Kinh Lăng Nghiêm – Giảng Giải – 8.2

KINH ĐẠI PHẬT ĐẢNH NHƯ LAI MẬT NHƠN
TU CHỨNG LIỄU NGHĨA
CHƯ BỒ TÁT VẠN HẠNH
THỦ LĂNG NGHIÊM

QUYỂN 8.2

— o0o —

TUYÊN HÓA THUỢNG NHÂN
giảng thuật

— o0o —

NGŨ THẬP NGŨ VỊ

A-nan! Thị Thiện nam tử, dục ái kiền khô, căn cảnh bất ngẫu. Hiện tiền tàn chất, bất phục tục sanh. Chấp tâm hư minh, thuần thị trí tuệ. Tuệ tánh minh viên, oánh thập phương giới. Kiền hữu kỳ tuệ, danh kiền tuệ địa.

A Nan, người tu hành khi ái dục khô khan, sáu căn không còn chạy theo sáu trần nhiễm trước, lúc bấy giờ chỉ có trí huệ khô khan, chưa thấm nhuần nước pháp của Phật. Ðây là địa vị đầu tiên tên Càn huê địa, lần lần tấn tu vào địa vị

Giảng: Đức Phật gọi, “Anan, những thiện tri thức này, khi ái tình và dục cảm bị khô héo và khô khan. ”Những thiện tri thức này là những vị đã trải qua ba giai đoạn, tam chủng tiệm thức, vừa được thảo luận. “Khô héo và khô” có nghĩa là không còn suy nghĩ về ham muốn tình cảm và tình yêu. Sáu căn không còn chạy theo sáu trần nhiễm trước. ” Sáu giác quan không còn nữa tìm kiếm để phù hợp với sáu trần cảnh. Vì vậy các thói quen không tiếp tục nảy sinh. Thói quen còn lại ám chỉ đến một chút thiếu hiểu biết, vô minh, mà những người này vẫn còn lưu giữ. Những chuyện vô minh đã bớt đi, nó không tiếp tục tăng trưởng.

Các chướng ngại và nghiệp cũng ít bớt đi. Vì vậy với trí tuệ lúc bây giờ, họ hiểu rằng những ý chấp trong tâm trí là sai. Tâm trí của họ trở nên sáng rõ như tánh không. Bản chất tự nhiên của họ cảm nhận được sự hoàn hảo của trí tuệ. “Hoàn toàn khôn ngoan” có nghĩa là họ không có bất kỳ sai lầm nào khác trong suy nghĩ. Những suy nghĩ trong tâm trí của họ đưa ra từ sự khôn ngoan. Ánh hòa quang từ tâm trí chiếu sáng khắp mười phương. Trí tuệ soi sáng tràn đầy. Ðây là địa vị đầu tiên tên Càn huê địa, được gọi là ‘giai đoạn khô khan trí tuệ’. Ái dục đã được khô cạn, tất cả những điều đó trái với trí huệ. Giai đoạn này của sự khôn ngoan khô cạn cũng được gọi là “Càn huê địa”. Địa có nghĩa là “không thể phá hủy.” Giai đoạn này là bước đầu tiên hướng vào địa vị

Tiếp sau đây sẽ thoả luận về 55 địa vị của bồ tát: Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Tứ Gia Hạnh, Thập Địa, Đẳng Giác, Diệu Giác

 

— o0o —

THẬP TÍN

  1. Tín tâm trụ: Dục tập sơ kiền, vị dữ Như Lai, Pháp lưu thủy tiếp. Tức dĩ thử tâm, trung trung lưu nhập. Viên diệu khai phu, tùng chân diệu viên. Trọng phát chân diệu, diệu tín thường trụ. Nhất thiết vọng tưởng, diệt tận vô dư. Trung đạo thuần chân, danh tín tâm trụ.

Tín tâm trụ – Tập khí tham dục mới cạn, chưa nối được dòng pháp của Như Lai, tức dùng tâm này chảy vào trung đạo, tánh viên diệu được mở mang, từ chỗ chơn diệu viên lại phát ra chơn diệu, diệu tín thường trụ, tất cả vọng tưởng đều dứt sạch, trung đạo thuần chơn, gọi là Tín Tâm Trụ.

Giảng: Mặc dù thói quen của ham muốn ái dục lúc ban đầu mới khô cạn, họ vẫn chưa nối được dòng pháp của Như Lai. Đây là “dòng chảy của Pháp sư ”không nói đến Pháp được thuyết. Đó là nước của Pháp tuôn chảy từ tự ngã. Nhưng vào thời điểm này trí tuệ tuy khai mở, nhưng chưa sáp nhập với dòng nước Pháp hay trí tuệ viên mãn

Sau đó, với tâm này chảy vào trung đạo, tánh viên diệu được mở mang. Tâm này đề cập đến tâm ở mức độ trí tuệ khô khan, tâm trí tuệ ban đầu. Họ sử dụng tâm trí này để đi vào dòng nước Pháp của Như Lai, và đạt đến trạng thái tánh viên diệu minh, trí tuệ khai mở. Hiểu được chân lý chân thật. Từ chân lý nguyên thủy, trí tuệ pháp ra chơn diệu. Sự hoàn hảo của chân thật. Sự tự nhiên, chân lý bên trong, chân thật bày rõ. Họ luôn luôn sống trong tín tâm, cho đến khi tất cả suy nghĩ sai lầm được loại bỏ hoàn toàn và con đường chân lý là chân thật. Tín tâm của họ ngày càng trở nên tinh tế hơn và chơn diệu. “Luôn luôn sống” có nghĩa là họ sẽ không dao động, họ sẽ không thay đổi tín tâm của họ. Tín tâm của họ là không đổi. Tại điểm đó, mọi suy nghĩ sai lệch biến mất. Thậm chí nếu họ muốn có những suy nghĩ sai lầm, những suy nghĩ sai lầm sẽ không nảy sinh. Đó là bởi vì những suy nghĩ sai lầm được giúp đỡ bởi sự thiếu hiểu biết, cới những suy nghĩ sai lầm đến ái dục và ham muốn. Nhưng bây giờ ái dục và mong muốn đã bị khô cạn và chỉ còn một chút vô minh. Vì vậy họ không có những suy nghĩ sai lầm.

Tại sao quý vị có suy nghĩ sai lầm? Đó là bởi vì quý vị vẫn có ái dục và tham. Có những thứ mà quý vị tham lam. Các tham muốn bắt buộc quý vị suy nghĩ về điều này và điều đó, để thân tâm quý vị luôn chạy theo vật chất. Nếu mọi người không có tham lam, họ sẽ không có bất kỳ suy nghĩ sai lầm nào. Tại thời điểm này trong tu hành của họ, những người này không có vô minh. Khi điều đó xảy ra, người ta đạt được chân lý và theo con đường Trung đạo. Đó là “chân thật”, có nghĩa là không có ái dục và tham lam, không có ý nghĩ sai lầm tham lam. “Cái này được gọi là‘ cái Tâm trí sống trong đức tin. ’” Đây là địa vị lần đầu tiên trong mười địa vị. Một người đưa ra tín tâm chân thật và trụ trong tín tâm đó.

 

  1. Niệm tâm trụ: Chân tín minh liễu, nhất thiết viên thông. Uẩn xứ giới tam, bất năng vi ngại. Như thị nãi chí, quá khứ vị lai. Vô số kiếp trung, xả thân thụ thân. Nhất thiết tập khí, giai hiện tại tiền.

Niệm tâm trụ – Chơn tín sáng tỏ, tất cả viên thông, ba thứ: ấm (5 ấm), xứ (12 xứ), giới (18 giới), chẳng thể ngăn ngại, như thế cho đến trong vô số kiếp quá khứ, vị Lai, tất cả tập khí xã thân, thọ thân, thảy đều hiện ra trước mắt và ghi nhớ chẳng quên, gọi là Niệm Tâm Trụ.

Giảng: Trước giai đoạn này, khi họ trụ trong tâm trí của đức tin, họ tu hành theo Trung đạo -với chân ly không trụ hay bất trụ. Hiện nay, vì họ tràn đầy đức tin, “Chơn tín sáng rõ.” Một khi một người có đức tin chân chính, người ta có thể hiểu được sự chân lý chân thật. “Rõ ràng sự hiểu biết” đề cập đến sự sáng suốt.
“ba thứ: ấm (5 ấm), xứ (12 xứ), giới (18 giới), chẳng thể ngăn ngại”,

Không chỉ họ có thể tự tại với lục căn, nhưng mọi thức khác như 5 ấm, 12 xứ), 18 giới, ý thức, thân tâm, mười hai nơi của mắt, tai, mũi, lưỡi, cơ thể và tâm trí, cùng với các lục trần, thanh, hương, vị, xúc, pháp và mười tám cõi, bao gồm lục thức, ngũ căn và ý thức kết nối chúng. Nghĩa là, sự tỉnh táo, thức của tai, thức của mũi, thức của lưỡi, thức của cơ thể, và tâm thức. Một khi bạn có được sự thâm nhập, những thứ này không còn cản trở bạn nữa.

“tất cả tập khí xã thân, thọ thân, thảy đều hiện ra trước mắt và ghi nhớ chẳng quên”. Trong mỗi cuộc sống đó, họ có những thói quen khác nhau. Trong một cuộc đời họ đã có thói quen uống rượu. Trong một cuộc sống khác, họ có thói quen hút thuốc. Trong một cuộc sống khác, họ là những con bạc thường xuyên. Một cuộc sống khác tìm thấy chúng với thói quen Của ham muốn. Trong một cuộc sống khác, họ đã giết. Một cuộc sống khác đã biến chúng thành kẻ trộm. Trong một đời, họ đã có thói quen nói dối. Nói chung, cuộc sống sau cuộc sống, họ đã phát triển những thói quen khiến họ làm đủ mọi thứ xấu nhiều thứ. Đó là nhìn vào những thói quen xấu.

Nhưng cũng có tốt thói quen. Trong một kiếp, họ đã có thói quen cúi chào chư Phật. Trong một cuộc sống khác, họ thường xuyên đọc thuộc về Thần chú Shurangama. Trong một cuộc sống, họ có thói quen lắng nghe lời giải thích của kinh Lăng Nghiêm. Trong một cuộc sống khác, họ thường lắng nghe kinh Pháp Hoa. Nói chung, trong suốt tất cả những cuộc sống trong rất nhiều kiếp, họ đi nhiều con đường. Kết quả là, họ đã tích lũy một số lượng lớn các thói quen.

Nhưng bây giờ, giống như một bộ phim, tất cả những thói quen xuất hiện trước họ. Họ có thể nhớ mọi thứ và không quên gì cả. Họ có thể nhớ tất cả. Khi họ đạt được trạng thái đó, họ không bao giờ quên. Điều đó có nghĩa là họ luôn luôn có tâm thức về những việc đang xảy ra. Họ luôn luôn chú ý đến những nhân quả. Cái này được gọi là gọi là Niệm Tâm Trụ, cư ngụ trong chánh niệm, thứ hai trong thập tín tâm.

 

  1. Tinh Tấn Tâm: Thị Thiện nam tử, giai năng ức niệm. Đắc vô di vong, danh niệm tâm trụ. Diệu viên thuần chân, chân tinh phát hóa. Vô thủy tập khí, thông nhất tinh minh. Duy dĩ tinh minh, tiến thú chân tịnh, danh tinh tấn tâm.

Tinh Tấn Tâm – Thuần chơn diệu viên, tinh vi phát dụng, những tập khí từ vô thỉ đều hóa thành một tâm tinh minh, từ tinh minh tiến lên chơn tịnh, gọi là Tinh Tấn Tâm.

Giảng: Khi sự hoàn hảo tuyệt vời hoàn toàn đúng, chân lý cần thiết mang lại sự biến đổi. Họ đi xa hơn những thói quen vô tận để đạt tới tâm tinh minh đó là trí tuệ. Chỉ dựa vào một tâm tinh minh này, họ tiến tới chơn tịnh đích thực. Tu hành tinh tấn của họ đưa họ đến nơi tinh minh thực sự không có bất kỳ ô nhiễm nào. “Đây là được gọi là Tinh Tấn Tâm, ” tâm trí sống trong sự sống động.

 

  1. Huệ Tâm Trụ: Tâm tinh hiện tiền, thuần dĩ trí tuệ, danh tuệ tâm trụ.

Huệ Tâm Trụ – Tâm tinh tấn hiện tiền, thuần dùng trí huệ, gọi là Huệ Tâm Trụ.

Giảng: Khi họ tu hành cho đến khi tâm thức thực sự thuần khiết, thì bản chất của tâm thức cho thấy chính nó như là trí tuệ chân chính. Tâm thức sáng suốt có nghĩa là họ có được trí huệ chân chính. “Trí tuệ chân chính” có nghĩa là không có chút ngẫu nhiên suy nghĩ còn lại. Sự ngu xuẩn và những suy nghĩ sai lầm đều biến mất. Hãy nhớ rằng điều này đã được mô tả ở trên, trong đoạn văn đầu tiên ở trong tâm thức, nơi nó nói rằng “tất cả những suy nghĩ sai lầm là hoàn toàn bị loại bỏ. ” Đây được gọi là Tâm trí cư ngụ trong Trí huệ. Đây là nơi ở của tâm trí của đức tin trong trí tuệ, gọi là Huệ Tâm Trụ

 

  1. Định Tâm Trụ: Chấp trì trí minh, chu biến tịch trạm.

Định Tâm Trụ – Trí huệ sáng tỏ, tịch lặng cùng khắp, tịch diệu thường định, gọi là Định Tâm Trụ.

Giảng: Trí huệ sáng tỏ, tịch lặng cùng khắp, tịch diệu thường định, gọi là Định Tâm Trụ.

Khi trí tuệ sáng rõ được tịch lặng cùng khắp, một tịch diệu thường định. Điều này có nghĩa là bạn phải giữ chặt ánh sáng của trí tuệ và không để cho nó động. Sau đó, có một sự tĩnh lặng kéo dài khắp Pháp Giới. Cảng giới tịch lặng không có động tịnh và các định đó gọi là Định Tâm Trụ.

Sự tĩnh lặng “đại diện cho cái” tịch lặng và vĩnh cửu tinh minh”, và “uy nghi của sự tĩnh lặng này” đại diện cho những gì là “chiếu sáng và vĩnh cửu yên tĩnh. ”“ Định ”ở đây đề cập đến sự cứng rắn của nước trí tuệ. Nó đã cạn hơn trước đó; bây giờ nó sâu hơn. “Định” đại diện cho sức mạnh của trí tuệ. Tại thời điểm này, họ sẽ không bị động.

