả chúng sinh, dùng ba thứ tự tại để giáo hoá điều phục, vô chướng ngại trụ.

 

9. Nhất thiết chư Phật giai năng dĩ nhất thân trụ vô lượng bất tư nghị Phật sở cập nhất thiết xứ lợi ích chúng sanh Vô chướng ngại trụ

Chín là tất cả chư Phật đều hay dùng một thân trụ ở vô lượng bất tư nghì chỗ chư Phật và tất cả chỗ để lợi ích chúng sanh, vô chướng ngại trụ.

Tất cả chư Phật đều có thể dùng một thân, trụ ở vô lượng đạo tràng của Phật không thể nghĩ bàn, và ở tất cả mọi nơi, lợi ích hết thảy chúng sinh, vô chướng ngại trụ.

 

10. Nhất thiết chư Phật giai năng khai thị vô lượng chư Phật sở thuyết chánh Pháp vô chướng ngại trụ.

Mười là tất cả chư Phật đều hay khai thị chánh pháp của vô lượng chư Phật nói, vô chướng ngại trụ.

Tất cả chư Phật đều có thể khai thị chánh pháp nhãn tạng của vô lượng chư Phật nói, vô chướng ngại trụ.

 

Thị vi thập.

Đó là mười.

========================================

Phật tử! chư Phật Thế tôn hữu thập chủng tối thắng vô thượng trang nghiêm. Hà đẳng vi thập?

Phật tử ! Chư Phật Thế Tôn có mười thứ tối thắng vô thượng trang nghiêm. Những gì là mười? Đó là:

Phật tử! Chư Phật Thế Tôn lại có mười thứ trang nghiêm tối thắng vô thượng. Những gì là mười? Đó là:

 

1. Nhất thiết chư Phật giai tất cụ túc chư tướng tùy hảo, thị vi chư Phật đệ nhất tối thắng vô thượng thân trang nghiêm.

Tất cả chư Phật đều đầy đủ những đại nhơn tướng và tùy hình hảo, đây là thân trang nghiêm tối thắng vô thượng thứ nhứt.

Tất cả chư Phật thảy đều đầy đủ ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp. Đó là thân thể trang nghiêm tối thắng vô thượng thứ nhất của chư Phật.

 

2. Nhất thiết chư Phật giai tất cụ túc lục thập chủng âm, nhất nhất âm hữu ngũ bách phần, nhất nhất phân vô lượng bách thiên thanh tịnh chi âm dĩ vi nghiêm hảo, năng ư Pháp giới nhất thiết chúng trung vô chư khủng bố, Đại sư tử hống diễn thuyết Như Lai thậm thâm pháp nghĩa, chúng sanh văn giả mị bất hoan hỉ, tùy kỳ căn dục tất đắc điều phục, thị vi chư Phật đệ nhị tối thắng vô thượng ngữ trang nghiêm.

Tất cả chư Phật đều đầy đủ sáu mươi thứ âm thanh, mỗi âm thanh có năm trăm phần, mỗi phần có vô lượng trăm ngàn âm thanh thanh tịnh dùng để nghiêm hảo, có thể ở trong tất cả chúng khắp pháp giới không hãi sợ, đại sư tử hống diễn nói pháp nghĩa thậm thâm của Như lai. Chúng sanh được nghe không ai chẳng hoan hỷ, tùy căn dục của họ đều được điều phục. Ðây là ngữ trang nghiêm tối thắng vô thượng thứ hai.

Lại nữa tất cả chư Phật thảy đều đầy đủ sáu mươi thứ âm thanh vi diệu không thể nghĩ bàn. Có ai muốn biết sáu mươi thứ âm thanh này không? Có thể xem Phật học tự điển, ở trong đó có nói rõ ràng. Trong mỗi thứ âm thanh, lại phân ra năm trăm phần khác nhau. Mỗi một phần lại có vô lượng trăm ngàn phần, nhiều âm thanh tịnh, để trang nghiêm âm thanh tịnh này. Có thể ở trong tất cả pháp giới chúng sinh, không có sợ hãi, khi nói thì chẳng có chút sợ hãi gì cả, chẳng giống như chúng ta, có lúc muốn nói lại không dám nói, ở trong đại chúng sinh ra một thứ sợ hãi, đó là bị oai đức của đại chúng làm cho sợ. Chư Phật chẳng có sợ hãi, thường thường làm đại sư tử hống, diễn nói pháp nghĩa thâm sâu vô thượng, chúng sinh nghe được, chẳng có ai mà chẳng hoan hỉ vui mừng. Tuỳ theo căn tánh, đều được điều phục, chúng sinh cang cường hết cang cường, chúng sinh xấu ác thì hết xấu ác. Đó là lời nói trang nghiêm tối thắng vô thượng thứ hai của chư Phật.

Đả Phật thất vẫn tiếp tục giảng kinh. Khi niệm Phật thì nếu bên ngoài không mưa, thì nên đi nhiễu Phật bên ngoài. Chúng ta đả Phật thất, hoặc Quán Âm thất, đa số đều đi bên ngoài nhiễu Phật, một mặt niệm Phật, một mặt khiến cho tất cả chúng sinh nghe được âm thanh niệm Phật, thì họ đều nghe âm thanh mà được độ. Đây là phương pháp giáo hoá chúng sinh rất tốt.

 

3. Nhất thiết chư Phật giai cụ thập lực, chư Đại tam muội, thập bát bất cộng trang nghiêm ý nghiệp, sở hạnh cảnh giới thông đạt vô ngại, nhất thiết Phật Pháp hàm đắc vô dư, Pháp giới trang nghiêm nhi vi trang nghiêm, Pháp giới chúng sanh tâm chi sở hạnh, khứ, lai, hiện tại các các sái biệt, ư nhất niệm trung tất năng minh kiến, thị vi chư Phật đệ tam tối thắng vô thượng ý trang nghiêm.

Tất cả chư Phật đều đủ Thập lực các đại tam muội, mười tám pháp bất cộng trang nghiêm ý nghiệp, chỗ có cảnh giới đều thông đạt vô ngại, tất cả Phật pháp đều được vô dư pháp giới trang nghiêm để dùng trang nghiêm. Pháp giới chúng sanh, tam thế tâm hành đều riêng khác, trong một niệm đều thấy rõ cả. Ðây là ý trang nghiêm tối thắng vô thượng thứ ba.

Tất cả chư Phật, bao quát bạn, mọi người khác, bất cứ ai cũng đều bao quát trong đó. Vì tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, đều có thể làm Phật, cho nên đều đủ mười lực. Các đại tam muội tức là đại định, đại thọ. Mười tám pháp bất cộng trang nghiêm ý nghiệp, có mười tám thứ bất cộng trang nghiêm ý nghiệp khác với nhị thừa, chẳng giống phàm phu. Cảnh giới sở hành của Phật, đều viên mãn thông đạt vô ngại. Tất cả Phật pháp cũng đều thông đạt vô ngại, đều vừa đúng, cũng chẳng thừa, cũng chẳng nhiều, cũng chẳng ít. Dùng pháp giới trang nghiêm tốt đẹp, để làm trang nghiêm tốt đẹp cho chính mình. Hết thảy tất cả chúng sinh pháp giới, trong tâm nghĩ gì, Phật đều biết. Bất cứ quá khứ, vị lai, hiện tại, tuy nhiên mỗi mỗi đều khác nhau, ở trong một niệm, Phật đều thấy rõ tư tưởng của tất cả chúng sinh. Đó là ý trang nghiêm tối thắng vô thượng thứ ba của chư Phật.

 

4. Nhất thiết chư Phật giai tất năng phóng vô số quang minh, nhất nhất quang minh hữu bất khả thuyết quang minh võng dĩ vi quyến thuộc, phổ chiếu Nhất thiết chư Phật quốc độ, diệt trừ nhất thiết thế gian hắc ám, thị hiện vô lượng chư Phật xuất hưng, kỳ thân bình đẳng tất giai thanh tịnh, sở tác Phật sự hàm bất đường quyên, năng lệnh chúng sanh chí Bất-thoái-chuyển, thị vi chư Phật đệ tứ tối thắng vô thượng quang minh trang nghiêm.

Tất cả chư Phật đều hay phóng vô số quang minh. Mỗi mỗi quang minh có bất khả thuyết lưới quang minh làm quyến thuộc chiếu khắp tất cả Phật độ, diệt trừ đen tối của tất cả thế gian, thị hiện vô lượng chư Phật xuất thế, thân đó bình đẳng thảy đều thanh tịnh, chỗ làm Phật sự đều không luống uổng, hay làm cho chúng sanh đến bực bất thối chuyển. Ðây là quang minh trang nghiêm tối thắng vô thượng thứ tư.

Tất cả chư Phật thảy đều phóng vô số quang minh. Mỗi quang minh, có bất khả thuyết lưới quang minh dùng làm quyến thuộc, chiếu khắp tất cả cõi nước của chư Phật. Diệt trừ tất cả đen tối của thế gian, thị hiện vô lượng chư Phật xuất hiện ra đời. Thân đó bình đẳng, thảy đều thanh tịnh. Làm các Phật sự đều không luống mất, hay khiến cho chúng sinh chí không thối chuyển. Đó là quang minh trang nghiêm tối thắng vô thượng thứ tư của chư Phật.

 

5. Nhất thiết chư Phật hiện vi tiếu thời, giai ư khẩu trung phóng bách thiên ức na-do-tha a-tăng-kì quang minh, nhất nhất quang minh các hữu vô lượng bất tư nghị chủng chủng sắc, biến chiếu thập phương nhất thiết thế giới, ư Đại chúng trung phát thành thật ngữ, thọ vô lượng vô số bất tư nghị chúng sanh A-nậu-đa-la tam-miệu-tam Bồ-đề kí, thị vi chư Phật đệ ngũ ly thế si hoặc tối thắng vô thượng hiện vi tiếu trang nghiêm.

Tất cả chư Phật lúc hiện mỉm cười, đều ở nơi miệng phóng ra trăm ngàn ức na do tha a tăng kỳ quang minh. Mỗi quang minh đều có vô lượng bất tư nghì các thứ màu chiếu khắp mười phương tất cả thế giới. Ở trong đại chúng phát lời thành thiệt, thọ ký đạo Vô thượng Chánh giác cho vô lượng vô số bất tư nghì chúng sanh. Ðây là lìa si hoặc thế gian hiện vi tiếu trang nghiêm tối thắng vô thượng thứ năm.

Tất cả chư Phật khi hiện mỉm cười, đều ở trong miệng, phóng ra trăm ngàn ức Na do tha A tăng kỳ quang minh. Mỗi quang minh, đều có vô lượng đủ thứ màu sắc không nghĩ bàn, chiếu khắp mười phương tất cả thế giới. Ở trong đại chúng phát ra tiếng thành thật. Thọ ký A nậu đa la tam miệu tam bồ đề (Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác), cho vô lượng vô số bất tư nghì chúng sinh. Đó là hiện mỉm cười trang nghiêm tối thắng vô thượng lìa nghi hoặc thế gian thứ năm của chư Phật.

 

6. Nhất thiết chư Phật giai hữu Pháp thân thanh tịnh vô ngại, ư nhất thiết Pháp cứu cánh thông đạt, trụ ư Pháp giới vô hữu biên tế, tuy tại thế gian bất dữ thế tạp, liễu thế thật tánh, hành xuất thế Pháp, ngôn ngữ đạo đoạn, siêu uẩn, giới, xứ, thị vi chư Phật đệ lục tối thắng vô thượng pháp thân trang nghiêm.

Tất cả chư Phật đều có pháp thân thanh tịnh vô ngại, nơi tất cả pháp thông đạt rốt ráo, trụ nơi pháp giáo không có biên tế. Dầu ở thế gian mà chẳng tạp với thế gian. Rõ thiệt tánh thế gian, thật hành pháp xuất thế. Dứt đường ngôn ngữ, siêu uẩn xứ giới. Ðây là pháp thân trang nghiêm tối thắng vô thượng thứ sáu.

Tất cả chư Phật đều có pháp thân, thanh tịnh vô ngại. Đối với tất cả pháp, rốt ráo thông đạt, trụ nơi pháp giới, không có bờ mé. Tuy ở thế gian mà chẳng xen tạp với đời, thấu rõ pháp thật tánh của thế gian. Tu hành pháp xuất thế, đường lời nói đã bặc, vượt qua uẩn giới xứ. Đó là pháp thân trang nghiêm tối thắng vô thượng thứ sáu của chư Phật.

 

7. Nhất thiết chư Phật giai hữu vô lượng thường diệu quang minh, bất khả thuyết bất khả thuyết chủng chủng sắc tướng dĩ vi nghiêm hảo vi quang minh tạng, xuất sanh vô lượng viên mãn quang minh, phổ chiếu thập phương vô hữu chướng ngại, thị vi chư Phật đệ thất tối thắng vô thượng thường diệu quang minh trang nghiêm.

Tất cả chư Phật đều có vô lượng thường quang minh vi diệu, bất khả thuyết bất khả thuyết những thứ sắc tướng dùng làm nghiêm hảo, làm tạng quang minh viên mãn, chiếu khắp mười phương không chướng ngại. Ðây là thường diệu quang minh trang nghiêm tối thắng vô thượng thứ bảy.

Tất cả chư Phật đều có vô lượng quang minh thường diệu, có bất khả thuyết bất khả thuyết đủ thứ sắc tướng, dùng để trang nghiêm tốt đẹp, làm quang minh tạng. Sinh ra vô lượng quang minh viên mãn, chiếu khắp mười phương, không có chướng ngại. Đó là quang minh thường diệu trang nghiêm tối thắng vô thượng thứ bảy của chư Phật.

 

8. Nhất thiết chư Phật giai hữu vô biên diệu sắc, khả ái diệu sắc, thanh tịnh diệu sắc, tùy tâm sở hiện diệu sắc, ánh tế nhất thiết tam giới diệu sắc, đáo ư bỉ ngạn vô thượng diệu sắc, thị vi chư Phật đệ bát tối thắng vô thượng diệu sắc trang nghiêm.

Tất cả chư Phật đều có vô biên diệu sắc, khả ái diệu sắc, thanh tịnh diệu sắc, tùy tâm hiện diệu sắc, diệu sắc che chói tất cả ba cõi, diệu sắc đến bĩ ngạn vô thượng. Ðây là diệu sắc trang nghiêm tối thắng vô thượng thứ tám.

Tất cả chư Phật đều có vô biên sắc đẹp, sắc đẹp đáng ưa thích, sắc đẹp thanh tịnh. Tuỳ tâm mà hiện ra sắc đẹp, đủ thứ sắc đẹp vi diệu đó, chiếu sáng che khuất tất cả sắc đẹp ba cõi, mà đến nơi bờ kia sắc đẹp vô thượng. Đó là sắc đẹp trang nghiêm tối thắng vô thượng thứ tám của chư Phật.

 

9. Nhất thiết chư Phật giai ư tam thế Phật chủng trung sanh, tích chúng thiện bảo, cứu cánh thanh tịnh, vô chư quá thất, ly thế ky báng, nhất thiết pháp trung tối vi thù thắng thanh tịnh diệu hạnh chi sở trang nghiêm, cụ túc thành tựu nhất thiết trí trí, chủng tộc thanh tịnh vô năng ky hủy, thị vi chư Phật đệ cửu tối thắng vô thượng chủng tộc trang nghiêm.

Tất cả chư Phật đều sanh trong tam thế Phật chủng, chứa những báu lành rốt ráo thanh tịnh không có lầm lỗi, rời sự chê khinh của thế gian, là chỗ trang nghiêm nhứt của diệu hạnh thanh tịnh thù thắng trong tất cả pháp, thành tựu đầy đủ. Nhứt thiết chủng trí, chủng tộc thanh tịnh không ai khinh chê được. Ðây là chủng tộc trang nghiêm tối thắng vô thượng thứ chín.

Tất cả chư Phật đều ở trong giống Phật ba đời sinh ra, tích tụ các báu lành, rốt ráo thanh tịnh. Thân miệng ý ba nghiệp của các Ngài không có lỗi lầm, do đó mà lìa khỏi sự khinh chê của thế gian. Ở trong tất cả các pháp thù thắng bậc nhất. Dùng diệu hạnh thanh tịnh để trang nghiêm. Thành tựu đầy đủ trí nhất thiết trí. Chủng tộc của Phật thanh tịnh, không ai khinh chê được. Đó là chủng tộc trang nghiêm tối thắng vô thượng thứ chín của chư Phật.

 

10. Nhất thiết chư Phật dĩ Đại từ lực trang nghiêm kỳ thân, cứu cánh thanh tịnh vô chư khát ái, thân hành vĩnh tức, tâm thiện giải thoát, kiến giả vô yếm, đại bi cứu hộ nhất thiết thế gian, đệ nhất phước điền, vô thượng thọ giả, ai mẩn lợi ích nhất thiết chúng sanh, tất lệnh tăng trưởng vô lượng phước đức, trí tuệ chi tụ, thị vi chư Phật đệ thập tối thắng vô thượng đại từ đại bi công đức trang nghiêm.

Tất cả chư Phật dùng đại từ lực trang nghiêm thân mình, rốt ráo thanh tịnh không có những khát ái, thân hành đã dứt hẳn, tâm đã khéo giải thoát, người thấy không chán, đại bi cứu hộ tất cả thế gian. Là phước điền đệ nhứt, là bực thọ cúng vô thượng thương xót lợi ích tất cả chúng sanh đều làm cho họ thêm lớn vô lượng phước đức trí huệ. Ðây là đại từ đại bi công đức trang nghiêm tối thắng vô thượng thứ mười của Phật.

Hết thảy quá khứ, hiện tại, vị lai, tất cả chư Phật đều dùng sức đại từ, để trang nghiêm thân mình, từ hay ban vui, bi hay cứu khổ, đại từ là bao quát đại bi. Dùng sức từ bi để trang nghiêm thân Phật, rốt ráo thanh tịnh. Phật không có những khát ái, Phật chẳng giống như chúng ta chúng sinh, giống như con người thèm khát, lại nghĩ cái này, lại nghĩ cái nọ. Tâm tham chẳng khi nào đầy đủ được, tham mà chẳng biết chán, đối với tất cả, đều sinh ra tâm ái dục. Khi ái dục sinh ra, ác dục chết đi, tức là điên đảo như thế! Hành vi khát ái như thế là hành vi chẳng chánh đáng. Chư Phật đã dứt vĩnh viễn hành vi đó, trong tâm cũng chẳng còn sự chấp trước, cho nên ai thấy được cũng không nhàm chán, chẳng có ai mà chẳng muốn chiêm ngưỡng dung nhan từ bi hoan hỉ của Phật.

Tại sao ai ai cũng đều hoan hỉ chiêm ngưỡng quang minh của Phật? Vì Phật thường có tâm đại bi cứu hộ tất cả chúng sinh thế gian. Phật là ruộng phước bậc nhất của thế gian. Đệ tử của Phật đều gọi là phước điền Tăng. Do đó: “Rồng đất sét tuy không thể mưa xuống, nhưng cầu mưa phải giả rồng đất sét”, bạn cần phải đến miếu thờ Long Vương, thành tâm cầu Long Vương Bồ Tát đất sét, thì mới có cảm ứng, mới có mưa xuống. “Phàm Tăng tuy không thể ban phước, nhưng trồng phước phải giả phàm Tăng”, phàm Tăng tuy nhiên không thể ban cho chúng sinh phước báo, nhưng khi bạn muốn cầu phước, cũng phải gieo trồng phước ở trước phàm Tăng. Phật là ruộng phước bậc nhất, đệ tử Phật tức là ruộng phước tất cả. Phật là bậc thọ cúng dường vô thượng, là thọ nhận sự cúng dường của tất cả chúng sinh. Phật thường thương xót thương nhớ lợi ích tất cả chúng sinh, đều khiến cho họ tăng trưởng chứa nhóm vô lượng phước đức và vô lượng trí huệ. Đó là đại từ đại bi công đức trang nghiêm tối thắng vô thượng thứ mười của chư Phật.

 

Thị vi thập.

Đó là mười.

Đó là mười thứ trang nghiêm tối thắng vô thượng.

========================================

Phật tử! chư Phật Thế tôn hữu thập chủng tự tại Pháp. Hà đẳng vi thập? Sở vị:

Phật tử ! Chư Phật Thế Tôn có mười pháp tự tại. Những gì là mười? Đó là:

Phật tử! Chư Phật Thế Tôn có mười pháp tự tại. Những gì là mười? Đó là:

 

1. Nhất thiết chư Phật ư nhất thiết Pháp tất đắc tự tại, minh đạt chủng chủng cú thân, vị thân, diễn thuyết chư Pháp biện tài vô ngại, thị vi chư Phật đệ nhất tự tại Pháp.

Tất cả chư Phật nơi tất cả pháp đều được tự tại. Thấu rõ tất cả cú thân, vị thân, diễn thuyết các pháp biện tài vô ngại. Ðây là pháp tự tại thứ nhứt.

Tất cả chư Phật đối với tất cả pháp, hoàn toàn đắc được tự tại. Thấu đạt thân của mỗi câu, nghĩa lý của mỗi một câu. Diễn nói tất cả các pháp, biện tài vô ngại. Đó là pháp tự tại thứ nhất của chư Phật.

 

2. Nhất thiết chư Phật giáo hóa chúng sanh vị tằng thất thời, tùy kỳ nguyện lạc vi thuyết Chánh Pháp, hàm lệnh điều phục vô hữu đoạn tuyệt, thị vi chư Phật đệ nhị tự tại Pháp.

Tất cả chư Phật giáo hóa chúng sanh chưa từng lỗi thời, tùy theo sở thích mong cầu của họ mà nói chánh pháp, đều làm cho họ điều phục không đoạn tuyệt. Ðây là pháp tự tại thứ hai.

Tất cả chư Phật giáo hoá chúng sinh, chưa từng thất thời. Tức là chẳng bỏ qua cơ hội giáo hoá chúng sinh. Ngài tuỳ sự ưa thích của họ, mà vì họ nói chánh pháp, khiến cho họ đều được điều phục, không có đoạn tuyệt. Đó là pháp tự tại thứ hai của chư Phật.

 

3. Nhất thiết chư Phật năng lệnh tận hư không giới vô lượng vô số chủng chủng trang nghiêm, nhất thiết thế giới lục chủng chấn động, lệnh bỉ thế giới hoặc cử hoặc hạ, hoặc Đại hoặc tiểu, hoặc hợp hoặc tán, vị tằng não hại ư nhất chúng sanh, kỳ trung chúng sanh bất giác bất tri, vô nghi vô quái, thị vi chư Phật đệ tam tự tại Pháp.

Tất cả chư Phật hay làm cho tận hư không giới vô lượng vô số các thứ trang nghiêm, tất cả thế giới chấn động sáu cách. Làm cho thế giới đó hoặc cất lên, hoặc hạ xuống, hoặc lớn, hoặc nhỏ, hoặc hiệp, hoặc tan, chưa từng não hại chúng sanh. Chúng sanh trong thế giới đó chẳng hay chẳng biết, không nghi, không cho là lạ. Ðây là pháp tự tại thứ ba.

Tất cả chư Phật có thể khiến cho tận cõi hư không, vô lượng vô số chúng sinh, đều đắc được đủ thứ sự trang nghiêm. Có thể khiến cho tất cả thế giới, sáu thứ chấn động. Đó là: Chấn, hống, kích, động, dũng, khởi, sáu thứ. Chấn tức là chấn động (rung động), ví như địa chấn. Hống tức là hống khiếu, phát ra một thứ âm thanh. Kích, tức là xung kích, ba thứ này thuộc về tiếng. Động, dũng, khởi, thuộc về hình. Động tức lay động. Dũng tức là từ từ vọt đi lên. Khởi tức là đột khởi thật nhanh, đó gọi là đất chấn động sáu cách. Sáu biến chấn động, mỗi thứ lại có ba thứ biến hoá, cho nên biến thành ba sáu mười tám biến chấn động. Ba thứ nào? Tức là chấn, biến chấn, đẳng biến chấn. Chấn là chấn một chút chút. Biến chấn tức là khắp một quốc gia đều chấn động. Đẳng biến chấn tức là cả một thế giới đều chấn động. Sáu thứ chấn động, biến thành mười tám thứ biến động. Sáu thứ chấn động này khiến cho hết thảy thế giới nâng lên hoặc chiềm xuống, hoặc chấn biến thành lớn, hoặc chấn biến thành nhỏ, hoặc khiến cho thế giới với thế giới hợp lại với nhau, hoặc chấn làm cho thế giới với thế giới phân ra. Tuy có sự biến động lớn như vậy, có cảnh giới lớn như vậy, nhưng chưa từng não hại một chúng sinh nào. Chúng sinh ở trong thế giới đó cũng chẳng hề hay biết, cũng không sinh tâm hoài nghi, cũng không cảm thấy lạ lùng. Đó là pháp tự tại thứ ba của chư Phật.

 

4. Nhất thiết chư Phật dĩ thần thông lực tất năng nghiêm tịnh nhất thiết thế giới, ư nhất niệm khoảnh phổ Hiện-Nhất-Thiết thế giới trang nghiêm, thử chư trang nghiêm Kinh vô số kiếp thuyết bất năng tận, tất giai ly nhiễm, thanh tịnh vô bỉ, nhất thiết Phật sát nghiêm tịnh chi sự, giai lệnh bình đẳng nhập nhất sát trung, thị vi chư Phật đệ tứ tự tại Pháp.

Tất cả chư Phật dùng sức thần thông đều hay nghiêm tịnh tất cả thế giới, trong khoảng một niệm, hiện khắp tất cả thế giới trang nghiêm. Những trang nghiêm này trải qua vô số kiếp nói chẳng thể hết, thảy đều ly nhiễm thanh tịnh vô tỉ. Những sự nghiêm tịnh của tất cả cõi Phật, đều làm cho bình đẳng vào trong một cõi. Ðây là pháp tự tại thứ tư.

Tất cả chư Phật dùng sức thần thông, đều có thể trang nghiêm thanh tịnh tất cả thế giới. Trong khoảng một niệm, hiện đến khắp tất cả thế giới, khiến cho tất cả thế giới đều trang nghiêm. Những thế giới đó đắc được đủ thứ sự trang nghiêm, trải qua thời gian lâu dài vô số kiếp, cũng nói không hết được. Đủ thứ sự trang nghiêm đó, thảy đều lìa nhiễm thanh tịnh. Khiến cho tất cả chúng sinh, đều lìa khỏi pháp nhiễm ô, đều đắc được quang minh thanh tịnh, không gì sánh bằng. Lại nữa, có thể khiến cho hết thảy cõi Phật, trang nghiêm thanh tịnh bình đẳng, vào trong một cõi Phật. Đó là pháp tự tại viên dung vô ngại thứ tư của chư Phật.

 

5. Nhất thiết chư Phật kiến nhất chúng sanh ưng thọ hóa giả, vi kỳ trụ thọ, Kinh bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp, nãi chí tận vị lai tế, kết già phu tọa, thân tâm vô quyện, chuyên tâm ức niệm, vị tằng phế vong, phương tiện điều phục nhi bất thất thời, như vi nhất chúng sanh, vi nhất thiết chúng sanh tất diệc như thị, thị vi chư Phật đệ ngũ tự tại Pháp.

Tất cả chư Phật thấy một chúng sanh đáng được giáo hóa, vì họ mà trụ thọ mạng trải qua bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp, nhẫn đến tận vị lai tế ngồi kiết già, thân tâm không mỏi, chuyên tâm ghi nhớ chưa từng bỏ quên, phương tiện điều phục chẳng lỗi thời. Như vì một chúng sanh, vì tất cả chúng sanh đều cũng như vậy. Ðây là pháp tự tại thứ năm.

Tất cả chư Phật thấy một chúng sinh đáng được Phật giáo hoá, thì vì một chúng sinh này mà trụ thọ mạng, trải qua bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp lâu dài, cho đến hết thuở vị lai ngồi kiết già, thân tâm không mệt mỏi, chuyên tâm nghĩ nhớ đến chúng sinh đó, không có lúc nào quên họ. Dùng pháp phương tiện khéo léo, để điều phục chúng sinh đó, mà chẳng thất thời. Vì một chúng sinh là như vậy, vì tất cả chúng sinh cũng đều như thế. Đó là pháp tự tại thứ năm của chư Phật.

 

6. Nhất thiết chư Phật tất năng biến vãng nhất thiết thế giới nhất thiết Như Lai sở hạnh chi xứ, nhi bất tạm xả nhất thiết pháp giới, thập phương các biệt, nhất nhất phương hữu vô lượng thế giới hải, nhất nhất thế giới hải hữu vô lượng thế giới chủng, Phật dĩ thần lực nhất niệm hàm đáo, chuyển ư vô ngại thanh tịnh Pháp luân, thị vi chư Phật đệ lục tự tại Pháp.

Tất cả chư Phật đều hay qua khắp tất cả thế giới, nơi sở hành của tất cả Như Lai, mà chẳng tạm bỏ tất cả pháp giới. Mười phương đều riêng khác. Mỗi mỗi phương có vô lượng thế giới hải. Mỗi mỗi thế giới hải có vô lượng thế giới chủng. Phật dùng thần lực, khoảng một niệm đều qua đến, chuyển pháp luân thanh tịnh vô ngại. Ðây là pháp tự tại thứ sáu.

Lại nữa, tất cả chư Phật đều có thế đến khắp tất cả thế giới. Chỗ tu hành của tất cả chư Phật, mà chẳng tạm xả bỏ tất cả pháp giới. Mười phương đều khác nhau. Mỗi phương đều có vô lượng biển thế giới. Thế giới nhiều giống như biển cả. Biển thế giới này chẳng phải là biển, mà là nói thế giới lớn, nhiều như biển cả. Mỗi một biển thế giới, lại có vô lượng loại thế giới. Phật dùng thần lực của Ngài, ở trong một niệm, đều đến được tất cả biển thế giới, chuyển bánh xe pháp thanh tịnh vô ngại. Đó là pháp tự tại thứ sáu của chư Phật.

 

7. Nhất thiết chư Phật vi dục điều phục nhất thiết chúng sanh, niệm niệm trung thành A-nậu-đa-la tam-miệu-tam Bồ-đề, nhi ư nhất thiết Phật Pháp phi dĩ hiện giác, diệc phi đương giác, diệc bất trụ ư hữu học chi địa, nhi tất tri kiến, thông đạt vô ngại, vô lượng trí tuệ, vô lượng tự tại, giáo hóa điều phục nhất thiết chúng sanh, thị vi chư Phật đệ thất tự tại Pháp.

Tất cả chư Phật vì muốn điều phục tất cả chúng sanh trong mỗi niệm thành Vô thượng Chánh giác, mà nơi tất cả Phật pháp chẳng phải đã giác, hiện giác, cũng chẳng phải sẽ giác, cũng chẳng trụ nơi bực hữu học, mà đều thấy biết thông đạt vô ngại, vô lượng trí huệ, vô lượng tự tại, giáo hóa điều phục vô lượng chúng sanh. Ðây là pháp tự tại thứ bảy.

Tất cả chư Phật vì muốn điều phục hết thảy tất cả chúng sinh. Ở trong niệm niệm, thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, mà ở trong tất cả Phật pháp, chẳng phải đã hiện giác, cũng chẳng phải đương giác, cũng chẳng trụ nơi bậc hữu học, mà đều thấy biết thông đạt vô ngại, đủ vô lượng trí huệ, vô lượng tự tại, giáo hoá điều phục tất cả chúng sinh. Đó là pháp tự tại thứ bảy của chư Phật.

 

8. Nhất thiết chư Phật năng dĩ nhãn xứ tác nhĩ xứ Phật sự, năng dĩ nhĩ xứ tác tỳ xứ Phật sự, năng dĩ tỳ xứ tác thiệt xứ Phật sự, năng dĩ thiệt xứ tác thân xứ Phật sự, năng dĩ thân xứ tác ý xứ Phật sự, năng dĩ ý xứ ư nhất thiết thế giới trung trụ thế, xuất thế gian chủng chủng cảnh giới, nhất nhất cảnh giới trung năng tác vô lượng quảng đại Phật sự, thị vi chư Phật đệ bát tự tại Pháp.

Tất cả chư Phật hay dùng nhãn xứ làm nhĩ xứ Phật sự, hay dùng nhĩ xứ làm tỹ xứ Phật sự, hay dùng tỷ xứ làm thiệt xứ Phật sự, hay dùng thiệt xứ làm thân xứ Phật sự, hay dùng thân xứ làm ý xứ Phật sự, hay dùng ý xứ trong tất cả thế giới trụ thế xuất thế các thứ cảnh giới, trong mỗi mỗi cảnh giới hay làm vô lượng Phật sự quảng đại. Ðây là pháp tự tại thứ tám.

Lại nữa, tất cả chư Phật có thể dùng nơi mắt mà làm Phật sự nơi tai. Tại con mắt có thể nghe, lại có thể làm đủ thứ Phật sự. Có thể dùng nơi tai mà làm Phật sự nơi mũi. Lại có thể dùng nơi mũi mà làm Phật sự nơi lưỡi. Lại có thể dùng nơi lưỡi mà làm Phật sự nơi thân.  Lại có thể dùng nơi thân mà làm Phật sự nơi ý. Lại có thể dùng nơi ý, ở trong tất cả thế giới, trụ thế xuất thế gian, đủ thứ cảnh giới. Ở trong mỗi cảnh giới, có thể làm vô lượng Phật sự rộng lớn. Đó là pháp tự tại thứ tám của chư Phật. Sáu căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, hổ tương dụng với nhau, tức chứng được tất cả viên thông. Con mắt có thể ăn cơm, lỗ tai có thể nhìn thấy sự vật, thân có thể nói chuyện, lưỡi cũng có thể nghe được, lỗ mũi có thể nhìn thấy sự vật được, tâm ý cũng có thể ngửi được.

