Tỳ Lô Giá Na
Đức Phật có ba thân: Pháp thân, Báo thân và Ứng thân.
- Pháp thân là Thanh Tịnh Pháp Thân Tỳ Lô Giá Na Phật,
- Báo thân là Viên Mãn Báo Thân Lô Xá Na Phật,
- Ứng thân là Thiên Bách Ức Hóa Thân Thích Ca Mâu Ni Phật.
Đức Thích Ca Mâu Ni mà chúng ta đã đọc trong kinh và được thờ tượng ngài trong chùa là một trong những Thiên Bách Ức Hóa Thân Thích Ca Mâu Ni Phật. Ngài cũng được gọi là Ðệ Thất Tiên Phật, hay là một vị Phật cuối cùng trong bảy vị Phật trong quá khứ. 7 vị Phật đó là Tỳ Bà Thi, Thi Khí, Tỳ Xá Phù, Câu Lưu Tôn, Câu Na Hàm Mâu Ni, Ca Diếp, và Thích Ca Mâu Ni.
Vì muốn giáo hóa chúng sinh, khiến cho chúng sinh đều thành Phật đạo, ngài đã hạ sanh trong cõi Ta Bà. Chẳng phải vì Phật chưa đắc đạo, mà là vì chúng sinh mà phát tâm bồ đề, khiến cho chúng sinh đồng thời đều chứng được A Nậu Ða La Tam Miệu Tam Bồ Ðề (vô thượng chánh đẳng chánh giác).
Sau khi đức Phật Thích Ca Mâu Ni Phật đắc đạo ở dưới cây Bồ Đề, trong kế tiếp 21 ngày, nhục thân của ngài vẫn ngồi dưới cây Bồ Đề. Đức Phật dùng thần thông để đi khắp mọi nơi ̣̣̣, đi xuống Long cung, đi lên các cõi thiên, đi tới tương lai tới rừng Cấp Cô Độc, để thuyết pháp. Cho nên trong kinh Hoa Nghiêm, danh ngôn của ngài được ghi lại là Pháp Thân Phật hay Thanh Tịnh Pháp Thân Tỳ Lô Giá Na Phật.
Tỳ Lô Giá Na dịch là “Biến nhất thiết xứ”, là thanh tịnh pháp thân của Phật. Vị Phật này, thường chuyển bánh xe pháp không ngừng, trong các cõi Phật hết thảy pháp giới. Pháp thân của Phật như mây, khắp cùng hết thảy. Trí huệ của Ngài như biển cả. Phật Tỳ Lô Giá Na là Thanh Tịnh Pháp Thân, khắp hết thảy mọi nơi. Nguyện lực của Ngài lớn nhất, chẳng có nơi nào mà nguyện lực của Ngài chẳng thành tựu. Không những ngài thị hiện ở cõi Ta Bà này, mà Ngài ở trong tất cả các cõi nước, luôn luôn chuyển bánh xe diệu pháp vô thượng, thường thuờng diễn nói diệu pháp, thời khắc giáo hóa chúng sinh ở khắp mười phương.
Tỳ Lô Giá Na Phật dùng pháp làm thân. Pháp thân thanh tịnh như hư không, song hư không lại bao la vạn tượng, ở trong hư không hiện ra tất cả hình sắc, khiến cho tất cả chúng sinh có thể vào được trong pháp thể đó, mà đắc được Thanh Tịnh Pháp Thân, Viên Mãn Báo Thân, Thiên Bách Ức Hóa Thân. Tỳ Lô Giá Na dịch là quang minh chiếu khắp, khắp hết thảy mọi nơi, tức là vô tại vô sở bất tại, tận hư không biến pháp giới, đều là quang minh thanh tịnh.
Cho nên kinh Bát Nhã, đức Phật có nói:
Nếu lấy sắc mà thấy ta,
Lấy âm thanh mà cầu ta,
Người ấy hành đạo tà,
Không thể thấy Như-lai.