Có người sẽ không nói, “Điều đó là tốt,” và hãy chạy về hướng đó, và sau đó nói, “Nhưng điều khác đó có thể tốt hơn,” và lại chạy tiếp theo. Người ta sẽ không luôn theo đuổi điều gì đó tốt hơn. Nếu người ta có định lực, người ta sẽ không chạy về đâu cả.

Gió từ phía đông sẽ không uốn cong về phía tây; cũng không phải là gió tây thổi hướng về phía đông. Điều đó chỉ có nghĩa là người ta sẽ không được di chuyển bởi Bát Phong.

Để nói về bát Phong, chúng ta phải nói về nhà học giả và nhà thơ nổi tiếng. Anh ấy đã được gọi là nhà thơ Tô Ðông Pha và ông đã có một cuộc đối thoại với Thiền sư Phật Ấn. Các cựu sống ở bờ phía nam của sông tại Giang Nam, và sau này ở phía bắc bờ sông. Nhà thơ Tô Ðông Pha đã thiền định và tu luyện, và một ngày trong thiền định anh ta viết một câu thơ. Bài thơ như sau:
Ngưỡng thủ thiên trung thiên.
Mao quang chiếu đại thiên.
Bát phong xuy bất động.
Ðoan tọa tử kim liên”

Dịch :
“Kính đấng trời giữa trời.
Lông mao chiếu đại thiên
Tám gió thổi không động
Ngồi vững sen vàng tím”.

“Thượng đế trong các chư thiên” ám chỉ Phật. Nhà thơ đã tuyên bố rằng khi ngài cúi đầu với Phật, ngài phát ra một ánh sáng trong vũ trụ. “Tám Gió” là:
1. khen ngợi;
2. chế giễu;
3. đau khổ;
4. phúc lạc;
5. lợi ích;
6. hủy diệt;
7. đạt được;
8. mất mát.

“Khen ngợi” là ai đó đang nói những câu như “Bạn là một người xuất sắc sinh viên. Bạn thực sự áp dụng chính mình. Bạn có cá tính tốt và một nhân vật đạo đức tốt. ”Nhưng bạn không nên xem xét lời khen ngợi một cái gì đó là tốt. Bởi vì nếu tâm bạn bị động bởi nó, bạn đã chứng minh rằng bạn không có một chúc định lực. Tám Gió rất khó cho những người tu luyện.

“Chế giễu” có nghĩa là để Chê hoặc trêu chọc hoặc mỉa mai. Đó là sử dụng các danh từ theo cách chế giễu để phá vỡ một người. Nghe có vẻ như nhưng nó dày đặc với mỉa mai. Gió này có thể khiến một người bị mất bình tĩnh. “Làm thế nào bạn có thể đối xử với tôi như thế!” là phản ứng thường.

“Đau khổ” trong tất cả các khía cạnh đa dạng cũng là một trong những cơn gió, như là “phúc lạc”. Bạn có thể cảm thấy tốt, nhưng bạn không nên nghĩ rằng đó là một điều tuyệt vời, bởi vì ngay khi tâm trí bạn động khi thừa nhận niềm vui, một cơn gió đã di chuyển bạn.

“Lợi ích” đề cập đến một cái gì đó sẽ giúp bạn ra ngoài.

“Sự phá hủy” có nghĩa là một cái gì đó không phù hợp xấu xa đốo với cho bạn.

“Thu được” đề cập đến việc nhận được một cái gì đó,

“Mất mát” để mất nó. Bắt một cái gì đó làm cho bạn hạnh phúc; mất thứ gì đó làm cho bạn khó chịu. Ví dụ, một người mua một máy radio mới nhất từ một đài phát thanh nổi tiếng. Anh ấy đã được mê muội với nó mà anh ta thậm chí còn mơ về nó vào ban đêm. Hoặc có thể đó là máy ảnh hoặc một kính thiên văn. Nói chung, chỉ cần tưởng tượng điều bạn quan tâm thích nhất. Mua nó là những gì có nghĩa là “đạt được.” Nhưng một khi bạn có nó, tất nhiên, những người khác cũng thấy nó hấp dẫn và ai sẽ có đoán rằng ai đó sẽ đợi cho đến khi bạn có chút bất cẩn là ăn cắp nó từ bạn?
Vào thời điểm đó, sự thiếu hiểu biết của bạn nảy sinh và bạn bị ảnh hưởng bởi sự mất mát nó. Điều đó sẽ được coi là bị động bởi bát phong.

Nhưng Tô Ðông Pha nói rằng bát phong đã không di chuyển anh ta như anh ngồi trên một hoa sen vàng tím. Anh ta có đầy tớ của mình lấy bài thơ với Ch’an Master Fo Yin vì sự phê bình của ông.

Thiền sư Phật Ấn viết nguệch ngoạc hai từ trên bài thơ. Các hai từ rất có ý nghĩa, nhưng Tô Ðông Pha không thể nhịn được. Anh phát nổ trong cơn thịnh nộ ngay khi anh liếc đọc. Gì là những từ? “Phóng thí ! Phóng thí ! (đánh rắm, đánh rắm)”

Tô Ðông Pha nắm lấy bài thơ, ném áo khoác và băng qua sông để đối đầu với Thiền sư Phật Ấn .

“Ông Thầy kia ! Sao dám mắng chửi người ?”

Thiền sư : “Tôi có chửi mắng ai đâu ?”

Ông nói rằng tám gió thổi cũng không động mà tôi chỉ viết hai câu ‘đánh rắm’ thì ông lại từ Giang Nam chạy đến Giang Bắc. Sao ông nói tám gió thổi không động ? Chỉ cần có hai câu của tôi thôi mà khiến ông phải đến nơi này”.

Nghĩ về nó, Tô Ðông Pha đã thấy không đúng. Do đó ông đảnh lễ sám hối và trở về

 

  1. Bất Thối Tâm: Tịch diệu thường ngưng, danh định tâm trụ. Định quang phát minh, minh tánh thâm nhập. Duy tiến vô thoái, danh bất thoái tâm.

Bất Thối Tâm – Từ định tâm phát ra ánh sáng, tánh sáng sâu vào, tiến tới chẳng lui gọi là Bất Thối Tâm.

Giảng: Một khi tâm thức cư trụ trong Như Lai tạng tánh, “Ánh sáng của Bồ đề tâm phát ra độ sáng. Khi hào quang sáng chiếu đi sâu vào bên trong những người đang tu hành, họ chỉ tinh tấn và họ không bao giờ rút lui. ”Vì họ hiểu, họ chỉ có ý định tinh tấn, và họ không bao giờ quay lại và quay trở lại. Và lý do, họ không bị đảo ngược là họ thực sự và thực sự thấu hiểu. Họ có trí tuệ chân chánh. “Đây được gọi là Tâm trí của không thể đảo ngược. ”Tâm trí của đức tin không bao giờ rút lui, gọi là Bất Thối Tâm

 

  1. Hộ Pháp Tâm: Tâm tiến an nhiên, bảo trì bất thất. Thập phương Như Lai, khí phần giao tiếp, danh Hộ Pháp tâm.

Hộ Pháp Tâm – Tâm an nhiên tiến tới, duy trì chẳng mất, giao tiếp với tinh thần của mười phương Như Lai gọi là Hộ Pháp Tâm.

Giảng: Khi sự tiến tới của tâm thức của họ được an nhiên tự tại, họ tu hành thẳng đến phía trước; họ không bao giờ bay ra khỏi tay cầm. Họ vững vàng và tự tại,

“Và họ giữ tâm thức của họ và bảo vệ nó mà không bị mất, vì vậy tâm thức của họ không bao giờ rút lui. Sau đó, họ giao tiếp với tinh thần của mười phương. ”Khi một đạt đến điểm không thể đảo ngược, tinh thần năng lượng của chư Phật hoà hợp với bổn tâm. “Đây được gọi là Hộ Pháp Tâm”Điều này có nghĩa là chư Phật hộ trì cho họ, và họ hộ trì cho Phật pháp. Với sự hộ trì của Đức Phật, họ có thể hoàn thành nghiệp lực của họ như ý. Với sự hộ trì, Phật pháp có thể lan rộng và phát triển. Vì vậy, đây là Hộ Pháp Tâm

 

  1. Hồi Hướng Tâm: Giác minh bảo trì, năng dĩ diệu lực. Hồi Phật từ quang, hướng Phật an trụ. Do như song kính, quang minh tướng đối. Kỳ trung diệu ảnh, trọng trọng tướng nhập, danh hồi hướng tâm.

Hồi Hướng Tâm – Tánh sáng của Bổn giác được duy trì, hay dùng diệu lực xoay Từ Quang của Phật về tự tánh, cũng như ánh sáng của hai gương đối nhau, trong đó, các bóng nhiệm mầu trùng trùng vô tận, gọi là Hồi Hướng Tâm.

Giảng:  Duy tri ánh sáng của bổn giác, họ có thể sử dụng định lực tuyệt vời nầy. ”Xoay Từ Quang của Phật về tự tánh là một phương tiên để giác ngộ. Khi được hộ trì, sự giác ngộ này là tràn đầy trí tuệ và thông minh mà không mất mát. Ai ai cũng có thể “quay lại với ánh sáng từ bi của Đức Phật và để trở lại tự tánh Như Lai. ”Với sự tinh tế này sức mạnh, bạn có thể hòa hợp với hòa quang bác ái của Đức Phật. Hơi thở và hào quang của bạn tương tác với Đức Phật hơi thở và hào quang, “giống như hai tấm gương được đặt đối diện với nhau, để giữa gương những hình ảnh tinh tế phản chiếu lẫn nhau.”Khi hai gương được đặt đối diện nhau, hình ảnh của chúng xen kẽ nhau nhiều lần. Chúng hiển thị các hình phản chiếu trùng trùng vô tận. “Đây là được gọi là Hồi Hướng Tâm, ”tâm trí của đức tin ngự trong hồi hướng công đức.

 

  1. Giới Tâm Trụ: Tâm quang mật hồi, hoạch Phật thường ngưng. Vô thượng diệu tịnh, an trụ vô vi. Đắc vô di thất, danh giới tâm trụ.

Giới Tâm Trụ – Với từ Quang của Bản Tâm miên mật, an trụ nơi vô vi, vô thượng trong sạch, thường trụ của Phật, chẳng thể lạc mất, gọi là Giới Tâm Trụ.

Giảng: Tại thời điểm này, có một kết nối ẩn giữa hào quang của bạn và hào quang của Phật; đó là ý nghĩa của “sự miên mật của hào quang.” Hào quang của bổn tâm của bạn chạm đến Hào quang của Phật, và Hào quang của Phật đến với tâm bạn. Sau hào quang của Phật đã đi vào trái tim bạn, nó trở về Phật. Sau khi hào quang của tâm thức bạn đã bước vào Phật tâm, nó trở lại tâm thức của bạn. Sự tương tác hào quang này quay vòng tròn đủ vòng. Do đó, có được một sự chiếu sáng liên tục từ Đức Phật. Trong thực tế, người tu trở thành một với Phật. Độ vô thượng trong sạch này là không thể so sánh được. Không có gì vượt qua nó. “Ở trong không có điều kiện, họ không biết mất mát hay tiêu tan. ” Phật pháp vô điều kiện, và chẳng thể lạc mất. “Cái này được gọi là Tâm trí sống trong giới luật, gọi là Giới Tâm Trụ

 

  1. Nguyện Tâm Trụ: Trụ giới tự tại, năng du thập phương. Sở khứ tùy nguyện, danh nguyện tâm trụ.

Nguyện Tâm Trụ – Trụ giới tự tại, hay dạo khắp mười phương, ở đi tùy Nguyện, gọi là Tâm Trụ nguyện,

Giảng: Tuân thủ giới luật – Trụ giới tự tại- với sự thâm nhập tự chủ và tự tại, họ có thể dạo khắp trong mười hướng, đi bất cứ nơi đâu họ muốn. ”Sự thâm nhập tâm thức như thế đi kèm với tự chủ và tự tại. Không cần nỗ lực tinh thần, không cần nổ lực tâm thức mà có thể đi bất cứ nơi nào trong mười hướng.

Họ có thể đi bất cứ nơi nào họ muốn mà không có bất kỳ cản trở nào. “Đây là được gọi là tâm trí cư ngụ trong giới nguyện. Bất cứ điều ước gì hay lời thề bạn thực hiện có thể được thực hiện, cho nên gọi là Nguyện Tâm Trụ

 

— 0O0 —

THẬP TRỤ

  1. Phát Tâm Trụ: A-nan! Thị Thiện nam tử, dĩ chân phương tiện, phát thử thập tâm. Tâm tinh phát huy, thập dụng thiệp nhập. Viên thành nhất tâm, danh phát tâm trụ.

Phát Tâm Trụ – A Nan! Thiện nam tử ấy, do chân phương tiện phát ra mười bậc tín tâm kể trên, tâm tinh vi phát ra ánh sáng, mười thứ dụng xen lẫn nhau, viên dung thành một tâm, gọi là Phát Tâm Trụ.

Giảng: “A-nan, những người thiện này dùng phương tiện chân thật mà phát ra mười tâm đó, khi tinh túy của các tâm này chói sáng, mười tác dụng thông nhau thì một tâm được viên mãn, gọi là Phát Tâm Trụ.

Phần văn bản này thảo luận về Mười Trụ, là một phần của các địa vị Bồ Tát. Mười nơi ở là:
1) An trụ của Phát khởi quyết tâm;
2) Nơi cư trụ của nền tảng quy định;
3) Trụ Tu Luyện;
4) An trụ của Thánh Sanh;
5) An trụ của Phương tiện Thiện xảo;
6) An trụ của Chánh Tâm;
7) Nơi trụ ngụ của bất khả đảo ngược;
8) Nơi ở của tuổi trẻ trong sạch;
9) Nơi ở của một vị Pháp Vương;
10) Nơi xức dầu vương miện trên đầu.

Ở giai đoạn này, Bồ Tát sắp đạt đến địa vị của một vị Phật, nhưng chưa đến đó. Vì thế Bồ Tát tạm trụ ở nơi cư trú này. Đức Phật nói: “Này A Nan, những vị Bồ Tát tu đạo này, dùng phương tiện lương thiện mà phát ra mười tâm đó”. “Mười tâm” là mười giai đoạn vừa được thảo luận. “Khi bản chất của những tâm trí này trở nên rực rỡ và mười chức năng kết nối với nhau, thì một tâm trí duy nhất được hoàn thành một cách hoàn hảo.” “Mười chức năng” đề cập đến cách thức mà Mười Tâm trí được sử dụng. Khi kết nối với nhau, tất cả đều quay về một tâm trí duy nhất. “Đây được gọi là Phát Tâm Trụ” ngôi nhà đầu tiên trong Mười Nhà.