Có người cho rằng, tôi giảng điều này chẳng có căn cứ, họ chẳng tin. Điều này làm cho tôi tỉnh lại, tôi cũng chẳng tin điều này! Nhưng lại chẳng có cách nào chẳng tin, vì nó thật là như vậy. Tôi mới vừa nói đến sáu căn, vẫn chỉ là một dùng, hai dùng mà thôi. Hiện tại giảng một cái càng không thể tin. Một một căn đều có tác dụng sáu căn, sao chẳng thể gọi là sáu căn dụng với nhau? Con mắt cũng thấy được, cũng nghe được, cũng ngửi được, cũng nếm được, cũng giác được, cũng biết được. Lỗ tai cũng thấy, nghe, ngửi, nếm, giác, biết, sáu thứ tác dụng, mũi, lưỡi, thân, ý, mỗi căn đều có tác dụng sáu căn, sáu sáu ba mươi sáu thứ thần thông. Đây vẫn còn số mục để nói. Nếu chẳng còn số mục để nói, thì tác dụng của sáu căn vô lượng vô biên, không thể nghĩ bàn, khiến cho con người không thể tin được, nhưng sự thật là như vậy, cho nên gọi là tự tại, còn gọi là sáu căn tự tại. Pháp tự tại của Phật thì có chỗ diệu này.

 

9. Nhất thiết chư Phật, kỳ thân mao khổng nhất nhất năng dung nhất thiết chúng sanh, nhất nhất chúng sanh kỳ thân tất dữ bất khả thuyết chư Phật sát đẳng nhi vô bách ải, nhất nhất chúng sanh bộ bộ năng qua vô số thế giới, như thị triển chuyển tận vô số kiếp, tất kiến chư Phật xuất hiện ư thế, giáo hóa chúng sanh, chuyển tịnh Pháp luân, khai thị quá khứ, vị lai, hiện tại bất khả thuyết Pháp, tận hư không giới nhất thiết chúng sanh chư thú thọ thân, uy nghi, vãng lai cập kỳ sở thọ chủng chủng lạc cụ giai tất cụ túc, nhi ư kỳ trung vô sở chướng ngại, thị vi chư Phật đệ cửu tự tại Pháp.

Tất cả chư Phật lỗ lông nơi thân, mỗi lỗ lông hay dung chứa tất cả chúng sanh, mỗi chúng sanh thân họ đồng với bất khả thuyết cõi Phật mà không chật hẹp. Mỗi chúng sanh một bước đi có thể qua đến vô số thế giới, lần lượt trải qua vô số kiếp như vậy, đều thấy chư Phật xuất thế giáo hóa chúng sanh, chuyển tịnh pháp luân, khai thị bất khả thuyết, tam thế chánh pháp, khắp hư không giới tất cả chúng sanh thọ thân các loài oai nghi qua lại và những đồ sở thích mà họ thọ hưởng đều đầy đủ cả, ở trong lỗ lông thân Phật vẫn không chướng ngại. Ðây là pháp tự tại thứ chín.

Tất cả chư Phật, mỗi lỗ chân lông nhỏ nhất trên thân của Ngài, có thể dung chứa tất cả chúng sinh. Mỗi thân thể của chúng sinh, đều lớn đồng với bất khả thuyết cõi nước chư Phật. Chúng sinh ở trong lỗ chân lông của Phật cũng không chật hẹp, cũng không cảm thấy nhỏ. Mỗi bước đi của chúng sinh, đều đi qua vô số thế giới, triển chuyển như vậy, hết vô số đại kiếp, hoàn toàn đều nhìn thấy chư Phật xuất hiện ra đời, giáo hoá chúng sinh, chuyển bánh xe pháp thanh tịnh, khai thị bất khả thuyết pháp quá khứ, vị lai, hiện tại. Tận cõi hư không, tất cả chúng sinh, tại tất cả các cõi thọ thân, hết thảy ba ngàn oai nghi, tám vạn tế hạnh, đi đừng nằm ngồi, và họ đắc được đủ thứ đồ ưa thích, thảy đều đầy đủ viên mãn, mà ở trong đó không có chướng ngại. Đó là pháp tự tại thứ chín của chư Phật.

Chư Phật có mười pháp tự tại, còn chúng ta chúng sinh thì chẳng tự tại. Thế nào gọi là pháp chẳng tự tại? Tức là rất nhiều buồn bực, rất nhiều phiền não. Thấy cái này không tốt, thì chẳng tự tại. Nhìn cái kia không tốt, thì chẳng tự tại. Nghe người niệm Phật lớn tiếng lại chẳng tự tại. Nghe người tiếng nói nhỏ, lại chẳng tự tại. Chúng ta đều đang ở tại đây đả Phật thất, có người chân chánh đả Phật thất, ở đây niệm Phật. Có người đang ở đây đả phiền não thất, cảm thấy cái này không tốt, cái kia cũng không tốt. Ngủ thì tốt, ăn ngon thì tốt, đối với niệm Phật chẳng cảm thấy hứng thú. Nhất là người trước đây chưa từng tham gia đả Phật thất, chẳng hiểu quy cụ đả thất. Khi ở trong Chánh điện yên lặng, chẳng phải đi ra nhà cầu thì đi ra, đi vào, gây ra nhiều tiếng động. Mang giầy ở trên bục gỗ, gây ra nhiều tiếng động, khiến cho mọi người đều không được tự tại. Các vị những người chưa từng tham gia Phật thất, phải nhìn xem những người kế bên mình, họ làm gì thì mình bắt chước làm theo. Ví như muốn đi nhà cầu, thì phải đợi lúc đi nhiễu Phật mới có thể đi. Lúc ngồi thì đừng gây tiếng động, lúc nên ngồi thì không ngồi, đó là chẳng tự tại. Khi đi nhiễu Phật, nếu không có việc gì, mà cố ý đi nhà cầu, hoặc đến chỗ khác chơi, thì đây cũng gọi là không tự tại. Cho nên chư Phật có pháp tự tại, chúng ta chúng sinh thì cứ dùng pháp chẳng tự tại. Có người còn ngủ ngáy ở trong Chánh điện, khiến cho người khác khởi vọng tưởng, cũng chẳng tự tại. Hy vọng ai có những tập khí này nên sửa đổi lại. Chúng ta phải học pháp tự tại của chư Phật.

 

10. Nhất thiết chư Phật ư nhất niệm khoảnh Hiện-Nhất-Thiết thế giới vi trần số Phật, nhất nhất Phật giai ư nhất thiết Pháp giới chúng diệu liên hoa quảng Đại trang nghiêm thế giới liên hoa tạng sư tử tọa thượng thành đẳng chánh giác, thị hiện chư Phật tự tại thần lực, như ư chúng diệu liên hoa quảng Đại trang nghiêm thế giới, như thị ư nhất thiết Pháp giới trung bất khả thuyết bất khả thuyết chủng chủng trang nghiêm, chủng chủng cảnh giới, chủng chủng hình tướng, chủng chủng thị hiện, chủng chủng kiếp số thanh tịnh thế giới, như ư nhất niệm, như thị ư vô lượng vô biên a tăng kì kiếp nhất thiết niệm trung, nhất niệm nhất thiết hiện, nhất niệm vô lượng trụ, nhi vị tằng dụng thiểu phương tiện lực, thị vi chư Phật đệ thập tự tại Pháp.

Tất cả chư Phật trong khoảng một niệm hiện tất cả thế giới vi trần số Phật. Mỗi mỗi đức Phật đều ở nơi tất cả pháp giới chúng diệu liên hoa quảng đại trang nghiêm thế giới, trên tòa liên hoa tạng sư tử mà thành Ðẳng Chánh Giác, thị hiện chư Phật tự tại thần lực. Như ở nơi chúng diệu liên hoa quảng đại trang nghiêm thế giới như vậy, ở trong tất cả pháp giới, bất khả thuyết bất khả thuyết các thứ trang nghiêm, các thứ cảnh giới, các thứ hình tướng, các thứ thị hiện, các thứ kiếp số thanh tịnh thế giới. Như ở trong khoảng một niệm như vậy, ở trong tất cả niệm của vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp, một niệm hiện tất cả, một niệm trụ vô lượng, mà chưa từng dùng chút sức phương tiện.

Tất cả chư Phật, trong khoảng một niệm, hiện số vị Phật nhiều như hạt bụi tất cả thế giới. Mỗi vị Phật đều ở nơi tất cả pháp giới, các hoa sen báu đẹp rộng lớn trang nghiêm biển thế giới, ngồi trên toà sư tử Liên Hoa Tạng, thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Lại thị hiện thần lực tự tại vô ngại của tất cả chư Phật. Như ở nơi các hoa sen đẹp rộng lớn trang nghiêm thế giới như vậy. Ở trong tất cả pháp giới, bất khả thuyết bất khả thuyết đủ thứ sự trang nghiêm, đủ thứ cảnh giới, đủ thứ hình tướng, đủ thứ thị hiện, đủ thứ kiếp số, thế giới thanh tịnh. Như ở trong một niệm, như vậy ở trong tất cả niệm, nơi vô lượng vô biên A tăng kỳ kiếp, một niệm đều hiện ra tất cả thế giới, ở trong một niệm trụ khắp vô lượng thế giới, mà chưa từng dùng chút sức pháp môn phương tiện. Tại sao? Vì Phật đã tự tại.

 

Thị vi thập.

Đó là mười.

Ðây là pháp tự tại thứ mười của chư Phật.

========================================

Phật tử! chư Phật Thế tôn hữu thập chủng vô lượng bất tư nghị viên mãn Phật Pháp. Hà đẳng vi thập? Sở vị:

Phật tử ! Chư Phật Thế Tôn có mười thứ vô lượng bất tư nghì Phật pháp viên mãn. Những gì là mười? Đó là:

Phật tử! Chư Phật Thế Tôn lại có mười thứ Phật pháp vô lượng viên mãn không nghĩ bàn. Những gì là mười? Đó là:

 

1. Nhất thiết chư Phật nhất nhất tịnh tướng giai cụ bách phước

Tất cả chư Phật, mỗi tướng thanh tịnh đều đủ trăm phước.

Tất cả chư Phật, đều có các tướng tốt trang nghiêm thanh tịnh, mỗi tướng đều có trăm thứ tướng phước đức.

 

2. Nhất thiết chư Phật giai tất thành tựu nhất thiết Phật Pháp,

Tất cả chư Phật thảy đều thành tựu tất cả Phật pháp.

Tất cả chư Phật thảy đều sớm thành tựu tất cả Phật pháp.

 

3. Nhất thiết chư Phật giai tất thành tựu nhất thiết thiện căn

Tất cả chư Phật thảy đều thành tựu tất cả thiện căn.

Tất cả chư Phật thảy đều sớm thành tựu tất cả căn lành.

 

4. Nhất thiết chư Phật giai tất thành tựu nhất thiết công đức

Tất cả chư Phật thảy đều thành tựu tất cả công đức.

Tất cả chư Phật thảy đều sớm đã thành tựu tất cả công đức. Chúng ta đã thành tựu tất cả công đức chăng? Chúng ta đã thành tựu tất cả các pháp chăng? Chúng ta đã thành tựu tất cả căn lành chăng? Nếu chưa thành tựu, thì phải y chiếu theo Phật pháp để tu hành. Công việc của Phật là giáo hoá chúng sinh, công việc này liên tục không ngừng, chúng sinh cũng sinh sinh liên tục không ngừng, vĩnh viễn cũng không hết được, do đó công việc của Phật là vĩnh viễn. Nếu độ hết chúng sinh, thì Phật cũng thất nghiệp, chẳng còn việc để làm.

 

5. Nhất thiết chư Phật giai năng giáo hóa nhất thiết chúng sanh

Tất cả chư Phật đều hay giáo hóa tất cả chúng sanh.

Tất cả chư Phật làm chỗ nương tựa cho chúng sinh, cho nên nói quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng

 

6. Nhất thiết chư Phật giai tất năng vi chúng sanh tác chủ

Tất cả chư Phật đều hay vì tất cả chúng sanh mà làm chủ.

Phật vì chúng sinh làm chủ. Cho nên họ nói quy y thiên chủ, kỳ thật tức cũng là quy y Phật. Chủ thật sự tức là Phật. Phật là chủ của tất cả chúng sinh, cho dù Ngọc Hoàng đại đế cũng đều bao quát ở trong chúng sinh.

 

7. Nhất thiết chư Phật giai tất thành tựu thanh tịnh Phật sát

Tất cả chư Phật đều thành tựu cõi Phật thanh tịnh.

Tất cả chư Phật thảy đều thành tựu các cõi Phật thanh tịnh.

 

 

8. Nhất thiết chư Phật giai tất thành tựu nhất thiết chủng trí

Tất cả chư Phật đều thành tựu Nhứt thiết chủng trí.

Tất cả chư Phật thảy đều thành tựu trí nhất thiết trí.

 

9. Nhất thiết chư Phật giai tất thành tựu sắc thân tướng hảo, kiến giả hoạch ích, công bất đường quyên

Tất cả chư Phật đều thành tựu sắc thân tướng hảo, người thấy thân Phật thời được lợi ích, công chẳng luống uổng.

Tất cả chư Phật thảy đều thành tựu sắc thân tướng tốt, có ba mươi hai tướng, tám mươi vẻ đẹp, đều do phước đức và trí huệ trang nghiêm. Ai thấy được Phật cũng đều được lợi ích, tuyệt đối chẳng luống mất. Nếu chúng sinh không còn nữa, thì Phật cũng sẽ thất nghiệp. Có người nghĩ như vậy: “Không ngờ Phật cũng phải làm việc, cũng rất bận. Vậy cái giá của Phật độ chúng sinh là gì?” Chúng ta chúng sinh làm việc đều có giá, việc làm của Phật chẳng có giá, là vô hình. Tại sao Phật đã thành Phật? Là vì muốn độ chúng sinh. Thuở xưa Ngài đã phát nguyện: “Nếu thành Phật, sẽ đắc được tất cả tự tại viên mãn, đắc được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, không muốn hưởng thụ khoái lạc, muốn giáo hoá hết thảy chúng sinh đều thành Phật”. Cho nên Ngài A Nan đã từng nói: “Nếu một chúng sinh chưa thành Phật, thì quyết không thủ chứng quả vị Nê Hoàn”. Còn một chúng sinh chưa thành Phật, thì Ngài cũng không thành Phật. Bồ Tát Địa Tạng Vương cũng nói:

“Chúng sinh độ hết, mới chứng bồ đề.
Địa ngục chẳng không, thề không thành Phật.”

Cho nên chư Phật phát nguyện độ chúng sinh, tất cả Bồ Tát phát nguyện, cũng là độ chúng sinh, do đó:

“Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ
Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn
Pháp môn vô lượng thệ nguyện học
Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành”.

Phật giáo hoá chúng sinh, thuần tạp hết nghĩa vụ, chẳng mong báo đáp, chẳng đòi giá cả. Hơn nữa, Phật là gì? Cổ nhân nói rất hay: “Phật tức tâm, tâm tức Phật”. Phật tức là chân tâm của chúng ta. Chân tâm của chúng ta, cũng tức là Phật. Do đó bạn không hổ thẹn đối với tâm, thì không hổ thẹn đối với Phật. Bạn đối với lương tâm đạo đức của mình được tự tại, tức là đối với Phật vậy. Cho nên Phật giáo, cũng có thể nói là “tâm giáo”.

Hơn nữa, Phật là do con người tu thành, chẳng phải từ trên trời sinh ra, cũng chẳng phải từ dưới đất mà thành. Chẳng phải nói một khi sinh ra thì làm hoàng đế, hoặc thiên chủ, Phật là do người tu thành. Chúng ta ai ai cũng đều có thể thành Phật, chẳng riêng gì Phật Thích Ca mới thành Phật. Chúng ta mỗi người, mỗi chúng sinh đều có Phật tánh, đều có thể thành Phật, đây là sự bình đẳng nhất.

Tâm tức là Phật, Phật tức là tâm, cho nên Phật thường thường cùng ở với chúng ta, bất quá chúng ta bỏ giác hợp trần, Phật thì bỏ trần hợp giác, khác là ở chỗ này. Nếu chúng ta bỏ trần hợp giác thì tức là Phật; nếu bỏ giác hợp trần, tức là chúng sinh. Cho nên Phật giáo còn có thể gọi là “nhân giáo”, còn có thể gọi là “chúng sinh giáo”. Vì tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, đều có thể làm Phật. Cho nên Phật giáo có thể gọi một danh từ mới là chúng sinh giáo, còn có thể gọi là nhân giáo, còn có thể gọi là tâm giáo. Do đó Phật giáo, Thiên chúa giáo, Cơ đốc giáo, Do thái giáo, cho đến Đạo giáo, đều là danh từ khác nhau, trên căn bản chẳng có gì khác nhau, chỉ là con người chúng ta hoan hỉ dùng tâm phân biệt để nhìn tất cả cảnh giới, tôn giáo này, tôn giáo nọ v.v… phân biệt một cách hồ đồ.

“Bổn lai không một vật, chỗ nào dính bụi bặm”? Bổn lai gì cũng chẳng có, tại sao phải sinh ra nhiều tâm phân biệt? Cho nên, Phật chẳng cần hướng ngoài tìm cầu. “Nguồn gốc tự tánh thiên chân Phật”, đó là Phật hiện thành. Phật giáo hoá chúng sinh thành Phật, chúng sinh thành Phật rồi, lại giáo hoá chúng sinh. Cho nên tôi nói chúng sinh thành Phật, Phật giáo hoá chúng sinh, vạn pháp do tâm tạo. Nếu bạn tin, thì rất diệu, nếu bạn không tin, thì rất khó nói.

 

10. Nhất thiết chư Phật giai cụ chư Phật bình đẳng chánh pháp. Nhất thiết chư Phật tác Phật sự dĩ, mạc bất thị hiện nhập ư Niết-Bàn.

Tất cả chư Phật đều đủ chánh pháp bình đẳng của chư Phật. Tất cả chư Phật khi làm Phật sự rồi, không đức Phật nào chẳng thị hiện nhập Niết bàn.

Hết thảy tất cả chư Phật, đều đầy đủ chánh pháp nhãn tạng bình đẳng của chư Phật. Tất cả chư Phật đều làm Phật sự rồi, những chúng sinh đáng được độ, hoàn toàn độ hết rồi, e rằng chúng sinh sinh ra tâm ỷ lại, cho nên đều thị hiện vào đại Niết Bàn.

 

Thị vi thập.

Đó là mười.

========================================

Phật tử! chư Phật Thế tôn hữu thập chủng thiện xảo phương tiện. Hà đẳng vi thập?

Phật tử ! Chư Phật Thế Tôn có mười phương tiện thiện xảo. Những gì là mười? Đó là:

Phật tử! Chư Phật Thế Tôn có mười pháp phương tiện khéo léo. Những gì là mười? Đó là:

 

1. Nhất thiết chư Phật liễu tri chư Pháp giai ly hí luận, nhi năng khai thị chư Phật thiện căn, thị vi đệ nhất thiện xảo phương tiện.

Tất cả chư Phật biết rõ tất cả pháp đều rời hý luận mà hay khai thị thiện căn của chư Phật. Ðây là phương tiện thiện xảo thứ nhứt.

Tất cả chư Phật biết rõ các pháp đều lìa khỏi hí luận, chẳng nói lời tiếu, mà hay khai thị căn lành của chư Phật. Đó là pháp mô phương tiện khéo léo thứ nhất.

 

2. Nhất thiết chư Phật tri nhất thiết pháp tất vô sở kiến, các bất tướng tri, vô phược vô giải, thị cố vô tập, vô thành tựu, tự tại cứu cánh đáo ư bỉ ngạn, nhiên ư chư Pháp chân thật nhi tri bất dị bất biệt, nhi đắc tự tại, vô ngã thị cố, bất hoại thật tế, dĩ đắc chí ư đại tự tại địa, thường năng quan sát nhất thiết pháp giới, thị vi đệ nhị thiện xảo phương tiện.

Tất cả chư Phật biết tất cả pháp đều không chỗ thấy, đều chẳng biết nhau, không trói không mở, không thọ không nhóm, không thành tựu, tự tại rốt ráo đến bờ kia, nhưng nơi các pháp đều biết chơn thiệt, chẳng riêng chẳng khác mà được tự tại, không ngã không thọ, chẳng hoại thiệt tế, đã được đến nơi bực đại tự tại, thường hay quan sát tất cả pháp giới. Ðây là phương tiện thiện xảo thứ hai.

Tất cả chư Phật biết tất cả pháp vốn không có hình tướng, lại có gì có thể thấy? Pháp với pháp hổ tương không có tri giác. Pháp cũng không trói buộc, cũng không cởi mở. Trên thân phận chúng sinh có sự trói buộc, có sự cởi mở. Trên thân phận của Phật thì chẳng có, cũng không có thọ, cũng không có tập, cũng không có thành tựu. Tự tại rốt ráo đến nơi bờ kia, tức là những gì cần làm đã làm xong, mà Ngài chân thật biết rõ tất cả các pháp chẳng có gì khác biệt, mà đắc được pháp tự tại, ở trong đó chẳng có cái ta, cũng chẳng có thọ, ba thể đều không, chẳng hoại thật tế, mà đắc được bậc đại tự tại. Thường hay quán sát tất cả pháp giới. Đó là pháp môn phương tiện khéo léo thứ hai của chư Phật.

Trí huệ của một người có hạn, trí huệ của nhiều người thì vô cùng, cho nên mỗi ngày tôi giảng kinh xong, thì muốn các vị đưa ra vấn đề. Nếu chỗ nào giảng không viên mãn, hoặc chỗ nào nghe không hiểu, thì có thể đưa ra vấn đề. Tôi sẽ tận hết khả năng sự hiểu biết của tôi, để cùng quý vị nghiên cứu Phật pháp, chứ chẳng phải mình tôi giảng thì nhất định đúng, có khi chính tôi cũng không biết mình giảng cái gì. Do đó có câu:

“Người trong cuộc thì mê,
Người bang quan thì sáng”.

Nếu có chỗ nào, hoặc từ ngữ không rõ ý, hoặc chỗ nào quên giảng, thì các vị hãy nói cho tôi biết, để chúng ta cùng nhau nghiên cứu Phật pháp. Mỗi lần giảng kinh xong thì tôi sẽ hỏi, các vị có vấn đề gì không, tức là ý nghĩa này.

Hôm nay có người nói: – “Muốn luân phiên để giảng vấn đề của họ”. Như vậy có người hoặc không dám giảng, đến phiên thì không thể trốn tránh được. Tôi đưa ra một phương pháp mới, dùng phương thức bắt thăm, đến phiên ai thì người đó hãy phát huy ý kiến của họ, hoặc sẽ có người trợ giúp. Các vị mọi người hãy nghiên cứu, phương pháp này thực hành được chăng? Có người nói: “Về sau không dám đến nghe kinh”. Đây là phương pháp tốt nhất. Chúng ta mọi người cùng nhau nghiên cứu Phật pháp, phải vô câu vô thúc. Một người có trí huệ của một người, phải phát quật trí huệ của chính bạn, để cùng nghiên cứu Phật pháp. Các vị, lúc đả thất này, đừng có khởi vọng tưởng. Có người muốn phát huy thì giảng, vì vấn đề là rất tốt. Mọi người có thể nghiên cứu ra chân lý mà chúng ta không biết, giống như luận ngữ, vị Khổng Tử và những vị đệ tử giảng về Ký lục học. Giảng xong, mọi người phát huy ý kiến của mỗi người, xin hỏi đạo lý. Về sau tích tụ lại thành một bộ Luận ngữ. Chúng ta không thành lập một bộ luận ngữ, cũng có thể thành một bộ ngữ luận. Mọi người hãy cùng cao đàm phiếm luận, để giảng nói, tôi cảm thấy rất là tốt. Bất quá có người nói rất sợ, tôi cũng không biết họ sợ cái gì!

 

3. Nhất thiết chư Phật vĩnh ly chư tướng, tâm vô sở trụ, nhi năng tất tri bất loạn bất thác, tuy tri nhất thiết tướng giai vô tự tánh, nhi như kỳ thể tánh tất năng thiện nhập, nhi diệc thị hiện vô lượng sắc thân, cập dĩ nhất thiết thanh tịnh Phật độ chủng chủng trang nghiêm vô tận chi tướng, tập trí tuệ đăng diệt chúng sanh hoặc, thị vi đệ tam thiện xảo phương tiện.

Tất cả chư Phật lìa hẳn các tướng, tâm không sở trụ, mà biết rõ tất cả chẳng loạn chẳng lầm, dầu biết tất cả tướng đều không tự tánh, mà đúng như thể tánh của nó đều hay khéo vào, cũng thị hiện vô lượng sắc thân và tất cả Phật độ thanh tịnh, những tướng trang nghiêm vô tận, nhóm đèn trí huệ diệt sự tối lầm của chúng sanh. Ðây là phương tiện thiện xảo thứ ba.

Hết thảy mười phương ba đời tất cả chư Phật, đều vĩnh viễn lìa khỏi tất cả các tướng, mà đạt cảnh giới thật tướng vô tướng. Tâm của Phật cũng luôn luôn không chấp trước. Tuy trụ tướng mà đều biết tất cả tướng, một chút cũng không loạn, cũng không lầm. Phật biết tất cả tướng đều không tự tánh, mà vẫn như thể tánh của nó, thể tánh vốn có đều như nhau, đều khéo vào được thể tánh này, mà thị hiện vô lượng sắc thân, cùng với tất cả cõi Phật thanh tịnh. Đủ thứ tướng trang nghiêm, tướng vô cùng tận, tập đèn trí huệ, diệt nghi hoặc của chúng sinh. Đó là phương tiện khéo léo thứ ba.

 

4. Nhất thiết chư Phật trụ ư Pháp giới, bất trụ quá khứ, vị lai, hiện tại, như như tánh trung vô khứ, lai, kim tam thế tướng cố, nhi năng diễn thuyết khứ, lai, kim thế vô lượng chư Phật xuất hiện thế gian, lệnh kỳ văn giả phổ kiến

Tất cả chư Phật trụ nơi pháp giới, chẳng trụ quá khứ, vị lai, hiện tại. Vì trong tánh như như không có tướng tam thế. Mà hay diễn thuyết tam thế vô lượng chư Phật xuất hiện thế gian. Làm cho người nghe thấy khắp cảnh giới của tất cả chư Phật. Ðây là phương tiện thiện xảo thứ tư.

Tất cả chư Phật trụ nơi pháp giới, chẳng trụ quá khứ vị lai hiện tại ba đời. Ở trong tự tánh như như bất động, không tướng quá khứ, không có tướng hiện tại, không có tướng vị lai ba đời, mà hay diễn nói vô lượng chư Phật quá khứ hiện tại vị lai ba đời, xuất hiện thế gian, khiến cho người nghe danh hiệu Phật, thấy khắp tất cả cảnh giới của chư Phật. Đó là phương tiện khéo léo thứ tư.

 

5. Nhất thiết chư Phật cảnh giới, thị vi đệ tứ thiện xảo phương tiện. Nhất thiết chư Phật thân, ngữ, ý nghiệp, vô sở tạo tác, vô lai vô khứ, diệc vô hữu trụ, ly chư sổ Pháp, đáo ư nhất thiết chư pháp bỉ ngạn, nhi vi chúng Pháp tạng, cụ vô lượng trí, liễu đạt chủng chủng thế, xuất thế Pháp, trí tuệ vô ngại, thị hiện vô lượng tự tại thần lực, điều phục nhất thiết pháp giới chúng sanh, thị vi đệ ngũ thiện xảo phương tiện.

Tất cả chư Phật thân, ngữ, ý nghiệp không chỗ tạo tác, không lai không khứ không trụ, rời những số pháp, đến nơi tất cả pháp bĩ ngạn mà làm tạng các pháp, đủ vô lượng trí, rõ suốt những pháp thế xuất thế, trí huệ vô ngại, thị hiện vô lượng thần lực tự tại, điều phục tất cả pháp giới chúng sanh. Ðây là phương tiện thiện xảo thứ năm.

Tất cả chư Phật thân miệng ý nghiệp, không tạo tác, không đến, không đi, cũng không trụ, vượt qua các số pháp vô ngại, đến nơi tất cả các pháp bờ bên kia, đắc được rốt ráo, mà làm pháp tạng của tất cả pháp, đầy đủ vô lượng trí, thấu đạt đủ thứ pháp thế gian và pháp xuất thế gian, trí huệ vô ngại, thị hiện vô lượng tự tại thần lực. Điều phục tất cả pháp giới chúng sinh. Đó là phương tiện khéo léo thứ năm.

 

6. Nhất thiết chư Phật tri nhất thiết pháp bất khả kiến, phi nhất, phi dị, phi lượng, phi vô lượng, phi lai, phi khứ, giai vô tự tánh, diệc bất vi ư thế gian chư Pháp, nhất thiết trí giả, vô tự tánh trung kiến nhất thiết pháp, ư pháp tự tại, quảng thuyết chư Pháp, nhi thường an trụ chân như thật tánh, thị vi đệ lục thiện xảo phương tiện.

Tất cả chư Phật biết tất cả pháp chẳng thấy được, chẳng phải một chẳng phải khác, chẳng phải lượng chẳng phải vô lượng, chẳng lai quá khứ, đều không tự tánh, cũng chẳng trái với các pháp thế gian. Tất cả người trí ở trong không tự tánh, mà thấy tất cả pháp, tự tại với các pháp. Nói rộng các pháp mà thường an trụ chơn như thiệt tánh. Ðây là phương tiện thiện xảo thứ sáu.

Tất cả chư Phật biết tất cả pháp không thể thấy, cũng chẳng phải một, cũng chẳng phải vị lai, cũng chẳng phải quá khứ, vì pháp chẳng có tự tánh, mà chẳng trái ngược với tất cả pháp thế gian, hổ tương hợp với nhau. Tất cả người có trí huệ, ở trong vô tự tánh thấy tất cả pháp. Đối với tất cả pháp đều thấu rõ tự tại, rộng nói các pháp mà thường an trụ chân như thật tướng. Đó là pháp môn phương tiện khéo léo thứ sáu.

 

7. Nhất thiết chư Phật ư nhất thời trung tri nhất thiết thời, cụ tịnh thiện căn, nhập ư chánh vị nhi vô sở trước, ư kỳ nhật nguyệt, niên kiếp, thành hoại, như thị đẳng thời bất trụ bất xả, nhi năng thị hiện nhược trú nhược dạ, sơ trung hậu thời, nhất nhật, thất nhật, bán nguyệt, nhất nguyệt, nhất niên, bách niên, nhất kiếp, đa kiếp, bất khả tư kiếp, bất khả thuyết kiếp, nãi chí tận ư vị lai tế kiếp, hằng vi chúng sanh chuyển diệu pháp luân, bất đoạn bất thoái, vô hữu hưu tức, thị vi đệ thất thiện xảo phương tiện.

Tất cả chư Phật ở trong một thời gian biết tất cả thời gian, đủ thiện căn thanh tịnh, nhập chánh vị mà không sở trước. Nơi tất cả thời gian: ngày, tháng, năm, kiếp, thành, hoại. Những thời gian như vậy, chẳng trụ chẳng bỏ mà hay thị hiện hoặc ngày, hoặc đêm, một ngày, bảy ngày, nửa tháng, một tháng, một năm, trăm năm, một kiếp, nhiều kiếp, bất khả tư kiếp, bất khả thuyết kiếp, nhẫn đến tận vị lai tế kiếp, hằng vì chúng sanh chuyển diệu pháp luân, chẳng đoạn chẳng thối không thôi dứt. Ðây là phương tiện thiện xảo thứ bảy.

Tất cả chư Phật ở trong một thời, biết tất cả thời, đủ tịnh căn lành. Vào nơi pháp vị chánh pháp mà không chấp trước, đối với ngày tháng năm, hoặc kiếp thành, kiếp hoại, kiếp không, nhiều thời như vậy cũng chẳng trụ, cũng chẳng bỏ, mà hay thị hiện hoặc ngày, hoặc đêm. Thời đầu giữa cuối, một ngày, bảy ngày, nửa tháng, một tháng, một năm, trăm năm, hoặc một kiếp, nhiều kiếp, hoặc bất khả tư kiếp, bất khả thuyết kiếp, cho đến hết kiếp thuở vị lai, luôn luôn vì hết thảy chúng sinh chuyển bánh xe pháp vi diệu, cũng chẳng dứt, cũng chẳng lùi, không có lúc nào ngừng nghỉ. Đó là pháp môn phương tiện khéo léo thứ bảy của Phật.

 

8. Nhất thiết chư Phật hằng trụ pháp giới, thành tựu chư Phật vô lượng vô úy cập bất khả số biện, bất khả lượng biện, vô tận biện, vô đoạn biện, vô biên biện, bất cộng biện, vô cùng biện, chân thật biện, phương tiện khai thị nhất thiết cú biện, nhất thiết pháp biện, tùy kỳ căn tánh cập dĩ dục giải, dĩ chủng chủng Pháp môn thuyết bất khả thuyết bất khả thuyết bách thiên ức na do tha tu-đa-la, sơ, trung, hậu thiện, giai tất cứu cánh, thị vi đệ bát thiện xảo phương tiện.

Tất cả chư Phật hằng trụ pháp giới thành tựu vô lượng Phật vô úy và bất khả sổ biện tài, bất khả lượng biện tài, vô tận biện tài, vô đoạn biện tài, vô biên biện tài, bất cộng biện tài, vô cùng biện tài, chơn thiệt biện tài, phương tiện khai thị tất cả cú biện, tất cả pháp biện, tùy theo căn tánh và cùng dục giải, dùng các thứ pháp môn nói bất khả thuyết bất khả thuyết trăm ngàn ức na do tha khế kinh, sơ trung hậu đều lành, thảy đều rốt ráo. Ðây là phương tiện thiện xảo thứ tám.

