Sanh do Thức ấm mà có, Diệt từ Sắc ấm mà Trừ
Trong duy thức học có câu: “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức” Mọi thứ trên thế gian nầy đều do thức biến hiện.
Có người lại hỏi: Nếu vạn vật duy thức biến hiện và không có thực, vậy sông núi nó có từ đâu và sẽ đi về đâu, có từ bao giờ, và bao giờ tiêu mất. Thế nhưng tại sao ta vẫn thấy xe, thấy người, vẫn thấy có mọi sự tác dụng? Sông kia núi nọ khi ta chưa sanh nó đã có, khi ta chết rồi nó vẫn còn, thế sao gọi là thức biến? Hoặc như chiếc máy vi tính, khi khoa học chưa chế ra thì không ai biết, khi khoa học chế ra rồi người ta mới biết, thế sao gọi là thức biến?
Ðáp: biết rằng sông kia núi nọ khi ta chưa sanh nó đã có, khi ta chết rồi nó vẫn còn, vậy nó là có với ai? Còn với ai? Ai biết nó có? ai biết nó còn? Nếu khi ta đang sống trong hiện tại mà biết được núi sông khi ta chưa sanh hay sau khi ta chết, thì đó là cái biết theo tưởng tượng, mà tưởng tượng thì đâu phải ngoại thức.
Không phải núi mà thấy núi, là thức biến. Không phải sông mà thấy sông, là thức biến. Không phải vậy mà thấy vậy, là thức biến. Duy Thức là duy cái biết, do cái biết, hoặc y nơi cái biết (bỉ y thức sở biết).
Như Cổ đức nói:” Vô biên cát hải tự tha bất cách ư mao đoan, thập thể cổ kim thủy chung bất ly ư đương niệm”
(Muôn vàn thế giới cùng ở trên đầu mãy lông, ức kiếp xưa nay không lìa ngoài một niệm).
Biến thức có hai cách:
1. Nhân duyên biến – có đủ nhân duyên mới hiện hữu, như sợi dây hiện hữu được do có duyên gai kế hợp lại, có tướng có dụng, chứ không phải như lông rùa, sừng thỏ. Mọi hiện hữu trong thế gian cũng vậy, do thức phân biệt danh tướng, sa éc, tâm, huân tập vào Tạng thức nhiều đời nhiều kiếp thành chủng tử (tập khí, thói quen) cố hữu, nên khi thức móng khởi thì liền hiện ra đủ các tướng đúng như khi được huân tập vào Tạng thức, và trong đó tự phân biệt ra Kiến phần có năng lực nhận biết và Tướng phần là đối tượng của nhận biết. Kiến, Tướng phần như vậy là nhân duyên biến. Ở đây, tất cả chỉ có thấy và bị thấy, biết và bị biết, chứ không gì khác. Không có gì là núi, sông, người, vật. Ðó là nhân duyên biến.
2. Phân biệt biến – tức những điều do vọng tình phân biệt biến ra, hoàn toàn chủ quan ảo tưởng, như đi đạp nhằm sợi dây tưởng lầm là con rắn, hoặc như người bị bịnh cuồng loạn thấy cảnh giới thay đổi khác với ngày thường. Cũng như thế, Kiến phần biết và Tướng phần bị biết nói trên không phải là ngã và pháp; người và vật, nhưng tâm phàm phu phân biệt sai lầm cho đo là ngã và pháp, là người và vật. Nếu tướng ngã pháp này được huân tập mãi vào Tàng thức thành chủng tử có sẵn, thì khi thức móng khởi lên liền thấy ngã pháp.
Những gì do phân biệt biến thì dễ thay đổi, loại bỏ, những gì nhân duyên biến thì khó thay đổi loại bỏ. Và những gì do tâm thức riêng của mỗi người biến ra, gọi là biệt biến, thì dễ thay đổi, còn những gì do nhiều tâm thức của nhiều hữu tình chung biến ra, gọi là cộng biến, thì khó thay đổi.
Tất cả mọi tướng mà ta gọi là hiện hữu, đều là tướng hiện hữu của thức theo hai cách đó biến ra. Ðó là Duy thức biến. Nói Duy thức biến cũng đồng nghĩa với nói “y thức biến”. Như câu” “Bỉ y thức sở biến”, tức các pháp kia nương thức biến ra, hay nương thức khởi lên. Các Bộ phái Phật giáo khai triển và hệ thống Hóa các thứ tâm ấy, rõ nét nhất là phái Hữu bộ hệ thống Hóa thành 75 pháp, trong đó tâm là chủ yếu. Ðến Du-già Sư Ðịa Luận hệ thống hóa thành 200 pháp, đến Duy thức tông thì rút lại còn 100 pháp, gom vào năm vị, trong đó Tâm thức là chủ.