Phát Tâm Trụ tức là căn lành của Bồ Tát đã gieo trồng trong quá khứ, đã tu đạo Bồ Tát, đã hành lục độ vạn hạnh, căn lành chín mùi, phát tâm đại bồ đề, trụ ở bậc này, cho nên gọi là ban đầu phát tâm.

 

  1. Trị Địa Trụ: Tâm trung phát minh, như tịnh lưu ly. Nội hiện tinh kim. Dĩ tiền diệu tâm, lý dĩ thành địa, danh trì địa trụ.

Trị Địa Trụ – Trong tâm sáng suốt như lưu ly trong sạch, trong hiện vàng ròng tinh túy, dùng diệu tâm trước kia sửa sang thành đất địa để đi đứng gọi là Trị Địa Trụ

Giảng: “Từ bên trong tâm trí này, ánh sáng phát ra như pha lê tinh khiết. Nó trong suốt và lộ ra vàng ròng bên trong. Giẫm lên tâm trí tuyệt vời trước đó như một mặt đất được gọi là Nơi trú ngụ của Trị Địa Trụ.”“Tâm vi diệu trước đây” là An trụ của Phát tâm, nơi mà các chức năng của mười tâm trước đó hợp nhất thành một tâm duy nhất.Sau đó, người ta bước đi trên tâm trí tuyệt vời này và biến nó thành mặt đất.Đây là nơi ở thứ hai, nơi ở của Trị Địa Trụ.

Tức là Bồ Tát trong quá khứ đã tu trị tham sân si ở trong tâm. Vô minh, phiền não, chấp trước, tập khí v.v… từng chút, từng chút, dần dần trừ sạch mà trụ ở bậc này, cho nên gọi là trị địa trụ. Phiền não của Bồ Tát có bớt mà chẳng tăng, còn phiền não của chúng ta phàm phu, thì có tăng mà chẳng giảm. Bớt một phần phiền não, thì tăng thêm hai phần phiền não, cho nên càng ngày càng nhiều, có tới tám vạn bốn ngàn phiền não, đây là chẳng có trị địa.

 

  1. Tu Hành Trụ: Tâm địa thiệp tri, câu đắc minh liễu. Du lý thập phương, đắc vô lưu ngại, danh tu hành trụ.

Tu Hành Trụ – Tâm địa biết khắp, tất cả rõ ràng, đi khắp mười phương, được chẳng ngăn ngại, gọi là Tu Hành Trụ.

Giảng: Đây là Trú thứ ba, là Tu hành Trụ. “Khi tâm địa kết nối với trí tuệ, cả hai đều trở nên sáng suốt và toàn diện.”Khi nền tảng tâm trí mà bạn bước đi trở nên bình đẳng, nó hợp nhất với trí tuệ, và cả tâm lẫn trí tuệ đều vô cùng trong sáng và sáng suốt.“ Đi khắp mười phương không bị chướng ngại, gọi là Tu Hành Trụ. Tại thời điểm này, bạn đạt được sự thâm nhập tâm linh. Được phú bẩm cả trí tuệ và thần thông, bạn không bị cản trở khi đi bất cứ đâu trong mười phương.Bạn có thể đến và đi tùy ý.

Tức là Bồ Tát siêng tu đủ thứ pháp môn, đối với tất cả tri kiến đều thấu suốt. Cho nên gọi là tu hành trụ.
‘’Siêng tu giới định huệ
Tức diệt tham sân si’’.

 

  1. Sanh Qúy Trụ: Hạnh dữ Phật đồng, thọ Phật khí phần. Như trung uẩn thân, tự cầu phụ mẫu. Uẩn tín minh thông, nhập Như Lai chủng, danh sanh qúy trụ.

Sanh Quý Trụ – Hạnh đồng với Phật, thọ tinh thần Phật, như cái thân trung ấm tự tìm cha mẹ, trung ấm dung thông với lòng tin, thầm nhập vào giống Như Lai, gọi là Sanh Quý Trụ.

Giảng: Đoạn văn này thảo luận về các vị Bồ Tát ở trú thứ tư, An trú của Thánh Sanh. Có nghĩa là được sinh ra trong gia đình của Pháp Vương, nhà của Đức Phật. Gia đình của Đức Phật là gia đình danh giá nhất, nên nơi ở này được gọi là “Sanh Quý Trụ”.

“Khi họ hành xử giống như chư Phật và có phong thái của một vị Phật,” họ đang ở giai đoạn trú thứ tư. Mọi điều chư Bồ Tát ở trú thứ tư làm đều giống như điều mà một vị Phật sẽ làm. Các vị Bồ Tát đó đã mang tướng mạo của một vị Phật. Họ đã học được cách giống như chư Phật.“ Vậy thì họ giống như thân trung ấm đang đi tìm cha và mẹ.” Chúng ta đã thảo luận về ý nghĩa của “thân trung ấm” trước đây. Nó đề cập đến của “linh hồn” hay bản chất hiệu quả, di chuyển.Định nghĩa về thân trung ấm là cái tồn tại, Trước khi bộ năm uẩn mới được tiếp nhận, Nhưng sau khi bộ năm uẩn cũ không còn nữa.

Thân trung ấm – thân giữa các uẩn – sống trong một thế giới đen như mực. Không có ánh sáng nào cho nó cả. Dù mặt trời và mặt trăng vẫn còn đó, nhưng khi chúng xuất hiện, thân uẩn không dám nhìn. Và khi chúng không còn hiện hữu và thân skandha còn có ý thức thì nhìn đâu cũng thấy bóng tối hoàn toàn. Tuy nhiên, khi cha mẹ tương lai của nó giao hợp, thì dù thân trung ấm có cách xa đến đâu, nó cũng cảm nhận được một chút ánh sáng âm và nó lập tức đến chỗ đó theo ý nghĩ của nó.Sự buộc phải đến được nơi đó giống như sức ép của sắt đối với nam châm. Nhưng trong trường hợp này, lực của từ trường có thể nói là kéo dài hàng ngàn dặm. Bị thu hút theo cách này, thân trung ấm đến và sự tái sinh diễn ra ngay lập tức: sự thụ thai xảy ra.

Ở đây, sự ra đời của Bồ Tát nơi thứ tư vào gia đình của Đức Phật được ví như quá trình này, nhưng tất nhiên đây chỉ là một sự tương tự. Nó được dùng để mô tả lực hấp dẫn đã đưa các Bồ Tát này tái sinh vào gia đình của Pháp Vương. “Họ thâm nhập vào bóng tối với một niềm tin ẩn giấu.” Dù có cách xa bao nhiêu ngàn dặm thì dường như vẫn có sự kết nối lẫn nhau dựa trên niềm tin. Chư Bồ-tát theo cách này “nhập vào dòng Như Lai. Đây gọi làSanh Quý Trụ.” Họ sinh ra trong một gia đình danh giá và giàu có, nhà của Đức Phật.

“Ồ?”bạn thắc mắc.”Phật có nhà à? Tôi tưởng Phật đã xuất gia rồi.” Ngôi nhà được nhắc đến ở đây chỉ là ngôi nhà xuất gia. Đó là nơi Đức Phật ngự. Tất cả chỉ là một sự tương tự. Bồ Tát vì tu hành, có đủ thứ căn lành, cho nên sinh vào nhà Phật tôn quý, tất cả đều tương đồng với Phật, cho nên gọi là sanh quý trụ.

 

  1. Cụ Túc Trụ: Ký du đạo thai, thân phụng giác dận. Như thai dĩ thành, nhân tướng bất khuyết, danh phương tiện cụ túc trụ.

Cụ Túc Trụ – Đã vào đạo thai, nối dòng của Phật, như thai đã thành hình, tướng người đầy đủ, gọi là Phương Tiện Cụ Túc Trụ.

Giảng: “Bởi vì họ cưỡi trong lòng Đạo”: họ du hành trong nhà của Đức Phật; có thể nói chúng được mang vào bụng của Con đường. “Và chính họ sẽ trở thành những người thừa kế giác ngộ.” Họ đã nhận được di chúc giác ngộ.“ Đặc điểm con người của họ không hề thiếu sót. Mắt, tai, mũi và các đặc điểm khác của họ đều hoàn hảo và đầy đủ. Sự xuất hiện của họ như chư Phật, như Bồ Tát, cũng sẽ không thiếu sót. Đây gọi là An trú của Phương tiện Thiện xảo.” Đây là lần thứ năm. Cụ túc phương tiện trụ: Tức nhiên Bồ Tát sinh vào nhà Phật, nên đầy đủ tất cả phương tiện pháp môn để giáo hóa chúng sinh, cho nên gọi là cụ túc phương tiện trụ.

 

  1. Chánh tâm trụ: Dung mạo như Phật, tâm tướng diệc đồng, danh chánh tâm trụ.

Chánh Tâm Trụ – Dung mạo và tâm tướng đều đồng như Phật, gọi là Chánh Tâm Trụ.

Giảng: Ở điểm này, các vị Bồ Tát ở trú thứ sáu có “hình tướng giống như một vị Phật”. Những nét đặc trưng của họ có đầy đủ ba mươi hai đặc tính nổi bật và tám mươi đặc tính vi tế. Họ cũng có “tâm đồng nhất” với chư Phật. Rồi “họ được cho là An trú trong Chánh tâm,” quán trọ thứ sáu. Lúc này Bồ Tát trụ vào tam muội chánh tâm, đạo tâm tương đồng với Phật, cho nên gọi là chánh tâm trụ.

 

  1. Bất thoái trụ: Thân tâm hợp thành, nhật ích tăng trưởng, danh bất thoái trụ.

Bất Thối Trụ – Thân tâm dung hợp, ngày càng tăng trưởng gọi là Bất Thối Trụ.

Giảng: Thân và tâm của họ giống như của chư Phật. Họ đã hợp nhất với chư Phật và ngày càng dễ dàng trưởng thành. Tuy giống chư Phật nhưng họ giống như những đứa trẻ chưa lớn. Điều này có nghĩa là ở cấp độ này trí tuệ của các vị Bồ Tát này chưa vĩ đại bằng trí tuệ của một vị Phật. Họ giống như những đứa trẻ mới sinh. Nhưng trí tuệ của họ ngày càng phát triển nên họ không còn xa Phật quả. Họ dũng cảm và mạnh mẽ, nên “đây được gọi là An Bất Thối Trụ” Lúc này họ không quay lại. Họ đã đến nơi ở thứ bảy và sau này sẽ không rút lui. Bất thối trụ: Tức là niệm bất thối, hành bất thối, vị bất thối. Niệm bất thối là chẳng thối tâm bồ đề, hành bất thối là tinh tấn tu hành, vị bất thối là chẳng thối lùi về hàng nhị thừa. Bồ Tát có ba thứ bất thối này, mà dũng mãnh hướng về trước, cho nên gọi là bất thối trụ.

 

  1. Đồng chân trụ: Thập thân linh tướng, nhất thời cụ túc, danh đồng chân trụ.

Đồng Chơn Trụ – Linh tướng của thập thân nhất thời đầy đủ gọi là Đồng Chơn Trụ.

Giảng: Ở giai đoạn này, Bồ Tát có thể khiến mười thân xuất hiện cùng một lúc. Mỗi thân trong mười thân này có thể lần lượt tạo ra thêm mười thân nữa, thế là có một trăm thân. Mỗi một trăm thân này sinh ra thêm mười thân nữa, tạo thành một ngàn thân tất cả. Tất cả điều này xảy ra đồng thời do sự to lớn của sự thâm nhập tâm linh của Bồ Tát. Đây được gọi là “Đồng Chơn Trụ”. Tức là thể đồng tử chân thật, tức cũng là chẳng có kết hôn. Bồ Tát đời đời kiếp kiếp giữ gìn bản lai diện mục (đồng thể), cho nên gọi là đồng chân trụ.

 

  1. Pháp Vương tử trụ: Hình thành xuất thai, thân vi Phật tử, danh Pháp Vương tử trụ.

Pháp Vương Tử Trụ – Hình đã thành, ra khỏi thai, làm con của Phật, gọi là Pháp Vương Tử Trụ.

Giảng: Thứ chín là Nơi trú ngụ của Pháp Vương. Ở cấp độ trước, khi mười cơ thể xuất hiện một cách hiệu quả, chúng có thể thay đổi và biến đổi không ngừng. Tuy nhiên, chư Bồ Tát vẫn chưa trở thành những Pháp Vương chân chính. Tương tự, họ vẫn chưa rời khỏi bụng mẹ. Nay đã “hoàn toàn phát triển”, với sự xuất hiện của các bậc đại anh hùng, “họ rời thai và trở thành con của Phật”.Sự thành tựu thân của một vị Phật được ví như việc sinh ra từ bụng mẹ.“ Đây được gọi Pháp Vương Tử Trụ.” Bản thân họ bây giờ là con của Đức Phật. Đó là mô tả Bồ Tát ở nơi thứ chín. Phật là Pháp Vương, Bồ Tát là Pháp Vương tử (con của đấng Pháp Vương). Có quyền kế thừa đấng Pháp Vương, cho nên gọi là Pháp Vương tử trụ.

 

  1. Danh quán đảnh trụ: Biểu dĩ thành nhân, như quốc đại Vương. Dĩ chư quốc sự, phần ủy Thái-Tử. Bỉ sát lợi Vương, thế tử trưởng thành. Trần liệt quán đảnh, danh quán đảnh trụ.

Quán Đảnh Trụ – Khi Pháp Vương Tử đã trưởng thành, ví như Thái Tử vua Sát Lợi đến tuổi trưởng thành, sẽ được phụ vương ủy nhiệm việc nước, nên làm lễ quán đảnh, gọi là Quán Đảnh Trụ.

Giảng: “Khi đã trưởng thành trọn vẹn, họ giống như hoàng tử được tuyển chọn, được vị vua vĩ đại của một nước giao phó việc nước”.“ Vua vĩ đại” ám chỉ một vị vua chuyển bánh xe. Khi một vị vua như vậy sẵn sàng nhường lại ngai vàng cho con trai mình, ông ấy sẽ thực hiện một nghi lễ, trong đó ông ấy xức lên vương miện của hoàng tử bằng nước của bốn biển. Khi buổi lễ này hoàn tất, hoàng tử được cho là đã thừa kế ngai vàng. Ở đây đoạn văn đề cập đến vị Bồ Tát có thể trở thành con của Đức Phật, là Pháp Vương. Vào thời điểm này, Đức Phật rưới pháp thủy lên đỉnh đầu của Bồ Tát, khiến Ngài trở thành một Bồ Tát chính thức. Đó chính là ý nghĩa của đoạn văn, “Khi vị vua Kshatriya này, con trai cả của Đức Phật, vị Bồ Tát ở nơi thứ mười, được rưới pháp thủy theo nghi thức trên đỉnh đầu, ông ấy đã đạt đến cái được gọi là An trú của Quán Đảnh Trụ.”