Tất cả chư Phật luôn trụ pháp giới, thành tựu pháp môn vô lượng vô uý của chư Phật, và không thể dùng số mục để tính đếm được biện tài, không thể dùng độ lượng để biết biện tài, vô tận biện tài, vô đoạn biện tài, vô biên biện tài, bất cộng biện tài, vô cùng biện tài, chân thật biện tài. Phương tiện khai thị tất cả câu biện tài, tất cả pháp biện tài. Tuỳ theo căn tánh và hiểu muốn của họ. Dùng đủ thứ pháp môn nói bất khả thuyết bất khả thuyết trăm ngàn ức Na do tha Tu Đa La (kinh điển). Ban đầu giữa sau đều lành, thảy đều rốt ráo. Đó là pháp môn phương tiện khéo léo thứ tám.

 

9. Nhất thiết chư Phật trụ tịnh pháp giới, tri nhất thiết pháp bổn vô danh tự, vô quá khứ danh, vô hiện tại danh, vô vị lai danh, vô chúng sanh danh, vô phi chúng sanh danh, vô quốc độ danh, vô phi quốc độ danh, vô Pháp danh, vô phi pháp danh, vô công đức danh, vô phi công đức danh, vô Bồ Tát danh, vô Phật danh, vô số danh, vô phi số danh, vô sanh danh, vô diệt danh, vô hữu danh, vô vô danh, vô nhất danh, vô chủng chủng danh. Hà dĩ cố? Chư Pháp thể tánh bất khả thuyết cố. Nhất thiết chư pháp vô phương vô xứ, bất khả tập thuyết, bất khả tán thuyết, bất khả nhất thuyết, bất khả đa thuyết, âm thanh mạc đãi, ngôn ngữ tất đoạn, tuy tùy thế tục chủng chủng ngôn thuyết, vô sở phàn duyên, vô sở tạo tác, viễn ly nhất thiết hư vọng tưởng trước, như thị cứu cánh đáo ư bỉ ngạn. Thị vi đệ cửu thiện xảo phương tiện.

Tất cả chư Phật trụ tịnh pháp giới, biết tất cả pháp vốn không danh tự, không tên quá khứ, không tên hiện tại, không tên vị lai, không tên chúng sanh, không tên phi chúng sanh, không tên quốc độ, không tên phi quốc độ, không tên pháp, không tên phi pháp, không tên công đức, không tên phi công đức, không tên Bồ Tát, không tên Phật, không tên số, không tên phi số, không tên sanh, không tên diệt, không tên có, không tên không, không tên một, không tên nhiều. Tại sao vậy ? Vì thể tánh các pháp bất khả thuyết. Tất cả các pháp không phương không xứ, chẳng thể hiệp nói, chẳng thể tan nói, chẳng thể một nói, chẳng thể nhiều nói, âm thanh chẳng đến, ngôn ngữ đều dứt. Dầu theo thế tục có các thứ ngôn thuyết mà không chỗ phan duyên, không chỗ tạo tác, xa lìa tất cả tưởng chấp hư vọng. Như vậy rốt ráo đến nơi bĩ ngạn. Ðây là phương tiện thiện xảo thứ chín.

Tất cả chư Phật trụ tịnh pháp giới, biết tất cả pháp vốn không có danh từ. Pháp là không tịch, cho nên cũng chẳng có một danh từ. Không có tên quá khứ, cũng không có tên hiện tại, cũng không có tên vị lai, cũng không có tên chúng sinh, cũng không có tên cõi nước, cũng không có tên chẳng phải tên cõi nước, cũng không có tên pháp, cũng không có tên chẳng phải tên pháp, cũng không có tên công đức, cũng không có tên không phải tên công đức, cũng không có tên Bồ Tát, cũng không có tên Phật, cũng không có tên số, cũng không có tên chẳng phải tên số, cũng không có tên sinh, cũng không có tên diệt, cũng không có tên có, cũng không có tên không, cũng không có tên một, cũng không có tên đủ thứ. Tại sao? Vì thể tánh các pháp bất khả thuyết, ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt, chẳng có gì để nói. Tất cả các pháp, không có phương hướng, không có xứ sở, không thể tập lại với nhau để nói, không thể phân ra để nói, căn bản nó không có gì, không thể nói pháp là một thứ, không thể nói pháp là nhiều thứ. Hết thảy âm thanh đều hình dung chẳng ra được, lời nói đều dứt. Tuy tuỳ đủ thứ lời nói thế tục, nhưng không có phan duyên, cũng không có tạo tác, xa lìa tất cả tưởng hư vọng chấp trước, rốt ráo đến nơi bờ kia. Đó là pháp môn phương tiện khéo léo thứ chín.

 

10. Nhất thiết chư Phật tri nhất thiết pháp bổn tánh tịch tĩnh, vô sanh cố phi sắc, vô hí luận cố phi thọ, vô danh số cố phi tưởng, vô tạo tác cố phi hành, vô chấp thủ cố phi thức, vô nhập xứ cố phi xứ, vô sở đắc cố phi giới, nhiên diệc bất hoại Nhất thiết chư pháp, bổn tánh vô khởi như hư không cố. Nhất thiết chư pháp giai tất không tịch, vô nghiệp quả, vô tu tập, vô thành tựu, vô xuất sanh, phi số, phi bất số, phi hữu, phi vô, phi sanh, phi diệt, phi cấu, phi tịnh, phi nhập, phi xuất, phi trụ, phi bất trụ, phi điều phục, phi bất điều phục, phi chúng sanh, phi vô chúng sanh, phi thọ mạng, phi vô thọ mạng, phi nhân duyên, phi vô nhân duyên, nhi năng liễu tri chánh định, tà định cập bất định tụ nhất thiết chúng sanh, vi thuyết diệu pháp lệnh đáo bỉ ngạn, thành tựu thập lực, tứ vô sở úy, năng sư tử hống, cụ nhất thiết trí, trụ Phật cảnh giới, thị vi đệ thập thiện xảo phương tiện.

Tất cả chư Phật biết tất cả pháp bổn tánh tịch tịnh. Vì không sanh nên chẳng phải sắc. Vì không hí luận nên chẳng phải thọ. Vì không danh số nên chẳng phải tưởng. Vì không tạo tác nên chẳng phải hành. Vì không chấp thủ nên chẳng phải thức. Không nhập xứ nên chẳng phải xứ. Vô sở đắc nên chẳng phải giới. Nhưng cũng chẳng hoại tất cả pháp. Bổn tánh vô khởi vì như hư không. Tất cả pháp thảy đều không tịch, không nghiệp quả, không tu tập, không thành tựu, không xuất sanh, chẳng số, chẳng không số, chẳng hữu, chẳng vô, chẳng sanh, chẳng diệt, chẳng cấu, chẳng tịnh, chẳng nhập, chẳng xuất, chẳng trụ, chẳng không trụ, chẳng điều phục, chẳng không điều phục, chẳng chúng sanh, chẳng không chúng sanh, chẳng thọ mạng, chẳng không thọ mạng, chẳng nhơn duyên, chẳng không nhơn duyên. Mà hay biết rõ những chúng sanh chánh định, tà định và bất định, vì họ thuyết diệu pháp cho họ đến bỉ ngạn, thành tựu Thập lực, tứ vô úy, hay Sư tử hống, đủ Nhứt thiết trí, trụ cảnh giới Phật. Ðây là phương tiện thiện xảo thứ mười của chư Phật.

Tất cả chư Phật biết tất cả pháp bổn tánh tịch tĩnh, vì nó không sinh nên không sắc uẩn, không có hí luận, nên cũng chẳng có thọ uẩn. Không có tên số nên chẳng có tưởng uẩn, không có tạo tác nên chẳng có hành uẩn. Không chấp lấy nên cũng chẳng có thức uẩn, không vào xứ nên cũng chẳng có một xứ, cũng chẳng phải mười hai xứ. Không chỗ được nên chẳng phải mười tám giới. Cũng chẳng hoại tất cả các pháp, bổn tánh không khởi, vì như hư không. Tất cả các pháp thảy đều không tịch. Không có nghiệp quả, cũng không có tu tập, cũng không thành tựu, cũng không sinh ra, chẳng có số mục, cũng chẳng phải không có số mục, chẳng có cũng chẳng không, chẳng sinh cũng chẳng diệt, chẳng dơ cũng chẳng sạch, chẳng vào cũng chẳng ra, chẳng trụ cũng chẳng phải không trụ, chẳng điều phục cũng chẳng phải không điều phục, chẳng chúng sinh cũng chẳng phải không chúng sinh, chẳng có thọ mạng cũng chẳng phải không có thọ mạng, chẳng thuộc về nhân duyên cũng chẳng phải không có nhân duyên, mà biết rõ chánh định tà định và bất định tụ. Tất cả chúng sinh vì nói diệu pháp, khiến cho đến nơi Niết Bàn bờ bên kia, thành tựu mười lực bốn vô sở uý của Phật. Hay làm sư tử hống, đủ nhất thiết trí, trụ cảnh giới của Phật. Đó là pháp môn phương tiện khéo léo thứ mười.

 

Phật tử! thị vi chư Phật thành tựu thập chủng thiện xảo phương tiện.

Phật tử ! Chư Phật Thế Tôn thành tựu phương tiện thiện xảo thứ mười.

Phật tử! Đó là mười pháp phương tiện khéo léo thành tựu của chư Phật.

========================================

Phật tử! chư Phật Thế tôn hữu thập chủng quảng đại Phật sự, vô lượng vô biên, bất khả tư nghị, nhất thiết thế gian chư Thiên cập nhân giai bất năng trai, khứ, lai, hiện tại sở hữu nhất thiết Thanh văn, độc giác diệc bất năng trai, duy trừ Như Lai uy thần chi lực. Hà đẳng vi thập? sở vị:

Phật tử ! Chư Phật Thế Tôn có mười Phật sự quảng đại vô lượng vô biên bất tư nghì, tất cả chư Thiên và người không thể biết được. Tam thế tất cả hàng Thanh Văn, Ðộc Giác cũng chẳng biết được. Chỉ trừ thần lực của Như Lai. Những gì là mười? Đó là:

Bồ Tát Thanh Liên Hoa Tạng lại gọi một tiếng các vị đệ tử của Phật! Chư Phật Thế Tôn có mười thứ Phật sự rộng lớn, vô lượng vô biên không thể nghĩ bàn. Tất cả chư thiên và loài người thế gian, đều không biết được Phật sự rộng lớn bao nhiêu. Quá khứ vị lai hiện tại, hết thảy tất cả Thanh Văn, tu pháp tứ đế: Khổ, tập, diệt, đạo, mà ngộ đạo. Và Độc Giác tu pháp mười hai nhân duyên, cũng đều không biết được Phật sự rộng lớn cỡ nào. Mười hai nhân duyên tức là: Vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sinh, sinh duyên lão tử. Bậc Thánh nhị thừa cũng không biết được số mục bao nhiêu, chỉ có Phật với Phật mới biết được Phật sự rộng lớn cỡ nào. Những gì là mười? Đó là:

 

1. Nhất thiết chư Phật ư tận hư không biến Pháp giới nhất thiết thế giới Đâu-Xuất-Đà Thiên, giai hiện thọ sanh, tu Bồ Tát hạnh, tác Đại Phật sự, vô lượng sắc tướng, vô lượng uy đức, vô lượng quang minh, vô lượng âm thanh, vô lượng ngôn từ, vô lượng tam muội, vô lượng trí tuệ, sở hạnh cảnh giới nhiếp thủ nhất thiết nhân, Thiên, ma, phạm, Sa Môn, Bà-la-môn, A-tu-la đẳng, đại từ vô ngại, đại bi cứu cánh, bình đẳng nhiêu ích nhất thiết chúng sanh, hoặc lệnh sanh thiên, hoặc lệnh sanh nhân, hoặc tịnh kỳ căn, hoặc điều kỳ tâm, hoặc thời vi thuyết sái biệt tam thừa, hoặc thời vi thuyết viên mãn nhất thừa, phổ giai tế độ, lệnh xuất sanh tử, thị vi đệ nhất quảng đại Phật sự.

Tất cả chư Phật nơi tận hư không khắp pháp giới tất cả thế giới cung trời Ðâu Suất, đều hiện thọ sanh tu hạnh Bồ Tát làm Phật sự lớn, vô lượng sắc tướng, vô lượng oai đức, vô lượng quang minh, vô lượng âm thanh, vô lượng ngôn từ, vô lượng tam muội, vô lượng trí huệ, cảnh giới sở hành nhiếp lấy tất cả Trời, Người, Ma, Phạm, Sa Môn, Bà La Môn, A Tu La v.v…, đại từ vô ngại, đại bi rốt ráo, bình đẳng lợi ích tất cả chúng sanh. Hoặc làm cho họ sanh cõi trời, cõi người. Hoặc tịnh các căn của họ, hoặc điều tâm của họ. Có lúc vì họ mà nói ba thừa sai khác, hoặc nói viên mãn nhứt thừa, khắp đều tế độ cho họ ra khỏi sanh tử. Ðây là Phật sự quảng đại thứ nhứt.

Tất cả chư Phật tận hư không khắp pháp giới, ở trong tất cả thế giới, khi bổ Phật vị tại cung trời Đâu Suất, tận hư không khắp pháp giới, cũng chẳng biết được có bao nhiêu cung trời Đâu Suất. Mỗi cung trời Đâu Suất, Phật đều thị hiện thọ sinh ở đó, tu sáu độ vạn hạnh của Bồ Tát, làm đại Phật sự. Hiện tại chúng ta ở Vạn Phật Thánh Thành cũng làm đại Phật sự! Bồ Tát tại cung trời Đâu Suất, thị hiện vô lượng sắc thân. Đó là ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, chỉ là nói tổng quát, nếu nói tỉ mỉ thì có vô lượng sắc, vô lượng tướng. Lại có vô lượng oai đức, vô lượng quang minh, vô lượng âm thanh, vô lượng ngôn từ, vô lượng tam muội, chánh định chánh thọ. Vô lượng trí huệ cảnh giới sở hành. Nhiếp lấy tất cả mọi người, Thiên, thiên ma, Đại Phạm Thiên, Sa Môn, Bà La Môn, A tu la là tiếng Phạn, dịch là không đoan chánh, còn dịch là không có rượu. Chúng có phước trời mà không có quyền lực trên trời, thường thích đấu tranh. Phật đại từ vô ngại, đại bi rốt ráo, bình đẳng lợi ích tất cả chúng sinh. Hoặc khiến cho chúng sinh, được sinh về cõi trời, hoặc khiến cho chúng sinh, được sinh về cõi người, hoặc khiến cho họ thanh tịnh căn lành, hoặc điều phục chúng sinh, khiến cho tâm của họ chẳng còn phiền não, hoặc có lúc vì họ nói sự khác biệt về pháp môn ba thừa, tức Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát. Hoặc có lúc vì họ nói một Phật thừa viên mãn. Phật nói ba thừa và một thừa, đều muốn khiến cho chúng sinh đến được bờ bên kia, thoát khỏi sinh tử. Đó là Phật sự rộng lớn thứ nhất.

 

2. Phật tử! nhất thiết chư Phật tùng Đâu suất thiên hàng thần mẫu thai, dĩ cứu cánh tam muội quán thọ sanh Pháp như huyễn, như hóa, như ảnh, như không, như nhiệt thời diệm, tùy lạc nhi thọ, vô lượng vô ngại, nhập vô tránh Pháp, khởi Vô Trước trí, ly dục thanh tịnh, thành tựu quảng đại diệu trang nghiêm tạng, thọ tối hậu thân, trụ đại bảo trang nghiêm lâu các nhi tác Phật sự, hoặc dĩ thần lực nhi tác Phật sự, hoặc dĩ chánh niệm nhi tác Phật sự, hoặc hiện thần thông nhi tác Phật sự, hoặc hiện trí nhật nhi tác Phật sự, hoặc hiện chư Phật quảng đại cảnh giới nhi tác Phật sự, hoặc hiện chư Phật vô lượng quang minh nhi tác Phật sự, hoặc nhập vô số quảng đại tam muội nhi tác Phật sự, hoặc hiện tòng bỉ chư tam muội khởi nhi tác Phật sự.

Phật tử! Tất cả chư Phật từ trời Ðâu Suất giáng thần thai mẹ, dùng tam muội rốt ráo quán pháp thọ sanh: như huyễn, như hóa, như bóng, như hư không, như dương diệm, tùy sở thích mà thọ vô lượng vô ngại, nhập pháp vô tránh, khởi trí vô trước, ly dục thanh tịnh, thành tựu tạng diệu trang nghiêm quảng đại, thọ thân rốt sau, trụ nơi lầu các đại bửu trang nghiêm mà làm Phật sự. Hoặc dùng thần lực mà làm Phật sự. Hoặc dùng chánh niệm mà làm Phật sự. Hoặc hiện thần thông mà làm Phật sự. Hoặc hiện trí nhựt mà làm Phật sự. Hoặc hiện cảnh giới quảng đại của chư Phật mà làm Phật sự. Hoặc hiện vô lượng quang minh của chư Phật mà làm Phật sự. Hoặc nhập vô số tam muội quảng đại mà làm Phật sự. Hoặc hiện từ tam muội đó khởi mà làm Phật sự.

Phật tử! Tất cả chư Phật từ cõi trời Đâu Suất hàng sanh xuống thai mẹ, tại thai mẹ nhập thai, trụ thai, dùng tam muội rốt ráo quán thọ pháp sinh: Như huyễn, như hoá, như bóng, như hư không, như dương diệm, tuỳ theo sự vui thích của họ mà thọ sinh, chẳng có chướng ngại. Nhập vào tam muội không tranh, khởi trí huệ không chấp trước. Lìa khỏi tất cả dục niệm, khôi phục sự thanh tịnh vốn có. Sở dĩ chúng sinh không thể lìa dục thanh tịnh, cho nên thọ sinh tử ở trong sáu nẻo luân hồi. Nếu có thể lìa dục thanh tịnh, thì sẽ chấm dứt sinh tử. Chư Phật thành tựu diệu trang nghiêm bảo tạng rộng lớn, tu hành sáu độ vạn hạnh: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ, tu phước tu huệ.

Đồng lý đó, người ở trong đạo tràng tu đạo, đối với vật chất của chùa nhất định phải thương tiếc. Thương tiếc vật chất của chùa, cũng giống như vật chất của chính mình. Cổ nhân có nói:

“Thương tiếc vật thường trụ,
Như bảo vệ con mắt của mình”.

Thương tiếc vật chất của chùa, phải quý hơn là bảo vệ con mắt của mình. Tóm lại, phòng xá của chùa, phải cố gắng bảo vệ. Cho đến một trang giấy, một ngọn cỏ, cũng đều phải tiếc kiệm. Ví như chùa có chiếc xe, thì phải đặc biệt cẩn thận coi chừng nó, coi trọng hơn vật của mình. Lại như những giường ngủ của chùa, bàn ghế v.v… nhất định phải giữ gìn cho tốt, không thể tuỳ tiện phá hoại, hoặc làm tổn thất, đồ vật của chùa. Mượn đồ dùng của chùa, khi dùng xong thì nhất định trả lại, không thể cẩu thả được. Đối với thức ăn cũng phải đặc biệt chú ý. Phàm là người nấu ăn, trước hết phải xem trong tủ lạnh có còn thức ăn thừa lại hay không. Nếu còn thì xem bao nhiêu người ăn, sau đó nấu thêm một chút. Đừng có bỏ quên những thức ăn còn ở trong tủ lạnh không để ý đến, hôm nay lại thừa lại nhiều, ngày mai lại thừa lại nhiều. Đến một tuần lễ thì thừa lại đầy tủ lạnh, đều là cơm thừa, canh thừa, đều hư thối, không còn dùng được nữa, đem đi bỏ, như vậy sẽ tạo ra rất nhiều tội nghiệp. Tạo tội nghiệp như vậy, tương lai dễ đoạ vào địa ngục. Đây gọi là xâm phạm thường trụ, không hiểu nhân quả. Bạn làm vật chất của chùa tổn hao, đây là sai lầm nhân quả. Cho nên chúng ta mỗi người tu đạo, phải chú ý, đừng để những gì mình tu được mất mác đi! Những gì mất mác đi nhiều hơn là chúng ta tu được, như vậy thì hết thuở vị lai, cũng không thể tương ưng với đạo.

Các vị quá khứ, bất cứ có lỗi lầm gì, tôi đều có thể tha thứ, nhưng không thể tái phạm nữa. Hy vọng các vị phải đặc biệt kiểm điểm, chuyên tâm chú ý! Nếu không chú ý, thì rất dễ sai nhân quả, đoạ địa ngục. Các vị tại gia xuất gia, bốn chúng đệ tử, giờ giờ phút phút, đều phải cẩn thận, đừng sai nhân quả, thì mới khỏi bị đoạ lạc. Lúc nào bạn cũng sai nhân quả, lúc nào cũng biết rõ mà cố phạm, thì tương lai chắc chắn sẽ bị đoạ lạc. Đến lúc bạn đoạ lạc, tôi cũng không có cách nào cứu bạn ra được.

Lúc nào chúng ta thành Phật, thì lúc đó thọ thân cuối cùng, đó là cuối cùng làm chúng sinh. Khi Phật trụ thai thì giống như ở lầu các đại bảo trang nghiêm, mà làm Phật sự. Hoặc dùng sức thần thông làm Phật sự. Hoặc dùng chánh niệm, khiến cho chúng sinh phát bồ đề tâm, mà làm đại Phật sự. Hết thảy tất cả chư Phật đều làm đại Phật sự. Hoặc hiện ra có trí huệ chiếu sáng khắp như mặt trời, dùng cảnh giới này để làm Phật sự. Hoặc hiện cảnh giới rộng lớn của chư Phật mà làm Phật sự. Hoặc hiện ra vô lượng quang minh của chư Phật mà làm Phật sự. Hoặc vào vô số tam muội rộng lớn mà làm Phật sự. Hoặc hiện từ trong các tam muội đó khởi mà làm Phật sự.

 

Phật tử! Như Lai nhĩ thời tại mẫu thai trung, vi dục lợi ích nhất thiết thế gian chủng chủng thị hiện nhi tác Phật sự. sở vị: hoặc hiện sơ sanh, hoặc hiện Đồng tử, hoặc hiện tại cung, hoặc hiện xuất gia, hoặc phục thị hiện thành đẳng chánh giác, hoặc phục thị hiện chuyển diệu pháp luân, hoặc thị hiện ư nhập Bát Niết Bàn, như thị giai dĩ chủng chủng phương tiện, ư nhất thiết phương, nhất thiết võng, nhất thiết tộc, nhất thiết chủng, nhất thiết thế giới trung nhi tác Phật sự. Thị vi đệ nhị quảng đại Phật sự.

Phật tử! Bấy giờ đức Như Lai ở trong mẫu thai, vì muốn lợi ích tất cả thế gian nên hiện nhiều cách để làm Phật sự. Những là hoặc hiện sơ sinh, hoặc hiện đồng tử, hoặc hiện tại cung, hoặc hiện xuất gia, hoặc lại thị hiện thành Ðẳng Chánh Giác, hoặc thị hiện nhập Ðại Niết bàn. Như vậy, đều dùng các thứ phương tiện ở nơi tất cả phương, tất cả lưới, tất cả vòng, tất cả thứ, tất cả thế giới mà làm Phật sự. Ðây là Phật sự quảng đại thứ hai.

Phật tử! Lúc đó Như Lai ở trong thai mẹ, vì muốn lợi ích tất cả chúng sinh thế gian, cho nên mới thị hiện đủ thứ mà làm đại Phật sự. Đó là: Hoặc hiện sơ sinh. Hoặc hiện thân đồng tử. Hoặc hiện thân thái tử. Hoặc hiện xuất gia. Hoặc lại thị hiện thành Đẳng Chánh Giác (Phật). Hoặc lại thị hiện chuyển bánh xe pháp, giáo hoá chúng sinh. Hoặc thị hiện vào Bát Niết Bàn. Như vậy đều dùng đủ thứ phương tiện, nơi tất cả địa phương, tất cả lưới, hoặc tất cả thế giới chủng tộc mà làm đại Phật sự. Đó là Phật sự rộng lớn thứ hai của Phật để giáo hoá chúng sinh.

 

3. Phật tử! nhất thiết chư Phật nhất thiết thiện nghiệp giai dĩ thanh tịnh, nhất thiết sanh trí giai dĩ minh khiết, nhi dĩ sanh pháp dụ đạo quần mê, lệnh kỳ khai ngộ, cụ hành chúng thiện. vi chúng sanh cố, thị đản vương cung, nhất thiết chư Phật ư chư sắc dục cung điện kĩ lạc giai dĩ xả ly, vô sở tham nhiễm, thường quán chư hữu không vô thể tánh, nhất thiết lạc cụ tất bất chân thật, trì Phật tịnh giới cứu cánh viên mãn. quán chư nội cung thê thiếp, thị tòng sanh Đại bi mẫn, quán chư chúng sanh hư vọng bất thật khởi Đại từ tâm, quán chư thế gian vô nhất khả lạc nhi sanh Đại hỉ, ư nhất thiết Pháp tâm đắc tự tại nhi khởi đại xả.

Phật tử! Tất cả chư Phật đều đã thanh tịnh tất cả thiện nghiệp, tất cả sanh trí đều đã sáng sạch, mà dùng sanh pháp dạy dỗ dẫn dắt quần mê, cho họ khai ngộ thật hành đủ các nghiệp lành. Vì chúng sanh mà thị hiện Ðản Sanh nơi Vương cung. Tất cả chư Phật nơi những sắc dục cung điện kỹ nhạc đều đã xa lìa không tham nhiễm, thường quán các cõi rỗng không chẳng có thể tánh, tất cả đồ vui thích đều chẳng chơn thiệt, trì Phật tịnh giới rốt ráo viên mãn. Quán những thê thiếp và kẻ hầu hạ nơi nội cung mà sanh lòng đại bi. Quán các chúng sanh hư vọng chẳng thiệt mà sanh lòng đại từ. Quán các thế gian không một gì là đáng thích mà sanh lòng đại hỉ. Với tất cả pháp tâm được tự tại mà sanh lòng đại xả.

Các vị đệ tử của Phật! Có biết chăng? Tất cả chư Phật đều đã thanh tịnh tất cả nghiệp lành, chẳng còn pháp nhiễm ô. Trí huệ của tất cả chúng sinh, Ngài đều thấu rõ, thanh tịnh sáng sạch. Dùng pháp của chúng sinh, quán ý ưa thích của chúng sinh, dùng đủ thứ pháp môn phương tiện, ví như tay không độ đứa bé, dùng các thứ ví dụ, để hướng dẫn tất cả chúng sinh mê hoặc, khiến cho họ đều được khai ngộ, viên mãn đầy đủ tất cả các căn lành. Vì hết thảy chúng sinh mà thị hiện sinh ra ở trong hoàng cung. Đối với tất cả sắc đẹp, cung điện đẹp nhất, và cung phi mỹ nữ, thảy đều buông bỏ lìa khỏi, không còn tham nhiễm. Thường quán ba cõi: Cõi dục, cõi sắc, cõi vô sắc, tam giới hai mươi lăm cõi, đều là hư vọng, chẳng còn chút tham luyến nào nữa. Hết thảy tất cả sự khoái lạc hoàn toàn là giả, đều không chân thật. Đáng tiếc chúng sinh đều nhiễm khổ làm vui, nhận giặc làm con, lấy đen làm trắng, điên điên đảo đảo, nhìn chẳng thấu, buông chẳng đặng. Nhưng Phật sớm đã thấu rõ tất cả đều không chân thật.

Chư Phật thuở xưa đều giữ giới thanh tịnh của Phật, rốt ráo viên mãn. Phật quán sát vợ con trong cung, và tất cả cung nga thể nữ, mà sinh tâm đại bi thương xót họ còn đang ở trong luân hồi, thật đáng thương xót. Lại quán sát tất cả thế gian không có một điều gì đáng tham trước, tất cả tất cả đều là vô thường, hư vọng, mà sinh tâm đại hoan hỉ. Hiện tại tôi đã minh bạch rồi, đối với tất cả pháp, tâm được tự tại, mà sinh tâm đại xả, xả bỏ được tất cả. Đầy đủ công đức viên mãn của Phật, hiện sinh trong pháp giới, Phật chẳng những thành Phật ở tại thế giới Ta Bà, mà ở tại mỗi thế giới khác cũng đều thành Phật, thân có đủ ba mươi hai tướng, tám mươi vẻ đẹp viên mãn, có vô lượng quang minh. Hết thảy quyến thuộc của Ngài đều thanh tịnh, đối với tất cả pháp thế gian, đều không chấp trước, ở trong cung điện đẹp đẽ, lại chẳng tham ái vợ đẹp con xinh, cũng chẳng chấp trước vào tất cả chúng sinh, lại chẳng chấp vào tất cả thế giới. Xem tất cả hết thảy đều thành thật tướng vô tướng. Khi nói pháp, hết thảy chúng sinh đều nghe hiểu được, cho đến tất cả súc sinh, đều minh bạch ý nghĩa của Phật nói. Đây gọi là Phật dùng một âm diễn nói pháp, chúng sinh tuỳ loài đều hiểu được. Vì chúng sinh diễn nói diệu pháp, khiến cho họ đối với đủ thứ cảnh giới điên đảo, phiền não của thế gian, đều sinh tâm nhàm lìa.

 

Cụ Phật công đức, hiện sanh pháp giới, thân tướng viên mãn, quyến thuộc thanh tịnh, nhi ư nhất thiết giai vô sở trước. dĩ tùy loại âm vi chúng diễn thuyết, lệnh ư thế Pháp thâm sanh yếm ly, như kỳ sở hạnh thị sở đắc quả, phục dĩ phương tiện tùy ưng giáo hóa. vị thành thục giả lệnh kỳ thành thục, dĩ thành thục giả lệnh đắc giải thoát, vi tác Phật sự lệnh Bất-thoái-chuyển. phục dĩ quảng đại từ bi chi tâm, hằng vi chúng sanh thuyết chủng chủng Pháp, hựu vi thị hiện tam chủng tự tại, lệnh kỳ khai ngộ, tâm đắc thanh tịnh. Tuy xứ nội cung, chúng sở hàm đổ, nhi ư nhất thiết chư thế giới trung thí tác Phật sự. dĩ đại trí tuệ, dĩ đại tinh tấn, thị hiện chủng chủng chư Phật thần thông, vô ngại vô tận. Hằng trụ tam chủng xảo phương tiện nghiệp, sở vị: thân nghiệp cứu cánh thanh tịnh, ngữ nghiệp thường tùy trí tuệ nhi hành, ý nghiệp thậm thâm vô hữu chướng ngại, dĩ thị phương tiện lợi ích chúng sanh. thị vi đệ tam quảng đại Phật sự.

Ðủ Phật công đức hiện sanh pháp giới, thân tướng viên mãn, quyến thuộc thanh tịnh, mà đối với tất cả đều không nhiễm trước. Dùng âm thanh tùy loại mà vì chúng diễn thuyết, cho họ sanh lòng nhàm lìa thế pháp, như chỗ sở hành thị hiện đắc quả. Lại dùng phương tiện tùy nghi giáo hóa: kẻ chưa thành thục thời làm cho thành thục, kẻ đã thành thục thời làm cho được giải thoát. Vì họ mà làm Phật sự cho họ chẳng thối chuyển. Lại dùng tâm từ bi quảng đại hằng vì chúng sanh mà thuyết pháp, lại vì họ thị hiện ba thứ tự tại, cho họ khai ngộ tâm được thanh tịnh. Dầu ở nội cung mọi người đều thấy, mà ở trong tất cả thế giới làm Phật sự. Dùng đại trí huệ, dùng đại tinh tấn thị hiện những Phật thần thông vô ngại vô tận hằng trụ nơi ba thứ nghiệp phương tiện thiện xảo là thân nghiệp rốt ráo thanh tịnh, ngữ nghiệp theo trí huệ mà phát ra, ý nghiệp thậm thâm vô ngại. Dùng phương tiện này để lợi ích chúng sanh. Ðây là Phật sự quảng đại thứ ba.

Tu hành giống như Phật đã tu, thị hiện Phật quả mà Phật đã đắc được. Lại dùng đủ thứ phương tiện khéo léo, tuỳ cơ duyên của chúng sinh, do đó: “Quán cơ thí giáo, vì người thuyết pháp”. Người đáng dùng thân Phật độ được, liền hiện thân Phật để vì họ nói pháp. Người đáng dùng thân Bích Chi Phật độ được, liền hiện thân Bích Chi Phật để vì họ nói pháp. Người đáng dùng thân Thanh Văn độ được, liền hiện thân Thanh Văn để vì họ nói pháp. Người đáng dùng thân Duyên Giác độ được, liền hiện thân Duyên Giác để vì họ nói pháp. Người đáng dùng thân Bồ Tát độ được, liền hiện thân Bồ Tát để vì họ nói pháp. Người đáng dùng thân ông vua độ được, liền hiện thân ông vua để vì họ nói pháp. Người đáng dùng thân quan lớn độ được, liền hiện thân quan lớn để vì họ nói pháp. Người đáng dùng thân đồng nam đồng nữ độ được, liền hiện thân đồng nam đồng nữ để vì họ nói pháp. Người đáng dùng thân Tỳ Kheo, Tỳ Kheo ni độ được, liền hiện thân Tỳ kheo, Tỳ Kheo ni để vì họ nói pháp. Người đáng dùng thân cư sĩ nam, cư sĩ nữ độ được, liền hiện thân cư sĩ nam, cư sĩ nữ để vì họ nói pháp. Người đáng dùng thân trưởng giả cư sĩ độ được, liền hiện thân trưởng giả cư sĩ để vì họ nói pháp. Người đáng dùng thân thầy giáo độ được, liền hiện thân thầy giáo để vì họ nói pháp. Người đáng dùng thân học sinh độ được, liền hiện thân học sinh để vì họ nói pháp.