“Nếu lấy sắc mà thấy ta,” tức là lấy ba mươi hai tướng mà thấy Như-lai. Về điểm này, kinh Hoa-Nghiêm có câu: “Ứng hóa phi chân Phật,” tức là ứng thân và hóa thân, không phải là Phật thật. Ba mươi hai tướng thuộc về ứng hóa thân, không phải là Thanh Tịnh Pháp thân. Ba mươi hai tướng tức là hình tướng. Lấy ba mươi hai tướng để nhận biết Như-lai tức là nghĩa của câu kệ “Nếu lấy sắc mà thấy ta. Lấy âm thanh mà cầu ta,” nghĩa là kiếm âm thanh của Phật để cầu Phật. Số là Phật có “tứ biện, bát âm,” tức là bốn loại biện tài vô ngại và tám loại âm thanh mỹ diệu. Người đó chấp tướng, vướng mắc vào pháp hữu vi, không hợp với lẽ trung đạo, vì vậy mà chẳng nhận biết Như-lai. Như-lai thuộc trung đạo, chẳng thiên lệch, chẳng rơi vào không, chẳng kẹt ở có, chẳng rơi vào đoạn kiến, cũng chẳng kẹt ở thường kiến. Tà đạo nếu không rơi vào đoạn kiến thì lại kẹt ở thường kiến. Đoạn kiến, chấp vào đoạn diệt, thường kiến chấp vào sự thường còn vĩnh viễn, cả hai đều là những chủ trương thiên lệch, không hợp lẽ trung đạo, và vì vậy nên “không thể thấy Như-lai,” vĩnh viễn không thấy được Thanh Tịnh Pháp Thân Phật.
Phật sợ mọi người hoài nghi mà chấp tướng, nghĩ rằng Như-lai là có đi và có đến nên mới giảng đoạn kinh này. Phật bảo: “Như có người có ý nghĩ vẩn vơ rằng hình như Như-lai đến, hình như Như-lai đi, hoặc Như-lai đến mà có thể không đến, đi mà có thể không đi, cứ mơ mơ hồ hồ như vậy, hoặc nghĩ rằng Như-lai ngồi, hoặc Như-lai nằm, như vậy là không hiểu rõ nghĩa lý lời nói của Như-lai.”
Tại sao? Vì Như-lai chẳng từ đâu đến, cũng chẳng đi về đâu, nên gọi là Như-lai.
Phật giảng như sau: “Tại sao vậy? Như-lai không phải từ một địa phương nào lại, cũng chẳng đi tới một chỗ nào khác nên gọi là Như-lai.”
Chúng ta nên biết rằng Pháp thân Phật là “chẳng ở, mà chẳng phải không ở” (vô tại vô bất tại), vì Pháp thân trùm khắp mọi nơi. Nếu đã trùm khắp hết cả mọi nơi thì sao có thể nói là Phật đến? Vậy đến từ chỗ nào? Còn bảo rằng Phật đi, thì Phật đi đâu? Nếu chúng ta hiểu Phật-pháp thì tất cả sông núi đất đai, đâu cũng là Pháp thân Phật; còn không hiểu Phật-pháp thì dù có thấy Như-lai cũng không biết. Biết nhận thức Như-lai mới dễ dụng công tu hành, không biết nhận thức Như-lai thì rất khó tu học, bởi tu mà hồ đồ thì chẳng khác gì nhờ người mù dẫn lối.
Theo người mù là như thế nào? Như người không có mắt, lại theo gót một người khác không có mắt, rồi hai người này cứ đi tới đi lui, đi cho tới lúc rớt xuống biển, không lên được mà cam phận chết chìm. Cho nên chúng ta không thể hồ đồ như vậy, chúng ta nhất định phải tìm hiểu Phật-pháp, đường lối tu hành cho rõ ràng rồi mới hạ thủ công phu tu tập. Tại sao lại có người theo ngoại đạo, đến nỗi càng ngày càng lún sâu? Đó cũng là một loại “quần manh dẫn quần manh,” cùng rủ nhau đâm đầu xuống biển! Chuyện đời khéo lắm trò kỳ quái! Khi ta không hiểu thì ta càng đi xa đích. Nếu ta hiểu rồi thì ta sẽ tới mục tiêu một cách dễ dàng. Hiểu rõ Phật-pháp rồi ý chiếu tu hành thì thành Phật, còn theo ngoại đạo thì càng ngày càng xa, không dễ gì quay đầu lại, cuối cùng chẳng có ngày trở về cội nguồn, đó là một điều vô cùng nguy hiểm.