Pháp Vương tử khi sắp thành Phật, thì phải tiếp thọ mười phương chư Phật dùng pháp thủy (nước pháp) để quán đảnh, khiến cho đầy đủ từ bi hỷ xả bốn tâm vô lượng, cho nên gọi là quán đảnh trụ.

 

THẬP HẠNH

  1. A-nan! Thị Thiện nam tử, thành Phật tử dĩ. Cụ túc vô lượng, Như Lai diệu đức. Thập phương tùy thuận, danh hoan hỉ hạnh.

A Nan! Thiện Nam tử ấy, đã thành con Phật, đầy đủ vô lượng diệu của đức Như Lai, tùy thuận mười phương chúng sanh, phương tiện tiếp dẫn, gọi là Hoan Hỉ Hạnh.

Giảng: Hạnh hoan hỉ là pháp môn bố thí của Bồ Tát tu, chẳng những tự mình hoan hỉ, mà cũng khiến cho chúng sinh hoan hỉ. Những điều này được gọi là Mười Hạnh. Chúng là bước tiếp theo trong các giai đoạn của một vị Bồ Tát:

Bây giờ chúng ta sẽ thảo luận về hạnh kiểm đầu tiên, đó là Hoan Hỉ Hạnh. Mười hạnh này tương ứng với Thập Ba La Mật, Thập Ba La Mật, nên hạnh đầu tiên liên quan đến bố thí. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni bạch rằng: “Này A Nan, những thiện nam tử này sau khi thành con Phật, được đầy đủ vô lượng công đức vi diệu của Như Lai”. Vương miện trên đầu của họ được rưới nước cam lồ và họ trở thành con của Đức Phật. Họ đang trên đường sở hữu những đức hạnh của một vị Phật. Họ “tuân theo và hòa hợp với chúng sinh khắp mười phương. Đây được gọi là Hạnh Hạnh.”“Tuân theo” có nghĩa là thực hành bố thí.Chúng ta đã thảo luận về việc bố thí nhiều lần và đã đề cập rằng có ba loại bố thí:

1) bố thí của cải.
2) bố thí Pháp.
3) bố thí sự vô úy.

Tuy nhiên, bố thí cũng có hai khía cạnh, không giống như ba loại bố thí đó. Hai khía cạnh bao gồm một lời giải thích hoàn toàn khác. Vì nó được gọi là Hoan Hỉ Hạnh, nên khía cạnh đầu tiên là người ta nên thực hành bố thí với tâm vui vẻ. Người ta nên tận hưởng việc cho đi. Không phải là người ta quyết định chỉ cho đi khi bị ép buộc;nó không bị ép buộc, đến mức một mặt người ta muốn cho, nhưng mặt khác lại không muốn. Không phải là người ta thiếu quyết đoán, nghĩ rằng “Tôi muốn làm một món quà, nhưng đó là tiền của tôi…” Người ta nói rằng việc từ bỏ một số tiền giống như cắt một miếng thịt của mình. Mặt khác, người ta biết rằng nếu không thực hành bố thí, người ta sẽ không tạo ra bất kỳ công đức nào. Vì thế đây thực sự là một vấn đề nan giải: nếu cho đi, người ta sợ mình sẽ không còn tiền; nếu không bố thí thì sợ mình không có công đức. Thế là người ta đứng đó, không biết nên tiến một bước hay lùi lại. Đó chắc chắn không được gọi là Hoan Hỉ Hạnh. Cái đó giống hành vi ép buộc hơn. Bây giờ bạn không thể nói rằng kiểu bố thí này sẽ không có công đức gì, nhưng công đức đó chắc chắn sẽ rất lớn.

Kiệt sức vì đấu tranh nội bộ. Người ta không làm việc đó với tâm chân thật. Đúng hơn, người ta nên vui mừng về việc bố thí. Ngay cả khi điều đó có nghĩa là người ta phải sống mà không cần tiền, người ta nên vui vẻ bố thí cho người khác những thứ gì mình có. 

Khía cạnh thứ hai của việc bố thí là người ta phải làm cho chúng sinh được hạnh phúc. Khi thực tập bố thí, bạn không nên hành động như ném những mảnh vụn cho người ăn xin. Không lẽ họ phải bò đến trước cửa nhà bạn và khóc: “Chú già, dì già, chú không tiếc một chút sao?” chỉ để bạn mở hé cửa, ném ra một xu hoặc một phần tư và hét lên, “Lấy nó và ra ngoài:” Điều đó thậm chí không thể gọi là cho đi. Hành động đó chẳng có giá trị gì và chắc chắn người nhận sẽ không vui. Ở Á Châu có câu: “Người ta không ăn những gì được mời một cách thô lỗ”. Đó chỉ là những gì đã được mô tả ở trên. Những người có bất kỳ sự tự chủ nào sẽ không nhận thức ăn hoặc tiền được đưa ra theo cách đó, ngay cả khi họ phải đói.

Người ta nên cho đi một cách chân thành và thiện chí. Nhưng hãy cẩn thận đừng cho đi theo cách mà người ta mong đợi được đáp lại bằng sự biết ơn. Nếu bạn tránh làm theo cách khiến mọi người cảm thấy họ phải cảm ơn bạn thì bạn đang cho đi theo cách khiến mọi người hạnh phúc, đó là khía cạnh thứ hai của việc bố thí. Trong Hoan Hỉ Hạnh, cả hai bên, chính mình và người được trao tặng, đều hạnh phúc.

 

  1. Thiện năng lợi ích, nhất thiết chúng sanh, danh nhiêu ích hạnh.

Hay lợi ích cho tất cả chúng sanh, gọi là Nhiêu Ích Hạnh.

Giảng: “Có khả năng dung nạp tất cả chúng sinh” có nghĩa là sử dụng giới luật. Nó có nghĩa là khiến chúng sinh tuân theo giới luật và bằng cách đó giải cứu họ. Nếu mọi người đều trì giới thì cả thế giới đều được lợi lạc. Điều này “được gọi là Hạnh làm lợi ích cho chúng sinh”. Đây là pháp thứ hai trong mười pháp hành Bồ Tát này. Hạnh nhiêu ích là pháp môn trì giới của Bồ Tát tu, đều là lợi ích chúng sinh, khiến cho chúng sinh đắc được ấm no và đầy đủ.

 

  1. Tự giác giác tha, đắc vô vi cự, danh vô sân hạnh.

Tự giác giác tha, được chẳng chống trái, gọi là Vô Sân Hận Hạnh.

Giảng: “Tự giác ngộ và giúp người khác giác ngộ” là điều tất cả chúng ta nên làm. vậy, chỉ nghiên cứu Phật pháp và tự mình hiểu được nó thôi thì chưa đủ. Chúng ta cũng phải giúp tất cả chúng sinh có thể hiểu được nó, đến mức chúng ta nên giúp đưa tất cả chúng sinh đến thành tựu Phật quả. Chúng ta phải mang lại lợi ích cho bản thân và mang lại lợi ích cho người khác. Đừng ích kỷ và quan tâm đến lợi ích của riêng bạn. Bạn cũng không nên ghen tị hay cản trở người khác. Nếu có người hiểu Phật pháp hơn bạn, bạn không nên ghen tị trong mọi trường hợp. Nếu ghen tỵ với người khác thì sau này sẽ phải chịu quả báo ngu ngốc. Hãy nỗ lực hết mình đối với Pháp, nhưng đừng bao giờ ghen tị với người khác. Đừng có ý tưởng cản trở người khác. Không nên có chuyện nếu có người đắc đạo còn bạn thì chưa, bạn sẽ tức giận nói rằng: “Thật sự, chư Phật quá bất công. Làm sao họ có thể để họ giác ngộ thay vì tôi?” Cùng với đó, vô minh của bạn phát sinh. Hoặc có lẽ có người nghe Pháp và nắm bắt nó ngay lập tức. Anh ấy học rất nhanh và thành thạo Thần chú Lăng Nghiêm trong vòng vài tháng. Nhưng một người khác chưa làm chủ được nó sẽ nổi cơn ghen tị. “Làm thế nào bạn có thể vượt lên trước tôi? Làm thế nào bạn có thể học nó nhanh như vậy?” Dù bạn làm gì, dù thế nào đi nữa, trong mọi hoàn cảnh, bạn không nên ghen tị với người khác. Trong lòng bạn nên vui mừng. “Việc anh ấy nắm vững câu thần chú cũng giống như việc tôi nắm vững nó.” “Sự giác ngộ của anh ấy giống như của tôi.” Bạn nên khởi lên những ý nghĩ phù hợp với những chúng sinh khác, khen ngợi và chúc mừng họ. Điều không mong muốn nhất khi bạn học Pháp là thái độ đố kỵ.

Tôi nhắc lại, nếu bạn ghen tị với người khác, bạn sẽ trở nên ngu ngốc trong tương lai. Bạn sẽ ngu ngốc đến mức không biết làm bất cứ điều gì – thậm chí là ăn. Lúc đó bạn sẽ gặp rắc rối biết bao.’ Chuyện đó xảy ra, bạn biết đấy. Có những sinh vật ngu ngốc đến mức không biết cách tự kiếm ăn và cuối cùng phải chết đói. Nếu ai đó thành đạt hơn bạn, bạn nên mừng cho họ. Các vị Bồ Tát đạt đến điểm không “đưa ra bất kỳ sự kháng cự nào”. Phương pháp không kháng cự này ám chỉ sự kiên nhẫn, Ba la mật thứ ba. Khi điều gì đó dễ chịu xảy ra, người ta hạnh phúc; khi điều gì đó khó chịu xảy ra, người ta vẫn hạnh phúc. Người ta không đưa ra bất kỳ sự phản kháng nào; người ta không phản đối ý kiến ​​của người khác. Đó là sự kiên nhẫn. Trong mọi trường hợp, một người đi trước.Trước đây tôi đã đọc bài kệ của Di Lặc Bồ Tát cho quý vị nghe:

Lão Khờ mặc quần áo rách rưới Và nhét đầy bụng đồ ăn nhạt nhẽo; Vá quần áo cho khỏi lạnh,
Và chỉ cần chịu đựng bất cứ điều gì xảy ra. Nếu có ai mắng Lão Khờ,
Anh ấy chỉ nói, “Tốt thôi.”
Nếu ai đó đánh Lão Khờ, Ông ta sẽ đi ngủ.
“Nhổ vào mặt tôi à? Tôi sẽ để cho nó khô thôi.
Tôi tiết kiệm năng lượng và bạn không cảm thấy khó chịu. Loại Ba la mật này Là viên ngọc bên trong tuyệt vời. Nếu bạn nhận được tin tốt này, Có thể có lo lắng gì về việc không hoàn thiện Đạo?
Hạnh thứ ba là thực hành nhẫn nhục; nó “được gọi là Hành vi Không Đối lập.” Dù bị đối xử thế nào, bạn cũng không nổi giận. Hạnh vô vi nghịch là pháp môn nhẫn nhục của Bồ Tát tu, chẳng trái ngược với mình, cũng chẳng trái ngược với chúng sinh.

 

  1. Chủng loại xuất sanh, cùng vị lai tế. Tam thế bình đẳng thập phương thông đạt danh vô tận hạnh.

Tam thế bình đẳng, mười phương thông đạt, vì được “ý-sanh-thân”, nên tùy mỗi loài chúng sanh mà hiện thân hóa độ cho đến cùng tột vị Lai, gọi là Vô Tận Hạnh.

Giảng: “Trải qua nhiều hình tướng khác nhau” có nghĩa là có thể xuất hiện bằng sự chuyển hóa trong bất kỳ loại nào trong số mười hai loại chúng sinh. Người ta có thể gửi các thân hóa thân đến tất cả các loại chúng sinh đó, xuất hiện trong các hình tướng giống như của họ, “liên tục đến các biên giới của tương lai, như nhau trong suốt ba thời” – quá khứ, hiện tại và tương lai. Người ta có thể “khôn khắp mười phương” không ngừng nghỉ và có cái “được gọi là Vô Tận Hạnh”, hạnh thứ tư. Nó tương ứng với sức mạnh hoàn hảo. Hạnh vô tận là pháp môn tinh tấn của Bồ Tát tu, cũng chẳng khiến cho mình khuất nhiễu, cũng chẳng khiến cho chúng sinh khuất nhiễu.

 

  1. Nhất thiết hợp đồng, chủng chủng Pháp môn. Đắc vô sái ngộ, danh ly si loạn hạnh.

Nơi mỗi mỗi pháp môn, tất cả hòa đồng, được chẳng sai lầm, gọi là Ly Si Loạn Hạnh.

Giảng: Hành vi này tương ứng với sự hoàn hảo của thiền định, giúp đỡ những người tán loạn và dễ bối rối. “Khi mọi thứ đều hòa hợp như nhau, người ta không bao giờ phạm sai lầm giữa các pháp môn khác nhau.” Trong bất kỳ pháp môn nào do Đức Phật thuyết giảng, người ta tự nhiên đạt được sự hiểu biết và biết được công năng của bất kỳ Pháp nào. “Đây gọi là hạnh giải thoát khỏi mê lầm.”  Hạnh ly si loạn là pháp môn thiền định của Bồ Tát tu, thân tâm chẳng điên đảo, vì có định lực, nên hạnh chẳng loạn.

 

  1. Tắc ư đồng trung, hiển hiện quần dị. Nhất nhất dị tướng, các các kiến đồng, danh thiện hiện hạnh.

Nơi tướng đồng hiện ra nhiều tướng dị; nơi những tướng dị, mỗi mỗi thấy đồng, gọi là Thiện Hiện Hạnh.

Giảng: “Rồi trong cái giống hệt nhau, vô số khác biệt xuất hiện.” Những gì giống hệt nhau là nguyên tắc. Những gì khác nhau là các chi tiết cụ thể. Ở cấp độ danh nghĩa có sự đồng nhất; ở cấp độ hiện tượng có sự khác biệt.“ Đặc điểm của mọi sự khác biệt đều được nhìn thấy, một và tất cả, trong bản sắc.” Nghĩa là mọi hiện tượng đều phù hợp với nguyên lý. Có:

1) tính thông suốt của các nguyên tắc trong các chi tiết cụ thể;
2) tính rõ ràng của các chi tiết cụ thể về nguyên tắc;
3) sự thông suốt của cái cụ thể với cái cụ thể;
4) tính không chướng ngại của cả nguyên tắc lẫn chi tiết cụ thể.