Tóm lại, đáng dùng thân gì độ được, thì Phật liền hiện thân đó để vì họ nói pháp, đây gọi là tuỳ loại giáo hoá. Người căn lành chưa thành thục, thì khiến cho được thành thục. Người chưa trồng căn lành, thì khiến cho họ trồng căn lành. Đã trồng căn lành, thì khiến cho tăng trưởng. Đã tăng trưởng, thì khiến cho thành thục. Căn lành đã thành thục, thì khiến cho họ được giải thoát. Vì hết thảy chúng sinh mà làm đại Phật sự, khiến cho họ phát tâm bồ đề chẳng thối chuyển.

Từ bi rộng lớn của Phật, không thể dùng lời lẽ để hình dung. Từ bi của Ngài thấm nhuần vô duyên, bi nguyện đồng thể. Do đó: “Vô duyên đại từ, đồng thể đại bi”, càng không có duyên thì càng dùng tâm từ bi để cảm hoá họ. Phật xem chúng sinh đều đồng một thể, luôn luôn vì hết thảy chúng sinh nói đủ thứ pháp.

Lại vì họ thị hiện thân miệng ý tự tại, khiến cho họ khai ngộ, khiến cho trong tâm của họ, khôi phục lại bổn lai thanh tịnh, tánh diệu chân như. Phật sinh ra ở trong hoàng cung, vì tất cả Bồ Tát, Bích Chi Phật, Thanh Văn, trời người, A tu la, quỷ thần v.v… các chỗ đều thấy hết, tuy Ngài ở trong nội cung, mà trong tất cả thế giới, làm đại Phật sự. Ngài dùng đại trí huệ, tu pháp môn đại tinh tấn, thị hiện đủ thứ thần thông của chư Phật, viên dung vô ngại, không cùng tận. Luôn luôn trụ ba thứ nghiệp phương tiện khéo léo, đó là: Thân nghiệp rốt ráo thanh tịnh, chẳng có nhiễm ô. Lời nghiệp thường tuỳ theo trí huệ, không nói bậy bạ. Ngài không nói thì thôi, mà nói ra thì nhất định hợp với trí huệ. Đây tức cũng là thân nghiệp tuỳ trí huệ hành, lời nghiệp tuỳ trí huệ hành, ý nghiệp cũng tuỳ trí huệ hành. Đây là thân miệng ý ba nghiệp thanh tịnh ở trong mười tám pháp bất cộng của Phật. Ý nghiệp thâm sâu không có mọi sự chướng ngại. Dùng đủ thứ phương tiện đó để lợi ích tất cả chúng sinh. Đó là Phật sự rộng lớn thứ ba của Phật.

 

4. Phật tử! nhất thiết chư Phật thị xứ chủng chủng trang nghiêm cung điện, quan sát yếm ly, xả nhi xuất gia, dục sử chúng sanh liễu tri thế Pháp giai thị vọng tưởng, vô thường, bại hoại, thâm khởi yếm ly, bất sanh nhiễm trước, vĩnh đoạn thế gian tham ái phiền não, tu thanh tịnh hạnh, lợi ích chúng sanh. đương xuất gia thời, xả tục uy nghi, trụ vô tránh Pháp, mãn túc Bổn Nguyện vô lượng công đức, dĩ Đại trí quang diệt thế si ám, vi chư thế gian vô thượng phước điền, thường vi chúng sanh tán Phật công đức, lệnh ư Phật sở thực chư thiện bản, dĩ trí Tuệ-nhãn kiến chân thật nghĩa. phục vi chúng sanh tán thuyết xuất gia, thanh tịnh vô quá, vĩnh đắc xuất ly, trường vi thế gian trí tuệ cao tràng. Thị vi đệ tứ quảng đại Phật sự.

Phật tử! Tất cả chư Phật thị hiện ở những cung điện trang nghiêm, quán sát nhàm lìa bỏ mà xuất gia, muốn cho chúng sanh biết rõ thế pháp đều là vọng tưởng vô thường hư hoại, rất nhàm lìa chẳng nhiễm trước, dứt hẳn phiền não tham ái, tu hạnh thanh tịnh lợi ích chúng sanh. Ðương lúc xuất gia bỏ oai nghi thế tục, trụ trong pháp vô tránh, đầy đủ bổn nguyện vô lượng công đức. Dùng ánh sáng đại trí diệt si tối thế gian. Làm phước điền vô thượng cho các thế gian. Thường vì chúng sanh mà tán thán công đức của Phật, cho họ ở nơi Phật gieo trồng những cội lành, dùng mắt trí huệ thấy nghĩa chơn thiệt. Lại vì chúng sanh mà khen nói công đức xuất gia thanh tịnh không lỗi, vĩnh viễn được xuất ly, mãi mãi làm tràng cao trí huệ cho thế gian. Ðây là Phật sự quảng đại thứ tư.

Phật tử! Các vị có biết chăng? Tất cả chư Phật thị hiện đủ thứ sự trang nghiêm tốt đẹp ở trong cung điện. Ngài quán sát tỉ mỉ, đối với pháp thế gian sinh tâm nhàm lìa, muốn xả bỏ mà xuất gia tu đạo. Ngài cũng muốn khiến cho tất cả chúng sinh, đều biết rõ pháp thế gian, đều là vọng tưởng. Thế giới này làm sao mà thành? Là do vọng tưởng của chúng sinh mà thành, tương lai cũng do vọng tưởng của chúng sinh mà hư hoại, do đó “Nhân như vậy, quả như vậy”. Thế gian tất cả hết thảy đều vô thường bại hoại. Bồ Tát cũng nhàm lìa pháp thế gian, Phật càng nhàm lìa tất cả pháp thế gian, chẳng sinh tâm nhiễm ô và chấp trước.

Phật đã vĩnh viễn dứt hẳn tất cả tâm tham ái dục phiền não thế gian. Những gì người thế gian tham, Phật chẳng tham; những gì người thế gian ái, Phật chẳng ái. Do chẳng còn tham ái, nên chẳng còn phiền não. Phiền não của chúng ta từ đâu sinh ra? Là do tham và ái sinh ra. Nếu không tham, thì chẳng còn ích kỷ, chẳng còn ích kỷ thì cũng chẳng còn phiền não. Tại sao phải tham? Vì bị ái dục chi phối, bèn sinh ra tham ái. Có tham ái rồi, thì không thể toại tâm như ý, bèn sinh ra phiền não. Nếu có phiền não thì có điên đảo, có điên đảo thì có nhiễm ô. Tu hạnh thanh tịnh, thì sẽ phá trừ nhiễm ô.

Phật lúc nào cũng đều lợi ích tất cả chúng sinh. Khi Phật còn ở hoàng cung, chẳng tham trước tất cả ái dục và vinh hoa phú quý của thế gian. Khi xuất gia, thì Ngài xả bỏ tất cả oai nghi của thế tục. Chẳng đấu tranh và tranh luận với họ, đắc được tam muội vô tranh, do đó:

“Tranh là tâm thắng phụ
Trái ngược lại với đạo
Bèn sinh tâm bốn tướng
Làm sao được tam muội”.

Phật trụ nơi pháp không tranh, Ngài hoàn thành lời nguyện đã phát ra thuở xưa, đầy đủ vô lượng công đức. Dùng đại trí huệ quang minh diệt trừ tất cả ngu si, tất cả đen tối của thế gian. Làm ruộng phước vô thượng của chúng sinh thế gian. Thường vì tất cả chúng sinh khen ngợi công đức của chư Phật mười phương ba đời, khiến cho họ trồng các phước trong Tam Bảo, cầu huệ, trồng tất cả căn lành. Phật dùng mắt trí huệ, thấy tất cả nghĩa lý chân thật. Lại vì tất cả chúng sinh khen ngợi công đức xuất gia

Xuất gia là ra khỏi nhà ba cõi: cõi dục, cõi sắc, cõi vô sắc. Và cũng là ra khỏi nhà thế tục. Thế tục tức là nhà thế tục thế gian, chẳng còn quan niệm thế tục. Và cũng là ra khỏi nhà phiền não, chúng ta mỗi người đang ở tại nhà thế gian, đều ở trong nhà phiền não, một khi nổi giận, thì cảm thấy còn hơn là ăn trân hào hải vị, càng có vị đạo, cho nên xuất gia tức là ra khỏi nhà phiền não. Và cũng là ra khỏi nhà vô minh, vô minh tức là chẳng hiểu biết gì hết, sự việc gì cũng chẳng minh bạch, làm việc gì cũng điên đảo, cho nên phải ra khỏi nhà vô minh. Xuất gia lại có nhiều thứ phân biệt, giống như người xuất gia Trung Quốc, có người vì già không có chỗ nương tựa, xuất gia vào trong chùa có chỗ ăn chỗ ở; có người thì bị hoàn cảnh mà xuất gia, như phạm pháp, giết người, thay tên đổi họ, làm người xuất gia, vương pháp cũng không quản họ nữa, tìm cũng không được họ; có người từ nhỏ đi xuất gia, vì khó nuôi, đem vào chùa cho xuất gia. Ba hạng người xuất gia ở trên, tu hành được hay không, thì chẳng biết, hoặc có thể tu được, hoặc có thể tu không được. Còn có người vì sinh tử, vì phát tâm bồ đề, mà xuất gia. Hạng người xuất gia này thì thật tu hành, luôn nghĩ đến sinh tử, phát tâm đại bồ đề, y chiếu pháp của Phật nói mà tu hành, xuất gia cũng có đủ thứ cảnh giới này, nhưng xuất gia rồi, phải thanh tịnh lỗi lầm, không có tất cả mọi lỗi lầm, vĩnh viễn được thoát khỏi tội lỗi, khôi phục lại sự thanh tịnh vốn có, vĩnh viễn thoát khỏi nhà ba cõi, nhà phiền não, nhà vô minh, nhà thế tục, làm  tràng cao trí huệ của tất cả chúng sinh thế gian. Đó là đại Phật sự rộng lớn thứ tư.

Hỏi: Tại sao chẳng có Phật là người nữ?

Đáp: Chẳng phải chẳng có Phật người nữ, cũng có. Trong Kinh Pháp Hoa nói rất rõ ràng: “Long Nữ hiến châu, lập tức thành Phật”. Long Nữ là người nữ.

Long Nư dâng cúng hạt châu cho đức Phật, bèn lập tức thành Phật. Đây chứng minh thân nữ cũng có thể thành Phật, bất quá rất ít. Tại sao làm thân nam? Tại sao làm thân nữ? Là do hoan hỉ. Ý niệm thích thân nữ nhiều thì làm thân nữ, ý niệm thích thân nam nhiều thì làm thân nam. Đó là do nghiệp của chính mình tạo mà thọ quả báo, gọi là tạo nghiệp thọ báo, cũng là chuyển theo nghiệp. Song cũng có người chi phối được nghiệp của mình, mình không chuyển theo cảnh giới, mà quay chuyển được càn khôn, chuyển biến được nghiệp, làm chủ được. Nếu chuyển theo nghiệp thì không thể khống chế được, nếu chuyển nghiệp được thì khống chế được. Tại sao Bồ Tát phải phát nguyện? Tức là vì khống chế lưu chuyển theo nghiệp. Có đại nguyện này làm trụ thì chuyển nghiệp được. Do đó:

“Người chuyển được nghiệp
Nghiệp không chuyển được người.
Người chuyển được cảnh giới
Cảnh giới không chuyển được người”.

Đó là khống chế được. Song, phải có trí huệ mới khống chế được; nếu cứ ngu si, làm việc điên đảo, thì không thể nào khống chế được.

Xin hỏi bạn tại sao phải làm việc điên đảo? Bạn nói bạn không biết, không biết thì chạy theo nghiệp, chứ chẳng phải người nữ không thể thành Phật, cũng chẳng phải nói Phật là dương, quỷ là âm. Không sai, có thể nói như thế, Phật là thuần dương, quỷ thì thuần âm, con người thì nửa âm nửa dương, chẳng phải người nam thì hoàn toàn dương, còn người nữ thì hoàn toàn âm. Nếu người nam là hoàn toàn dương, thì đâu có kết hôn với người nữ; nếu người nữ hoàn toàn âm, thì cũng đâu cần kết hôn với người nam. Kết hôn rồi thì biến thành nửa âm nửa dương, không còn thuần nữa. Nếu tu hành tu đến vô lậu, thì thuần dương. Nam là dương, nhưng trong dương có âm; nữ là âm, nhưng trong âm có dương. Cho nên kết hôn rồi, có thể sinh con đẻ cái, đều là âm dương biến hoá, đây chẳng phải là tuyệt đối, chẳng phải người nam nhất định là dương, người nữ nhất định là âm. Kinh Dịch có nói rằng:

“Một âm một dương gọi là đạo
Lệch âm lệch dương gọi là bệnh”.

Nếu lệch một bên thì có mao bệnh, không lệch thì chính giữa, chẳng dịch gọi là “dong”, tức là đạo ở trong “dong”. Cho nên làm người nam, đừng cho rằng tôi là dương, vậy tại sao bạn muốn kết hôn? Một khi kết hôn thì trong dương có âm, người nữ kết hôn rồi thì trong âm có dương, đây là hổ tương thay đổi, đây là vấn đề âm dương.

Tại sao gọi là con người? Con người chỉ là tên giả mà thôi. Trước kia chẳng phải tôi đã giảng qua nhiều lần rồi chăng ? Tôi nói : Thuở xưa từ khi bắt đầu gọi là « con người ». Nếu lúc đó gọi con người là « con chó », thì gọi là con chó. Vì gọi lâu rồi thành tập quán. Cho nên « con người » chỉ là tên giả mà thôi. Do đó, một âm một dương là người. Trong âm có dương, trong dương có âm. Trong mùa đông ẩn tàng mùa hè, trong mùa hè lại ẩn tàng mùa đông. Mùa đông đến thì một ngày là dương sinh, hè đến thì một ngày là âm sinh. Một năm cũng là âm dương. Âm đến cực điểm tức là dương, dương đến cực điểm tức là âm. Cho nên người sinh ra là dương, chết đi là âm, đạo lý giống nhau, cho nên bạn nói chúng ta gọi là người, nếu ban đầu gọi là gà, thì tên của con người là gà, gọi lâu dần không cảm thấy lạ nữa. Giống như đặc tên cho đứa bé, gọi là chó con. Khi lớn lên ai gọi là chó con thì nó biết là gọi nó. Đây chỉ là tên giả mà thôi. Họ Trương nói tôi họ Trương, hỏi họ sao lại họ Trương ? Vì cha của họ là họ Trương, ông nội của họ là họ gì ? Cũng là họ Trương. Truy cứu ông cố, ông tằng v.v… cho đến lúc không còn có thể truy cứu được nữa họ là họ gì ? Thì không biết, vì đó đều là giả. Cho nên con người đừng có chấp trước, nói tôi như thế nay, như thế nọ. Đó đều là có cái ta, có sự ích kỷ, cho nên có phiền não; nếu như chẳng còn cái ta, chẳng còn sự ích kỷ, thì đâu còn phiền não !

Tại sao con người nóng giận? Vì cảm thấy người khác đối với mình không tốt, tổn hại đến mình, bèn nổi nóng. Còn đối với mình có lợi ích thì vui mừng, đó đều là bị cảnh giới vô minh lay chuyển.

 

5. Phật tử! nhất thiết chư Phật cụ nhất thiết trí, ư vô lượng Pháp tất dĩ tri kiến, Bồ-đề thụ hạ thành tối chánh giác, hàng phục chúng ma, uy đức đặc tôn. Kỳ thân sung mãn nhất thiết thế giới, thần lực sở tác vô biên vô tận, ư nhất thiết trí sở hạnh chi nghĩa giai đắc tự tại, tu chư công đức tất dĩ viên mãn. Kỳ Bồ-đề tòa cụ túc trang nghiêm, chu biến thập phương nhất thiết thế giới, Phật xứ kỳ thượng chuyển diệu pháp luân, thuyết chư Bồ-tát sở hữu hạnh nguyện, khai thị vô lượng chư Phật cảnh giới, lệnh chư Bồ-tát giai đắc ngộ nhập, tu hành chủng chủng thanh tịnh diệu hạnh. Phục năng thị đạo nhất thiết chúng sanh lệnh chủng thiện căn, sanh ư Như Lai bình đẳng địa trung, trụ chư Bồ-tát vô biên diệu hạnh, thành tựu nhất thiết công đức thắng Pháp, nhất thiết thế giới, nhất thiết chúng sanh, nhất thiết Phật sát, nhất thiết chư pháp, nhất thiết bồ tát, nhất thiết giáo hóa, nhất thiết tam thế, nhất thiết điều phục, nhất thiết Thần biến, nhất thiết chúng sanh tâm chi lạc dục, tất thiện liễu tri nhi tác Phật sự. Thị vi đệ ngũ quảng đại Phật sự.

Phật tử! Tất cả chư Phật đủ Nhứt thiết trí, nơi vô lượng pháp đều đã thấy biết, dưới cội Bồ Ðề thành Ðẳng Chánh Giác, hàng phục ma quân, oai đức đặc tôn. Thân Phật sung mãn tất cả thế giới. Thần lực chỗ làm vô biên vô tận. Nơi Nhứt thiết trí đúng nghĩa sở hành đều được tự tại. Tu các công đức đều đã viên mãn. Tòa Bồ Ðề của Phật đầy đủ trang nghiêm cùng khắp mười phương tất cả thế giới, Phật ngồi trên tòa này chuyển diệu Pháp luân, nói tất cả hạnh nguyện của Bồ Tát, khai thị vô lượng Phật cảnh giới cho chư Bồ Tát đều được ngộ nhập, tu hành những diệu hạnh thanh tịnh, lại hay giáo hóa tất cả chúng sanh, khiến họ gieo căn lành sanh trong đất bình đẳng của Như Lai, trụ nơi vô biên diệu hạnh của Bồ Tát, thành tựu tất cả pháp công đức tối thắng. Tất cả thế giới, tất cả chúng sanh, tất cả cõi Phật, tất cả Pháp, tất cả Bồ Tát, tất cả giáo hóa, tất cả tam thế, tất cả điều phục, tất cả thần biến, tất cả tâm sở thích của tất cả chúng sanh đều khéo biết rõ mà làm Phật sự. Ðây là Phật sự quảng đại thứ năm.

Phật tử! Tất cả chư Phật đủ nhất thiết trí huệ, chẳng có gì mà Ngài không biết, chẳng có gì mà Ngài không thấy. Ngài ngồi dưới cội bồ đề thành tựu quả vị Phật Chánh Đẳng Chánh Giác. Thành Phật rồi, hàng phục tất cả thiên ma, chế các ngoại đạo. Oai đức của Ngài đặc biệt cao thượng tôn quý. Pháp thân của Phật sung mãn tất cả thế giới, tận hư không khắp pháp giới, không có chỗ nào mà không có, chiếu khắp tất cả thế giới đen tối. Sức thần thông của chư Phật hiện ra tất cả cảnh giới, quang minh đầy khắp tất cả thế giới, sức lực đó vô biên, cũng vô tận. Nơi pháp nhất thiết trí huệ, chỗ làm chân thật nghĩa, đều đắc được cảnh giới viên mãn tự tại. Tu tất cả công đức đều viên mãn thành tựu. Phật ngồi toà bồ đề, đầy đủ sự thanh tịnh trang nghiêm diệu dụng. Khắp cùng mười phương tất cả thế giới, chỗ Phật ngồi trên hết, chuyển bánh xe pháp vi diệu vô thượng. Nói hết thảy hạnh nguyện tu hành thuở xưa của các Bồ Tát, khai thị vô lượng cảnh giới của chư Phật. Khiến cho tất cả Bồ Tát sơ phát tâm, đều được ngộ nhập vào cảnh giới này, tu hành đủ thứ diệu hạnh thanh tịnh

Lại chỉ bày dẫn dắt tất cả chúng sinh, khiến cho họ biết làm thế nào gieo trồng căn lành, sinh vào ở trong đất bình đẳng của Như Lai. Tu hành vô biên diệu hạnh của tất cả Bồ Tát, thành tựu tất cả công đức, pháp môn thù thắng. Tất cả thế giới, tất cả chúng sinh, tất cả cõi Phật, tất cả các pháp của Phật nói, tất cả Bồ Tát, tất cả sự giáo hoá, nhân duyên tất cả ba đời, khiến cho tất cả chúng sinh đều được điều phục, mà thị hiện tất cả thần thông biến hoá. Tất cả chúng sinh, trong tâm ưa thích, Phật đều khéo biết rõ mà làm Phật sự. Đó là đại Phật sự thứ năm của chư Phật.

 

6. Phật tử! nhất thiết chư Phật chuyển bất thoái Pháp luân, lệnh chư Bồ-tát Bất-thoái-chuyển cố. Chuyển vô lượng Pháp luân, lệnh nhất thiết thế gian hàm liễu tri cố. Chuyển khai ngộ nhất thiết pháp luân, năng Đại vô úy sư tử hống cố. Chuyển nhất thiết pháp Trí Tạng Pháp luân, khai Pháp tạng môn, trừ ám chướng cố. Chuyển vô ngại Pháp luân, đẳng hư không cố. Chuyển Vô Trước Pháp luân, quán nhất thiết pháp phi hữu vô cố. Chuyển chiếu thế Pháp luân, lệnh nhất thiết chúng sanh tịnh Pháp nhãn cố. Chuyển khai thị nhất thiết trí Pháp luân, tất biến nhất thiết tam thế Pháp cố. Chuyển nhất thiết Phật đồng nhất Pháp luân, nhất thiết Phật Pháp bất tướng vi cố. Nhất thiết chư Phật dĩ như thị đẳng vô lượng vô số bách thiên ức na-do-tha Pháp luân, tùy chư chúng sanh tâm hành sái biệt nhi tác Phật sự bất khả tư nghị. Thị vi đệ lục quảng đại Phật sự.

Phật tử!  Tất cả chư Phật chuyển bất thối pháp luân, vì làm cho chư Bồ Tát chẳng thối chuyển. Chuyển vô lượng pháp luân, vì làm cho tất cả thế gian đều biết rõ. Chuyển khai ngộ tất cả pháp luân, vì hay đại úy sư tử hống. Chuyển nhứt thiết pháp trí tạng pháp luân, vì khai cửa pháp tạng trừ ám chướng. Chuyển vô ngại pháp luân, vì đồng hư không. Chuyển vô trước pháp luân, vì quán tất cả pháp chẳng có chẳng không. Chuyển chiếu thế pháp luân, vì làm cho tất cả chúng sanh được tịnh pháp nhãn. Chuyển khai thị nhứt thiết trí pháp luân, vì cùng khắp tất cả tam thế pháp. Chuyển tất cả Phật đồng nhất pháp luân, vì tất cả Phật pháp chẳng trái nhau. Tất cả chư Phật dùng vô lượng vô số trăm ngàn ức na do tha pháp luân như vậy, tùy theo tâm sai biệt của các chúng sanh mà làm Phật sự chẳng thể nghĩ bàn. Ðây là Phật sự quảng đại thứ sáu.

Phật tử! Tất cả chư Phật thường chuyển bánh xe pháp bất thối, vì khiến cho tất cả Bồ Tát không thối chuyển nơi A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Chuyển vô lượng bánh xe pháp, vì khiến cho tất cả chúng sinh thế gian đều biết Phật pháp. Chuyển bánh xe pháp khai ngộ chúng sinh tất cả các pháp, vì có tinh thần đại vô uý, làm sư tử hống. Chuyển bánh xe pháp tất cả pháp trí tạng, vì khai môn tất cả pháp tạng, để diệt trừ tất cả đen tối và chướng ngại. Chuyển bánh xe pháp vô ngại, vì đồng với hư không. Chuyển bánh xe pháp không chấp trước, tại sao chẳng có chấp trước? Vì quán tất cả pháp lìa khỏi có không, tức lìa khỏi có không, thì còn gì để chấp trước? Chuyển bánh xe pháp chiếu sáng thế gian, vì khiến cho tất cả chúng sinh được thanh tịnh pháp nhãn. Chuyển bánh xe pháp khai thị nhất thiết trí huệ, vì pháp đều khắp tất cả ba đời quá khứ, hiện tại và vị lai. Chuyển bánh xe pháp tất cả chư Phật đồng nhất, vì hết thảy mười phương ba đời chư Phật, đều cùng một pháp thân, cho nên tất cả chư Phật đồng một pháp luân. Hết thảy chư Phật chẳng trái ngược nhau. Tất cả chư Phật dùng vô lượng vô số trăm ngàn ức Na do tha bánh xe pháp như vậy, tuỳ tâm tu hành khác nhau của các chúng sinh, mà làm Phật sự không thể nghĩ bàn. Đó là đại Phật sự thứ sáu.

 

7. Phật tử! nhất thiết chư Phật nhập ư nhất thiết Vương đô thành ấp, vi chư chúng sanh nhi tác Phật sự, sở vị. Nhân Vương đô ấp, Thiên Vương đô ấp, long Vương, dạ xoa Vương, càn thát bà vương, A-tu-la Vương, Ca Lâu La Vương, khẩn-na-la Vương, ma hầu La già Vương, La-sát Vương, tỳ xá đồ Vương, như thị đẳng Vương nhất thiết đô ấp. Nhập thành môn thời, Đại địa chấn động, quang minh phổ chiếu, manh giả đắc nhãn, lung giả đắc nhĩ, cuồng giả đắc tâm, lỏa giả đắc y, chư ưu khổ giả tất đắc an lạc. Nhất thiết lạc khí bất cổ tự minh, chư trang nghiêm cụ nhược trước, bất trước hàm xuất Diệu-Âm, chúng sanh văn giả vô bất hân lạc. Nhất thiết chư Phật sắc thân thanh tịnh, tướng hảo cụ túc, kiến giả vô yếm, năng vi chúng sanh tác ư Phật sự. sở vị: nhược cố thị, nhược quan sát, nhược động chuyển, nhược khuất thân, nhược hành, nhược trụ, nhược tọa, nhược ngọa, nhược mặc, nhược ngữ, nhược hiện thần thông, nhược vi thuyết Pháp, nhược hữu giáo sắc, như thị nhất thiết giai vi chúng sanh nhi tác Phật sự.

Phật tử! Tất cả chư Phật vào nơi tất cả vương đô thành ấp, vì những chúng sanh mà làm Phật sự. Những là đô ấp của Nhơn Vương, đô ấp của Thiên Vương, của Long Vương, Dạ Xoa Vương, Càn Thát Bà Vương, A Tu La Vương, Ca Lâu La Vương, Khẩn Na La Vương, Ma Hầu La Già Vương, La Sát Vương, Tỳ Xá Xà Vương. Tất cả đô ấp của chư Vương như vậy lúc Phật vào cửa thành thời đại địa chấn động, quang minh chiếu khắp. Người đui được thấy, kẻ điếc được nghe, kẻ điên cuồng được tỉnh, kẻ nghèo thiếu khốn khổ được no ấm yên vui. Tất cả nhạc khí được kêu. Những đồ trang sức, hoặc đeo hay chẳng đeo đều tự phát diệu âm, ai nghe tiếng đều vui mừng cả. Tất cả chư Phật sắc thân thanh tịnh đầy đủ tướng tốt, người thấy không chán, hay vì chúng sanh mà làm Phật sự. Những là hoặc đoái ngó, hoặc quán sát, hoặc động chuyển, hoặc co duỗi, hoặc đi, đứng, ngồi, nằm, hoặc nín, hoặc nói, hoặc hiện thần thông, hoặc thuyết pháp, hoặc dạy bảo, tất cả như vậy đều vì chúng sanh mà làm Phật sự.

Phật tử! Tất cả chư Phật vào trong tất cả cung vua thành ấp, vì hết thảy chúng sinh mà làm tất cả Phật sự. Nơi hoàng đế kiến đô gọi là đô, ấp tức là thành thị. Hoặc là đô thành Thiên Vương trên trời. Hoặc Long Vương, Dạ Xoa Vương (dịch là tốc tật quỷ). Càn Thát Bà là nhạc thần tấu âm nhạc của Ngọc hoàng. A tu la thì có phước trời mà chẳng có quyền lực trời. Ca Lâu La Vương là chim đại bang cánh vàng. Khẩn Na La Vương cũng là nhạc thần của Ngọc hoàng. Ma Hầu La Già Vương là thần đại mãng xà. La Sát Vương là vua của loài quỷ La Sát. Tỳ Xá Xà là tên của quỷ vương.

Các đô ấp vừa nói ở trên của các vị vua, khi Phật vào cửa thành, thì đại địa có sáu thứ chấn động. Phật phóng quang minh chiếu khắp ba ngàn đại thiên thế giới, khiến cho người mù thì được thấy, người điếc thì được nghe, người trong tâm phát cuồng thì có trí huệ, người không có quần áo thì được quần áo, hết thảy tất cả chúng sinh đau khổ hoạn nạn, thì đều được bình an khoái lạc. Hết thảy tất cả nhạc khí không cần đánh tự kêu lên. Hết thảy tất cả đồ trang nghiêm đạo tràng, tự phát ra âm thanh vi diệu. Tất cả chúng sinh nghe được âm thanh đó, không ai mà chẳng vui mừng.

Tất cả sắc thân của chư Phật đều thanh tịnh, đều đầy đủ ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp. Bất cứ ai thấy được tướng tốt trang nghiêm, đều sinh tâm ái mộ, mắt không tạm rời, khiến cho tất cả chúng sinh đều được khoái lạc, hay vì chúng sinh làm Phật sự. Đó là: Hoặc đoái nhìn, hoặc nhìn trái, hoặc nhìn phải, nhìn trước, nhìn sau. Hoặc quán sát, trong tâm quán tưởng, quán sát tất cả tình hình. Đoái nhìn thuộc về bên ngoài, quán sát thì thuộc về bên trong. Hoặc chuyển động, hoặc co duỗi, hoặc đi, hoặc đứng, hoặc ngồi, hoặc nằm, bốn đại oai nghi. Hoặc im, hoặc nói, hoặc hiện thần thông, hoặc vì chúng sinh thuyết pháp, hoặc chỉ dạy, tất cả như vậy, đều vì chúng sinh mà làm Phật sự.

 

Nhất thiết chư Phật phổ ư nhất thiết vô số thế giới chủng chủng chúng sanh tâm lạc hải trung, khuyến lệnh niệm Phật, thường cần quan sát, chủng chư thiện căn, tu Bồ Tát hạnh. Thán Phật sắc tướng vi diệu đệ nhất, nhất thiết chúng sanh nan khả trực ngộ, nhược hữu đắc kiến nhi hưng tín tâm, tức sanh nhất thiết vô lượng thiện Pháp, tập Phật công đức phổ giai thanh tịnh. Như thị xưng tán Phật công đức dĩ, phần thân phổ vãng thập phương thế giới, lệnh chư chúng sanh, tất đắc chiêm phụng, tư tánh quan sát, thừa sự cúng dường, chủng chư thiện căn, đắc Phật hoan hỉ, tăng trưởng Phật chủng, tất đương thành Phật. Dĩ như thị hành nhi tác Phật sự, hoặc vi chúng sanh thị hiện sắc thân, hoặc xuất Diệu-Âm, hoặc đãn vi tiếu, lệnh kỳ tín lạc, đầu đính lễ kính, khúc cung hợp chưởng, xưng dương tán thán, vấn tấn khởi cư nhi tác Phật sự. Nhất thiết chư Phật dĩ như thị đẳng vô lượng vô số bất khả ngôn thuyết bất khả tư nghị chủng chủng Phật sự, ư nhất thiết thế giới trung, tùy chư chúng sanh tâm chi sở lạc, dĩ ản nguyện lực, đại từ bi lực, nhất thiết trí lực, phương tiện giáo hóa, tất lệnh điều phục. Thị vi đệ thất quảng đại Phật sự.

Tất cả chư Phật khắp ở vô số thế giới, trong biển tâm sở thích của các loài chúng sanh mà khuyên họ niệm Phật, thường siêng quán sát gieo những căn lành, tu hạnh Bồ tát, khen Phật sắc tướng vi diệu đệ nhứt, tất cả chúng sanh khó gặp gỡ. Nếu ai được thấy Phật mà sanh lòng kính tin thời phát khởi vô lượng pháp lành, chứa Phật công đức đều khắp thanh tịnh. Khen ngợi Phật công đức như vậy rồi, phân thân qua khắp mười phương thế giới khiến các chúng sanh đều được chiêm ngưỡng phụng thờ, tư duy quán sát cung kính cúng dường, trồng những căn lành được Phật hoan hỷ, thêm lớn Phật chủng, đều được thành Phật. Dùng hạnh như vậy mà làm Phật sự. Hoặc vì chúng sanh mà thị hiện sắc thân, hoặc phát diệu âm, hoặc chỉ vi tiếu, khiến họ tin mến, cúi đầu đảnh lễ, khom mình chấp tay, ca ngợi khen tặng thăm viếng hỏi thăm, dùng đây mà làm Phật sự. Tất cả chư Phật dùng vô lượng, vô số, bất khả thuyết, bất khả tư những Phật sự như vậy, ở trong tất cả thế giới tùy tâm chúng sanh sở thích, dùng sức bổn nguyện, sức đại từ bi, sức nhứt thiết trí, phương tiện giáo hóa đều làm cho họ được điều phục. Ðây là Phật sự quảng đại thứ bảy.

Tất cả chư Phật ở khắp trong vô số thế giới, trong biển tâm đủ thứ chúng sinh, khuyên khiến cho họ niệm Phật. Thường siêng quán sát, trồng các căn lành, tu Bồ Tát hạnh, hoan hỉ sắc tướng vi diệu bậc nhất của Phật. Tất cả chúng sinh, khó có thể gặp được Phật. Nếu có người nào thấy được mà sinh tâm tin vui mừng, thì sinh ra tất cả vô lượng pháp lành. Tích tập công đức của Phật, khắp đều được thanh tịnh. Khen ngợi công đức của tất cả chư Phật như vậy rồi, lại phân thân đến khắp mười phương thế giới, khiến các chúng sinh đều được chiêm ngưỡng phụng thờ, tư duy quán sát, thừa sự cúng dường, trồng tất cả căn lành, được Phật hoan hỉ tán thán, tăng trưởng giống Phật, tất sẽ thành Phật. Dùng hạnh như vậy mà làm Phật sự.