Năm vị, một trăm (100) pháp là:
1. Sắc là tướng của thức nhận biết, ngoài thức thì không có tướng sắc.
2. Tâm vương là tự thể của thức.
3. Tâm sở là quyến thuộc, sở thuộc của thức.
4. Bất tương ưng hành là cái bóng của Sắc, Tâm, Tâm sở hợp lại.
5. Vô vi pháp là thực tánh của thức.
Thức là một trong hết thảy pháp, nhưng thức có năng lực đặc biệt biết được cái khác và tự biết được mình, nó là chủ lực ở ngay trong mỗi mỗi chúng sanh. Chính cái biết này làm cho các pháp trong đồng nhất tính duyên khởi. Vô danh vô tướng, vô thỉ vô chung, vô trung vô biên (không trong không ngoài) nổi lên thiên hình vạn trạng, rồi mê muội chạy theo giả tướng thiên hình vạn trạng đó mà đắm trước, tạo nghiệp, buộc ràng theo nó, gây nên khổ đau.
“Duy có nghĩa là giản biệt, ngăn không có ngoại cảnh; Thức có nghĩa là liễu giải, biểu thị có nội tâm”. Người thế gian nhờ có ánh sáng mặt trời, mặt trăng và đèn mà thấy được mọi vật; cái đó không phải là thấy, mà là nhãn thức. Nếu khi tối, không thấy sáng, mà gọi là không thấy được; vậy quý vị có thấy màu đen tối không?
- Khi thấy sáng thì cái thấy không phải là sáng,
- Khi thấy tối thì cái thấy không phải là tối,
- Khi thấy hư không thì cái thấy không phải là hư không,
- Khi thấy ngăn bít thì cái thấy không phải là ngăn bít.
Trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật giảng giải cho A-Nan sự khác biệt giữa nhãn thức và tánh thấy. Vậy Nhãn thức và Tánh thấy khác nhau chổ nào. Tánh thấy là khả năng nhận biết chân thật, còn nhãn thức là một trong những công cụ để thực hiện việc nhận biết đó trong đời sống hàng ngày. Tánh thấy là bản chất thấy. Và “nhãn thức” là sự nhận biết qua mắt. Nên biết khi thấy được iPhone, thì tánh thấy không phải là iPhone. Tánh thấy lìa iPhone và tánh thấy không liên quan gì đến iPhone. Cái thấy đó hay cái hình dạng iPhone trong đầu là do nhãn thức hay thức nhận biết.
Lục Tổ Huệ Năng nói: “vốn chẳng có một vật”, chẳng phải là bên ngoài vốn chẳng có một vật, bên ngoài thứ gì cũng có, nhưng trong tâm chẳng có. Cho nên tu hành là mình sửa đổi cái nhìn của mình qua bớt đi cái tâm phân biệt. Quý vị bắt đầu tu hành từ đâu?
Đó là bắt đầu từ Diệt trừ cái “Sắc ấm” trần. Trong kinh Kim Cang, tu hành bắt đầu từ “Sắc bất dị không, không bất dị sắc …”. Nếu tâm quý vị không chấp vê sắc thì cái Sắc đó là không. Cội nguồn của sắc ấm này sanh khởi trùng điệp. Sắc ấm sanh khởi từng lớp hỗ tương tuần hoàn với nhau, cùng hỗ trợ cho nhau. Sự sanh khởi hoại diệt hoại diệt xảy ra như thế nào? Một khi sắc chất biến mất, thì ấm trở thành không, nó sanh khởi từ thức, và sự hoại diệt bắt nguồn từ khi hình sắc tiêu trừ.
|
Sắc Thọ Tưởng Hành Thức Sanh do Thức mà có. Diệt từ Sắc mà trừ |
Nói Duy thức chính là đưa ra lời khai thị, thức tỉnh người ta hãy tự giác, hãy quán tâm mình, nhìn lại cái năng lực thiên biến vạn hóa ở ngay trong mình để gạn lọc nó, trau dồi nó, sửa chữa nó phải biến hóa như thế nào để chỉ đem lại lợi lạc, chứ đừng gây ra đau khổ. Nói y thức biến còn có tác dụng đặc biệt là đối trị cái bịnh vọng ngoại tha hóa, để xoay nhìn lại mình, thấy lại mình vốn là chủ nhân ông của mọi hiện hữu, như thấy lại bổn lai diên mục. Từ đó chuyển bỏ dần lối thấy biết sai lầm gây đau khổ, thành cái Trí tuệ Bát-nhã, trí Ðại viên cảnh, xây dựng cảnh giới an vui tự tại.