Vì vậy, trong bản sắc xuất hiện những khác biệt; trong sự khác biệt bản sắc được tìm thấy. “Đây gọi là Hành Thiện Biểu Hiện Thiện.” Bản sắc và sự khác biệt không cản trở nhau và cái này xuất hiện trong cái kia. Đây là sự hoàn hảo của trí tuệ. Hạnh thiện hiện là pháp môn Bát Nhã của Bồ Tát tu, thấu rõ pháp thế gian là vô thường, khổ, không, vô ngã; và hiểu rõ pháp xuất thế là thường, lạc, ngã, tịnh.

 

  1. Như thị nãi chí, thập phương hư không, mãn túc vi trần. Nhất nhất trần trung, hiện thập phương giới. Hiện trần hiện giới, bất tướng lưu ngại, danh Vô Trước hạnh.

Như thế cho đến vi trần đầy khắp mười phương hư không, trong mỗi mỗi trần hiện mười phương cõi; hiện trần hiện cõi, chẳng ngăn ngại nhau, gọi là Vô Trước Hạnh.

Giảng: “Điều này tiếp tục cho đến khi nó bao gồm tất cả các hạt bụi lấp đầy không gian trống trải khắp mười phương.” Không những trong bản sắc, sự khác biệt có thể xuất hiện, và trong sự khác biệt, bản sắc hiện rõ, mà trong số ít cái nhiều có thể xuất hiện, và trong số ít cái rõ ràng. Trong cái nhỏ cái lớn có thể xuất hiện; trong cái lớn cái nhỏ đều hiển hiện.“ Không gian trống rỗng” là biểu hiện của sự vĩ đại. “Những hạt bụi” là biểu hiện của sự nhỏ bé.Trong mỗi hạt bụi, các thế giới xuất hiện, nên mọi thế giới đều có thể nằm gọn trong một hạt bụi. Nhưng khi một thế giới xuất hiện trong một hạt bụi, không phải thế giới đó sẽ thu nhỏ lại.Cũng không phải là hạt bụi phải giãn nở để chứa đựng thế giới. Đây là cái lớn xuất hiện trong cái nhỏ và cái nhỏ biểu hiện cái lớn mà không gặp trở ngại nào.

“Trong mỗi hạt bụi đều có mười phương thế giới.” Thế giới mười phương vô cùng rộng lớn, hạt bụi nhỏ bé; tuy nhiên không có thế giới nào trở nên nhỏ hơn, và hạt bụi cũng không lan rộng ra. “Tuy nhiên, sự xuất hiện của các hạt bụi và sự xuất hiện của các thế giới không can thiệp lẫn nhau.” Họ bao gồm nhau mà không có bất kỳ sự cản trở nào. “Đây gọi là hạnh không dính mắc.” Thế giới là những hạt bụi; hạt bụi là thế giới. Nhỏ là lớn, lớn là nhỏ.T rải nghiệm điều này là Hạnh Không Dính mắc. Đây là sự hoàn thiện thứ bảy, sự hoàn thiện của phương tiện. Hạnh vô trước là pháp môn phương tiện của Bồ Tát tu, có cảnh giới sự lý chẳng trì trệ, dùng phương tiện khéo léo để độ chúng sinh.

 

  1. Chủng chủng hiện tiền, hàm thị đệ nhất, Ba-la-mật-đa, danh tôn trọng hạnh.

Các thứ hiện tiền đều là Đệ Nhất Ba La Mật Đa, gọi là Tôn Trọng Hạnh.

GiảngHạnh Tôn Kính cũng là sự hoàn thiện của những lời nguyện. Nó được đưa đến sự thành tựu nhờ năng lực của những lời nguyện. “Mọi thứ xuất hiện trước mắt ta đều là ba la mật tối thượng.” Tất cả các trạng thái biểu hiện đều là ba la mật số một, Pháp để đến bờ bên kia. “Đây gọi là Hạnh Tôn Kính.” Đây là hạnh thứ tám. Hạnh nan đắc là pháp môn nguyện của Bồ Tát tu, là đại nguyện đại hạnh, đại từ đại bi, độ khắp chúng sinh.

 

  1. Như thị viên dung, năng thành thập phương, chư Phật quỹ tắc, danh thiện Pháp hạnh.

Viên dung như thế, hay thành tựu quy tắc lợi sanh của mười phương chư Phật, gọi là Thiện Pháp Hạnh.

Giảng: “Với sự hợp nhất hoàn hảo như vậy,” khi mọi thứ trở thành ba la mật tối thượng, “người ta có thể làm mẫu tự mình theo tất cả chư Phật mười phương.” Trong sự tu tập của một người, người ta có thể tuân theo tất cả các quy tắc và quy định được thiết lập bởi tất cả chư Phật trong mười phương. “Đây gọi là Thiện Pháp Hành.” Đó là sự hoàn hảo của sức mạnh. Sự thực hành của chính mình rất mạnh mẽ. Đây là hành vi thứ chín. Hạnh thiện pháp là pháp môn lực của Bồ Tát tu, có trí huệ lực, mới thực hành tất cả pháp lành, có lực ngu si thì muốn làm tất cả pháp ác.

 

  1. Nhất nhất giai thị, thanh tịnh vô lậu. Nhất chân vô vi, tánh bổn nhiên cố, danh chân thật hạnh.

Mỗi mỗi đều trong sạch vô lậu, nhất chơn vô vi, bản tánh vốn như thế, gọi là Chơn Thật Hạnh.

Giảng: Điều thứ mười được gọi là “Hành xử của thực tế chân thật”.“Vậy thì thanh tịnh và không có lậu hoặc trong mọi cách là chân lý căn bản, vô điều kiện, bản chất của bản chất.” “Trong mọi cách” có nghĩa là tất cả chín mục hành trước đó đều được tiến hành trong sạch và không có sự chảy tràn. Thế thì chỉ có một sự thật duy nhất, đó là sự thật vô điều kiện. Và bản chất vốn là như vậy. “Đây gọi là Hành vi của Chân thực.” Điều này tương ứng với sự hoàn thiện của kiến ​​thức. Đây là mười hạnh của một vị Bồ Tát. Hạnh chân thật là pháp môn trí của Bồ Tát tu, lời nói việc làm đều chẳng hư vọng, tất cả đều chân thật.

 

THẬP HỒI HƯỚNG

  1. A-nan! Thị Thiện nam tử, mãn túc thần thông, thành Phật sự dĩ. Thuần khiết tinh chân, viễn chư lưu hoạn. Đương độ chúng sanh, diệt trừ độ tướng. Hồi vô vi tâm, hướng Niết-Bàn lộ. Danh cứu hộ nhất thiết chúng sanh, ly chúng sanh tướng hồi hướng.

A Nan! Thiện nam tử ấy, thần thông đầy đủ, Phật sự đã thành; tự tánh tinh túy thuần chơn, xa lìa các lỗi lầm, ngay khi hóa độ chúng sanh mà diệt tướng năng độ, sở độ, hồi tâm vô vi hướng đạo Niết Bàn, gọi là Cứu Hộ Nhất Thiết Chúng Sanh, Ly Chúng Sanh Tướng Hồi Hướng.

Giảng: “Anan, những người thiện nam này, những người đã tu tập Thập Hạnh, phát triển được trí tuệ chân chính đến mức sự thực hành của họ được cho là chân thật và chân thực, lúc đó đầy đủ thần thông, thì đã làm được công việc của chư Phật.” Trong khắp mười phương, họ thực hiện vô số hành động nhân danh chư Phật.Chưa hết:
Vô số pháp môn họ tu tập chỉ là những bông hoa trong không gian.
Các đạo tràng họ ngồi giống như mặt trăng trong nước,

Và việc chinh phục đội quân ma quỷ chỉ là hình ảnh phản chiếu trong gương. Họ làm những việc vĩ đại của chư Phật trong khi đang ở giữa giấc mơ. Điều đó thể hiện sự không gắn bó của họ. Mọi thứ giống như một ảo ảnh, một sự biến đổi; không có gì thực sự tồn tại. Vì thế đừng dính mắc vào bất cứ điều gì. Hãy nhìn thấu tất cả, đặt nó xuống và bạn có thể đạt được sự tự chủ.

“Họ hoàn toàn thanh tịnh và tuyệt đối chân thật, họ đã thành tựu trạng thái đó, và họ đã xa lìa chướng ngại và tai họa. ”Họ không bị cản trở dưới bất kỳ hình thức nào.“ Sau đó, họ đưa chúng sinh vượt qua trong khi gạt bỏ vẻ ngoài đưa họ vượt qua. ”Họ giải cứu những người họ nên giải cứu mà không hề có bất kỳ ý nghĩ nào về việc giải cứu họ. Kinh Kim Cương cũng giải thích điều này; Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy ở đó:

“Ta nên đưa tất cả chúng sinh đến chỗ diệt vong, tuy nhiên khi tất cả chúng sinh bị đưa đi như thế, thì không có chúng sinh nào bị đưa đến chỗ diệt vong.”

Một lần nữa, điều này có nghĩa là người ta không được dính mắc và nghĩ rằng, “Tôi đã làm điều này, tôi đã làm điều kia.” Người ta xây một ngôi chùa và sau đó không thể quên được ý nghĩ rằng mình là người xây dựng và đã tích lũy được rất nhiều công đức. Đó là vẫn còn một diện mạo còn sót lại.

“Họ đưa chúng sinh vượt qua trong khi gạt bỏ vẻ ngoài đưa chúng đi qua.” Bạn không coi hành động đó là điều bạn đã làm mà là điều bạn đáng lẽ phải làm. Đó là trách nhiệm của bạn ngay từ đầu; tại sao bạn cần phải cho bất cứ ai biết nó đã được thực hiện? Nếu bạn lải nhải về những gì mình đã làm, điều đó có nghĩa rằng đó là điều bạn không cần phải làm. Ngược lại, có người lại nói: “Đời này tôi không trộm cắp hay giết ai cả. Tôi chưa bao giờ làm điều gì xấu, vậy tại sao mọi việc lại không tốt hơn cho tôi?” Điều này ngụ ý rằng ban đầu họ có số phận là trộm cắp và giết người, nhưng họ đã kiềm chế không làm như vậy và nên được khen thưởng vì điều đó. Đây là một quan điểm sai lầm.

“Họ chuyển hóa tâm vô vi và đi tới con đường Niết Bàn.” Họ chuyển tâm vô vi của Tiểu Thừa về Niết-bàn.“ Đây gọi là Chuyển di cứu độ và bảo vệ chúng sinh, ngoại trừ hình tướng của chúng sinh.” Họ coi đó là trách nhiệm của mình trong việc giải cứu chúng sinh, và vì vậy họ không có vẻ ngoài là đã giải cứu chúng sinh. Họ không suy ngẫm về số lượng công đức và đức hạnh có được trong việc cứu độ chúng sinh.”Đó là công việc của tôi. Đó là điều tôi nên làm”, bạn nên nghĩ như thế nào.

“Nhưng,” bạn hỏi, “Không phải có công đức trong việc cứu độ chúng sinh sao?” Vâng, có. Nhưng đừng tập trung vào nó. Những gì đã qua là quá khứ. Những gì bạn đã làm, bạn đã làm. Đừng bám víu vào ý tưởng cứu độ chúng sinh. Điều này không có nghĩa là bạn không nên cứu độ chúng sinh; điều đó có nghĩa là bạn không nên chứa chấp vẻ ngoài đã đưa họ vượt qua.

Lìa tướng chúng sinh hồi hướng: Ðây là đại nguyện của Bồ Tát, muốn cứu hộ khắp tất cả chúng sinh, mà chẳng chấp tướng. Là sự “hồi hướng lìa tướng hồi tự hướng tha”. Như trong Kinh Kim Cang có nói:

“Như vậy diệt độ tất cả chúng sinh,
Mà thật chẳng có một chúng sinh được diệt độ”.

Nghĩa là nói lìa tướng hồi hướng, lìa tướng chúng sinh. Bồ Tát cứu độ tất cả chúng sinh, mà chẳng kể công, chẳng chấp tướng, chẳng khoe khoang. Ngài đem tất cả công đức thiện nghiệp hồi hướng cho tất cả chúng sinh. Lìa các tướng, tức là lìa khỏi sự chấp trước. Nếu có sự chấp trước, thì sẽ tự mãn, sẽ kiêu ngạo. Một khi sinh tâm kiêu ngạo, thì vĩnh viễn sẽ không thể khai mở đại trí huệ. Sự khó khăn nhất, quang trọng nhất của sự tu hành, là tu lìa sự chấp trước, lìa sự kiêu ngạo, nếu không thì không thể nào đắc được sự giải thoát. Chấp trước thì giống như dùng sợi dây thừng tự trói buộc mình, cho nên nói không thể được giải thoát. Người chấp trước, thì tâm lượng nhỏ, không thể dung chứa người, dung chứa vật, tuyệt đối sẽ chẳng có đại trí huệ, chẳng có đại trí huệ quang minh. Người chẳng chấp trước vào “người, sự việc, thời, đất, vật”, mới có thể cứu độ tất cả chúng sinh, lìa tướng chúng sinh hồi hướng, cuối cùng tự nhiên sẽ đạt đến bồ đề viên mãn, quy vô sở đắc, khai đại ngộ, được đại trí huệ.

 

  1. Hoại kỳ khả hoại, viễn ly chư ly. Danh bất hoại hồi hướng.

Hoại cái có thể hoại, tức xa lìa chúng sanh tướng, tướng xa lìa cũng phải lìa, vậy tướng hoại thì sở không, lìa cái Lìa thì năng không; năng sở đều không, bản giác bất hoại, gọi là Bất Hoại Hồi Hướng.

Giảng: “Cái gì nên hủy diệt” có nghĩa là bỏ đi những gì không nên giữ lại.Họ là gì? Dù chúng ta có nói bao nhiêu đi nữa thì nó vẫn luôn quay trở lại những điều giống nhau: nghiệp chướng, vô minh và phiền não.Hãy loại bỏ những thứ này. Tiêu diệt chúng. “Xa xa những gì nên bỏ lại phía sau” có nghĩa là thoát khỏi lỗi lầm của mình. Chẳng hạn, người tu Đạo không nên có tham, sân, si. Bạn nên tiêu diệt chúng.Tất cả các pháp tốt nên được chấp nhận. Tất cả các pháp xấu nên bị từ chối. Hãy lùi xa về phía sau bạn.Điều này “được gọi là Bất Hoại Hồi Hướng.” “không thể phá hủy” là gì? Những thiện căn vốn có của bạn là không thể phá hủy. Ban đầu của bạn bản chất giác ngộ hiện hữu là không thể phá hủy. Với sự chuyển di của tính bất hoại bạn phải tiêu diệt những gì nên tiêu diệt và giữ lại những gì không thể hủy diệt.