Hoặc vì chúng sinh thị hiện sắc thân, hoặc thị hiện vang diệu âm, hoặc chỉ hiện mỉm cười, khiến cho chúng sinh nhìn thấy sinh tâm tin, cũng hoan hỉ đến học Phật pháp, khiến cho chúng sinh đảnh lễ cung kính, khom mình chắp tay, khen ngợi tán thán chư Phật, thỉnh vấn thưa hỏi chư Phật, mà làm Phật sự.

Tất cả chư Phật dùng hết thảy hạnh như vậy, vô lượng vô số, không thể nói hết được, không thể nghĩ bàn, đủ thứ Phật sự. Ở trong tất cả thế giới, tuỳ tâm của các chúng sinh vui thích, dùng nguyện lực xưa, sức đại từ bi, sức nhất thiết trí, phương tiện giáo hoá, đều khiến cho tất cả chúng sinh cang cường được điều phục. Đó là đại Phật sự rộng lớn thứ bảy.

Ở trong núi Diệu Giác (ở Vạn Phật Thành) này, cũng có thần cây, thần cỏ, thần hoa, thần sông, đều đến đạo tràng nghe pháp, bất quá có vị hiện hình, có vị chẳng hiện hình, cho nên các vị hằng ngày nghe kinh, đừng có khởi vọng tưởng lăn xăn, bằng không thì những vị thần này sẽ nổi giận. Bồ Tát thì không nổi giận, nhưng thần hộ pháp đều biết bạn khởi vọng tưởng gì, khiến cho họ không nhập định được, cũng không nghe pháp được. Do đó, đừng có ở tại đạo tràng gây nhiều âm thanh, một khi bạn khởi vọng tưởng thì các vị thần đều nghe thấy được, nghe được bạn đang khởi vọng tưởng nói chuyện.

Năm nọ, lần đầu tiên khi truyền giới ở trong giới trường, vào buổi tối, mọi người giảng pháp thì có một con dơi đến nghe kinh. Nghe pháp rồi lại bay đi, khi nghe pháp thì rất thành thật lắng nghe. Lúc đó còn có một con mèo. Con mèo đó cũng chẳng phải là một con mèo, mà là một người đen, y cũng muốn đến nghe kinh, nhưng người khác không cho y vào. Các vị đại khái không biết những sự việc này.

Bây giờ nói về tầm quan trọng của sự quy y. Khi tôi ở tại Đông Bắc Trung Quốc chưa thọ giới Cụ Túc, vẫn còn làm Sa Di, lúc đó khoảng hơn mười tuổi, thì có rất nhiều người quy y với tôi. Tại sao ? Vì tôi ở tại Đông Bắc là nơi rất lạnh, mùa đông hoặc mùa hè, chỉ mặc ba lớp vải bố, mùa đông cũng mặc ba lớp vải bố, mùa hè cũng mặc ba lớp vải bố. Đó chẳng khác nào là quảng cáo, một số người cho rằng đó là có đạo hạnh, cho nên có rất nhiều người quy y với tôi. Lúc đó tôi nghĩ : « Rất nhiều người quy y với tôi, tôi có đức hạnh gì chớ ? Chẳng có đức hạnh gì cả. Do đó : « Nhân chi hoạn, tại hảo vi nhân sư », làm sư phụ chẳng dễ dàng chút nào.

Tôi muốn tìm cách độ những người quy y làm đệ tử đó, nên tôi phát nguyện. Phát nguyện gì ? Tôi nói : « Đệ tử quy y với tôi, nếu y giáo phụng hành, nghe lời chỉ dạy của sư phụ, có tín tâm, thì tôi nhất định sẽ độ họ thành Phật. Nếu đệ tử quy y với tôi chưa thành Phật, thì tôi cũng không thành Phật, họ nhất định thành Phật hết rồi, thì tôi mới thành Phật ». Cho nên mỗi lần quy y, tôi đều nói nguyện lực này cho rõ ràng. Song, khi ở Phật Giáo Giảng Đường tại San Francisco, làm cho Quả Hồi (Thầy Hằng Lai) bỏ chạy. Lúc đó, y đã ghi tên vào chứng điệp quy y rồi, nhưng khi nghe tôi phát nguyện thì y bỏ chạy, không quy y. Tại sao ? Vì y sợ thành Phật. Ba bốn năm sau, y lại trở về và chịu quy y. Bây giờ, y đã xuất gia. Cho nên trước khi quy y, phải nói nguyện lực của tôi cho mọi người biết. Bây giờ nếu có ai cảm thấy làm không được, thì vẫn có thể không cần quy y.

 

8. Phật tử! nhất thiết chư Phật hoặc trụ A-lan-nhã xứ nhi tác Phật sự. Hoặc trụ tịch tĩnh xứ nhi tác Phật sự. Hoặc trụ không nhàn xứ nhi tác Phật sự. Hoặc trụ Phật trụ xứ nhi tác Phật sự. Hoặc trụ tam muội nhi tác Phật sự. Hoặc độc xứ viên lâm nhi tác Phật sự. Hoặc ẩn thân bất hiện nhi tác Phật sự. Hoặc trụ thậm thâm trí nhi tác Phật sự. Hoặc trụ chư Phật vô bỉ cảnh giới nhi tác Phật sự. Hoặc trụ bất khả kiến chủng chủng thân hành, tùy chư chúng sanh tâm lạc dục giải, phương tiện giáo hóa vô hữu hưu tức, nhi tác Phật sự. Hoặc dĩ Thiên thân, cầu nhất thiết trí nhi tác Phật sự. Hoặc dĩ long thân, dạ xoa thân, Càn thát bà thân, A-tu-la thân, Ca Lâu La thân, khẩn-na-la thân, ma hầu La già, nhân, phi nhân đẳng thân, cầu nhất thiết trí nhi tác Phật. sự hoặc dĩ Thanh văn thân, độc giác thân, Bồ Tát thân, cầu nhất thiết trí nhi tác Phật sự. Hoặc thời thuyết Pháp, hoặc thời tịch mặc, nhi tác Phật sự. Hoặc thuyết nhất Phật, hoặc thuyết đa Phật, nhi tác Phật sự. Hoặc thuyết chư Bồ-tát nhất thiết hành, nhất thiết nguyện, vi nhất hạnh nguyện nhi tác Phật sự. Hoặc thuyết chư Bồ-tát nhất hạnh, nhất nguyện, vi vô lượng hạnh nguyện nhi tác Phật sự. Hoặc thuyết Phật cảnh giới tức thế gian cảnh giới nhi tác Phật sự. Hoặc thuyết thế gian cảnh giới tức Phật cảnh giới nhi tác Phật sự. Hoặc thuyết Phật cảnh giới tức phi cảnh giới nhi tác Phật sự. Hoặc trụ nhất nhật, hoặc trụ nhất dạ, hoặc trụ bán nguyệt, hoặc trụ nhất nguyệt, hoặc trụ nhất niên, nãi chí trụ bất khả thuyết kiếp, vi chư chúng sanh nhi tác Phật sự. Thị vi đệ bát quảng đại Phật sự.

Tất cả chư Phật hoặc trụ A lan nhã mà làm Phật sự. Hoặc ở chỗ tịch tịnh mà làm Phật sự. Hoặc ở chỗ rãnh rang mà làm Phật sự. Hoặc ở chỗ của Phật mà làm Phật sự. Hoặc trụ trong tam muội mà làm Phật sự. Hoặc ở một mình nơi vườn rừng mà làm Phật sự. Hoặc ẩn thân chẳng hiện mà làm Phật sự. Hoặc trụ nơi trí thậm thâm mà làm Phật sự. Hoặc trụ cảnh giới vô tỷ của Phật mà làm Phật sự. Hoặc trụ những thân hành bất khả kiến, tùy tâm sở thích sở nguyện của chúng sanh phương tiện giáo hóa không thôi nghỉ mà làm Phật sự. Hoặc dùng thân Trời cầu nhứt thiết trí mà làm Phật sự. Hoặc dùng thân Rồng, thân Dạ Xoa, nhẫn đến thân Nhơn và Phi nhơn cầu nhứt thiết trí mà làm Phật sự. Hoặc dùng thân Thanh Văn, thân Ðộc Giác, thân Bồ Tát cầu nhứt thiết trí mà làm Phật sự. Hoặc có lúc thuyết pháp, có lúc nín lặng mà làm Phật sự. Hoặc nói một Phật, hoặc nói nhiều Phật mà làm Phật sự. Hoặc nói chư Bồ Tát, tất cả hạnh, tất cả nguyện làm một hạnh nguyện mà làm Phật sự. Hoặc nói cảnh giới Phật là cảnh giới thế gian mà làm Phật sự. Hoặc nói cảnh giới thế gian là cảnh giới Phật mà làm Phật sự. Hoặc nói cảnh giới Phật là chẳng phải cảnh giới mà làm Phật sự, hoặc trụ một ngày, hoặc trụ một đêm, hoặc trụ nửa tháng, hoặc trụ một tháng, hoặc trụ một năm, nhẫn đến trụ bất khả thuyết kiếp vì các chúng sanh mà làm Phật sự. Ðây là Phật sự quảng đại thứ tám.

Bồ Tát Thanh Liên Hoa Tạng lại gọi một tiếng, các vị đệ tử của Phật ! Tất cả chư Phật hoặc ở nơi A lan nhã mà làm Phật sự. A lan nhã tức cũng là nơi thanh tịnh. Hoặc ở nơi tịch tĩnh, chẳng có tiếng ồn ào, mà làm Phật sự. Hoặc ở nơi nhàn hạ, mà làm Phật sự. Giống như ở Vạn Phật Thành cũng là nơi A lan nhã, cũng là nơi tịch tĩnh, cũng là nơi nhàn hạ. Chúng ta ở tại đây để làm Phật sự. Hoặc ở chỗ Phật ở mà làm Phật sự, Vạn Phật Thành tức cũng là chỗ Phật ở, chúng ta ở đây giảng kinh thuyết pháp, đả Phật thất, đả thiền thất, đều là làm Phật sự. Hoặc trụ trong tam muội mà làm Phật sự. Hoặc một mình ở nơi vườn rừng mà làm Phật sự, Vạn Phật Thánh Thành cũng là vườn rừng. Hoặc ẩn thân, khiến cho người không thấy, mà làm Phật sự. Hoặc trụ nơi trí huệ thâm sâu mà làm Phật sự. Hoặc trụ cảnh giới của chư Phật không gì sánh bằng, mà làm Phật sự. Hoặc trụ nơi đủ thứ thân hành không thể thấy, tuỳ tâm ưa thích hiểu biết của các chúng sinh, phương tiện giáo hoá không khi nào ngừng nghỉ, mà làm tất cả Phật sự.

Hoặc dùng thân trời cầu nhất thiết trí mà làm Phật sự. Hoặc dùng thân rồng, thân Dạ xoa, thân Càn thát bà, thân A tu la, thân Ca lâu la, thân Khẩn na la, thân Ma hầu la già, thân người, thân chẳng phải người, v.v… cầu nhất thiết trí mà làm Phật sự. Hoặc dùng thân Thanh Văn, thân Độc Giác, thân Bồ Tát, cầu nhất thiết trí mà làm Phật sự. Hoặc khi thuyết pháp, khi im lặng, mà làm Phật sự. Hoặc nói một vị Phật, hoặc nói nhiều vị Phật, mà làm Phật sự.

Hoặc nói tất cả hạnh, tất cả nguyện, của các Bồ Tát, làm một hạnh nguyện, mà làm Phật sự. Hoặc nói một hạnh một nguyện của các Bồ Tát, làm vô lượng hạnh vô lượng nguyện, mà làm Phật sự. Tất cả tức là một, một tức là tất cả. Hoặc nói cảnh giới Phật, tức cảnh giới thế gian, mà làm Phật sự. Hoặc nói cảnh giới thế gian, tức cảnh giới Phật, mà làm Phật sự. Hoặc nói cảnh giới Phật, tức chẳng phải cảnh giới, mà làm Phật sự. Hoặc trụ một ngày, hoặc trụ một đêm, hoặc trụ nửa tháng, hoặc trụ một tháng, hoặc trụ một năm, cho đến trụ bất khả thuyết kiếp, vì các chúng sinh mà làm Phật sự. Đó là Phật sự rộng lớn thứ tám.

 

9. Phật tử! nhất thiết chư Phật thị sanh thanh tịnh thiện căn chi tạng, lệnh chư chúng sanh ư Phật Pháp trung sanh tịnh tín giải, chư căn điều phục, vĩnh ly thế gian. lệnh chư Bồ-tát ư Bồ-đề đạo, cụ trí tuệ minh, bất do tha ngộ. Hoặc hiện Niết-Bàn nhi tác Phật sự. Hoặc hiện thế gian giai tất vô thường nhi tác Phật sự. Hoặc thuyết Phật thân nhi tác Phật sự. Hoặc thuyết sở tác giai tất dĩ biện nhi tác Phật sự. Hoặc thuyết công đức viên mãn vô khuyết nhi tác Phật sự. Hoặc thuyết vĩnh đoạn chư hữu căn bản nhi tác Phật sự. Hoặc lệnh chúng sanh, yếm ly thế gian, tùy thuận Phật tâm, nhi tác Phật sự. Hoặc thuyết thọ mạng chung quy ư tận nhi tác Phật sự. Hoặc thuyết thế gian vô nhất khả lạc nhi tác Phật sự. Hoặc vi tuyên thuyết tận vị lai tế cúng dường chư Phật nhi tác Phật sự. Hoặc thuyết chư Phật chuyển tịnh Pháp luân, lệnh kỳ đắc văn sanh đại hoan hỉ, nhi tác Phật sự. Hoặc vi tuyên thuyết chư Phật cảnh giới, lệnh kỳ phát tâm nhi tu chư hạnh, nhi tác Phật sự. Hoặc vi tuyên thuyết niệm Phật tam muội, lệnh kỳ phát tâm thường lạc kiến Phật, nhi tác Phật sự. Hoặc vi tuyên thuyết chư căn thanh tịnh, cần cầu Phật đạo, tâm vô giải thoái, nhi tác Phật sự. Hoặc nghệ nhất thiết chư Phật quốc độ, quán chư cảnh giới chủng chủng nhân duyên nhi tác Phật sự. Hoặc nhiếp nhất thiết chư chúng sanh thân giai vi Phật thân, lệnh chư giải đãi phóng dật chúng sanh tất trụ Như Lai thanh tịnh cấm giới, nhi tác Phật sự. Thị vi đệ cửu quảng đại Phật sự.

Tất cả chư Phật là tạng sanh ra thiện căn thanh tịnh, làm cho các chúng sanh ở trong Phật pháp sanh tín giải thanh tịnh, các căn điều phục lìa hẳn thế gian. Làm cho chư Bồ Tát ở nơi đạo Bồ Ðề đủ sáng trí huệ chẳng do tha ngộ. Hoặc hiện thế gian thảy đều vô thường mà làm Phật sự. Hoặc nói chỗ làm thảy đều đã xong mà làm Phật sư. Hoặc nói công đức viên mãn không thiếu mà làm Phật sự. Hoặc nói dứt hẳn những căn bổn mà làm Phật sự. Hoặc khiến chúng sanh nhàm rời thế gian tùy thuận tâm Phật mà làm Phật sự. Hoặc nói thọ mạng trọn về nơi hết mà làm Phật sự. Hoặc nói thế gian không một việc đáng vui mà làm Phật sự. Hoặc vì tuyên nói tận vị lai tế cúng dường chư Phật mà làm Phật sự. Hoặc nói chư Phật chuyển tịnh pháp luân khiến người được nghe rất vui mừng mà làm Phật sự. Hoặc vì tuyên nói cảnh giới của chư Phật khiến họ phát tâm tu hành mà làm Phật sự. Hoặc vì tuyên nói niệm Phật tam muội, khiến họ phát tâm thường thích thấy Phật mà làm Phật sự. Hoặc vì tuyên nói các căn thanh tịnh, siêng cầu Phật đạo tâm không lười trễ mà làm Phật sự. Hoặc chỉ tất cả cõi Phật, quán sát những cảnh giới các loại nhơn duyên mà làm Phật sự. Hoặc nhiếp tất cả những thân chúng sanh đều làm thân Phật, làm cho những chúng sanh lười biếng buông lung đều an trụ nơi cấm giới thanh tịnh của Như Lai, mà làm Phật sự. Ðây là Phật sự quảng đại thứ chín.

Bồ Tát Thanh Liên Hoa Tạng lại gọi một tiếng các vị đệ tử của Phật! Các vị có biết chăng ? Tất cả chư Phật là bảo tạng sinh ra căn lành thanh tịnh, khiến cho hết thảy chúng sinh, ở trong Phật pháp, sinh ra tin hiểu thanh tịnh. Khiến cho các căn của chúng sinh được điều phục. Các căn điều phục tức là mắt chẳng nhìn những cái không đáng nhìn, tai không nghe tiếng không đáng nghe, miệng không nói điều không nên nói, tâm không nghĩ những điều không nên nghĩ, thân không làm việc không đáng làm. Tất cả những gì không hợp pháp, không hợp lễ, đều không làm, đó gọi là các căn được điều phục. Vĩnh viễn lìa tri kiến thế gian, pháp nhiễm ô thế gian, ái tình thế gian, khiến cho tất cả Bồ Tát, nơi đạo bồ đề, đầy đủ trí huệ thông minh, đối với pháp môn liễu sinh thoát tử, tự tánh tự ngộ, tự tánh tự độ, chẳng do người khác mà ngộ được.

Do đó, hoặc hiện tướng Niết Bàn mà làm Phật sự. Hoặc hiện cảnh giới thế gian vô thường mà làm Phật sự. Hoặc nói thân Phật ba mươi hai tướng tám mươi vẻ đẹp, mà làm Phật sự. Hoặc nói những việc làm thảy đều đã làm xong, không còn thọ thân sau nữa, mà làm Phật sự. Cho nên được một thì vạn sự đều xong. Hoặc nói công đức viên mãn không thiếu, mà làm Phật sự. Hoặc nói lìa hẳn nguồn gốc các cõi, tức tam giới hai mươi lăm cõi, mà làm Phật sự. Nguồn gốc các cõi là gì ? Tức là vô minh. Hoặc khiến cho chúng sinh nhàm lìa thế gian, lìa khỏi thế gian tu công đức thanh tịnh, tuỳ thuận tâm của chư Phật mà làm Phật sự. Hoặc nói thọ mạng cuối cùng trở về hết, tương lai sẽ phải chết, mà làm Phật sự, khiến cho chúng sinh chẳng tham ái tất cả vinh hoa phú quý của thế gian. Hoặc nói thế gian tất cả đều là vô thường, khổ không vô ngã, không có một vật gì đáng ưa thích, mà làm Phật sự. Hoặc vì họ tuyên nói, hết thuở vị lai, cúng dường chư Phật, mà làm Phật sự. Hoặc nói chư Phật thường chuyển bánh xe pháp thanh tịnh, khiến cho chúng sinh nghe được, sinh tâm đại hoan hỉ, mà làm Phật sự. Hoặc vì họ tuyên nói cảnh giới của chư Phật, khiến cho tất cả chúng sinh phát tâm bồ đề, tu tất cả hạnh môn, mà làm Phật sự. Hoặc vì họ tuyên nói pháp môn niệm Phật tam muội, khiến cho tất cả chúng sinh phát tâm bồ đề, thường hoan hỉ thấy Phật, mà làm Phật sự. Hoặc vì họ tuyên nói các căn thanh tịnh, siêng cầu tất cả Phật đạo, tâm không giải đãi thối chuyển, mà làm Phật sự. Hoặc đến tất cả cõi nước chư Phật, quán các cảnh giới đủ thứ nhân duyên, mà làm Phật sự. Hoặc nhiếp trì tất cả thân của chúng sinh, tương lai đều làm thân Phật, khiến cho các chúng sinh giải đãi phóng dật, không muốn tu hành, không còn phóng dật nữa.

Thế nào gọi là giải đãi ? Ví như mọi người tu hành, còn mình chẳng tu hành. Mọi người niệm Phật, mình đến chỗ khác đi tản bộ. Hiện tại Phật nhiếp trì kẻ giải đãi, khiến cho họ hết giải đãi, không còn phóng dật nữa, đều biết hồi quang phản chiếu, trở về cầu nơi chính mình, biết nếu không tu là tự mình lừa dối mình, như vậy mà làm Phật sự. Đó là Phật sự rộng lớn thứ chín.

 

10. Phật tử! nhất thiết chư Phật nhập Niết Bàn thời, vô lượng chúng sanh bi hiệu thế khấp, sanh Đại ưu não, đệ tướng chiêm cố nhi tác thị ngôn: Như Lai Thế Tôn hữu đại từ bi, ai mẩn nhiêu ích nhất thiết thế gian, dữ chư chúng sanh vi cứu vi quy. Như Lai xuất hiện nan khả trực ngộ, vô thượng phước điền ư kim vĩnh diệt. Tức dĩ như thị, lệnh chư chúng sanh bi hiệu luyến mộ, nhi tác Phật sự. Phục vi hóa độ nhất thiết Thiên Nhân, long thần, dạ xoa, Càn thát bà, A-tu-la, Ca Lâu La, khẩn-na-la, Ma hầu la già, nhân, phi nhân đẳng cố, tùy kỳ lạc dục, tự toái kỳ thân dĩ vi xá lợi, vô lượng vô số bất khả tư nghị, lệnh chư chúng sanh khởi tịnh tín tâm, cung kính tôn trọng, hoan hỉ cúng dường, tu chư công đức, cụ túc viên mãn. Phục khởi ư tháp, chủng chủng nghiêm sức, ư chư Thiên cung, long cung, dạ xoa cung, Càn thát bà, A-tu-la, Ca Lâu La, khẩn-na-la, Ma hầu la già, nhân, phi nhân đẳng chư cung điện trung, dĩ vi cúng dường. Nha xỉ, trảo phát hàm dĩ khởi tháp, lệnh kỳ kiến giả giai tất niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, tín lạc bất hồi, thành kính tôn trọng, tại tại xứ xứ bố thí cúng dường, tu chư công đức. dĩ thị phước cố, hoặc sanh Thiên thượng, hoặc xứ nhân gian, chủng tộc tôn vinh, tài sản bị túc, sở hữu quyến thuộc tất giai thanh tịnh, bất nhập ác thú, thường sanh thiện đạo, hằng đắc kiến Phật, cụ chúng bạch pháp, ư tam hữu trung tốc đắc xuất ly, các tùy sở nguyện hoạch tự thừa quả, ư Như Lai sở tri ân báo ân, vĩnh dữ thế gian tác sở quy y. Phật tử! chư Phật Thế tôn tuy Bát Niết Bàn, nhưng dữ chúng sanh tác bất tư nghị thanh tịnh phước điền, vô tận công đức tối thượng phước điền, lệnh chư chúng sanh thiện căn cụ túc, phước đức viên mãn. Thị vi đệ thập quảng đại Phật sự.

Tất cả chư Phật lúc nhập Niết bàn, vô lượng chúng sanh rất lo khổ kêu gào khóc than, nhìn nhau mà nói rằng: Ðức Như Lai Thế Tôn có đại từ bi, thương xót lợi ích tất cả thế gian, làm nơi cứu, làm chỗ về cho các chúng sanh. Ðức Như Lai xuất thế rất khó gặp. Phước điền vô thượng nay đã mất hẳn. Dùng việc như vậy làm cho chúng sanh mến luyến buồn khóc mà làm Phật sự. Lại vì hóa độ tất cả trời, người, bát bộ, nên tùy theo sự thích muốn của họ, mà nát thân Phật thành ngọc Xá Lợi vô lượng vô số bất tư nghì, khiến các chúng sanh phát lòng tin thanh tịnh, cung kính tôn trọng, hoan hỷ cúng dường, tu các công đức đầy đủ viên mãn, lại xây tháp các thứ trang nghiêm đặt ở trong cung điện của Trời, Người, Bát Bộ để cúng dường. Răng, móng, tóc của Phật cũng đều dựng tháp cúng dường. Làm cho người thấy đều niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, tin mến không thôi, thành kính tôn trọng, bố thí cúng dường khắp mọi nơi, tu các công đức. Do phước này, họ được sanh cõi trời hay trong nhân gian, dòng họ tôn vinh, tài sản đầy đủ, những quyến thuộc đều thanh tịnh, chẳng đoạ ác thú, thường sanh thiện đạo, hằng được thấy Phật đủ những pháp lành, mau được xuất ly ba cõi, đều tùy sở nguyện được chứng quả nơi thừa của họ đã tu. Ðối với đức Như Lai thời biết ơn và báo ơn. Trọn làm chỗ quy y cho thế gian. Chư Phật Thế Tôn dầu nhập đại Niết bàn, vẫn làm phước điền thanh tịnh bất tư nghì cho chúng sanh, là phước điền tối thượng công đức vô tận, làm cho các chúng sanh đầy đủ thiện căn, phước đức viên mãn. Ðây là Phật sự quảng đại thứ mười của chư Phật.

Phật tử ! Tất cả chư Phật khi vào Niết Bàn, vô lượng chúng sinh khóc lóc rơi lệ bi ai, khóc không thành tiếng, ưu sầu khổ não vô hạn, lúc đó bạn nhìn tôi, tôi nhìn bạn, mọi người đều không còn cách nào hơn, đồng thanh nói rằng : « Như Lai Thế Tôn có tâm đại từ bi, thương xót lợi ích chúng ta chúng sinh, làm bậc cứu hộ của chúng ta chúng sinh, làm chỗ trở về cho chúng ta chúng sinh. Như Lai xuất hiện chẳng dễ gì gặp được. Chúng sinh đa số sinh ra trước Phật, hoặc sau Phật, hiện tại Phật vào Niết Bàn rồi, chúng ta cũng không được gặp Phật. Ruộng phước điền vô thượng, nay đã diệt hẳn ». Tức dùng như vậy khiến cho các chúng sinh bi ai thương tiếc, để làm Phật sự.

Lại vì hoá độ tất cả chư Thiên, loài người, rồng thần, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la già, người, chẳng phải người. Tuỳ theo sự hoan hỉ của chúng sinh, Phật tự làm nát thân mình, khiến cho thân thể biến thành vô lượng vô số xá lợi, khiến cho tất cả chúng sinh, biết sinh tâm tin thanh tịnh, cung kính tôn trọng, hoan hỉ cúng dường, tu tất cả công đức, đầy đủ viên mãn. Lại xây dựng đủ thứ bảo tháp, đủ thứ sự nghiêm sức. Nơi các cung trời, cung rồng, cung Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la già, người chẳng phải người, trong các cung điện đó, dùng để cúng dường. Răng móng tóc, đều xây dựng tháp để thờ, khiến cho người thấy được, thảy đều niệm Phật niệm Pháp niệm Tăng, tin ưa không thối chuyển, thành kính tôn trọng. Ở nơi nào cũng đều bố thí cúng dường, tu các công đức. Vì nhớ phước đức đó, hoặc được sinh về cõi trời, hoặc sinh nhân gian, chủng tộc tôn quý, tài sản đầy đủ. Hết thảy quyến thuộc đều thanh tịnh, không đoạ vào đường ác, thường sinh vào ba đường lành, luôn được gặp Phật, đầy đủ tất cả pháp thanh tịnh. Ở trong ba cõi : Dục giới, sắc giới, vô sắc giới, từ ba cõi này, sớm được thoát khỏi ba cõi. Đều tuỳ theo nguyện lực của họ, đắc được thừa mà chính họ hoan hỉ tu hành, đắc được quả tương ưng, hoặc là A la hán, hoặc là Duyên Giác, hoặc chứng được quả vị Bồ Tát. Họ biết Phật đối với họ có ân đức lớn như vậy, thường nghĩ báo đáp, vĩnh viễn làm chỗ nương tựa cho chúng sinh thế gian.

Phật tử ! Chư Phật Thế Tôn tuy vào Bát Niết Bàn rồi, vẫn làm ruộng phước thanh tịnh không nghĩ bàn cho chúng sinh, công đức của Ngài là ruộng phước vô tận tối thượng, khiến cho các chúng sinh, căn lành đầy đủ, phước đức viên mãn. Đó là Phật sự rộng lớn thứ mười.

 

Phật tử! thử chư Phật sự vô lượng quảng đại, bất khả tư nghị, nhất thiết thế gian chư Thiên cập nhân cập khứ lai kim Thanh văn, độc giác giai bất năng trai, duy trừ Như Lai uy thần sở gia.

Phật tử ! Những Phật sự này quảng đại vô lượng bất tư nghì, tất cả thế gian trời, người, nhẫn đến tam thế Thanh Văn, Ðộc Giác đều chẳng biết được. Chỉ trừ khi oai thần của Như lai gia hộ.

Bồ Tát Liên Hoa Tạng lại gọi một tiếng các vị đệ tử của Phật! Mười Phật sự rộng lớn vừa nói ở trên, rộng lớn vô lượng không thể nghĩ bàn. Tất cả thế gian chư Thiên và loài người, cùng các bậc Thanh Văn (tu pháp Tứ Đế : khổ, tập diệt đạo), Độc Giác (tu pháp mười hai nhân duyên) quá khứ vị lai hiện tại, đều không biết được Phật sự rộng lớn của chư Phật, chỉ có đại oai thần lực của Phật gia bị họ mới biết được.

========================================

Phật tử! chư Phật Thế tôn hữu thập chủng vô nhị hành tự tại Pháp. Hà đẳng vi thập? sở vị:

Phật tử ! Chư Phật Thế Tôn có mười điều vô nhị thật hành pháp tự tại. Những gì là mười? Đó là:

Phật tử ! Chư Phật Thế Tôn lại có mười pháp tự tại hạnh không hai. Những gì là mười ? Đó là :

 

1. Nhất thiết chư Phật tất năng thiện thuyết, thọ kí ngôn từ, quyết định vô nhị.

Một là tất cả chư Phật đều hay khéo nói lời thọ ký, quyết định không hai.

Tất cả chư Phật đều khéo nói ngôn từ thọ ký, quyết định không hai. Bất cứ thọ ký cho ai, nhất định sẽ đắc được quả thọ ký.

 

2. Nhất thiết chư Phật tất năng tùy thuận chúng sanh tâm niệm, lệnh kỳ ý mãn, quyết định vô nhị.

Hai là tất cả chư Phật đều hay tùy thuận tâm niệm của chúng sanh làm cho ý họ được thỏa mãn, quyết định không hai.

Tất cả chư Phật đều tuỳ thuận tâm niệm chúng sinh, khiến cho chúng sinh đều tuỳ tâm mãn nguyện, đó cũng là quyết định không hai.

 

3. Nhất thiết chư Phật tất năng hiện giác nhất thiết chư pháp, diễn thuyết kỳ nghĩa, quyết định vô nhị.

Ba là tất cả chư Phật đều hay hiện giác tất cả pháp, diễn thuyết ý nghĩa, quyết định không hai.

Tất cả chư Phật đều hiện giác ngộ, thấu rõ tất cả các pháp, và còn diễn nói nghĩa lý thật tướng của tất cả các pháp, đó cũng là quyết định không hai.

 

4. Nhất thiết chư Phật tất năng cụ túc khứ, lai, kim thế chư Phật trí tuệ, quyết định vô nhị.

Bốn là tất cả chư Phật đều hay đầy đủ tam thế Phật trí huệ, quyết định không hai.

Tất cả chư Phật đều đầy đủ trí huệ quang minh của chư Phật ba đời, quá khứ, vị lai, hiện tại, cũng là quyết định không hai.

 

5. Nhất thiết chư Phật tất tri tam thế nhất thiết sát-na tức nhất sát-na, quyết định vô nhị.

Năm là tất cả chư Phật đều biết tam thế tất cả sát na là một sát na, quyết định không hai.

Tất cả chư Phật, Phật Phật đạo đồng, cho nên nói đều biết tất cả sát na ba đời (quá khứ, hiện tại, vị lai), tức một sát na, một sát na tức là thời gian rất ngắn, tất cả sát na là thời gian rất dài, thời gian dài và thời gian ngắn là tương đồng, cũng chẳng có dài, cũng chẳng có ngắn, trong dài có ngắn, trong ngắn có dài. Một tức tất cả, tất cả tức một, cũng là quyết định không hai.

 

6. Nhất thiết chư Phật tất tri tam thế nhất thiết Phật sát nhập nhất Phật sát, quyết định vô nhất.

Sáu là tất cả chư Phật đều biết tam thế tất cả cõi Phật vào một cõi Phật, quyết định không hai.

Tất cả chư Phật đều biết tất cả cõi Phật ba đời vào một cõi Phật, cũng quyết định không hai. Nhiều tức là một, một tức là nhiều, một nhiều vô ngại.

 

7. Nhất thiết chư Phật tất tri tam thế nhất thiết Phật ngữ tức nhất Phật ngữ, quyết định vô nhị.

Bảy là tất cả chư Phật đều biết tam thế tất cả lời Phật là một lời Phật, quyết định không hai.

Tất cả chư Phật đều biết lời nói tất cả chư Phật ba đời, tức lời nói của một vị Phật, do đó mười phương chư Phật ba đời, đều cùng một pháp thân, cho nên lời nói của tất cả chư Phật, tức là lời nói của một vị Phật, lời nói của một vị Phật tức là lời nói của tất cả chư Phật, quyết định không hai.

 

8. Nhất thiết chư Phật tất tri tam thế nhất thiết chư Phật, dữ kỳ sở hóa nhất thiết chúng sanh, thể tánh bình đẳng, quyết định vô nhị.

Tám là tất cả chư Phật đều biết tam thế tất cả chư Phật cùng tất cả chúng sanh được giáo hóa thể tánh bình đẳng, quyết định không hai.