Về chữ “Như-lai” thì chữ “như” có ý nghĩa bất động; “lai” có nghĩa động. Bất động là tĩnh, động là động. Động tĩnh nhất như, động không làm trở ngại tĩnh, tĩnh không làm trở ngại động. Tu hành là vậy, khi ở trong tư thế tĩnh tọa thì tham thiền, mà khi cử động cũng tham thiền. Từ sớm đến tối, mọi cử chỉ, đi, đứng, nằm, ngồi, đều phải dụng công tu hành, chẳng phải chỉ lúc nào ngồi thiền mới là dụng công. Bất cứ thời khắc nào người tu cũng phải nhiếp tâm, từng giờ từng khắc hồi quang phản chiếu, không để ý tưởng buông lung. Tu hành là phải như vậy đó.
Ai có nghi vấn đó là do tâm họ chấp trước, chớ chẳng phải Phật có đi có đến mà tâm của người đó có đi có đến. Lấy một tỷ dụ để giảng như câu “nước trong trăng hiện,” nghĩa là khi nào mặt nước trong lặng thì thấy dưới nước có mặt trăng hiện ra, và câu “mây che trăng ẩn,” ý nói khi nào bầu trời có mây thì mặt trăng không ló rạng. Bây giờ thử hỏi “nước trong trăng hiện,” có phải là vì mặt trăng tự nó đến ư? “Mây che trăng ẩn,” có phải là vì mặt trăng tự nó đi chăng?
Lại có người khi thấy mây bay trên trời, cho rằng đó là trăng đi. Có người ngồi dưới thuyền, không biết thuyền trôi mà cho là hàng cây bên bờ chạy. Bởi lẽ Phật hóa thân nên người ta mới thấy có đi có đến. Thanh Tịnh Pháp Thân Tỳ Lô Giá Na Phật thì chẳng đến chẳng đi, đây là giảng về Pháp thân Phật, các vị chớ nên lầm lẫn Pháp thân với hóa thân.
Khứ lai hóa thân Phật,
Như-lai thường bất động,
Ư thị pháp giới xứ,
Phi nhất diệc phi dị.
Ý của bài kệ nói Hóa thân của Phật thì có đi có đến, còn Như-lai thì thường hằng bất động. Trong pháp giới chẳng phải chỉ có một, cũng chẳng phải có nhiều. Nay chúng ta nên hiểu thấu điều này: Như-lai chẳng phải là đi hay đến, mà vì trong tám thức của chúng ta có kiến phần. Chúng ta phân biệt sự đi và đến của Như-lai chính là do ở kiến phần này. Tại sao Kinh lại dạy chúng ta không nên nghĩ rằng Phật hoặc đi, hoặc đến, hoặc ngồi, hoặc nằm? Chính vì muốn dạy chúng ta đừng khởi tâm phân biệt. Nếu đoạn trừ được tâm phân biệt, tức trí huệ bát-nhã sẽ hiện tiền. Bát-nhã trong chúng ta hiện ra ít, chỉ vì tâm phân biệt của chúng ta nhiều, nhiều đến nỗi chiếm hết chỗ, không để cho trí huệ ló hiện.
Tám thức vốn thanh khiết nhưng vì chứa đựng tâm phân biệt nên đã biến thành uế tạp. Nếu chúng ta có thể đoạn trừ tâm phân biệt, giống như quét dọn rác rưởi thì tất cả sẽ trở lại tình trạng thanh khiết và trí huệ sẽ hiện tiền.