Bất hoại hồi hướng: Thế nào là bất hoại ? Là chẳng hoại căn lành, chẳng hoại công đức lành, chẳng hoại tâm bồ đề, chẳng hoại tâm kim cang, chẳng hoại giới định huệ, chẳng hoại tâm tin kiên cố nơi Tam Bảo. Ðem hết thảy công đức căn lành tâm bồ đề của mình, hồi hướng hết cho pháp giới tất cả chúng sinh, khiến cho căn lành công đức, tâm bồ đề, tâm kim cang .v.v… Của chúng sinh cũng chẳng hoại diệt. Tôi phát bốn thệ nguyện lớn, tức cũng đồng như chúng sinh phát, đây là bất hoại hồi hướng.

 

  1. Bổn giác trạm nhiên, giác tề Phật giác. Danh đẳng nhất thiết Phật hồi hướng.

Bản giác trạm nhiên, tâm giác đồng như Phật giác, gọi là Đẳng Nhất Thiết Phật Hồi Hướng.

Giảng: “Căn bản giác ngộ” ám chỉ bản chất của Như Lai tạng vốn có trong tất cả chúng ta. Nó “thật sâu sắc” và thuần khiết. Đó là “sự giác ngộ ngang bằng với sự giác ngộ của chư Phật”. Sự giác ngộ của tâm chúng ta cũng giống như sự giác ngộ của chư Phật.“ Đây gọi là Sự Chuyển Di Đồng Như Với Tất Cả Chư Phật.” Ðồng tất cả chư Phật hồi hướng: Tôi nguyện học pháp môn hồi hướng của chư Phật ba đời tu hành, theo sự hồi hướng của chư Phật ba đời đã phát ra. Ðem hết thảy tất cả công đức của mình làm được, đồng như chư Phật hồi hướng cho pháp giới chúng sinh.

 

  1. Tinh chân phát minh, địa như Phật địa. Danh chí nhất thiết xứ hồi hướng.

Tinh túy sáng tỏ, tâm địa đồng như Phật địa, gọi là Chí Nhất Thiết Xứ Hồi Hướng.

Giảng: “Khi chân lý tuyệt đối của sự chuyển di trước đó được khám phá, cấp độ của một người ngang bằng với cấp độ của tất cả chư Phật.” Đây là cấp độ mở đầu cho địa vị của Đức Phật. “Đây gọi là Sự Chuyển Di Đạt Đến Mọi Nơi.” Ðến tất cả mọi nơi hồi hướng: Ðến tất cả mọi nơi tức là đến nơi rốt ráo, nghĩa là đạt đến được quả vị Phật. Tôi hy vọng thành Phật, cũng muốn cho tất cả chúng sinh sớm thành Phật đạo, hồi hướng như vậy.

 

  1. Thế giới Như Lai, hỗ tương thiệp nhập, đắc vô quái ngại. Danh vô tận công đức tạng hồi hướng.

Thế giới và Như Lai xen lộn lẫn nhau, được chẳng ngăn ngại, gọi là Vô Tận Công Đức Tạng Hồi Hướng.

Giảng: Vô tận công đức tạng hồi hướng: Do sự hồi hướng, nên sẽ thành tựu tạng vô tận công đức. Chúng sinh vô tận, công đức vô tận, cho nên hồi hướng cũng vô tận.

“Thế gian và Như Lai hòa nhập vào nhau không có gì ngăn trở.” Thế giới chính là thân của Như Lai; thân của Như Lai chính là thế giới. Chức năng tuyệt vời của sự thâm nhập tâm linh giúp chúng chứa đựng lẫn nhau. Cũng không có bất kỳ trở ngại nào cho cả hai, cũng không có bất cứ điều gì được sắp đặt về nó.“ Đây gọi là Sự hồi hướng Kho tàng Công đức Vô tận.”

Lương Vũ Đế là một trường hợp điển hình của một người có tư tưởng tạo công đức. Khi gặp Tổ Bồ Đề Đạt Ma, ngài hỏi: “Tôi đã xây dựng nhiều ngôi chùa lớn. Tôi đã ủy thác rất nhiều người vào Tăng đoàn, tôi đã cúng dường chay rộng rãi. Tôi đã xây dựng những cây cầu, cải thiện đường cao tốc, v.v.. Hãy nói cho tôi biết, tôi đã tích lũy được bao nhiêu công đức?”

Ai ngờ Tổ sư lại cau có đáp: “Không có gì cả.”

Hoàng đế đã bị xúc phạm một cách chính đáng và từ chối liên quan gì thêm đến Tổ sư. Thực ra Tổ Bồ Đề Đạt Ma có ý cứu Hoàng đế. Nhưng vì nghiệp chướng của Hoàng đế quá nặng nề nên ông đã bỏ lỡ cơ hội của mình, mặc dù ông đang đối mặt với vị Tổ đầu tiên của Trung Quốc. Giống như câu nói: “Bồ Tát Quán Thế Âm ở ngay trước mặt ngài mà ngài thậm chí còn không nhận ra ngài”.“Tâm Tây” ở ngay trước mặt Lương Vũ Đế mà không gặp được.

Vì sao phải được Tổ Bồ Đề Đạt Ma giải cứu? Bởi vì Tổ biết rằng Hoàng đế sắp gặp tai họa cho mình. Ông hy vọng có thể đánh thức anh ta để anh ta xuất gia tu hành hoặc ít nhất là nhường ngôi cho người khác, nhờ đó tránh phải chết đói. Về cơ bản, Hoàng đế là một người sùng đạo Phật giáo, và trong thời gian trị vì của ông, Phật giáo phát triển mạnh mẽ vì ông đã dùng địa vị hoàng đế của mình để truyền bá Phật pháp, xây dựng chùa chiền khắp đất nước. Phần lớn dân số theo đạo Phật trong thời kỳ trị vì đó. Nhưng anh ấy đã tạo ra một số nghiệp nặng ở kiếp trước. Kiếp trước, hoàng đế là một vị tỳ khưu tu hành trong núi. Có một thời điểm, hàng ngày anh bắt đầu bị một con khỉ ghé thăm và ăn trộm trái cây và rau quả anh trồng. Chẳng bao lâu sau, anh ta không còn nhiều thức ăn nữa. Vì vậy, anh ta đã nhốt con khỉ vào một cái hang và bịt kín lối vào bằng một tảng đá. Ban đầu anh định để nó ở đó vài ngày để dạy cho nó một bài học rồi lại thả nó đi. Rắc rối là anh ta đã quên mất điều đó và con khỉ đã chết đói trong hang.

Khi đó, trong cuộc đời làm hoàng đế, con khỉ được tái sinh thành một vị thần khỉ dẫn đầu một đội quân tấn công Nam Kinh. Sau khi chinh phục được Nam Kinh, khỉ thần nhốt hoàng đế vào một tòa tháp, lấy đi hết thức ăn và bỏ đói. Quả báo của vị tỳ khưu vì đã bỏ đói một con khỉ là con khỉ quay trở lại vào kiếp sau khi vị tỳ khưu là hoàng đế và đã bỏ đói ông ta.

Tổ Bồ Đề Đạt Ma thấy hoàng đế đã tích lũy được rất nhiều công đức, nghĩ rằng hoàng đế có thể lợi dụng công đức đó để giảm bớt tội. Nhưng để điều đó xảy ra thì nguyên nhân và điều kiện cũng phải đúng. Đó là lý do tại sao Tổ Bồ Đề Đạt Ma lại nghiêm khắc với ông như vậy. Nhưng hoàng đế cho rằng mình là một vị vua hùng mạnh, một vị hòa thượng không xu dính túi không có quyền nói chuyện như vậy nên đã xa lánh Tổ. Tổ Bồ Đề Đạt Ma tuy muốn cứu ông nhưng ông không thể làm gì khác hơn là rời đi, vì hoàng đế sẽ không liên quan gì đến ông và cũng không tìm cách được cứu. Cuối cùng, Hoàng đế chết đói dưới bàn tay của linh hồn khỉ.

 

  1. Ư đồng Phật địa, địa trung các các, sanh thanh tịnh nhân. Y nhân phát huy, thủ Niết-Bàn đạo. Danh tùy thuận bình đẳng thiện căn hồi hướng.

Nơi đồng Phật địa, mỗi mỗi sanh ra cái nhân trong sạch, nương nhân ấy mà phát huy, vào đạo Niết Bàn, gọi là Tùy Thuận Bình Đẳng Thiện Căn Hồi Hướng.

Giảng: Sau khi các Bồ Tát đã thành tựu sự hồi hướng trước đó của kho tàng công đức vô tận, thì “vì đồng nhất với đất Phật, nên họ tạo ra các nhân thanh tịnh ở mọi cấp độ. ”Ở mỗi cấp độ trên đường đi, chúng làm khởi lên những nguyên nhân trong sáng, thanh tịnh và không cấu nhiễm.”  Sự sáng chói phát ra từ họ khi họ nương tựa vào những nhân này, và họ đi thẳng vào con đường dẫn đến Niết-bàn. Họ bám vào Đạo không sinh cũng không diệt. Đây gọi là Sự Chuyển di theo Phù hợp với Bản chất của Mọi Căn lành.” Vào tất cả căn lành bình đẳng hồi hướng: Tư tưởng vào sâu tất cả bình đẳng, tâm chẳng phân biệt, khiến cho tất cả chúng sinh đều đắc được căn lành, thuận lý tu thiện, sự lý chẳng trái, vào nơi hồi hướng bình đẳng.

 

  1. Chân căn ký thành, thập phương chúng sanh, giai ngã bổn tánh. Tánh viên thành tựu, bất thất chúng sanh. Danh tùy thuận đẳng quán nhất thiết chúng sanh hồi hướng.

Chơn thiện căn đã thành, thì mười phương chúng sanh đều là bản tánh của ta, thành tựu tánh tròn đầy, chẳng bỏ chúng sanh, gọi là Tùy Thuận Đẳng Quán Nhất Thiết Chúng Sanh Hồi Hướng.

Giảng: “Khi chân căn đã vững chắc thì tất cả chúng sinh trong mười phương đều là tự tánh của ta.” Họ là một và giống như các vị Bồ Tát. Đó là lý do tại sao Bồ Tát muốn cứu độ chúng sinh mà không có hình tướng của chúng sinh. Chư Phật và Bồ Tát xem tất cả chúng sinh đều là bản thể của chính mình. Họ là một với họ. Vì vậy, đối với họ việc cứu độ chúng sinh không thực sự là cứu độ chúng sinh khác; đó chỉ là để tự cứu mình.“ Không một sinh vật nào bị mất đi, vì bản chất này đã được hoàn thiện thành công.” Vì họ là một với tất cả chúng sinh nên không có chúng sinh nào bị bỏ quên.“ Đây gọi là Chuyển di hay Quán xét mọi chúng sinh một cách bình đẳng.”

Nói rằng tất cả chúng sinh đều có bản chất riêng của chúng là nói về những chúng sinh tồn tại bên ngoài chúng. Nhưng chúng ta cũng có thể nói về chúng sinh bên trong, bởi vì có vô số chúng sinh trong cơ thể mỗi chúng ta. Khoa học mô tả các tiểu thể màu trắng và các tiểu thể màu đỏ và xác minh rằng cơ thể chúng ta chứa vô số vi sinh vật. Nếu bạn mở Phật nhãn và nhìn vào cơ thể con người, bạn sẽ thấy vô số chúng sinh ở đó, vô số dạng sinh vật nhỏ bé, thậm chí đến mức khi bạn thở ra, bạn gửi rất nhiều chúng sinh ra ngoài qua hơi thở.Vào thời điểm đó họ lại tái sinh thành chúng sinh. Tương tự như vậy, bạn ăn vô số sinh vật khi bạn hít vào.Vì vậy, thật khó để vạch ra ranh giới rõ ràng giữa việc trở thành động vật ăn thịt và không phải là động vật ăn thịt, nếu bạn đi sâu vào các khía cạnh tinh tế hơn của nó. Ở đây bạn đang lấy đi sự sống trong từng hơi thở, và đó cũng là một hình thức giết chóc nếu bạn làm điều đó với ý định giết người.Tất nhiên, chúng tôi đang đi vào chi tiết ở đây.

Chúng sinh trong cơ thể bạn chỉ là những sinh vật bình thường nếu bạn không tu luyện. Nếu quý vị tu luyện thì họ sẽ thành Phật tánh. Đều có thể trở về nguồn. Bạn quay trở lại cội nguồn và chúng cũng đi theo bạn – tất cả những dạng sống nhỏ bé mà bạn nuôi dưỡng. Nếu chư vị tu luyện đến mức có chút kỹ năng, thì chúng sinh bên ngoài và chúng sinh bên trong chư vị đều trở thành một với chư vị. Nhưng tính đến thời điểm hiện tại, về cơ bản có quá nhiều sinh vật sống. 

Ðồng tuỳ thuận tất cả chúng sinh hồi hướng: Quán sát chúng sinh hồi hướng, chẳng tính toán có bao nhiêu, chẳng phân biệt thân sơ, phân biệt thiện ác, chẳng phân biệt tốt xấu giàu nghèo, đem hết thảy công đức căn lành của tôi, tuỳ thuận chúng sinh, lợi ích chúng sinh, bình đẳng hồi hướng cho tất cả chúng sinh.

 

  1. Tức nhất thiết pháp, ly nhất thiết tướng. Duy tức dữ ly, nhị vô sở trước. Danh như tướng hồi hướng.

Tức nơi nhất thiết pháp, mà lìa nhất thiết tướng cái “tức” cái “lìa”, cả hai đều chẳng dính mắc, gọi là Chơn Như Tướng Hồi Hướng.

Giảng: “Tất cả các pháp đều tách rời khỏi mọi hình tướng.” Ngay trong các pháp phải xa rời mọi hình tướng. Trong sự xuất hiện của các pháp người ta phải tách rời khỏi sự xuất hiện của các pháp. Tuy nhiên, không có sự gắn bó nào với họ tồn tại hoặc tách khỏi chúng. Điều này được gọi là Chuyển di hình tướng của Chân như.  Chân như tướng hồi hướng: Bảy loại hồi hướng ở trên, đều có hình tướng. Nhưng chân như là không hình, không tướng, tuyết đối đối đãi, bặc lời lẽ tư tưởng. Tuy nhiên như vậy, nhưng căn lành có thể hợp vào nơi chân như, cho nên có môn hồi hướng nầy.

 

  1. Chân đắc sở như, thập phương vô ngại. Danh vô phược giải thoát hồi hướng.

Thật đắc Chơn Như, mười phương vô ngại, gọi là Vô Phược Giải Thoát Hồi Hướng.