Tất cả chư Phật đều biết sự giáo hoá tất cả chúng sinh, của tất cả chư Phật ba đời, thể tánh bình đẳng, cũng quyết định không hai.

 

9. Nhất thiết chư Phật tất tri thế Pháp cập chư Phật Pháp tánh vô sái biệt, quyết định vô nhị.

Chín là tất cả chư Phật đều biết thế pháp và Phật pháp tánh không sai khác, quyết định không hai.

Tất cả chư Phật đều biết tánh pháp thế gian và các Phật pháp không khác nhau, quyết định không hai.

 

10. Nhất thiết chư Phật tất tri tam thế nhất thiết chư Phật sở hữu thiện căn đồng nhất thiện căn, quyết định vô nhị.

Mười là tất cả chư Phật đều biết tam thế chư Phật có bao nhiêu thiện căn đều đồng một thiện căn, quyết định không hai.

Tất cả chư Phật đều biết hết thảy căn lành của tất cả chư Phật ba đời, đồng một căn lành, cũng quyết định không hai.

 

Thị vi thập.

Đó là mười

Đó là mười, đây là mười thứ quyết định không hai.

========================================

Phật tử! chư Phật Thế tôn hữu thập chủng trụ, trụ nhất thiết pháp. hà đẳng vi thập? sở vị:

Phật tử ! Chư Phật Thế Tôn có mười pháp trụ, để an trụ tất cả pháp. Những gì là mười? Đó là:

Bồ Tát Liên Hoa Tạng lại gọi một tiếng các vị đệ tử của Phật! Các vị có biết chăng ? Chư Phật Thế Tôn lại có mười thứ trụ, trụ nơi tất cả pháp. Những gì là mười thứ trụ? Đó là :

 

1. Nhất thiết chư Phật trụ giác ngộ nhất thiết pháp giới.

Một là tất cả chư Phật trụ giác ngộ tất cả pháp giới.

Tất cả chư Phật trụ giác ngộ tất cả pháp giới.

 

2. Nhất thiết chư Phật trụ đại bi ngữ.

Hai là tất cả chư Phật trụ đại bi ngữ.

Tất cả chư Phật trụ lời nói đại bi, thường nói lời đại bi đối với tất cả chúng sinh.

 

3. Nhất thiết chư Phật trụ bổn đại nguyện.

Ba là tất cả chư Phật trụ bổn đại nguyện.

Tất cả chư Phật trụ đại nguyện thuở xưa đã phát ra.

 

4. Nhất thiết chư Phật trụ bất xả điều phục chúng sanh.

Bốn là tất cả chư Phật trụ chẳng bỏ điều phục chúng sanh.

Tất cả chư Phật trụ chẳng bỏ điều phục chúng sinh, lúc nào cũng muốn điều phục giáo hoá chúng sinh.

 

5. Nhất thiết chư Phật trụ vô tự tánh Pháp.

Năm là tất cả chư Phật trụ pháp không tự tánh.

Tất cả chư Phật trụ pháp không tự tánh, chẳng có thể tướng.

 

6. Nhất thiết chư Phật trụ bình đẳng lợi ích.

Sáu là tất cả chư Phật trụ bình đẳng lợi ích.

Tất cả chư Phật trụ bình đẳng lợi ích tất cả chúng sinh.

 

7. Nhất thiết chư Phật trụ vô vong thất pháp.

Bảy là tất cả chư Phật trụ pháp không quên mất.

Tất cả chư Phật trụ pháp không quên mất, đối với tất cả các pháp, chẳng có lúc nào quên.

 

8. Nhất thiết chư Phật trụ vô chướng ngại tâm

Tám là tất cả chư Phật trụ tâm không chướng ngại.

Tất cả chư Phật trụ tâm không chướng ngại.

 

9. Nhất thiết chư Phật trụ hằng chánh định tâm.

Chín là tất cả chư Phật trụ tâm hằng chánh định.

Tất cả chư Phật trụ tâm luôn chánh định, thường thường trụ trong chánh định.

 

10. Nhất thiết chư Phật trụ đẳng nhập nhất thiết pháp, bất vi thật tế tướng.

Mười là tất cả chư Phật trụ vào khắp tất cả pháp chẳng trái tướng thiệt tế.

Tất cả chư Phật trụ bình đẳng vào tất cả pháp không trái với tướng thật tế.

 

Thị vi thập.

Đó là mười

========================================

Phật tử! chư Phật Thế tôn hữu thập chủng tri nhất thiết pháp tận vô hữu dư. Hà đẳng vi thập? sở vị:

Phật tử ! Chư Phật Thế Tôn có mười điều biết hết tất cả pháp không thừa sót. Những gì là mười? Đó là:

Phật tử ! Chư Phật Thế Tôn có mười thứ biết hết tất cả pháp không thừa sót. Những gì là mười ? Đó là :

 

1. Tri quá khứ nhất thiết pháp tận vô hữu dư;

Một là biết hết tất cả pháp quá khứ, không thừa sót.

Biết hết tất cả pháp quá khứ chư Phật đã nói không thừa sót.

 

2. Tri vị lai nhất thiết pháp tận vô hữu dư

Hai là biết hết tất cả pháp vị lai, không thừa sót.

Biết hết tất cả pháp vị lai cũng không thừa sót.

 

3. Tri hiện tại nhất thiết pháp tận vô hữu dư;

Ba là biết hết tất cả pháp hiện tại, không thừa sót.

Biết hết tất cả pháp hiện tại cũng không thừa sót.

 

4. Tri nhất thiết ngôn ngữ Pháp tận vô hữu dư

Bốn là biết hết tất cả pháp ngôn ngữ, không thừa sót.

Biết hết tất cả pháp lời nói không thừa sót.

 

5. Tri nhất thiết thế gian đạo tận vô hữu dư;

Năm là biết hết tất cả đạo thế gian, không thừa sót.

Biết hết tất cả đạo thế gian, thiện ác thị phi đủ thứ đạo lý không thừa sót.

 

6. Tri nhất thiết chúng sanh tâm tận vô hữu dư

Sáu là biết hết tất cả tâm chúng sanh, không thừa sót.

Biết hết tất cả tâm chúng sinh đang nghĩ gì. « Tất cả chúng sinh có bao nhiêu thứ tâm, Như Lai đều biết đều thấy », không thừa sót.

 

7. Tri nhất thiết Bồ Tát thiện căn thượng, trung, hạ chủng chủng phần vị tận vô hữu dư

Bảy là biết hết tất cả những phần vị thượng trung hạ thiện căn của Bồ Tát, không thừa sót.

Biết hết tất cả căn lành, hoặc có thượng căn lành, trung căn lành, hạ căn lành, đủ thứ phần vị không có gì mà không biết, tại Sơ địa, Nhị địa, Tam địa, Tứ địa, Ngũ địa, Lục địa, Thất địa, Bát địa, cho đến Thập địa, Đẳng giác, tại địa vị nào Phật đều biết không thừa sót.

 

8. Tri nhất thiết Phật viên mãn trí cập chư thiện căn bất tăng bất giảm tận vô hữu dư

Tám là biết hết tất cả trí viên mãn và những thiện căn của Phật chẳng tăng, chẳng giảm, không thừa sót.

Biết hết nhất thiết trí viên mãn của Phật, và tất cả căn lành của Phật, không tăng không giảm, không thừa sót.

 

9. Tri nhất thiết pháp giai tùng duyên khởi tận vô hữu dư

Chín là biết hết tất cả Pháp đều từ duyên khởi, không thừa sót.

Biết hết tất cả pháp đều từ duyên sinh không thừa sót.

 

10. Tri nhất thiết thế giới chủng tận vô hữu dư. Tri nhất thiết pháp giới trung như nhân đà la võng chư sái biệt sự tận vô hữu dư.

Mười là biết hết tất cả thế giới chủng, trong tất cả pháp giới những sự sai biệt như lưới Thiên Ðế, không thừa sót.

Biết hết tất cả loại thế giới không thừa sót. Biết hết các việc khác nhau như lưới Nhân Đà La, trong tất cả pháp giới không thừa sót.

 

Thị vi thập.

Đó là mười

Đó là mười thứ biết hết không thừa sót.

========================================

Phật tử! chư Phật Thế tôn hữu thập chủng lực. Hà đẳng vi thập? sở vị: quảng đại lực, tối thượng lực, vô lượng lực, đại uy đức lực, nan hoạch lực, bất thoái lực, kiên cố lực, bất khả hoại lực, nhất thiết thế gian bất tư nghị lực, nhất thiết chúng sanh vô năng động lực. Thị vi thập.

Phật tử ! Chư Phật Thế Tôn có mười thứ lực. Những là: quảng đại lực, tối thượng lực, vô lượng lực, đại oai đức lực, nan hoạch lực, bất thối lực, kiên cố lực, bất khả hoại lực, tất cả thế gian bất tư nghì lực, tất cả chúng sanh vô năng động lực. Đó là mười.

Bồ Tát Liên Hoa Tạng lại gọi một tiếng các vị đệ tử của Phật! Chư Phật Thế Tôn lại có mười thứ lực. Những gì là mười ? Đó là : Sức lực rộng lớn, sức lực tối thượng, sức lực vô lượng, sức lực đại oai đức, sức lực khó được, sức lực bất thối, sức lực kiên cố, sức lực không thể hoại, sức lực tất cả thế gian không thể nghĩ bàn, sức lực tất cả chúng sinh không thể động. Đó là mười.

 

Phật tử! chư Phật Thế tôn hữu thập chủng Đại Na-la-diên tràng dũng kiện Pháp. Hà giả vi thập? sở vị:

Phật tử ! Chư Phật Thế Tôn có mười thứ tràng đại kim cang dũng kiện pháp. Những gì là mười? Đó là:

Phật tử ! Chư Phật Thế Tôn lại có mười pháp tràng dũng kiện đại Na la diên. Những gì là mười pháp tràng dũng kiện đại na la diên? Đó là :

 

1. Nhất thiết chư Phật, thân bất khả hoại, mạng bất khả đoạn, thế gian độc dược sở bất năng trung, nhất thiết thế giới thủy, hỏa, phong tai giai ư Phật thân bất năng vi hại. Nhất thiết chư ma, Thiên, long, dạ xoa, Càn thát bà, A-tu-la, Ca Lâu La, khẩn-na-la, Ma hầu la già, nhân, phi nhân, tỳ xá đồ, La-sát đẳng, tận kỳ thế lực, vũ Đại Kim cương Như-Tu-Di-Sơn cập Thiết vi sơn, biến ư tam thiên đại thiên thế giới, nhất thời câu hạ, bất năng lệnh Phật tâm hữu kinh phố, nãi chí nhất mao diệc bất dao động, hành, trụ, tọa, ngọa sơ vô biến dịch. Phật sở trụ xứ tứ phương viễn cận, bất lệnh kỳ hạ tức bất năng vũ; giả sử bất chế nhi tùng vũ chi, chung bất vi tổn. Nhược hữu chúng sanh vi Phật sở trì cập Phật sở sử, thượng bất khả hại, huống Như Lai thân! thị vi chư Phật đệ nhất Đại Na-la-diên tràng dũng kiện Pháp.

Tất cả chư Phật thân chẳng hư hoại, mạng chẳng thể dứt, thế gian độc dược không thể trúng, tất cả thế giới những tai thủy, hỏa, phong, điều không thể làm hại đến thân Phật. Tất cả các ma, thiên, long, bát bộ, quỷ, thần, hết thế lực của họ mưa kim cang lớn như núi Tu Di và núi Thiết Vi khắp cả Ðại Thiên thế giới đồng thời rơi xuống, chẳng thể làm tâm Phật kinh sợ, nhẫn đến một sợi lông cũng chẳng lay động, Phật vẫn đi đứng ngồi nằm như thường không đổi. Chỗ của Phật ngự, bốn phương xa gần chẳng cho rớt xuống thời không thể mưa xuống được. Giả sử Phật không ngăn mà tha hồ cho mưa, thời cũng trọn chẳng bị tổn hại. Nếu có chúng sanh được Phật hộ trì và Phật sai sử còn chẳng làm hại được, huống là thân của Như Lai. Ðây là tràng đại na la diên dũng kiện pháp thứ nhứt của Phật.

Tất cả chư Phật thân không thể hoại, tại sao không thể hoại ? Vì thân Phật giống như hư không, cho nên không thể hoại. Sinh mạng của Phật cũng không thể dứt. Hết thảy thuốc độc trên thế gian cũng không thể nào làm tổn hại Phật được. Tất cả nạn đất, nước, gió, lửa, của tất cả thế giới, cũng đều không thể hại được thân Phật. Hết thảy tất cả các thiên ma ngoại đạo, trời, rồng, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la già, người, chẳng phải người, Tỳ xá xà (quỷ ăn tinh khí), La sát v.v… dùng hết thế lực của họ, cùng lúc từ trên không mưa xuống kim cang to lớn như núi Tu Di, và núi Thiết Vi, khắp ba ngàn đại thiên thế giới, cũng đều không thể khiến cho tâm Phật sợ hãi, cho đến một sợi chân lông cũng không lay động. Phật có định lực như vậy. Một lỗ chân lông cũng không lay động. Ngài đi đứng nằm ngồi, đều bình thường không có chút nào thay đổi. Chỗ của Phật ở, bốn phương xa gần, nếu Phật không khiến cho rớt xuống, thì không thể rớt xuống. Giả sử Phật không dùng Phật lực để chế ngự, mà khiến cho nó tuỳ tiện rớt xuống, thì cũng không làm tổn hại được Phật. Nếu như có chúng sinh nào được Phật gia trì và Phật sai sử họ làm gì đó, thì chúng sinh đó, cũng không bị kim cang của thiên ma ngoại đạo làm tổn hại được, hà huống là thân của Như Lai. Đó là pháp tràng dũng kiện đại Na la diên thứ nhất của chư Phật.

 

2. Phật tử! nhất thiết chư Phật dĩ nhất thiết pháp giới chư thế giới trung Tu Di Sơn Vương, cập Thiết vi sơn, đại thiết vi sơn, đại hải, sơn lâm, cung điện, ốc trạch, trí nhất mao khổng, tận vị lai kiếp, nhi chư chúng sanh bất giác bất tri, duy trừ Như Lai thần lực sở bị.

Phật tử ! Tất cả chư Phật đem tất cả núi Tu Di, núi Thiết Vi, núi Ðại Thiết Vi, đại hải, núi rừng, cung điện, nhà cửa trong những thế giới khắp pháp giới để vào một lỗ lông đến suốt kiếp vị lai mà các chúng sanh chẳng hay chẳng biết. Chỉ trừ người được thần lực của đức Như Lai gia bị.

Bồ Tát Liên Hoa Tạng lại nói : Các vị đệ tử của Phật! Tất cả chư Phật đem núi chúa Tu Di, và núi Thiết Vi, núi đại Thiết Vi, biển cả núi rừng, cung điện nhà cửa, trong các thế giới của tất cả pháp giới, để vào trong một lỗ chân lông của Phật, hết kiếp thuở vị lai, mà các chúng sinh vẫn không cảm giác, không hay biết, ở trong một lỗ chân lông của Phật. Chỉ trừ oai thần lực của Như Lai gia bị, thì họ mới biết được.

 

Phật tử! nhĩ thời, chư Phật ư nhất mao khổng trì ư nhĩ sở nhất thiết thế giới, tận vị lai kiếp, hoặc hành, hoặc trụ, hoặc tọa, hoặc ngọa, bất sanh nhất niệm lao quyện chi tâm.

Phật tử ! Bấy giờ nơi một lỗ lông, chư Phật giữ lấy tất cả thế giới suốt kiếp vị lai, hoặc đi đứng ngồi nằm chẳng hề biết mỏi nhọc.

Phật tử ! Bấy giờ chư Phật ở nơi một lỗ chân lông, giữ gìn vô lượng vô biên tất cả thế giới đó, hết kiếp thuở vị lai, hoặc đi, hoặc đứng, hoặc nằm, hoặc ngồi, chẳng sinh ra một tâm niệm mỏi mệt.

 

Phật tử! thí như hư không phổ trì nhất thiết biến Pháp giới trung sở hữu thế giới nhi vô lao quyện, nhất thiết chư Phật ư nhất mao khổng trì chư thế giới diệc phục như thị. Thị vi chư Phật đệ nhị Đại Na-la-diên tràng dũng kiện Pháp.

Phật tử ! Ví như hư không khắp giữ gìn tất cả thế giới khắp pháp giới mà không mỏi nhọc. Chư Phật giữ lấy tất cả thế giới suốt kiếp vị lai nơi một lỗ lông không mỏi nhọc cũng như vậy. Ðây là tràng đại kim cang dũng kiện pháp thứ hai của chư Phật.

Phật tử ! Ví như hư không giữ gìn khắp hết thảy thế giới trong tất cả khắp cùng pháp giới, cũng không mỏi mệt. Tất cả chư Phật nơi một lỗ chân lông, giữ gìn các thế giới, cũng lại như thế. Đó là pháp tràng dũng kiện đại na la diên thứ hai của chư Phật.

 

3. Phật tử! nhất thiết chư Phật năng ư nhất niệm khởi bất khả thuyết bất khả thuyết thế giới vi trần số bộ, nhất nhất bộ qua bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát vi trần số quốc độ, như thị nhi hành, Kinh nhất thiết thế giới vi trần số kiếp.

Phật tử ! Tất cả chư Phật có thể trong khoảng một niệm bước được bất khả thuyết bất khả thuyết thế giới vi trần số bước. Mỗi mỗi bước đó bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát vi trần số quốc độ. Ði mãi như vậy trải qua tất cả vi trần số kiếp.

Các vị đệ tử của Phật! Tất cả chư Phật trong khoảng một niệm, bước được số bước nhiều như số hạt bụi bất khả thuyết bất khả thuyết thế giới. Mỗi mỗi bước, đi qua số nước nhiều như số hạt bụi bất khả thuyết bất khả thuyết cõi Phật. Đi như vậy, trải qua số kiếp nhiều như số hạt bụi của tất cả thế giới.

 

Phật tử! giả sử hữu nhất Đại Kim Cương sơn, dữ thượng sở Kinh nhất thiết Phật sát kỳ lượng Chánh đẳng. Như thị lượng đẳng Đại Kim Cương sơn, hữu bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát vi trần số, chư Phật năng dĩ như thị chư sơn trí nhất mao khổng. Phật thân mao khổng dữ Pháp giới trung nhất thiết chúng sanh mao khổng số đẳng, nhất nhất mao khổng tất trí nhĩ hứa Đại Kim Cương sơn, trì nhĩ hứa sơn du hành thập phương, nhập tận hư không nhất thiết thế giới, tùng ư tiền tế tận vị lai tế, nhất thiết chư kiếp vô hữu hưu tức, Phật thân vô tổn diệc bất lao quyện, tâm thường tại định vô hữu tán loạn. Thị vi chư Phật đệ tam đại Na-la-diên tràng dũng kiện Pháp.

Phật tử ! Giả sử có một tòa núi đại kim cang lớn bằng tất cả quốc độ mà đức Phật đã bước quan trên kia. Có bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát vi trần số núi đại kim cang như vậy, chư Phật có thể đem tất cả để vào một lỗ lông. Số lỗ lông nơi thân Phật bằng với số lỗ lông của tất cả thân chúng sanh trong pháp giới cộng lại. Nơi mỗi mỗi lỗ lông trên thân Phật đều để số núi đại kim cang như trên rồi giữ lấy mà du hành khắp thập phương tất cả thế giới, từ tiền tế suốt đến vị lai tế tất cả kiếp không ngơi nghỉ. Thân Phật không tổn cũng không mỏi nhọc. Tâm Phật luôn trụ đại định không tán loạn. Ðây là tràng đại kim cang dũng kiện pháp thứ ba của chư Phật.

Phật tử ! Giả sử có một toà núi đại Kim Cang lớn bằng tất cả cõi Phật đã bước qua ở trên. Núi đại Kim Cang lớn như vậy, cũng nhiều như số hạt bụi bất khả thuyết bất khả thuyết cõi Phật, chư Phật đem các núi lớn đó, để vào một lỗ chân lông. Lỗ chân lông thân Phật bằng lỗ lông của tất cả chúng sinh trong pháp giới. Mỗi mỗi lỗ lông đều để nhiều toà núi đại Kim Cang như vậy, giữ những núi đó đi du hành mười phương, vào tận hư không tất cả thế giới. Từ thuở quá khứ đến hết thuở vị lai, cho đến tất cả các kiếp, không có lúc nào ngừng nghỉ. Thân Phật cũng không có tổn hại, cũng không mệt mỏi, tâm thường trụ ở trong định, không có tán loạn. Đó là pháp tràng dũng kiện đại Na la diên thứ ba của chư Phật.

 

4. Phật tử! nhất thiết chư Phật nhất tọa thực dĩ, kết già phu tọa, Kinh tiền hậu tế bất khả thuyết kiếp, nhập Phật sở thọ bất tư nghị lạc, kỳ thân an trụ, tịch nhiên bất động, diệc bất phế xả hóa chúng sanh sự.

Phật tử ! Tất cả chư Phật khi đã một lần ngồi ăn xong, ngồi kiết già trải qua tiền tế hậu tế bất khả thuyết kiếp, nhập nơi an lạc bất tư nghì của chư Phật hưởng. Thân Phật an trụ vắng lặng bất động, nhưng cũng chẳng bỏ phế việc hoá độ chúng sanh.

Bồ Tát Liên Hoa Tạng lại gọi các vị đệ tử của Phật! Tất cả chư Phật, khi ngồi ăn cơm xong. Tỳ Kheo là đệ tử của Phật, cho nên cũng phải ngồi ăn cơm. Khi Phật ngồi ăn cơm xong, thì ngồi kiết già, trải qua tiền tế hậu tế, bất khả thuyết kiếp. Nhập vào chỗ thọ an vui của Phật không thể ghĩ bàn. Thân của Ngài an trụ, vắng lặng chẳng động, cũng chẳng phải Phật đang ở đó nhập định, không giáo hoá chúng sinh, Ngài vẫn giáo hoá chúng sinh.

 

Phật tử! giả sử hữu nhân ư biến hư không nhất nhất thế giới tất dĩ mao đoan thứ đệ độ lượng, chư Phật năng ư nhất mao đoan xứ kết già phu tọa, tận vị lai kiếp; như nhất mao đoan xứ, nhất thiết mao đoan xứ tất diệc như thị.

Phật tử ! Ví như có người nơi mỗi mỗi thế giới khắp hư không đều dùng đầu sợi lông thứ để đo lường. Chư Phật có thể ở nơi chỗ một đầu lông ngồi kiết già suốt kiếp vị lai, như nơi chỗ một đầu lông, tất cả chỗ đầu lông cũng đều như vậy

Các vị đệ tử của Phật! Bây giờ tôi nói cho các vị biết, giả sử có người ở khắp hư không, mỗi mỗi thế giới, đều dùng đầu sợi lông, lần lượt đo lường. Chư Phật ngồi kiết già ở nơi một đầu sợ lông, hết tất cả kiếp thuở vị lai. Như nơi một đầu sợ lông, tất cả nơi đầu sợi lông cũng đều như thế.

 

Phật tử! giả sử thập phương nhất thiết thế giới sở hữu chúng sanh, nhất nhất chúng sanh kỳ thân đại tiểu tất dữ bất khả thuyết Phật sát vi trần số thế giới lượng đẳng, khinh trọng diệc nhĩ, chư Phật năng dĩ nhĩ sở chúng sanh trí nhất chỉ đoan, tận ư hậu tế sở hữu chư kiếp; nhất thiết chỉ đoan giai diệc như thị, tận trì nhĩ hứa nhất thiết chúng sanh nhập biến hư không nhất nhất thế giới, tận ư Pháp giới tất sử vô dư, nhi Phật thân tâm tằng vô lao quyện. thị vi chư Phật đệ tứ đại Na-la-diên tràng dũng kiện Pháp.

Phật tử ! Giả sử mười phương thế giới, tất cả chúng sanh trong đó, thân của họ đều lớn bằng tất cả thuyết Phật sát vi trần số thế giới, nhẹ nặng cũng bằng. Chư Phật có thể để tất cả chúng sanh đó trên đầu một ngón tai, tất cả đầu ngón tai cũng đều như vậy, trải qua suốt tất cả kiếp vị lai, đem tất cả chúng sanh ấy vào mỗi mỗi thế giới khắp hư không cùng pháp giới không thừa sót. Mà thân tâm của Phật trọn không mỏi nhọc. Ðây là tràng đại kim cang dũng kiện pháp thứ tư của chư Phật.

Phật tử ! Giả sử hết thảy chúng sinh trong mười phương tất cả thế giới. Mỗi mỗi chúng sinh, thân họ lớn nhỏ, đều bằng với số hạt bụi thế giới bất khả thuyết cõi Phật, nặng nhẹ cũng như thế. Chư Phật đem hết thảy những chúng sinh đó, để trên đầu ngón tay, hết thuở vị lai hết thảy các kiếp, tất cả đầu ngón tay cũng đều như thế. Giữ gìn hết thảy những chúng sinh đó, đi vào khắp hư không mỗi mỗi thế giới, tận cùng pháp giới, đều khiến không thừa sót, mà thân tâm Phật chưa từng mệt mỏi. Đó là pháp tràng dũng kiện đại Na la diên thứ tư của chư Phật.

 

5. Phật tử! nhất thiết chư Phật năng ư nhất thân hóa hiện bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát vi trần số đầu, nhất nhất đầu hóa hiện bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát vi trần số thiệt, nhất nhất thiệt hóa xuất bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát vi trần số sái biệt âm thanh Pháp giới chúng sanh mị bất giai văn, nhất nhất âm thanh diễn bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát vi trần số tu đa la tạng, nhất nhất tu đa la tạng diễn bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát vi trần số Pháp, nhất nhất pháp hữu bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát vi trần số văn tự cú nghĩa;

Phật tử ! Tất cả chư Phật có thể ở nơi một thân hóa hiện bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát vi trần số đầu. Mỗi mỗi đầu hóa hiện bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát vi trần số lưỡi. Mỗi mỗi lưỡi hóa suất bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát vi trần số âm thanh sai khác, chúng sanh trong pháp giới không ai chẳng nghe. Mỗi mỗi âm thanh diễn bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát vi trần số tạng tu đa la. Mỗi mỗi tạng khế kinh diễn bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát vi trần số pháp. Mỗi mỗi pháp có bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát vi trần số văn tự cú nghĩa.

Phật tử ! Tất cả chư Phật nơi một thân, có thể hoá hiện số đầu nhiều như số hạt bụi bất khả thuyết bất khả thuyết cõi Phật.

Mỗi mỗi đầu, hoá hiện số lưỡi nhiều như số hạt bụi bất khả thuyết bất khả thuyết cõi Phật. Mỗi mỗi lưỡi, hoá ra âm thanh khác nhau, nhiều như số hạt bụi bất khả thuyết bất khả thuyết cõi Phật. Pháp giới chúng sinh thảy đều nghe được. Mỗi mỗi âm thanh, diễn nói kinh tạng nhiều như số hạt bụi bất khả thuyết bất khả thuyết cõi Phật. Mỗi mỗi kinh tạng, diễn nói Phật pháp nhiều như số hạt bụi bất khả thuyết bất khả thuyết cõi Phật. Mỗi mỗi pháp, lại có các văn tự câu nghĩa nhiều như số hạt bụi bất khả thuyết bất khả thuyết cõi Phật. Diễn nói như vậy, hết số kiếp nhiều như số hạt bụi bất khả thuyết bất khả thuyết cõi Phật. Hết số kiếp đó rồi, lại tiếp tục diễn nói hết số kiếp nhiều như số hạt bụi bất khả thuyết bất khả thuyết cõi Phật.

 

Như thị diễn thuyết, tận bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát vi trần số kiếp; tận thị kiếp dĩ, phục cánh diễn thuyết, tận bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát vi trần số kiếp; như thị thứ đệ, nãi chí tận ư nhất thiết thế giới vi trần số, tận nhất thiết chúng sanh tâm niệm số. Vị lai tế kiếp do khả cùng tận, Như Lai hóa thân sở chuyển pháp luân vô hữu cùng tận. Sở vị: trí tuệ diễn thuyết Pháp luân, đoạn chư nghi hoặc Pháp luân, chiếu nhất thiết pháp Pháp luân, khai vô ngại tạng Pháp luân, lệnh vô lượng chúng sanh hoan hỉ điều phục Pháp luân, khai thị nhất thiết chư Bồ-tát hạnh Pháp luân, cao thăng viên mãn Đại trí tuệ nhật Pháp luân, phổ nhiên chiếu thế trí tuệ minh đăng Pháp luân, biện tài vô úy chủng chủng trang nghiêm Pháp luân.

Như vậy diễn thuyết suốt bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát vi trần số kiếp. Mãn số kiếp này rồi lại diễn thuyết suốt bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát vi trần số kiếp. Thứ đệ như vậy nhẫn đến hết tất cả thế giới vi trần số, hết tất cả chúng sanh tâm niệm số, vị lai tế kiếp còn có thể cùng tận, Như Lai hóa thân chuyển pháp luân không có cùng tận: những là trí huệ diễn thuyết pháp luân, dứt những nghi hoặc pháp luân, chiếu tất cả pháp pháp luân, khai vô ngại tạng pháp luân, khiến vô lượng chúng sanh hoan hỷ điều phục pháp luân, khai thị tất cả Bồ Tát hạnh pháp luân, cao thăng viên mãn mặt nhựt đại trí huệ pháp luân, khắp thắp đèn sáng trí huệ soi thế gian pháp luân, biện tài vô úy các thứ trang nghiêm pháp luân.

Như vậy lần lượt, cho đến hết số hạt bụi tất cả thế giới, hết số tâm niệm của tất cả chúng sinh. Kiếp thuở vị lai có thể cùng tận. Như Lai hoá thân chuyển bánh xe pháp, không có cùng tận. Đó là : Diễn nói bánh xe pháp trí huệ, bánh xe pháp dứt các nghi hoặc, bánh xe pháp chiếu tất cả pháp, bánh xe pháp khai mở tạng vô ngại, bánh xe pháp khiến cho vô lượng chúng sinh hoan hỉ điều phục, bánh xe pháp khai thị tất cả hạnh của các Bồ Tát, bánh xe pháp cao thăng viên mãn mặt trời đại trí huệ, bánh xe pháp đèn sáng trí huệ chiếu khắp thế gian, bánh xe pháp biện tài vô uý đủ thứ trang nghiêm.

 

Như nhất Phật thân dĩ thần thông lực chuyển như thị đẳng sái biệt Pháp luân, nhất thiết thế Pháp vô năng vi dụ. Như thị, tận hư không giới nhất nhất mao đoan phần lượng chi xứ, hữu bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát vi trần số thế giới, nhất nhất thế giới trung niệm niệm hiện bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát vi trần số hóa thân, nhất nhất hóa thân giai diệc như thị, sở thuyết âm thanh văn tự cú nghĩa, nhất nhất sung mãn nhất thiết pháp giới, kỳ trung chúng sanh giai đắc giải liễu, nhi Phật ngôn âm vô biến, vô đoạn, vô hữu cùng tận. Thị vi chư Phật đệ ngũ đại Na-la-diên tràng dũng kiện Pháp.

Như một thân Phật dùng sức thần thông chuyển những pháp luân sai biệt như vậy, tất cả thế pháp không ví dụ được. Khắp hư không giới mỗi mỗi chỗ bằng đầu lông, có bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát vi trần số thế giới, trong mỗi mỗi thế giới, niệm niệm hiện bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát vi trần số hóa thân, mỗi mỗi hóa thân cũng đều chuyển pháp luân như vậy. Âm thanh thuyết pháp, văn tự, câu nghĩa, mỗi mỗi sung mãn tất cả pháp giới, trong đó chúng sanh đều hiểu rõ được, mà ngôn âm của Phật không đổi, không dứt, không cùng tận. Ðây là tràng đại kim cang dũng kiện pháp thứ năm của chư Phật.

Như một thân Phật dùng sức thần thông, chuyển bánh xe pháp khác nhau như vậy. Tất cả pháp thế gian, không có cách chi có thể ví dụ số mục đó được. Như vậy tận cõi hư không, nơi phân lượng của mỗi đầu sợi lông, có các thế giới nhiều như số hạt bụi bất khả thuyết bất khả thuyết cõi Phật. Trong mỗi mỗi thế giới, niệm niệm hiện các hoá thân nhiều như số hạt bụi bất khả thuyết bất khả thuyết cõi Phật. Mỗi mỗi hoá thân, cũng đều như vậy. Âm thanh diễn nói văn tự câu nghĩa, mỗi mỗi âm thanh đầy khắp tất cả pháp giới. Chúng sinh ở trong đó đều hiểu rõ, mà tiếng nói của Phật không đổi không dứt, giống như máy thâu băng, không có người nó vẫn phát ra âm thanh, nói pháp không khi nào cùng tận. Đó là pháp tràng dũng kiện đại Na la diên thứ năm của Phật.

 

6. Phật tử! nhất thiết chư Phật giai dĩ đức tướng trang nghiêm hung ức, do nhược Kim cương bất khả tổn hoại, Bồ-đề thụ hạ kết già phu tọa. Ma Vương quân chúng kỳ số vô biên, chủng chủng dị hình thậm khả bố úy, chúng sanh kiến giả mị bất kinh nhiếp, tất phát cuồng loạn hoặc thời trí tử. Như thị ma chúng biến mãn hư không, Như Lai kiến chi, tâm vô khủng bố, dung sắc bất biến, nhất mao bất thụ, bất động bất loạn, vô sở phân biệt, ly chư hỉ nộ, tịch nhiên thanh tịnh, trụ Phật sở trụ, cụ từ bi lực, chư căn điều phục, tâm vô sở úy, phi chư ma chúng sở năng khuynh động nhi năng tồi phục; nhất thiết ma quân giai sử hồi tâm, khể thủ quy y, nhiên hậu phục dĩ tam luân giáo hóa, lệnh kỳ tất phát A-nậu-đa-la tam-miệu-tam Bồ-đề ý vĩnh Bất-thoái-chuyển. Thị vi chư Phật đệ lục đại Na-la-diên tràng dũng kiện Pháp.

Phật tử ! Tất cả chư Phật đều dùng đức tướng trang nghiêm hông ngực như kim cang không bị tổn hoại. Ngồi kiết già dưới cội Bồ Ðề, quân ma số đông vô biên, các thứ dị hình rất đáng kinh sợ, chúng sanh thấy đó không ai chẳng kinh sợ, hãi hùng cuồng loạn hoặc ngất chết. Chúng ma như vậy đầy chật hư không, Như Lai thấy đó lòng chẳng sợ, chẳng biến sắc, chẳng động một lông, cũng chẳng phân biệt lìa những hỉ nộ, vắng lặng thanh tịnh, trụ chỗ của Phật trụ, đủ sức từ bi, các căn điều phục, tâm vô úy và hay dẹp phục tất cả quân ma, khiến chúng ma hồi tâm cúi đầu quy y, rồi sau đó đức Phật dùng tam luân giáo hóa, khiến họ đều phát tâm Vô thượng Bồ Ðề, vĩnh viễn chẳng thối chuyển. Ðây là tràng đại kim cang dũng kiện pháp thứ sáu của chư Phật.

Phật tử ! Hết thảy tất cả chư Phật, đều dùng tướng công đức trang nghiêm tư tưởng của Ngài, kiên cố giống như kim cang, không thể tổn hoại. Phật ở dưới cội bồ đề, ngồi kiết già nhập định. Lúc đó, quân lính ma vương không biết là bao nhiêu, đủ thứ dị hình kỳ quái, rất đáng sợ hãi. Chúng sinh thấy được, không ai chẳng kinh hãi, bị thế lực của ma vương nhiếp phục, có chúng sinh phát cuồng loạn, điên đảo, hoặc bị quyến thuộc ma vương làm ngất xỉu mà chết. Chúng ma như vậy đầy khắp hư không. Song, khi Phật thành Phật, thấy ma quân đó rồi, trong tâm không sợ không hãi. Nếu một số người thấy được, chắc chắn sẽ nói là có ma quỷ, toát mồ hôi, dựng tóc gáy; nhưng dung nhan của Phật không thay đổi, một sợi lông cũng không dựng đứng, cũng chẳng động, cũng chẳng loạn. Phật thấy ma cũng giống như Phật, không có sự phân biệt, lìa khỏi các sự vui vẻ oán giận, yên lặng thanh tịnh, trụ vào cảnh giới của Phật trụ. Đủ tất cả sức từ bi, hết thảy các căn đều điều phục, không có phiền não, không có sợ hãi. Tất cả chúng ma không thể làm khuynh động Ngài được, mà Ngài điều phục được tất cả quân ma, đều khiến cho chúng hồi tâm hướng thiện, sửa lỗi làm mới, đều cúi đầu đảnh lễ, sau đó lại dùng tam luân thể không, giáo hoá họ, khiến cho họ đều phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, vĩnh viễn không thối chuyển. Đó là pháp tràng dũng kiện đại Na la diên thứ sáu của chư Phật.

 

7. Phật tử! nhất thiết chư Phật hữu vô ngại âm, kỳ âm phổ biến thập phương thế giới, chúng sanh văn giả tự nhiên điều phục. Bỉ chư Như Lai sở xuất âm thanh, Tu-Di lô đẳng nhất thiết chư sơn bất năng vi chướng, Thiên cung, long cung, dạ xoa cung, Càn thát bà, A-tu-la, Ca Lâu La, khẩn-na-la, Ma hầu la già, nhân, phi nhân đẳng nhất thiết chư cung sở bất năng chướng, nhất thiết thế giới cao Đại âm thanh diệc bất năng chướng. Tùy sở ưng hóa, nhất thiết chúng sanh mị bất giai văn, văn tự cú nghĩa tất đắc giải liễu. Thị vi chư Phật đệ thất đại Na-la-diên tràng dũng kiện Pháp.

Phật tử ! Tất cả chư Phật có âm thanh vô ngại. Âm thanh đó khắp tất cả thế giới mười phương, chúng sanh được nghe tự nhiên điều phục. Âm thanh của chư Như Lai phát ra, tất cả núi lớn như Tu Di đều không ngăn chướng được. Cung trời, cung rồng, cung của bát bộ thần cũng không ngăn chướng được. Những âm thanh cao lớn của tất cả thế giới cũng không che chướng được. Tùy theo tất cả chúng sanh đáng được hoá độ đều được nghe, đều hiểu rõ văn tự cú nghĩa. Ðây là tràng đại kim cang dũng kiện pháp thứ bảy của chư Phật.

Phật tử ! Tất cả chư Phật có âm thanh vô ngại, âm thanh đó đầy khắp mười phương thế giới, chúng sinh nghe được tự nhiên được điều phục. Âm thanh đó của các Như Lai phát ra, tất cả các núi lớn như núi Tu Di, không thể chướng ngại được. Cung trời, cung rồng, cung Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la già, người, chẳng phải người, tất cả các cung, đều không thể chướng ngại được. Tất cả thế giới, âm thanh to lớn như thế nào, cũng không thể chướng ngại được âm thanh của Phật. Tuỳ theo sự ứng hoá tất cả chúng sinh, không ai chẳng nghe được, văn tự câu nghĩa, đều được hiểu rõ. Đó là pháp tràng dũng kiện đại Na la diên thứ bảy của chư Phật.

 

8. Phật tử! nhất thiết chư Phật tâm vô chướng ngại, ư bách thiên ức na-do-tha bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp, hằng thiện thanh tịnh. Khứ, lai, hiện tại nhất thiết chư Phật đồng nhất thể tánh, vô trược, vô ế, vô ngã, vô ngã sở, phi nội, phi ngoại, liễu cảnh không tịch, bất sanh vọng tưởng; vô sở y, vô sở tác, bất trụ chư tướng, vĩnh đoạn phân biệt; bổn tánh thanh tịnh, xả ly nhất thiết phàn duyên ức niệm, ư nhất thiết Pháp thường vô vi tránh; trụ ư thật tế, ly dục thanh tịnh, nhập chân Pháp giới, diễn thuyết vô tận; ly lượng, phi lượng sở hữu vọng tưởng, tuyệt vi, vô vi nhất thiết ngôn thuyết, ư bất khả thuyết vô biên cảnh giới tất dĩ thông đạt; vô ngại vô tận trí tuệ phương tiện, thành tựu thập lực nhất thiết công đức trang nghiêm thanh tịnh, diễn thuyết chủng chủng vô lượng chư Pháp, giai dữ thật tướng bất tướng vi bội;

Phật tử ! Tất cả chư Phật tâm không chướng ngại. Trong trăm ngàn ức na do tha bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp hằng khéo thanh tịnh. Tam thế tất cả chư Phật đồng một thể tánh, không đục, không mờ, không ngã, không ngã sở, chẳng trong, chẳng ngoài, rõ cảnh trống lặng chẳng sanh vọng tưởng, không sở y, không sở tác, chẳng trụ các tướng, dứt hẳn phân biệt, bổn tánh thanh tịnh, bỏ rời tất cả phan duyên ức niệm, với tất cả pháp thường không chống đối. Trụ nơi thiệt tế ly dục thanh tịnh, nhập chơn pháp giới. Diễn thuyết vô tận, rời số lượng, chẳng số lượng, bao nhiêu vọng tưởng tuyệt vi vô vi. Tất cả ngôn thuyết, nơi bất khả thuyết vô biên cảnh giới đều đã thông đạt, vô ngại, vô tận trí huệ phương tiện thành tựu Thập lực. Tất cả công đức trang nghiêm thanh tịnh. Diễn thuyết vô lượng những pháp đều chẳng trái với thiệt tướng.

Phật tử ! Tất cả chư Phật tâm không chướng ngại. Thế nào gọi là Phật ? Phật tức là bậc giác ngộ, giác tức là chẳng còn mọi sự chướng ngại, chẳng giác tức là còn sự chướng ngại. Bậc giác ngộ tức cũng là minh bạch, minh bạch thì chẳng còn sự đen tối. Chẳng minh bạch tức là đen tối, đen tối tức là chướng ngại. Phật ở trong trăm ngàn ức Na do tha, bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp, chẳng biết là thời gian dài bao lâu, tóm lại là không cách chi tính được. Nếu tính được thì thật là người chuyên gia về số học. Thời gian lâu dài như vậy, Phật luôn luôn đều thanh tịnh, chẳng có chút nhiễm ô nào. Thế nào gọi là nhiễm ô ? Bạn có vọng tưởng tức là nhiễm ô. Thanh tịnh thì chẳng còn vọng tưởng. Tất cả chư Phật quá khứ hiện tại vị lai, Phật Phật đạo đồng, do đó có câu :

“Mười phương Phật ba đời,
Đều cùng một pháp thân”.

Cho nên gọi là đồng một thể. Đục tức là nhiễm, mờ tức là che đậy, chướng ngại. Nếu chẳng còn nhiễm ô, thì cũng chẳng còn chướng ngại, căn bản sẽ chẳng còn « cái ta ». Các vị thử tìm cái ta từ đầu đến chân, cái nào gọi là « cái ta » ? Cái đầu có tên là cái đầu, con mắt có tên con mắt, tóc lại có tên tóc, lỗ tai có tên lỗ tai, tứ chi .v.v… đều có tên của nó. Tìm hết toàn thân, chẳng có chỗ nào gọi là « cái ta », cho nên Phật chẳng có cái ta, chẳng còn chấp trước về cái ta. Chúng ta chúng sinh có nhà ở, lại sợ không có quần áo mặc, một ngày có mấy trăm cái sợ, những cái sợ đó làm cho mình ăn không ngon, ngủ không yên, mặc nhiều quần áo cũng không cảm thấy ấm, đều là do sự lo sợ mà ra. Phật thì không có cái gì hết, cho nên nói không có cái của ta. Phật cũng không chấp trước trong, cũng không chấp trước ngoài, Ngài thấu rõ tất cả cảnh giới đều không tịch, cho nên chẳng sinh bất cứ vọng tưởng gì.

Đây giống như Viên Liễu Phàm, Viên Liễu Phàm sinh ra, người cha cho cậu ta đi học, sau đó lại kêu cậu ta học ngành y, nói ngành y có thể cứu đời, còn có thể cứu người. Học y khoa rồi, có lần đến gặp người họ Khổng, người này có râu tóc trắng dài, dung mạo uy nhiên, ông ta nói với Viên Liễu Phàm rằng : « Cậu có thể là người đi học, cậu hiện tại làm gì ? » Viên Liễu Phàm nói học y khoa, vì có thể cứu đời cứu người, lại có thể dưỡng sinh mạng của mình, là một nghề rất tốt. Ông lão họ Khổng nói : « Cậu vào tháng đó, năm đó, sẽ thi đậu tú tài, danh thứ mười bốn, tháng đó, năm đó, sẽ thi đỗ cử nhân. Sau đó sẽ làm quan huyện, đến năm 54 tuổi, vào ngày 14 tháng 8 sẽ chết, đáng tiếc là chẳng có con cái ». Viên Liễu Phàm nghe rồi thì chẳng khởi vọng tưởng, ngược lại cho rằng tất cả đều do số mạng, do đó hằng ngày cứ để tự nhiên an bài, chẳng làm gì cả, thậm chí cũng chẳng suy nghĩ.

Ông già họ Khổng đoán rất là đúng, rất là linh nghiệm, do vậy mà anh ta chẳng sinh vọng tưởng. Về sau, Viên Liễu Phàm đến Tuyết Sơn Lầu ở Nam Kinh du ngoạn, và ngồi thiền với Thiền sư Vân Cốc ba ngày.

– Thiền sư Vân Cốc cảm thấy rất kỳ lạ nói : « Cậu là một người đặc biệt, từ trước tới nay chẳng có người nào ngồi thiền với ta ba ngày, mà không có vọng tưởng gì hết, một niệm không sinh, thật là một bậc đại trượng phu ».

Bèn hỏi Viên Liễu Phàm tại sao không khởi vọng tưởng, cậu ta bèn nói việc số mạng của mình như vậy, tất cả đều do vận mạng an bài.

Thiền sư Vân Cốc nói : – « Tôi cứ nghĩ rằng cậu là một người siêu nhân, đặc biệt hơn người khác, nguyên lai chỉ là một người phàm phu tục tử ».

Viên Liễu Phàm nghe nói mình là phàm phu tục tử, thì chẳng vui, bèn hỏi : – « Sao bây giờ Ngài lại nói tôi là người phàm phu tục tử ?»

Thiền sư Vân Cốc nói : – « Cậu bị mấy mươi năm số mạng làm khốn đốn, bị trói buộc không thoát ra được, đó chẳng phải phàm phu thì là gì ? »

Viên Liễu Phàm lại hỏi : – « Có thể thoát ra được kiếp số chăng ? »

Thiền sư Vân Cốc nói : – « Trong Kinh Dịch có nói : Người nào làm phước thì có phước, làm ác thì thiếu phước, lại có thể xu cát tị hung. Nếu không thể tránh được, thì điều cát tường sao có thể đến, điều hung dữ sao có thể tránh được ? »

Viên Liễu Phàm suy nghĩ nói : – Ừ ha, trong Kinh Dịch có nói về đoạn này ! Do đó cậu ta bèn minh bạch, liền phát nguyện làm nhiều việc thiện. Khi bắt đầu làm việc thiện thì những điều nói trước kia không còn linh nữa. Trước kia nói anh ta chẳng có con cái, nhưng sau này anh ta có hai người con. Bổn lai nói anh ta năm mươi tuổi thì chết, nhưng anh ta sống đến hơn tám mươi tuổi, cho nên số mạng không hoàn toàn đúng, chúng ta phải học cách tạo mạng.

Phật chẳng khởi vọng tưởng, cũng không chỗ nương, không chỗ làm, sở hành vô sự, chẳng trụ tại các tướng, chẳng còn tâm phân biệt. Bản tánh thanh tịnh không nhiễm, bỏ lìa tất cả sự nghĩ nhớ phan duyên. Chúng ta chúng sinh tại sao không thành đạo ? Niệm Phật cũng không tương ưng, ngồi thiền cũng không tương ưng, là vì có tất cả những nghĩ nhớ phan duyên. Lúc nghĩ nam triều, lúc nghĩ bắc quốc, lúc nghĩ đông, lúc nghĩ tây, bốn phía trên dưới, cho nên tu tất cả pháp cũng chẳng tương ưng. Phật đối với tất cả pháp thường không trái ngược, trụ nơi thật tế lý thể. Tại sao chúng ta không thể thành Phật ? Là vì dục niệm. Nếu đoạn dục được thì sẽ thanh tịnh. Dục tức là thứ nhiễm ô, đoạn dục thì sẽ được thanh tịnh. Chẳng còn nhiễm ô thì sẽ được thanh tịnh, tức là nhất chân pháp giới. Diễn nói vô cùng vô tận các pháp môn, lìa khỏi tất cả số lượng và chẳng phải số lượng. Hết thảy vọng tưởng đều là vô vi, vô vi cũng không còn nữa, thì gì cũng chẳng còn nữa, lời nói cũng chẳng còn nữa, do đó có câu :

« Đường lời nói đã bặc
Nơi tâm hành đã diệt ».

Đối với bất khả thuyết vô biên cảnh giới, Ngài đều đã thông đạt, cũng chẳng còn chướng ngại, cũng chẳng cùng tận. Trí huệ phương tiện diệu pháp, thành tựu mười lực. Tất cả công đức trang nghiêm thanh tịnh. Diễn nói đủ thứ vô lượng các pháp, đều hợp với thật tướng lý thể, chẳng trái với thật tướng.

 

Ư chư Pháp giới tam thế chư Pháp, tất đẳng vô dị, cứu cánh tự tại; nhập nhất thiết pháp tối thắng chi tạng, nhất thiết pháp môn chánh niệm bất hoặc, an trụ thập phương nhất thiết Phật sát nhi vô động chuyển; đắc bất đoạn trí, tri nhất thiết pháp cứu cánh vô dư, tận chư hữu lậu, tâm thiện giải thoát, tuệ thiện giải thoát, trụ ư thật tế, thông đạt vô ngại, tâm thường chánh định; ư tam thế Pháp cập dĩ nhất thiết chúng sanh tâm hành, nhất niệm liễu đạt, giai vô chướng ngại. Thị vi chư Phật đệ bát đại Na-la-diên tràng dũng kiện Pháp.

Nơi những pháp quá khứ vị lai hiện tại trong pháp giới đều bình đẳng không khác rốt ráo tự tại. Nhập tạng tối thắng của tất cả pháp. Với tất cả pháp môn chánh niệm chẳng lầm. An trụ mười phương tất cả cõi Phật mà không động chuyển. Ðược trí bất đoạn, biết tất cả pháp rốt ráo không sót. Hết những hữu lậu, tâm khéo giải thoát, huệ khéo giải thoát, trụ nơi thiệt tế thông đạt vô ngại, tâm thường chánh định. Nơi tam thế pháp và tâm hành của tất cả chúng sanh, khoảng một niệm liễu đạt tất cả đều không chướng ngại. Ðây là tràng đại kim cang dũng kiện pháp thứ tám của chư Phật.

Trong nhất chân pháp giới, quá khứ hiện tại vị lai, đều là một luật bình đẳng, chẳng có hai dạng. Rốt ráo tự tại, vào nơi tất cả pháp tạng tối thắng. Phật đối với tất cả pháp, đầy đủ chánh niệm, chẳng có mê hoặc. An trụ mười phương tất cả cõi Phật, thường thường ở trong định, được trí huệ không gián đoạn, lúc nào trí huệ cũng hiện tiền. Biết tất cả pháp rốt ráo không thừa sót. Hết tất cả các hữu lậu, chứng được vô lậu. Vô lậu là gì ? Tức là chẳng còn dục niệm, nhất là niệm dâm dục. Bạn còn niệm dâm dục thì còn lậu, bạn không còn niệm dâm dục, nhưng vẫn hành dâm thì đó càng là hữu lậu. Đây chẳng phải là gạt người, chỉ là tự gạt mình mà thôi. Muốn được vô lậu thì phải đoạn trừ dục niệm.

Trong tâm thường thường chẳng có phiền não, thì tức là tâm khéo giải thoát, huệ khéo giải thoát. Trí huệ thời thời hiện tiền, chẳng có mọi sự chấp trước, trụ nơi thật tế lý thể, thông đạt pháp môn vô ngại. Trong tâm thường thường ở trong định, nơi pháp ba đời, cùng với tâm hạnh của tất cả chúng sinh, ở trong một niệm hoàn toàn thấu rõ thông đạt, không có mọi sự chướng ngại. Đó là pháp tràng dũng kiện đại Na la diên thứ tám.

 

9. Phật tử! nhất thiết chư Phật đồng nhất Pháp thân, cảnh giới vô lượng thân, công đức vô biên thân, thế gian vô tận thân, tam giới bất nhiễm thân, tùy niệm thị hiện thân, phi thật phi hư bình đẳng thanh tịnh thân, vô lai vô khứ vô vi ất hoại thân, nhất tướng vô tướng Pháp tự tánh thân, vô xứ vô phương biến nhất thiết thân, Thần biến tự tại vô biên sắc tướng thân, chủng chủng thị hiện phổ nhập nhất thiết thân, diệu pháp phương tiện thân, Trí Tạng phổ chiếu thân, thị pháp bình đẳng thân, phổ biến pháp giới thân, vô động vô phân biệt phi hữu phi vô thường thanh tịnh thân, phi phương tiện phi bất phương tiện phi diệt phi bất diệt tùy sở ưng hóa nhất thiết chúng sanh chủng chủng tín giải nhi thị hiện thân, tùng nhất thiết công đức bảo sở sanh thân, cụ nhất thiết chư Phật Pháp chân như thân, bổn tánh tịch tĩnh Vô chướng ngại thân, thành tựu nhất thiết vô ngại Pháp thân, biến trụ nhất thiết thanh tịnh Pháp giới thân, phần hình phổ biến nhất thiết thế gian thân, vô phàn duyên vô thoái chuyển vĩnh giải thoát cụ nhất thiết trí phổ liễu đạt thân, thị vi chư Phật đệ cửu Đại Na-la-diên tràng dũng kiện Pháp.

Phật tử ! Tất cả chư Phật đồng một pháp thân, cảnh giới vô lượng thân, công đức vô biên thân, thế gian vô tận thân, tam giới bất nhiễm thân, tùy niệm thị hiện thân, chẳng thiệt chẳng hư bình đẳng thanh tịnh thân, không lai không khứ vô vi bất hoại thân, nhứt tướng vô tướng pháp tự tánh thân, không xứ không phương khắp tất cả thân, thần biến tự tại vô biên sắc tướng thân, các loại thị hiện vào khắp tất cả thân, diệu pháp phương tiện thân, trí tạng phổ chiếu thân, thị pháp bình đẳng thân, phổ biến pháp giới thân, không động không phân biệt, chẳng có chẳng không thường thanh tịnh thân, chẳng phương tiện chẳng không phương tiện, chẳng diệt chẳng không diệt, tùy theo những tín giải của tất cả chúng sanh đáng hóa độ mà thị hiện thân. Từ tất cả công đức mà sanh ra thân, đủ tất cả Phật pháp chơn như thân, bổn tánh tịch tịnh không chướng ngại thân, thành tựu tất cả vô ngại pháp thân, trụ khắp tất cả pháp giới thanh tịnh thân, phân hình cùng khắp tất cả thế gian thân, không phan duyên không thối chuyển trọn giải thoát đủ nhứt thiết trí rõ thấu khắp cả thân. Ðây là tràng đại kim cang dũng kiện pháp thứ chín của chư Phật.

Phật tử ! Tất cả chư Phật đồng một pháp thân. Pháp thân của Phật chỗ nào cũng có (vô tại vô bất tại). Lại biến hoá ra thân vô lượng cảnh giới. Thân công đức vô biên. Thân thế gian không cùng tận. Thân tam giới chẳng nhiễm ô. Thân tuỳ niệm thị hiện. Thân chẳng thật, chẳng hư, bình đẳng thanh tịnh. Thân không đến, không đi, vô vi bất hoại. Thân một tướng, vô tướng, pháp tự tánh. Thân không xứ, không phương, khắp tất cả. Thân thần biến tự tại vô biên sắc tướng. Thân thị hiện đủ thứ vào khắp tất cả. Thân diệu pháp phương tiện. Thân trí tạng chiếu khắp. Thân thị hiện pháp bình đẳng. Thân khắp cùng pháp giới. Thân không động, không phân biệt. Thân chẳng có, chẳng không, thường thanh tịnh. Thân chẳng phương tiện, chẳng không phương tiện, chẳng diệt, chẳng không diệt, tuỳ sự ứng hoá tất cả chúng sinh đủ thứ tin hiểu mà thị hiện. Thân từ tất cả công đức bảo sinh ra. Thân đủ tất cả các Phật pháp chân như. Thân bổn tánh tịch tĩnh không chướng ngại. Thân thành tựu tất cả pháp vô ngại. Thân trụ khắp tất cả pháp giới thanh tịnh. Thân phân hình khắp cùng tất cả thế gian. Thân không phan duyên, không thối chuyển, vĩnh viễn giải thoát, đủ nhất thiết trí thấu đạt khắp. Đó là pháp tràng dũng kiện đại Na la diên thứ chín của chư Phật.

 

10. Phật tử! nhất thiết chư Phật đẳng ngộ nhất thiết chư Như Lai Pháp, đẳng tu nhất thiết chư Bồ-tát hạnh; nhược nguyện nhược trí, thanh tịnh bình đẳng, do như đại hải, tất đắc mãn túc; hành lực tôn thắng, vị tằng thoái khiếp, trụ chư tam muội vô lượng cảnh giới, thị nhất thiết đạo, khuyến thiện giới ác; trí lực đệ nhất diễn Pháp vô úy, tùy hữu sở vấn tất năng thiện đáp, trí tuệ thuyết pháp bình đẳng thanh tịnh, thân, ngữ, ý hành tất giai vô tạp, trụ Phật sở trụ chư Phật chủng tánh, dĩ Phật trí tuệ nhi tác Phật sự; trụ nhất thiết trí, diễn vô lượng Pháp, vô hữu căn bản, vô hữu biên tế, thần thông trí tuệ bất khả tư nghị, nhất thiết thế gian vô năng giải liễu; trí tuệ thâm nhập, kiến nhất thiết pháp vi diệu quảng đại vô lượng vô biên, tam thế Pháp môn hàm thiện thông đạt, nhất thiết thế giới tất năng khai hiểu; dĩ xuất thế trí, ư chư thế gian tác bất khả thuyết chủng chủng Phật sự, thành bất thoái trí, nhập chư Phật số;

Phật tử ! Tất cả chư Phật đồng ngộ tất cả Như Lai pháp, đồng tu tất cả Bồ Tát hạnh, hoặc nguyện hoặc trí thanh tịnh bình đẳng, cũng như đại hải đều được đầy đủ, hành lực tôn thắng chưa từng thối kiếp, trụ nơi vô lượng cảnh giới của các tam muội, hiển thị tất cả đạo, khuyến thiện căn ác, trí lực đệ nhất, diễn pháp vô úy, tùy có ai hỏi đều khéo đáp, trí huệ thuyết pháp bình đẳng thanh tịnh, thân ngữ ý hành đều không tạp. Trụ nơi Phật chủng tánh của chư Phật đã trụ. Dùng trí huệ Phật mà làm Phật sự. Trụ nhứt thiết trí diễn vô lượng pháp, không có căn bổn, không có biên tế, thần thông trí tuệ bất tư nghì. Tất cả thế gian không ai hiểu được. Trí huệ thâm nhập thấy tất cả các pháp vi diệu quảng đại vô lượng vô biên, tam thế pháp môn điều khéo thông đạt, tất cả thế giới đều hay khai hiểu. Dùng trí xuất thế nơi các thế gian làm bất khả thuyết Phật sự. Thành trí bất thối vào số chư Phật.

Phật tử ! Tất cả chư Phật đồng ngộ pháp của tất cả các Như Lai nói, tất cả chư Phật đồng tu tất cả các Bồ Tát hạnh. Tất cả chư Phật thuở xưa đã phát nguyện, hoặc tu trí huệ, đều thanh tịnh bình đẳng, như biển cả, đều được viên mãn tất cả nguyện vọng. Hạnh lực tôn thắng không gì sánh bằng, chưa từng thối khiếp, vĩnh viễn dũng mãnh tinh tấn, thường thường trụ nơi tất cả tam muội, cảnh giới nhiều vô lượng vô biên. Mở bày tất cả đạo, khuyên chúng sinh làm lành, cấm chúng sinh làm ác. Sức trí huệ đệ nhất, diễn nói pháp không sợ hãi. Bất cứ ai có vấn đề, đều khéo trả lời. Dùng trí huệ thuyết pháp bình đẳng thanh tịnh, thân lời ý nghiệp, thuần thiện không nhiễm. Trụ ở thế giới của Phật ở, tất cả giống tánh chư Phật, dùng trí huệ Phật mà làm Phật sự. Trụ nhất thiết Phật trí, diễn nói vô lượng pháp môn, không có căn bổn, cũng không có bờ mé, đó là cảnh giới không thể nghĩ bàn, thần thông trí huệ không thể nghĩ bàn. Tất cả thế gian, không có ai thật hiểu rõ. Trí huệ vào sâu, thấy tất cả pháp, vi diệu rộng lớn, vô lượng vô biên. Pháp môn ba đời, đều khéo thông đạt vô ngại, đều khai mở hiểu biết tất cả thế giới, khiến cho tất cả chúng sinh đều minh bạch. Dùng trí xuất thế, ở tại thế gian làm bất khả thuyết đủ thứ Phật sự, thành trí huệ bất thối chuyển, vào số chư Phật, quyết định thành Phật.

 

Tuy dĩ chứng đắc bất khả ngôn thuyết ly văn tự Pháp, nhi năng khai thị chủng chủng ngôn từ; dĩ Phổ Hiền trí tập chư thiện hạnh, thành tựu nhất niệm tướng ứng diệu tuệ, ư nhất thiết Pháp tất năng giác liễu, như tiên sở niệm nhất thiết chúng sanh, giai y tự thừa nhi thí kỳ Pháp; nhất thiết chư pháp, nhất thiết thế giới, nhất thiết chúng sanh, nhất thiết tam thế, ư Pháp giới nội, như thị cảnh giới kỳ lượng vô biên, dĩ vô ngại trí tất năng tri kiến. Phật tử! nhất thiết chư Phật ư nhất niệm khoảnh, tùy sở ưng hóa xuất hưng ư thế, trụ thanh tịnh thổ, thành đẳng chánh giác, hiện thần thông lực, khai ngộ tam thế nhất thiết chúng sanh tâm, ý cập thức bất thất ư thời. Phật tử! chúng sanh vô biên, thế giới vô biên, Pháp giới vô biên, tam thế vô biên, chư Phật tối thắng diệc vô hữu biên, tất hiện ư trung thành đẳng chánh giác, dĩ Phật trí tuệ phương tiện khai ngộ vô hữu hưu tức.

Dầu đã chứng được pháp chẳng thể ngôn thuyết rời văn tự, mà hay khai thị các thứ ngôn từ. Dùng trí Phổ Hiền nhóm những hạnh lành. Thành tựu diệu huệ một niệm tương ưng, đều biết rõ được tất cả pháp. Tất cả chúng sanh như trước đã nhớ, điều y theo tự thừa để ban dạy pháp đó. Tất cả các pháp, tất cả thế giới, tất cả chúng sanh, tất cả tam thế, ở trong pháp giới cảnh giới như vậy có vô lượng vô biên, dùng trí vô ngại điều thấy biết được. Tất cả chư Phật trong một niệm, tùy chỗ đáng hóa độ mà xuất thế, ở cõi thanh tịnh thành Ðẳng Chánh Giác, hiện thần thông lực, khai ngộ tam thế tất cả chúng sanh, tâm ý và thức chẳng lỗi thời. Chúng sanh vô biên, thế giới vô biên, pháp giới vô biên, tam thế vô biên chư Phật tối thắng cũng vô biên điều hiện trong đó mà thành Chánh Giác, dùng Phật trí huệ phương tiện khai ngộ không thôi dứt.

Tuy đã chứng được pháp lìa văn tự không thể nói, tâm duyên tướng, mà hay dùng đủ thứ lời lẽ để khai thị. Dùng trí huệ Phổ Hiền, tích tập các hạnh lành, thành tựu một niệm, tương ưng diệu huệ, đối với tất cả pháp đều giác ngộ hiểu rõ.

Chúng ta tu hành là tu một niệm huệ tương ưng. Như Lai có thể vào những nghĩ nhớ thuở xưa của tất cả chúng sinh, y chiếu pháp môn đáng được độ của mỗi chúng sinh, để nói pháp cho họ nghe. Tất cả các pháp, tất cả thế giới, tất cả chúng sinh, ở trong pháp giới tất cả ba đời, cảnh giới như vậy, số lượng vô biên, dùng trí vô ngại đều thấy biết được.

Các vị Phật tử ! Tất cả chư Phật, trong khoảng một niệm, quán căn cơ vì người nói pháp, tuỳ theo sự ứng hoá, mà xuất hiện ra đời. Ở cõi thanh tịnh, thành Dẳng Chánh Giác, hiện sức thần thông, khai ngộ ba đời, tâm ý và thức của tất cả chúng sinh ba đời, mà chẳng thất thời.

Các vị Phật tử ! Chúng sinh vô biên, thế giới cũng vô biên, pháp giới cũng vô biên, ba đời đều vô biên, chư Phật tối thắng cũng không có bờ mé, đều hiện ở trong đó, thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Dùng trí huệ của Phật, phương tiện khai ngộ tất cả chúng sinh, không có khi nào ngừng nghỉ.

 

Phật tử! nhất thiết chư Phật dĩ thần thông lực, hiện tối diệu thân, trụ vô biên xứ, đại bi phương tiện, tâm vô chướng ngại, ư nhất thiết thời thường vi chúng sanh diễn thuyết diệu pháp. Thị vi chư Phật đệ thập Đại Na-la-diên tràng dũng kiện Pháp.

Phật tử ! Tất cả chư Phật dùng thần thông lực hiện tối diệu thân, trụ vô biên xứ, đại bi phương tiện tâm không chướng ngại, trong tất cả thời gian thường vì chúng sanh thuyết pháp không thôi dứt. Ðây là tràng đại kim cang dũng kiện pháp thứ mười của chư Phật.

Các vị Phật tử ! Tất cả chư Phật dùng sức thần thông, hiện pháp thân đẹp nhất, trụ vô biên xứ, dùng đại bi nhổ sạch khổ của chúng sinh, dùng phương tiện khéo léo để cứu độ chúng sinh, trong tâm không có chướng ngại. Nơi tất cả thời, thường vì chúng sinh diễn nói đủ thứ diệu pháp. Đó là pháp tràng đại Na la diên thứ mười của chư Phật.

Chúng ta phải biết, có thân thể thì có rất nhiều phiền não, có đủ thứ bệnh tật, lại sợ đói khát. Nếu dụng công tu hành cho tốt, chấm dứt sinh tử, thì sẽ không còn những vấn đề này nữa.

 

Phật tử! thử nhất thiết chư Phật Đại Na-la-diên tràng dũng kiện Pháp vô lượng vô biên, bất khả tư nghị, khứ, lai, hiện tại nhất thiết chúng sanh cập dĩ nhị thừa bất năng giải liễu, duy trừ Như Lai thần lực sở gia.

Phật tử ! Tràng đại kim cang dũng kiện pháp của tất cả chư Phật vô lượng vô biên bất tư nghì. Tất cả chúng sanh và hàng nhị thừa không hiểu biết được. Chỉ trừ người được Ðức Như Lai dùng thần lực gia hộ.