Giảng: Một định nghĩa về Chân như là “thứ thực sự đạt được”. Nó cũng được mô tả là “sự khôn ngoan do đó làm nảy sinh nguyên tắc như vậy”. Khi được như vậy thì “mười phương không còn chướng ngại”. Bạn có thể du hành khắp cõi Phật trong mười phương mà không gặp trở ngại nào. “Đây gọi là Chuyển di Giải thoát Vô trói buộc.” Không có gì ràng buộc bạn. Bạn được tự do. Không ràng buộc chấp trước giải thoát hồi hướng: Chẳng “ràng buộc”, chẳng “chấp trước”, sinh hoạt ở trong chân lý nhậm vận tự tại, chẳng bị mọi sự ràng buộc nào, đắc được tự do giải thoát. Bồ Tát đắc được “giải thoát không ràng buộc, không chấp trước”, cũng hy vọng tất cả chúng sinh đều đắc được sự tự do” giải thoát không ràng buộc, không chấp trước”, do đó đem sự đắc được của mình, hồi hướng cho pháp giới chúng sinh.

 

  1. Tánh đức viên thành Pháp giới lượng diệt. Danh pháp giới vô lượng hồi hướng.

Đức tánh viên mãn thành tựu, số lượng của pháp giới tiêu diệt, gọi là Pháp Giới Vô Lượng Hồi Hướng.

Giảng: Trước khi công đức của bản tánh được thành tựu viên mãn, trước khi bạn trở thành một với Pháp giới, bạn thậm chí không biết ranh giới của Pháp giới. Khi đức tính của tánh đã được thành tựu viên mãn và bạn trở thành một với Pháp giới, thì bạn biết được ranh giới của Pháp giới. Nhưng vì nó vẫn còn ranh giới nên bạn chưa đạt được thành tựu tối hậu. Bây giờ, “Khi công đức của tánh viên mãn viên mãn thì ranh giới của pháp giới bị tiêu diệt. Ngay cả pháp giới cũng trống rỗng. Đây gọi là Chuyển di Vô lượng Pháp giới.” Vào pháp giới vô lượng hồi hướng: Bồ Tát vào sâu pháp giới, thực hành vô lượng vô biên công đức lành, tận cùng hư không khắp pháp giới, chẳng có một nơi nào mà chẳng có bố thí công đức lành của chư Phật Bồ Tát. Bồ Tát đem căn lành công đức đó, hồi hướng cho pháp giới vô lượng vô biên chúng sinh.

 

TỨ GIA HẠNH

A-nan! Thị Thiện nam tử, tận thị thanh tịnh, tứ thập nhất tâm. Thứ thành tứ chủng, diệu viên gia hạnh.

A Nan! Thiện nam tử ấy, đã tu xong 41 bậc tâm trong sạch, kế đó thành tựu bốn thứ gia hạnh diệu viên:

Giảng: Bồ tát, người tu hành, đạt tới trạng thái thanh tịnh và thành quả trong 41 địa vị.
1) Càn huê địa
2-11) Thập tín
12-21) Thập địa
22-31) Thập Hạnh
32-41) Thập Hồi Hướng

Địa vị kế tiếp là Tứ Gia Hạnh: Noãn Địa, Đảnh Địa, Nhẫn Địa và Thế Đệ Nhất địa

 

  1. Tức dĩ Phật giác, dụng vi kỷ tâm. Nhược xuất vị xuất, do như toản hỏa. Dục nhiên kỳ mộc, danh vi noãn địa.

Tức đem Phật giác, dụng làm tự tâm, cũng như dùi cây lấy lửa, cây chưa đốt cháy, lửa sắp ra mà chưa ra, gọi là Noãn Địa.

Giảng: Đem cái Phật giác là cái tâm để tu hành. Thế nào là noãn? Thường chuyên cần tinh tấn gọi là noãn. Các thứ phiền não là củi, trí vô lậu là lửa, lửa gần phát cháy hơi ấm ban đầu gọi là noãn. Ví như dùi lửa, lúc mới dùi nó ra khói, ấy là noãn. Nó là tướng ban đầu của đường đến Niết-bàn. Có noãn tướng là thâm đắc nhất tâm, được tương tợ thật pháp, đến bên ranh vô lậu. Hành giả khi ấy được đại an ổn, tự nghĩ: Ta quyết định sẽ được Niết-bàn, vì thấy được tướng này. Như người đào giếng được thấy đất ướt, biết sẽ đến nước không lâu. Như người đánh giặc, giặc lui tan hết, tự biết đắc thắng, trong ý an ổn. Như người kinh hãi chết giấc, muốn biết họ sống chăng, hoặc lấy kim chích vào thân, hoặc chẩn mạch xem còn nhảy không, nếu biết họ còn ấm tức là sẽ sống. Như người nghe pháp suy nghĩ trong tâm thích thú, khi ấy tâm nóng. Hành giả có noãn pháp như thế gọi là có noãn, cũng gọi là được phần thiện căn đến Niết-bàn. Pháp thiện căn này có mười sáu hạnh, Tứ đế duyên là một trong sáu địa, là nền tảng của trí tuệ và tất cả pháp vô lậu. Người được bước đầu vô lậu hay đi an ổn, ấy gọi là Noãn pháp.

 

  1. Hựu dĩ kỷ tâm, thành Phật sở lý. Nhược y phi y, như đăng cao sơn. Thân nhập hư không, hạ hữu vi ngại. Danh vi đảnh địa.

Lại dùng tâm mình thành chỗ hành của Phật cũng như người đứng trên chót núi, toàn thân đã vào hư không, nhưng dưới chân đôi khi còn hơi dính đất, như có chỗ nương mà chẳng phải nương, gọi là Đảnh Địa.

Giảng: Được nhất tâm thanh tịnh hợp với trí tuệ chân thật. Tăng tiến chuyển lên gọi là Đảnh pháp. Hành giả quán thật tướng các pháp, tự nghĩ: Ta sẽ lìa khổ được giải thoát. Tâm thích pháp chân thật này hay trừ các thứ khổ hoạn và già, bệnh, chết.

 

  1. Tâm Phật nhị đồng, thiện đắc trung đạo. Như nhẫn sự nhân, phi hoài phi xuất. Danh vi nhẫn địa.

Tâm với Phật đồng, khéo đắc trung đạo, như người hay nhẫn nại, niệm chẳng phân biệt, chẳng nhớ, chẳng quên, chẳng thể nói ra, gọi là Nhẫn Địa.

Giảng: Chuyên cần tinh tấn nhất tâm vào trong Niết-bàn, lại quán rành rõ pháp Ngũ ấm, Tứ đế, Mười sáu hạnh. Khi ấy tâm không sụt, không hối hận, không thối lui, ưa thích vào nhẫn, gọi là Nhẫn thiện căn. Nhẫn những gì? Tùy thuận hành Tứ đế gọi là Nhẫn. Cái thiện căn này có ba bậc thượng, trung, hạ và ba thời. Thế nào gọi là Nhẫn? Quán ngũ ấm vô thường, khổ, không, vô ngã, tâm nhẫn không thối chuyển gọi là Nhẫn. Quán các pháp thế gian thảy đều là khổ, không, không vui. Cái khổ này do các thứ phiền não, ái v.v… tập hợp. Cái tập ấy bị trí tuệ diệt sạch, đó là thượng pháp không có pháp nào hơn, Bát chánh đạo hay khiến người tu hành được Niết-bàn không có lối nào bằng. Tín tâm như thế không hối hận, không nghi ngờ, ấy gọi là Nhẫn. Trong tâm có sức nhẫn nên các kiết sử, các thứ phiền não nghi ngờ không thể chen vào phá hoại tâm được, ví như núi đá, các thứ gió, nước không thể làm trôi dạt, lay động được, ấy gọi là Nhẫn. Người được như vậy gọi là người được bước đầu vô lậu chân thật tốt đẹp.

 

  1. Số lượng tiêu diệt, mê giác trung đạo. Nhị vô sở mục danh thế đệ nhất địa.

Số lượng tiêu diệt, mê, giác và trung đạo đều chẳng thể gán tên, gọi là Thế đệ Nhất địa.

Giảng: Người này tăng tiến nhất tâm rất nhàm chán thế giới, muốn biết rành rõ tướng Tứ đế để tiến đến Niết-bàn. Trong nhất tâm như thế gọi là thế gian đệ nhất. Một thời trụ tứ hạnh – vô thường, khổ, không, vô ngã – quán một đế khổ pháp nhẫn và các khổ duyên. Thế nào là quán ngũ ấm trong Dục giới là vô thường, khổ, không, vô ngã? Trong đây tâm nhẫn vào trí tuệ, cũng là Tâm vương và Tâm sở tương ưng, gọi là khổ pháp nhẫn. Thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp và các hạnh không tương ưng với tâm, đời hiện tại, đời vị lai tất cả pháp vô lậu ban đầu, gọi là khổ pháp nhẫn. Thứ lớp sanh khổ pháp trí, khổ pháp nhẫn, trí đoạn kiết sử khổ pháp được chứng đạo. Ví như hai người đối địch, một người cầm đao bén, một người cầm dây trói thì người cầm đao giết được người cầm dây. Cũng như dao bén chẻ tre qua mắt dễ dàng. Do công phu của nhẫn trí hay đoạn được kiến chấp ràng buộc trong Dục giới và mười món kiết sử. Bấy giờ được cái dị đẳng trí, chưa được vô lậu trí, chỉ được vô lậu tuệ, khi ấy thành tựu một trí. Trong tâm thứ hai thành tựu pháp trí, khổ trí, đẳng trí. Qua tâm thứ ba và thứ tư thành tựu tứ trí: khổ trí, pháp trí, tỷ trí, đẳng trí. Trong đạo pháp diệt đế mỗi trí được tăng, người ly dục thành tựu tăng trưởng tha tâm trí.

 

THẬP ÐỊA

  1. A-nan! Thị Thiện nam tử. Ư đại bồ-đề, thiện đắc thông đạt. Giác thông Như Lai, tận Phật cảnh giới. Danh hoan hỉ địa.

A Nan! Thiện Nam tử ấy, khéo được thông đạt nơi Đại Bồ Đề, chỗ giác ngộ thông với Như Lai, cùng tột cảnh giới của Phật, gọi là Hoan Hỷ Địa.

Giảng: Những vị Thiện Tri Thức là những vị Bồ Tát đã đạt tới địa vị Thế Đệ Nhất Địa. Trong kinh nói rằng các vị đã thông đạt nơi đại bồ đề, thật ra thì không có cái gì để thông đạt. Cái chỗ giác ngộ thông với Như Lai có nghĩa là Giác Ngộ là Như Lai và Như Lai là Giác Ngộ. Các vị đã đạt tới cùng cảnh giới của Phật. Các vị có thể gọi là Phật khi họ đạt tới cảnh giới không còn gì để giác ngộ. Nhưng cái cảnh không giới vẫn là không, cho nên đừng có bị vấn mắc vào nơi đó

Tánh không là trạng thái không có gì cả. Nhưng khi họ cùng tột cảnh giới của Phật, thì trong sự trống rỗng chân chính nảy sinh sự tồn tại tuyệt vời. Sự tồn tại tuyệt vời đó là hạnh phúc. Vậy à ban đầu nó chỉ là cách đó! Đó là sự phát sinh của hạnh phúc. Quý vị không hiểu trước đây, nhưng bây giờ quý vị hiểu. Một sự hoan hỷ không thể diễn đạt. Đây được gọi là Hoan Hỷ Địa

 

  1. Dị tánh nhập đồng, đồng tánh diệc diệt, danh ly cấu địa.

Tánh dị nhập đồng, tánh đồng cũng diệt, gọi là Ly Cấu Địa.

Giảng: Trong địa vị trước có hoan hỷ, và vì vậy có một danh từ. Tuy rằng không có chổ để chứng, nhưng vẫn còn danh, cái đồng tánh. Trong địa vị trước, đồng và tánh nhập, nhưng cái đồng vẫn còn. Đến địa vị thức hai nầy, cái đồng cũng diệt. Địa vị thứ nhì gọi là Ly Cấu Địa, có nghĩa là lià bỏ tất cả mọi sự trần cấu. Tới địa nầy thì vô minh cũng diệt gần hết, bổn tánh đồng với Như Lai. Các vị chỉ còn một chấp trước, một chút ô nhiễm. Bây giờ “tánh đồng cũng diệt”. Cái chấp về tánh đồng với Phật không còn nữa. Họ đã quay trở lại nguồn, quay lại bổn tánh Như Lai, Như Lai tạnh tánh. Không còn danh hay tướng. Đó gọi là Danh Ly Cấu Địa. Hạnh phúc vẫn là một tiểu phiền não. Nếu có điều gì đó bạn thích, thì bạn vẫn có phản ứng cảm xúc. Ở địa vị thứ hai, tất cả các phiền não bỏ lại phía sau. Sự thiếu hiểu biết cũng bị giảm đi. Nhưng ở cấp độ này, vô minh vẫn chưa hoàn toàn bị cắt đứt.

 

  1. Tịnh cực minh sanh, danh phát quang địa.

Trong sạch thì phát ra ánh sáng, gọi là Phát Quang Địa.

Giảng: Bồ Tát ở địa vị thứ nhất không hiểu cảnh giới của Bồ Tát ở địa vị thứ nhì. Và Bồ Tát ở địa vị thứ nhì không thấu hiểu được cảnh giới của Bồ Tát ở địa vị thứ ba. “Trong sạch thì phát ra ánh sáng.” Địa vị trước là Ly Cấu Địa. Nếu còn “Trụ” hay “Ly” thì vẫn còn chấp. Chỉ khi nào không còn gì để trụ ly thì mới hoàn toàn trong sạch. Hãy xem xét kỹ càng qua một ví dụ. Quý vị quét nhà để làm sạch sàn nhà. Quý vị đặt chổi sang một bên khi sàn nhà sạch. Miễn là chúng ta vẫn còn quét sạch, nó vẫn chưa sạch.

Khi các vị đạt tới thân tâm thanh tịnh, hào quang sáng chiếu. Vì vậy, đại vị đất thứ ba được gọi là Pháp Quang Địa

 

  1. Minh cực giác mãn, danh diệm tuệ địa.

Sáng tỏ thì giác tánh sung mãn, gọi là Diệm Huệ Địa.

Giảng: Hào quang sáng chói đến cực đỉnh và giác tánh sung mãn. “Diệm Huệ” có nghĩa là trí huệ khai mở và chiếu sáng như một ngọn lửa, hỏa diệm. Địa vị thứ tư được gọi là Diệm Huệ Địa

 

  1. Nhất thiết đồng dị, sở bất năng chí, danh nan thắng địa.

Tất cả đồng dị đều chẳng thể đến, gọi là Nan Thắng Địa.