Bồ Tát Liên Hoa Tạng lại gọi một tiếng Phật tử ! Các vị biết chăng ! Những pháp tràng dũng kiện đại Na la diên đó của tất cả chư Phật, vô lượng vô biên, không thể nghĩ bàn. Bất cứ, tất cả cả chúng sinh quá khứ hiện tại vị lai, và hàng nhị thừa Thanh Văn, Duyên Giác, không cách chi hiểu rõ được, chỉ trừ Phật dùng thần lực để gia bị cho họ, thì họ mới biết được. Nếu không được Phật gia bị, thì bất cứ làm như thế nào cũng không hiểu rõ được.

========================================

Phật tử! chư Phật Thế tôn hữu thập chủng quyết định pháp. Hà đẳng vi thập? sở vị:

Phật tử ! Chư Phật Thế Tôn có mười pháp quyết định. Những gì là mười? Đó là:

Bồ Tát Liên Hoa Tạng lại gọi một tiếng Phật tử ! Mười phương ba đời tất cả chư Phật Thế Tôn, lại có mười pháp quyết định, đây cũng rất là quan trọng. Những gì là mười pháp quyết định ? Đó là :

 

1.    Nhất thiết chư Phật định tùng Đâu Suất thọ tận hạ sanh;

Những là tất cả chư Phật quyết định từ Trời Ðâu Suất thọ mãn hạ sanh.

Tất cả chư Phật nhất định từ cung trời Đâu Suất bổ xứ Phật vị, tại cung trời Đâu Suất hưởng hết phước trời, sẽ hạ sinh xuống nhân gian, cho nên nói thọ mạng hết hạ sinh.

 

2.    Nhất thiết chư Phật định thị thọ sanh, xứ thai thập nguyệt

Tất cả chư Phật quyết định thị hiện thọ sanh ở thai mười tháng.

Tất cả chư Phật từ cung trời Đâu Suất hạ sinh xuống nhân gian, cũng nhất định thọ sinh nơi thai mẹ mười tháng.

 

3.    Nhất thiết chư Phật định yếm thế tục, lạc cầu xuất gia

Tất cả chư Phật quyết định nhàm chán thế tục thích cầu xuất gia.

Tất cả chư Phật nhất định nhàm chán vui thế tục, muốn cầu xuất gia, thoát khỏi nhà ba cõi.

 

4.    Nhất thiết chư Phật quyết định tọa ư Bồ-đề thụ hạ thành đẳng chánh giác, ngộ chư Phật Pháp

Tất cả chư Phật quyết định ngồi dưới cây Bồ Ðề ngộ các Phật pháp thành Ðẳng Chánh Giác.

Tất cả chư Phật đều phải ngồi dưới cội bồ đề, thành tựu Phật quả, khai ngộ tất cả Phật pháp.

 

5.    Nhất thiết chư Phật định ư nhất niệm ngộ nhất thiết pháp, nhất thiết thế giới thị hiện thần lực

Tất cả chư Phật quyết định trong một niệm ngộ tất cả pháp, tất cả thế giới thị hiện thần lực.

Tất cả chư Phật nhất định trong khoảng một niệm, thấu rõ tất cả pháp, thị hiện thần lực nơi tất cả thế giới.

 

6.    Nhất thiết chư Phật định năng ưng thời chuyển diệu pháp luân

Tất cả chư Phật quyết định hay ứng thời chuyển diệu pháp luân.

Tất cả chư Phật nhất định đúng thời chuyển bánh xe pháp, chẳng trước, cũng chẳng sau, vừa đúng thời để chuyển bánh xe pháp, vì chúng sinh nói pháp.

 

7.    Nhất thiết chư Phật định năng tùy bỉ sở chủng thiện căn, ưng thời thuyết Pháp nhi vi thọ kí

Tất cả chư Phật quyết định hay tùy kia đã gieo căn lành ứng thời thuyết pháp để thọ ký cho họ.

Tất cả chư Phật nhất định tuỳ chúng sinh gieo trồng căn lành, đúng thời nói pháp, để vì họ nói pháp, lại vì họ thọ ký.

 

8.    Nhất thiết chư Phật định năng ưng thời vi tác Phật sự

Tất cả chư Phật quyết định hay ứng thời vì họ mà làm Phật sự.

Tất cả chư Phật nhất định đúng thời vì chúng sinh làm Phật sự.

 

9.    Nhất thiết chư Phật định năng vi chư thành tựu Bồ Tát nhi thọ kí biệt

Tất cả chư Phật quyết định hay vì chư Bồ Tát đã thành tựu mà thọ ký.

Tất cả chư Phật nhất định vì các Bồ Tát đã thành tựu, mà thọ ký biệt hiệu. Thọ Ký nói bạn khi nào sẽ thành Phật, Phật hiệu là gì, thọ mạng bao lâu, cõi nước đó tên gì.

 

10. Nhất thiết chư Phật định năng nhất niệm phổ đáp nhất thiết chúng sanh sở vấn

Tất cả chư Phật quyết định hay một niệm đáp khắp lời hỏi của tất cả chúng sanh.

Tất cả chư Phật nhất định trong khoảng một niệm, trả lời khắp hết những câu hỏi của tất cả chúng sinh.

 

Thị vi thập.

Đó là mười

========================================

Phật tử! chư Phật Thế tôn hữu thập chủng tốc tật Pháp. Hà đẳng vi thập? sở vị:

Phật tử ! Chư Phật Thế Tôn có mười pháp tốc tật. Những gì là mười? Đó là:

Bồ Tát Liên Hoa Tạng lại gọi một tiếng Phật tử ! Chư Phật Thế Tôn lại có mười pháp mau chóng. Những gì là mười ? Đó là :

 

1.    Nhất thiết chư Phật nhược hữu kiến giả, tốc đắc viễn ly nhất thiết ác thú

Một là tất cả chư Phật, nếu có người thấy Phật, thời mau được xa lìa tất cả ác thú.

Tất cả chư Phật, nếu có chúng sinh thấy được các Ngài, thì mau chóng được xa lìa ba đường ác.

 

2.    Nhất thiết chư Phật nhược hữu kiến giả, tốc đắc viên mãn thù thắng công đức

Hai là tất cả chư Phật, nếu có người thấy Phật thời mau được viên mãn công đức thù thắng.

Tất cả chư Phật, nếu có chúng sinh thấy được, thì mau chóng được viên mãn công đức thù thắng không thể nghĩ bàn.

 

3.    Nhất thiết chư Phật nhược hữu kiến giả, tốc năng thành tựu quảng đại thiện căn

Ba là tất cả chư Phật, nếu có người thấy Phật, thời mau được thành tựu thiện căn quảng đại.

Tất cả chư Phật, nếu ai thấy được, thì mau chóng được thành tựu căn lành rộng lớn.

 

4.    Nhất thiết chư Phật nhược hữu kiến giả, tốc đắc vãng sanh tịnh diệu Thiên thượng

Bốn là tất cả chư Phật, nếu có người thấy Phật, thời mau được sanh lên trời tịnh diệu.

Tất cả chư Phật, nếu ai thấy được, thì mau chóng được vãng sinh cõi trời thanh tịnh vi diệu.

 

5.    Nhất thiết chư Phật nhược hữu kiến giả, tốc năng trừ đoạn nhất thiết nghi hoặc

Năm là tất cả chư Phật, nếu có người thấy Phật, thời mau trừ dứt được tất cả nghi lầm.

Tất cả chư Phật, nếu ai thấy được, thì mau chóng được dứt trừ tất cả nghi hoặc.

 

6.    Nhất thiết chư Phật nhược dĩ phát Bồ-đề tâm nhi đắc kiến giả, ốc đắc thành tựu quảng đại tín giải vĩnh Bất-thoái-chuyển, ăng tùy sở ưng giáo hóa chúng sanh, nhược vị phát tâm tức năng tốc phát a nậu đa la tam miệu tam Bồ-Đề tâm

Sáu là tất cả chư Phật, nếu có người đã phát Bồ Ðề tâm mà được thấy Phật, thời mau được thành tựu tín giải quãng đại vĩnh viễn không thối chuyển, có thể tùy chỗ đáng độ mà giáo hóa chúng sanh. Nếu người chưa phát tâm Bồ Ðề mà được thấy Phật thời mau phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Giác.

Tất cả chư Phật, nếu người đã phát bồ đề tâm mà thấy được, thì mau được thành tựu tin hiểu rộng lớn, vĩnh viễn không thối chuyển, tuỳ căn cơ mà giáo hoá chúng sinh. Nếu người chưa phát tâm, liền mau chóng phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.

 

7. Nhất thiết chư Phật nhược vị nhập chánh vị nhi đắc kiến giả, tốc nhập chánh vị

Bảy là tất cả chư Phật, nếu người chưa nhập chánh vị mà được thấy Phật thời mau nhập chánh vị.

Tất cả chư Phật, nếu có chúng sinh chưa đắc được Bồ Tát, hoặc Thanh Văn Duyên Giác Thánh vị, thì mau chóng chứng được quả vị Thanh Văn Duyên Giác Bồ Tát.

 

8. Nhất thiết chư Phật nhược hữu kiến giả, tốc năng thanh tịnh thế, xuất thế gian nhất thiết chư căn

Tám là tất cả chư Phật, nếu ai được thấy Phật, thời mau được thanh tịnh tất cá các căn thế gian và xuất thế gian.

Tất cả chư Phật, nếu ai thấy được, thì mau chóng được tất cả các căn thanh tịnh thế gian xuất thế gian.

 

9. Nhất thiết chư Phật nhược hữu kiến giả, tốc đắc trừ diệt nhất thiết chướng ngại

Chín là tất cả chư Phật, nếu có ai được thấy Phật, thời mau diệt trừ được tất cả chướng ngại.

Tất cả chư Phật, nếu ai thấy được, thì mau chóng diệt trừ tất cả chướng ngại.

 

10. Nhất thiết chư Phật nhược hữu kiến giả, tốc năng hoạch đắc vô úy biện tài.

Mười là tất cả chư Phật, nếu có người được thấy Phật, thời mau được vô úy biện tài.

Tất cả chư Phật, nếu ai thấy được, thì mau chóng đắc được biện tài không sợ hãi

 

Thị vi thập.

Đó là mười

========================================

Phật tử! chư Phật Thế tôn hữu thập chủng ưng thường ức niệm thanh tịnh Pháp. Hà đẳng vi thập? sở vị:

Phật tử ! Chư Phật Thế Tôn có mười điều phải thường ghi nhớ pháp thanh tịnh. Những gì là mười? Đó là:

Phật tử ! Chư Phật Thế Tôn lại có mười pháp thanh tịnh phải thường nghĩ nhớ. Những gì là mười ? Đó là :

 

1. Nhất thiết chư Phật quá khứ nhân duyên, nhất thiết Bồ Tát ưng thường ức niệm

Một là tất cả chư Phật về nhơn duyên quá khứ, tất cả Bồ Tát phải thường ghi nhớ.

Nhân duyên quá khứ của tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát phải thường nghĩ nhớ. Một vị Phật nào đó, quá khứ có nhân duyên gì mà thành Phật, vị Phật nào đó, quá khứ tu pháp môn gì mà thành Phật, Bồ Tát phải thường thường nghĩ nhớ.

 

2. Nhất thiết chư Phật thanh tịnh thắng hạnh, nhất thiết Bồ Tát ưng thường ức niệm

Hai là tất cả chư Phật hạnh thanh tịnh thù thắng tất cả Bồ Tát phải thường ghi nhớ.

Tất cả chư Phật tu hạnh thanh tịnh thù thắng, tất cả Bồ Tát cũng phải thường nghĩ nhớ.

 

3. Nhất thiết chư Phật mãn túc chư độ, nhất thiết Bồ Tát ưng thường ức niệm

Ba là tất cả chư Phật đầy đủ các Ba La mật, tất cả Bồ Tát phải thường ghi nhớ.

Tất cả chư Phật viên mãn các độ, tức là mười độ : Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ, phương tiện, nguyện, lực, trí, tất cả Bồ Tát cũng phải thường nghĩ nhớ mười pháp Ba la mật.

 

4. Nhất thiết chư Phật thành tựu đại nguyện, nhất thiết Bồ Tát ưng thường ức niệm

Bốn là tất cả chư Phật thành tựu đại nguyện, tất cả Bồ Tát phải thường ghi nhớ.

Tất cả chư Phật thành tựu đại nguyện đã phát ra trong quá khứ, tất cả Bồ Tát phải thường nghĩ nhớ.

 

5. Nhất thiết chư Phật tích tập thiện căn, nhất thiết Bồ Tát ưng thường ức niệm

Năm là tất cả chư Phật chứa nhóm thiện căn, tất cả Bồ Tát phải thường ghi nhớ.

Tất cả chư Phật tích tập đủ thứ căn lành, tất cả Bồ Tát cũng phải thường nghĩ nhớ.

 

6. Nhất thiết chư Phật dĩ cụ phạm hạnh, nhất thiết Bồ Tát ưng thường ức niệm

Sáu là tất cả chư Phật đã đủ phạm hạnh, tất cả Bồ Tát phải thường ghi nhớ.

Tất cả chư Phật đã đầy đủ phạm hạnh thanh tịnh, tất cả Bồ Tát cũng phải thường nghĩ nhớ.

 

7. Nhất thiết chư Phật hiện thành chánh giác, nhất thiết Bồ Tát ưng thường ức niệm

Bảy là tất cả chư Phật hiện thành Chánh giác, tất cả Bồ Tát phải thường ghi nhớ.

Tất cả chư Phật hiện thành Chánh Giác, tất cả Bồ Tát phải thường nghĩ nhớ.

Tại sao tất cả Bồ Tát phải thường nghĩ nhớ tất cả chư Phật ? Vì Bồ Tát học Phật, Phật từ con đường nào tu thành Phật, thì mình cũng phải từ con đường đó tu để thành Phật. Cho nên Bồ Tát phải thường nghĩ nhớ tất cả hành vi, tất cả cảnh giới, tất cả sự tu hành, của chư Phật.

 

8. Nhất thiết chư Phật sắc thân vô lượng, nhất thiết Bồ Tát ưng thường ức niệm

Tám là tất cả chư Phật sắc thân vô lượng, tất cả Bồ Tát phải thường ghi nhớ.

Tất cả chư Phật sắc thân vô lượng, phân thân vô số, đến thế giới khác thành Phật, tất cả Bồ Tát phải thường nghĩ nhớ.

 

9. Nhất thiết chư Phật thần thông vô lượng, nhất thiết Bồ Tát ưng thường ức niệm

Chín là tất cả chư Phật thần thông vô lượng, tất cả Bồ Tát phải thường ghi nhớ.

Tất cả chư Phật thần thông vô lượng vô biên, vô cùng vô tận, tất cả Bồ Tát phải thường nghĩ nhớ.

 

10. Nhất thiết chư Phật thập lực vô úy, nhất thiết Bồ Tát ưng thường ức niệm.

Mười là tất cả chư Phật Thập lực, Tứ vô úy, tất cả Bồ Tát phải thường ghi nhớ.

Tất cả chư Phật có mười lực, bốn điều không sợ hãi, tất cả Bồ Tát phải thường nghĩ nhớ.

 

Thị vi thập.

Đó là mười

Đó là mười pháp thanh tịnh phải thường nghĩ nhớ.

========================================

Phật tử! chư Phật Thế tôn hữu thập chủng nhất thiết trí trụ. Hà đẳng vi thập? sở vị:

Phật tử ! Chư Phật Thế Tôn có mười điều trụ nơi nhứt thiết trí. Những gì là mười? Đó là:

Bồ Tát Liên Hoa Tạng lại gọi một tiếng Phật tử ! Tất cả chư Phật có mười thứ trụ nhất thiết trí. Những gì là mười ? Đó là :

 

1. Nhất thiết chư Phật ư nhất niệm trung, tất tri tam thế nhất thiết chúng sanh tâm, tâm sở hành

Một là tất cả chư Phật ở trong một niệm đều biết tam thế tất cả chúng sanh tâm và tâm sở hành.

Tất cả chư Phật, ở trong một niệm, đều biết trong tâm tưởng nghĩ, trong tâm sở hành, của tất cả chúng sinh ba đời, chư Phật chỉ đang ở đó thoáng nghĩ liền biết được.

 

2. Nhất thiết chư Phật ư nhất niệm trung, tất tri tam thế nhất thiết chúng sanh sở tập chư nghiệp cập nghiệp quả báo

Hai là tất cả chư Phật ở trong một niệm đều biết tam thế tất cả chúng sanh chứa nhóm các nghiệp và nghiệp quả báo.

Tất cả chư Phật, ở trong một niệm, đều biết tích tập các nghiệp và nghiệp quả báo tương lai sẽ thọ quả báo gì, của tất cả chúng sinh ba đời.

 

3. Nhất thiết chư Phật ư nhất niệm trung, tất tri nhất thiết chúng sanh sở nghi, dĩ tam chủng luân giáo hóa điều phục

Ba là tất cả chư Phật ở trong một niệm đều biết tất cả chúng sanh tùy sở nghi mà dùng tam luân giáo hóa điều phục.

Tất cả chư Phật, ở trong một niệm, đều biết tất cả chúng sinh, nên dùng phương pháp gì để độ họ, dùng thân miệng ý ba thứ luân này, để giáo hoá điều phục tất cả chúng sinh.

 

4. Nhất thiết chư Phật ư nhất niệm trung, tận tri Pháp giới nhất thiết chúng sanh sở hữu tâm tướng, ư nhất thiết xứ phổ hiện Phật hưng, lệnh kỳ đắc kiến, phương tiện nhiếp thọ

Bốn là tất cả chư Phật ở trong một niệm biết hết pháp giới tất cả chúng sanh chỗ có tâm tướng, ở tất cả xứ khắp hiện Phật xuất thế, khiến họ đều được phương tiện nhiếp thọ.

Tất cả chư Phật, ở trong một niệm, biết hết pháp giới, hết thảy tâm tướng của tất cả chúng sinh nghĩ gì, tất cả tâm niệm Ngài đều biết. Mỗi một nơi, Phật đều xuất hiện ra đời, khiến cho chúng sinh thấy được, dùng đủ thứ pháp môn phương tiện, để nhiếp thọ tất cả chúng sinh.

 

5. Nhất thiết chư Phật ư nhất niệm trung, phổ tùy pháp giới nhất thiết chúng sanh tâm lạc dục giải, thị hiện thuyết Pháp, lệnh kỳ điều phục

Năm là tất cả chư Phật ở trong một niệm tùy khắp tâm nhạo dục giải của tất cả chúng sanh trong pháp giới mà thị hiện thuyết pháp cho họ điều phục.

Tất cả chư Phật, ở trong một niệm, khắp tuỳ tâm ưa muốn hiểu biết của tất cả chúng sinh pháp giới, mà thị hiện vì họ thuyết pháp, khiến cho họ được điều phục.

 

6. Nhất thiết chư Phật ư nhất niệm trung, tất tri Pháp giới nhất thiết chúng sanh tâm chi sở lạc, vi hiện thần lực

Sáu là tất cả chư Phật ở trong một niệm đều biết tâm sở thích của tất cả chúng sanh trong pháp giới mà vì hiện thần lực.

Tất cả chư Phật, ở trong một niệm, đều biết tâm ưa thích của tất cả chúng sinh pháp giới, vì họ hiện thần lực.

 

7. Nhất thiết chư Phật ư nhất niệm trung, biến nhất thiết xứ, tùy sở ưng hóa nhất thiết chúng sanh thị hiện xuất hưng, vi thuyết Phật thân bất khả thủ trước

Bảy là tất cả chư Phật ở trong một niệm khắp tất cả chỗ tùy theo tất cả chúng sanh đáng được hóa độ mà thị hiện xuất thế, vì họ nói thân Phật chẳng nên thủ trước.

Tất cả chư Phật, ở trong một niệm, đi đến khắp cùng tất cả mọi nơi, tuỳ cơ ứng hoá tất cả chúng sinh, ở trong tất cả chúng sinh thị hiện ra đời, vì họ nói thân Phật không thể dùng tướng chấp lấy.

 

8. Nhất thiết chư Phật ư nhất niệm trung, phổ chí Pháp giới nhất thiết xứ nhất thiết chúng sanh bỉ bỉ chư đạo

Tám là tất cả chư Phật ở trong một niệm đến khắp pháp giới tất cả chỗ, tất cả chúng sanh, tất cả lục đạo.

Tất cả chư Phật, ở trong một niệm, đến khắp pháp giới tất cả mọi nơi, mỗi sự tu của tất cả chúng sinh, hoặc tất cả các đạo tu hành.

 

9. Nhất thiết chư Phật ư nhất niệm trung, tùy chư chúng sanh hữu ức niệm giả, tại tại xứ xứ vô bất vãng ưng

Chín là tất cả chư Phật ở trong một niệm tùy các chúng sanh có ai nhớ tưởng, không chỗ nào là Phật không đến ứng.

Tất cả chư Phật, ở trong một niệm, tuỳ sự nghĩ nhớ niệm Phật của các chúng sinh, thì Phật đi đến đó để giáo hoá họ.

 

10. Nhất thiết chư Phật ư nhất niệm trung, tất tri nhất thiết chúng sanh giải dục, vi kỳ thị hiện vô lượng sắc tướng.

Mười là tất cả chư Phật ở trong một niệm đều biết chỗ hiểu và chí muốn của tất cả chúng sanh mà vì họ thị hiện vô lượng sắc thân.

Tất cả chư Phật, ở trong một niệm, đều biết sự hiểu biết tất cả sự ưa muốn của tất cả chúng sinh, họ muốn làm gì thì Phật đều biết. Sự ưa muốn của chúng ta chúng sinh là gì ? Chúng ta hãy tự mình nghĩ xem, ưa muốn của mình là gì ? Ưa muốn của họ là gì ? Mọi người đều có vấn đề gần giống nhau. Phật vì chúng sinh thị hiện vô lượng sắc tướng, đủ thứ sắc tướng tốt đẹp, xấu xí.

 

Thị vi thập.

Đó là mười

Đó là mười pháp môn trụ trí huệ của Phật.

========================================

Phật tử! chư Phật Thế tôn hữu thập chủng vô lượng bất khả tư nghị Phật tam muội. Hà đẳng vi thập? sở vị:

Phật tử ! Chư Phật Thế Tôn có mười Phật tam muội vô lượng bất tư nghì. Những gì là mười? Đó là:

Bồ Tát Liên Hoa Tạng lại gọi một tiếng Phật tử ! Chư Phật Thế Tôn có mười thứ pháp môn Phật tam muội vô lượng không thể nghĩ bàn. Những gì là mười ? Đó là :

 

1. Nhất thiết chư Phật hằng tại chánh định, ư nhất niệm trung biến nhất thiết xứ, phổ vi chúng sanh quảng thuyết diệu pháp

Một là tất cả chư Phật hằng tại chánh định ở trong một niệm khắp tất cả chỗ vì khắp chúng sanh mà nói rộng diệu pháp.

Tất cả chư Phật luôn ở trong chánh định, trong khoảng một niệm, khắp tất cả mọi nơi, khắp vì hết thảy chúng sinh rộng nói diệu pháp.

 

2. Nhất thiết chư Phật hằng tại chánh định, ư nhất niệm trung biến nhất thiết xứ, phổ vi chúng sanh thuyết vô ngã tế

Hai là tất cả chư Phật hằng tại chánh định, ở trong một niệm khắp tất cả chỗ vì các chúng sanh mà nói vô ngã tế.

Tất cả chư Phật luôn ở trong chánh định, trong khoảng một niệm, khắp tất cả mọi nơi, khắp vì chúng sinh nói vô ngã tế. Chẳng có cái ta, cũng chẳng có chấp cái ta, tất cả  đều không chấp trước.

 

3. Nhất thiết chư Phật hằng trụ chánh định, ư nhất niệm trung biến nhất thiết xứ, phổ nhập tam thế

Ba là tất cả chư Phật hằng tại chánh định, ở trong một niệm khắp tất cả chỗ vào suốt tam thế.

Tất cả chư Phật lúc nào cũng ở trong tam muội, chuyển đại pháp luân, giáo hoá chúng sinh, làm tất cả Phật sự. Lại ở trong khoảng thời gian một niệm, đến tất cả mười phương số hạt bụi cõi Phật, để giáo hoá chúng sinh, lại vào khắp cùng quá khứ hiện tại vị lai ba đời.

 

4. Nhất thiết chư Phật hằng tại chánh định, ư nhất niệm trung biến nhất thiết xứ, phổ nhập thập phương quảng đại Phật sát

Bốn là tất cả chư Phật hằng tại chánh định, ở trong một niệm khắp tất cả chỗ vào khắp mười phương Phật độ quảng đại.

Tất cả chư Phật luôn ở trong chánh định, cũng trong khoảng một niệm, khắp tất cả mọi nơi, vào khắp mười phương cõi Phật rộng lớn.

 

5. Nhất thiết chư Phật hằng tại chánh định, ư nhất niệm trung biến nhất thiết xứ, phổ hiện vô lượng chủng chủng Phật thân;

Năm là tất cả chư Phật hằng tại chánh định, ở trong một niệm khắp tất cả chỗ hiện khắp vô lượng Phật thân.

Tất cả chư Phật luôn ở trong chánh định, trong khoảng một niệm, khắp tất cả mọi nơi, hiện khắp vô lượng đủ thứ thân Phật.

 

6. Nhất thiết chư Phật hằng tại chánh định, ư nhất niệm trung biến nhất thiết xứ, tùy chư chúng sanh chủng chủng tâm giải hiện thân, ngữ, ý

Sáu là tất cả chư Phật hằng tại chánh định, ở trong một niệm khắp tất cả chỗ tùy những tâm giải của các chúng sanh mà hiện thân ngữ ý.

Tất cả chư Phật luôn ở trong chánh định, trong khoảng một niệm, khắp tất cả mọi nơi, tuỳ các chúng sinh đủ thứ tâm hiểu biết, hiện thân Phật, hiện lời Phật, hiện ý Phật, để vì chúng sinh nói pháp.

 

7. Nhất thiết chư Phật hằng tại chánh định, ư nhất niệm trung biến nhất thiết xứ, thuyết nhất thiết pháp ly dục chân tế

Bảy là tất cả chư Phật hằng tại chánh định, ở trong một niệm khắp tất cả chỗ nói chơn tế ly dục của tất cả pháp.

Tất cả chư Phật luôn ở trong chánh định, trong khoảng một niệm, khắp tất cả mọi nơi, nói tất cả pháp lìa khỏi dâm dục, tình dục ái dục, lìa khỏi tất cả dục, liền được thanh tịnh chân tế; nếu không lìa dục tức là cảnh giới nhiễm ô, hư vọng. Lìa dục tức là cảnh giới chân thật.

 

8. Nhất thiết chư Phật hằng trụ chánh định, ư nhất niệm trung biến nhất thiết xứ, diễn thuyết nhất thiết duyên khởi tự tánh

Tám là tất cả chư Phật hằng tại chánh định, ở trong một niệm khắp tất cả chỗ diễn thuyết tất cả duyên khởi tự tánh.

Tất cả chư Phật luôn ở trong chánh định, trong khoảng một niệm, khắp tất cả mọi nơi, diễn nói tất cả pháp từ nhân duyên sinh, do đó :

“Các pháp do nhân duyên sinh
Các pháp do nhân duyên diệt
Ngã Phật đại Sa Môn
Thường hay nói như vậy”.

Bổn lai duyên khởi chẳng có tự tánh, vì duyên khởi là do hư vọng mà sinh, hư vọng mà diệt, do đó tự tánh duyên khởi, tức là truy tìm chỗ thật tại của nó, thì chẳng có thật tại, cho nên tự tánh duyên khởi vốn là không.

 

9. Nhất thiết chư Phật hằng trụ chánh định, ư nhất niệm trung biến nhất thiết xứ, thị hiện vô lượng thế, xuất thế gian quảng đại trang nghiêm, lệnh chư chúng sanh thường đắc kiến Phật

Chín là tất cả chư Phật hằng tại chánh định, ở trong một niệm khắp tất cả chỗ thị hiện vô lượng sự trang nghiêm quảng đại của thế gian và xuất thế gian, khiến các chúng sanh thường được thấy Phật.

Tất cả chư Phật luôn ở trong chánh định, trong khoảng một niệm, khắp tất cả mọi nơi, thị hiện vô lượng pháp trang nghiêm rộng lớn thế xuất thế gian, khiến cho các chúng sinh thường được thấy Phật.

 

10. Nhất thiết chư Phật hằng trụ chánh định, ư nhất niệm trung biến nhất thiết xứ, lệnh chư chúng sanh tất đắc thông đạt nhất thiết Phật Pháp, vô lượng giải thoát, cứu cánh đáo ư vô thượng bỉ ngạn.

Mười là tất cả chư Phật hằng tại chánh định, ở trong một niệm khắp tất cả chỗ khiến các chúng sanh đều được thông đạt tất cả Phật pháp vô lượng giải thoát, rốt ráo đến nơi bĩ ngạn vô thượng.

Tất cả chư Phật luôn ở trong chánh định, trong khoảng một niệm, khắp tất cả mọi nơi, khiến cho hết thảy chúng sinh đều được thông đạt tất cả Phật pháp, đắc được vô lượng giải thoát, rốt ráo đến nơi vô thượng bờ bên kia.

 

Thị vi thập.

Đó là mười

Đó là mười thứ pháp của Phật.

========================================

Phật tử! chư Phật Thế tôn hữu thập chủng vô ngại giải thoát. Hà đẳng vi thập? sở vị:

Phật tử ! Chư Phật Thế Tôn có mười vô ngại giải thoát. Những gì là mười? Đó là:

Bồ Tát Liên Hoa Tạng lại gọi một tiếng Phật tử! Chư Phật Thế Tôn lại có mười thứ vô ngại giải thoát. Những gì là mười? Đó là:

 

1. Nhất thiết chư Phật năng ư nhất trần hiện bất khả thuyết bất khả thuyết chư Phật xuất hưng ư thế

Một là tất cả chư Phật hay ở nơi một vi trần hiện bất khả thuyết bất khả thuyết chư Phật xuất thế.

Tất cả chư Phật ở trong một hạt bụi, hiện bất khả thuyết bất khả thuyết chư Phật xuất hiện ra đời.

 

2. Nhất thiết chư Phật năng ư nhất trần hiện bất khả thuyết bất khả thuyết chư Phật chuyển tịnh Pháp luân

Hai là tất cả chư Phật hay ở nơi một vi trần hiện bất khả thuyết bất khả thuyết chư Phật chuyển tịnh pháp luân.

Tất cả chư Phật ở trong một hạt bụi, hiện bất khả thuyết bất khả thuyết chư Phật chuyển bánh xe pháp thanh tịnh.

 

3. Nhất thiết chư Phật năng ư nhất trần hiện bất khả thuyết bất khả thuyết chúng sanh thọ hóa điều phục

Ba là tất cả chư Phật hay ở nơi một vi trần hiện bất khả thuyết bất khả thuyết chúng sanh được giáo hóa điều phục.

Tất cả chư Phật ở trong một hạt bụi, hiện bất khả thuyết bất khả thuyết chúng sinh thọ giáo hoá của chư Phật, mà được điều phục.

 

4. Nhất thiết chư Phật năng ư nhất trần hiện bất khả thuyết bất khả thuyết chư Phật quốc độ

Bốn là tất cả chư Phật hay ở nơi một vi trần hiện bất khả thuyết bất khả thuyết chư Phật quốc độ.

Tất cả chư Phật ở trong một hạt bụi, hiện bất khả thuyết bất khả thuyết cõi nước chư Phật.

 

5. Nhất thiết chư Phật năng ư nhất trần hiện bất khả thuyết bất khả thuyết Bồ Tát thọ kí

Năm là tất cả chư Phật hay ở nơi một vi trần hiện bất khả thuyết bất khả thuyết Bồ Tát thọ ký.

Tất cả chư Phật ở trong một hạt bụi, hiện bất khả thuyết bất khả thuyết Bồ Tát được thọ ký.

 

6. Nhất thiết chư Phật năng ư nhất trần hiện khứ, lai, kim nhất thiết chư Phật

Sáu là tất cả chư Phật hay ở nơi một vi trần hiện tam thế tất cả chư Phật.

Tất cả chư Phật ở trong một hạt bụi, hiện tất cả chư Phật quá khứ, hiện tại, và vị lai.

 

7. Nhất thiết chư Phật năng ư nhất trần hiện khứ, lai, kim chư thế giới chủng

Bảy là tất cả chư Phật hay ở nơi một vi trần hiện tam thế tất cả thế giới chủng.

Tất cả chư Phật ở trong một hạt bụi, hiện các loại thế giới quá khứ, hiện tại, và vị lai.

 

8. Nhất thiết chư Phật năng ư nhất trần hiện khứ, lai, kim nhất thiết thần thông

Tám là tất cả chư Phật hay ở nơi một vi trần hiện tam thế tất cả thần thông.

Tất cả chư Phật ở trong một hạt bụi, hiện tất cả thần thông quá khứ, hiện tại, và vị lai.

 

9. Nhất thiết chư Phật năng ư nhất trần hiện khứ, lai, kim nhất thiết chúng sanh

Chín là tất cả chư Phật hay ở nơi một vi trần hiện tam thế tất cả chúng sanh.

Tất cả chư Phật ở trong một hạt bụi, hiện tất cả chúng sinh quá khứ, hiện tại, và vị lai.

 

10. Nhất thiết chư Phật năng ư nhất trần hiện khứ, lai, kim nhất thiết Phật sự.

Mười là tất cả chư Phật hay ở nơi một vi trần hiện tam thế tất cả Phật sự.

Tất cả chư Phật ở trong một hạt bụi, hiện tất cả Phật sự của chư Phật làm trong quá khứ, hiện tại, và vị lai.

 

Thị vi thập.

Đó là mười

Đó là mười thứ vô ngại giải thoát.