Giảng: “Nhất thiết đồng dị” có nghĩa là không những mọi thứ đều bình đẳng, mà mọi thứ đều giống như nhau. Các vị Bồ Tát đều có một thân giống như nhau. Không có cách nào để phân biệt bởi vì trên bổn tánh không có danh hay tướng. Địa vị nầy được gọi là “Nan Thắng Địa”. Không có một thứ gì có thể trội qua được sự hiểu biết. Trí tuệ vượt qua hẳn các địa vị trước.
Có phải chỉ một vị Bồ Tát đạt được địa vị thứ năm nầy không? Đúng chỉ có một vị Bồ Tát. Và tuy rằng vị Bồ Tát nầy không phải chỉ một vị Bồ Tát. Chỉ có một, nhưng không phải là một. Đây là diệu pháp trong Phật Pháp.

Một vị Bồ Tát đạt tới địa vị nầy. Nhưng có triệu triệu Bồ Tát khác cũng đạt tới địa vị nầy. Thí dụ như trong nhà quý vị là người đạt được bằng tiến sĩ (PhD), có nghĩa là quý vị là người trong nhà có bằng tiến sĩ. Nhưng cũng có những người khác trong xã hội cũng đã đạt được bằng tiến sĩ. Không chỉ một vị Bồ Tát, mà có thể cả triệu vị Bồ Tát cũng đã đạt được quả vị Nam Thắng Địa.

 

  1. Vô vi chân như, tánh tịnh minh lộ, danh hiện tiền địa.

Tánh trong sạch hiển lộ, Chơn Như vô vi gọi là Hiện Tiền Địa.

Giảng: Tất cả trí huệ đều hiện tiền. “Vô vi chân như, tánh tịnh minh lộ”. Tuy là vô vi, nhưng lại không có cái gì là không hữu vi. Chân Như có nghiã là bổn tánh của Như Lai. Đó là Pháp Vương. Với vô vi chân như, mọi thứ nằm trong trạng thái thanh tịnh, chân như hiện bày. Không có thứ gì mà không chân thật, không có cái gì mà không ở trong trạnh thái như vậy. Tánh tịnh minh lộ, tánh trong sạch hiển lộ. Đây là địa vị thứ sáu gọi là Hiện Tiền Địa, bởi vì Bồ Tát tánh hiện tiền

 

  1. Tận chân như tế, danh viễn hành địa.

Cùng tột bờ bến của Chơn Như, gọi là Viễn Hành Địa.

Giảng: Khi Bồ Tát tu đến địa vị nầy, có thể bay đi biến hoá, hành động tự như. Chân Như không có giới hạn, không có điểm hạn chế, vậy là như sao? Một lần nữa, nó là mô tả. Thực sự chân như không có bờ biến, bởi vì nó không có giới hạn. Vì vậy kinh nói rằng: “Cùng tột bờ bến của Chơn Như.”

Nó giống như khi chúng ta nói rằng không gian trống rỗng đã bị tan biến. Nhưng không gian trống rỗng đã không phải là vật chất lúc ban đầu, làm sao nó có thể tan biến. Lời giải thích tại đây cũng là lời khó hiểu biết. Chân như không có giới hạn. Nó bao gồm trong 10 cõi pháp trong tất cả chúng sanh. Làm sao có ranh giới? Cái gì nằm ngoài 10 cõi pháp giới. Không có. Cho nên tại đây nói rằng: Đã tới bờ bến của Chân như. Đó là đi đến thật xa? Bao xa? Ai mà biết được? Chúng ta có thể nói rằng đó là “Viễn Hành Địa”. Người thường không thể nào tới đó. Chỉ có Bồ Tát tại địa vị thứ bảy mới tới chỗ xa ấy.

 

  1. Nhất chân như tâm, danh bất động địa.

Nhất tâm chơn như, gọi là Bất Động Địa.

Giảng: Tức là thần thông không động đạo tràng, mà du khắp mười phương. “Nhất tâm chân như” là chân như pháp giới. Người ta nói rằng Tâm là Phật và Phật là Tâm. Bây giờ Chân như là Tâm và Tâm là Phật. Không còn có sự khác biệt giữa Chân Như và Tâm. Khi Chân Như không có giới hạn, tâm Bồ Tát cũng không có giới hạn. Khi tâm không còn giới hạn, các vị đi đâu? Các vị không còn đi đâu nữa. Vì vậy, họ được gọi là Bất Động Địa. Bất Động trong tánh Bồ Đề, họ có mặt ở khắp pháp giới. Đây là địa vị thứ tám

 

  1. Phát chân như dụng, danh thiện tuệ địa.

Chơn như phát dụng, gọi là Thiện Huệ Địa.

Giảng: Bồ Tát tu được thần thông biến hoá tự như, du khắp mười phương, liền đắc được Bát nhã trí huệ thù thắng. Tại địa vị thứ tám, Chân Như và Tâm trở thành một, và được gọi là Bất Động Địa. Nhưng nếu bất động và không di động thì thật là vô ích. Tuy nhiên, trong Chân Như, chức năng bây giờ pháp dụng. Chức năng của chân như là gì? Chứa năng của Chân Như thật là vĩ đại. Nếu là bé nhỏ, vậy nó chỉ có một chứa năng. Nhưng chức năng vĩ đại có thể sử dụng như ý.

Tùy theo phương tiện, họ bất động. Trong bất động, họ đối sử theo phương tiện. Họ luôn luôn sử lý theo phương tiện, nhưng lúc nào cũng bất động. Họ tuy bất động, nhưng vẫn làm theo phương tiện. Những hành động phải pháp dụng trong trí tuệ. Cho nên pháp chân như dụng, gọi là Thiên Huệ Địa. Đây là địa vị thứ 9. Trí huệ chân như

 

  1. A-nan! Thị chư Bồ-tát, tòng thử dĩ vãng. Tu tập tất công, công đức viên mãn. Diệc mục thử địa, danh tu tập vị. Từ uẩn diệu vân, phúc Niết-Bàn hải, danh Pháp vân địa.

A Nan, công hạnh tu tập của Bồ Tát từ trước đến đây, công đức viên mãn, cũng gọi địa này là Tu Tập Vị, tức dùng đám mây nhiệm mầu, đầy đủ từ bi trí huệ, che chở chúng sanh, khắp biển Niết Bàn

Giảng: Công đức của Bồ Tát tu hành giống như mây che hộ khắp tất cả chúng sinh. Anan, ngươi nên hiểu rằng Bồ Tát từ trước đến nay đã thành công viên mãn. Lúc ban đầu, tại địa vị Càn Huệ Địa, được gọi là bước đầu tiên Bồ Tát đạo, cho đến địa vị thứ chín của thập địa Bồ Tát. Tổng cộng là 54 địa vị. Khi vị Bồ Tát đi đến địa vị này, họ đã đến địa vị viên mãn. Họ đã thành tựu. “Công đức viên mãn”, trên con đường tu học đến chánh quả, họ đã đạt được quả vị. Họ sắp trở thành Phật. Những địa vị trước kia được gọi là Tu Tập Vị.

“Nhiệm mầu” và “Từ Bi” là Pháp. “Bảo vệ” và “Che Chở ” nằm trong danh từ đám mây, tượng trưng cho che chở chúng sanh. Một mà che chở cho tất cả chúng sanh. Tất cả Phật và Bồ Tát hiện khắp biển Niết Bàn. Đây là địa vị thứ 10 được gọi là Tu Tập Vị. Tại địa vị nầy, Bồ Tát che chở tất cả chúng sanh

 

ĐẲNG GIÁC

Như Lai nghịch lưu, như thị Bồ Tát. Thuận hành nhi chí, giác tế nhập giao, danh vi đẳng giác.

Như Lai ngược dòng từ quả vị trở lại nhân địa, cứu độ chúng sanh; Bồ Tát thuận hành từ chúng sanh tu đến quả Phật, thuận ngược đều giao tiếp nơi Bổn Giác, gọi là Đẳng Giác.

Giảng: Thực Trí của Bồ Tát (Căn Bản Trí) lên mà hợp với Giác Tâm nên thuận dòng mà vào. Kinh Anh Lạc nói: “Đẳng Giác chiếu tịch, Diệu Giác tịch chiếu”, tức là nghĩa này. Ranh giới của hai Giác nên gọi là nhập vào nhau. Thể nhập vào nhau tức là tiếp hợp với dòng nước pháp của Như Lai vậy. Bèn ở chỗ này gọi là Đẳng Giác Vị, tức nói cái Giác cùng Như Lai bình đẳng không sai khác, chỉ chưa cùng tột trong chỗ Diệu đó thôi. Tức thời từ biển Đại Tịch Diệt ngược dòng mà ra, Diệu đồng khắp vạn vật, mới gọi là Diệu Giác.

“Như Lai nghịch dòng” có nghĩa là vị thiện tri thức nầy đã là Phật. Nhưng họ đi nghịch dòng và hiện thân tại nơi đây để độ các chúng sanh. Từ điạ vị Phật, họ trở lại con đường Bồ Tát đạo để tiếp đón các vị Bồ Tát khác. Đó là ý nghiã của nghịch dòng. “Các vị Bồ Tát đi đến địa vị nầy qua tu hành.” Các vị đi thuận dòng. “Dòng” là con đường tu hành từ quả vị A La Hán đến Bồ Tát, và đi đến Phật Quả, con đường mà Bồ Tát chưa trải nghiệm qua. Vì vậy họ đi thuận dòng để đi đến con đường Phật quả. Bây giờ, họ đã gặp Phật.

“Giao tiếp nơi Bổn Giác”. Thực trí của Bồ Tát và Diệu Tâm của Phật giao tiếp tại nơi đây. Tại đây được gọi là Đẳng Giác. Những vị Bồ Tát bình đẳng với Phật. Nhưng họ chưa giác ngộ viên mãn. Con đường tu hành và giác ngộ đồng với Như Lai, nhưng họ vẫn còn một chúc vô minh. Họ phải diệt trừ hết vô minh. Vô Minh thật khó từ bỏ. Cho đến khi họ trừ bỏ, họ mới trở thành Phật

 

DIỆU GIÁC

A-nan! Tùng kiền tuệ tâm, chí đẳng giác dĩ. Thị giác thủy hoạch, Kim Cang tâm trung, sơ kiền tuệ địa. Như thị trọng trọng, đan phức thập nhị. Phương tận diệu giác, thành vô thượng đạo.

A Nan! Từ Càn Huệ Tâm đến bậc Đẳng Giác rồi giác ấy mới được viên mãn nơi Tâm Kim Cang. Bắt đầu từ Càn Huệ Địa từng lớp tiến lên, trải qua 12 ngôi vị đơn và phức mới đến Diệu Giác, thành Vô Thượng Đạo.

Giảng: Sơ Càn Huệ Địa trong Tâm Kim Cương tức là Tâm Càn Huệ ở trước. Kim Cương là nói do phá tan các pháp mà có tên. Các pháp có thể phá hoại, độc chỉ cái Huệ Kim Cương này không thể phá hoại. Ở trước là muốn tu tập cái Sơ Càn thuần là Trí Huệ, Trí Huệ đó không hai, chỉ có cái khô [Càn] là không cùng tận. Từ địa vị Thứ Mười trở về trước, cứ lấy một địa để phá hoại một địa, cho đến khi không có một pháp nào để đắc, nên nói: “Cái Giác này mới được Sơ Càn Huệ Địa trong Tâm Kim Cương. Mỗi địa vị lại có mười bậc nên gọi là kép. Lớp lớp như vậy, tiệm tu tiệm chứng, gồm tất cả mười hai tầng bậc mới đến Diệu Giác mà thành Vô Thượng Đạo. Nên bậc Đẳng Giác vẫn còn ở địa vị Thứ Mười Một nên chưa cùng tột, chỉ có địa vị Thứ Mười Hai mới cùng tột vậy.

 

Thị chủng chủng địa, giai dĩ Kim Cang. Quan sát như huyễn, thập chủng thâm dụ. Xa ma tha trung. Dụng chư Như Lai, tỳ bà xá na. Thanh tịnh tu chứng, tiệm thứ thâm nhập.

Mỗi mỗi địa ấy, đều lấy trí Kim Cang quan sát mười thứ ví dụ như huyễn, dùng Xa Ma Tha (chỉ) và Tỳ Bà Xá Na (quán) của chư Như Lai tu chứng trong sạch lần lượt sâu vào.

Giảng: Mỗi địa đều lấy trí huệ Kim Cang quan sát mười thứ ví dụ như huyễn.

Mười thứ thí dụ sâu xa là nên Quán rằng:
1. Hết thảy nghiệp như huyễn
2. Hết thảy pháp như bóng hơi nóng [Diệm]
3. Hết thảy tánh như bóng trăng trong nước
4. Sắc diệu như hư không
5. Tiếng diệu như vang

6. Quốc độ Chư Phật như thành Càn Thát Bà
7. Phật sự như mộng
8. Phật Thân như ảnh
9. Báo Thân như hình tượng
10. Pháp Thân như hoá.

Mười phương Như Lai thành tựu Bồ Đề đều có phương tiện ban đầu là Xa Ma Tha, Tam Ma Bát Đề, Thiền Na mầu nhiệm. Cho đến Trí Kim Cương Quán Sát, Như Huyễn Tam Muội thì chỉ Đức Quán Thế Âm là Đệ Nhất.

 

A-nan! Như thị giai dĩ, tam tăng tiến cố. Thiện năng thành tựu, ngũ thập ngũ vị, chân Bồ-đề lộ. Tác thị quán giả, danh vi chánh quán. Nhược tha quán giả, danh vi tà quán.

A Nan! Như thế đều dùng ba tiệm thứ tiến tu, nên khéo thành tựu 55 quả vị trong đạo Bồ Đề chơn thật. Quán như thế gọi là chánh quán, chẳng quán như thế gọi là tà quán.

Giảng: Do đó, năm mươi lăm Vị của con đường Bồ Đề cũng do trong ba tiệm thứ tăng tiến, ngược dòng toàn nhất. Bắt đầu là xoay lại cái Nghe, cái phương tiện tối sơ này cũng là Như Huyễn Quán Sát theo thứ lớp: hết Nghe cũng chẳng trụ, Giác và Sở Giác đều Không; Không, Sở Không diệt, sanh diệt đã diệt đó là Tịch Diệt Hiện Tiền. Làm cái Quán như thế đó là Một đường vào Niết Bàn của mười phương Chư Phật. Nếu Quán khác đi, chẳng trụ trong mười thứ thí dụ sâu xa của Kim Cang Quán Sát tức thuộc về sanh diệt, tức là Tà Quán vậy.