Tập tụ trong Tứ Diệu Đế

Sau thời giác thủy, là sau 21 ngày đức Phật Thích Ca đắc đạo dưới cây Bồ Đề, diễn nói Kinh Hoa Nghiêm, đức Phật mới đến vườn Lộc Uyển, vì năm anh em Kiều Trần Như mà ba lần chuyển pháp luân (thị chuyển, khuyến chuyển, chứng chuyển).  Tôn giả Kiều Trần Như khai ngộ trước nhất, sau đó bốn vị kia cũng khai ngộ.

Phật nói lần đầu gọi là thị chuyển pháp luân:
“Ðây là khổ, tánh bức bách.
Ðây là tập, tánh chiêu cảm.
Ðây là diệt, tánh khả chứng.”
Ðây là đạo, tánh khả tu.

Lại nói tiếp được gọi là khuyến chuyển pháp luân:
“Ðây là khổ, ông nên biết.
Ðây là tập, ông nên đoạn.
Ðây là diệt, ông nên chứng.
Ðây là đạo, ông nên tu.”

Lại nói tiếp được gọi chứng chuyển pháp luân”.
“Ðây là khổ, ta đã biết.
Ðây là tập, ta đã đoạn.
Ðây là diệt, ta đã chứng.
Ðây là đạo, ta đã tu.”

“Biết khổ, dứt tập, mộ diệt, tu đạo.’’ Nghĩa là: Phải biết khổ, phải đoạn trừ tập, phải hâm mộ cảnh giới tịch tĩnh, phải tu hành con đường của bậc Thánh nhân. Ðây là ý nghĩa đại khái về bốn Thánh Ðế. Có hai thứ khổ : Một là dục khổ, hai là si khổ.

Dục khổ: Là các sự khổ về căn bản, ví như tham tiền tài, thì có tài dục, tham sắc thì có sắc dục, tham danh thì có danh dục, tham ăn thì có ăn dục, tham ngủ thì có ngủ dục, đó là năm dục.

Si khổ: Tức là khổ vì ngu si. Người ngu si thì chẳng rõ thị phi, chẳng màng thiện ác. Việc tốt cho mình thì nỗ lực mà làm, cứ làm việc điên đảo, tương lai chắc chắn sẽ thọ quả báo. Người ngu si chấp trước tất cả đều thuộc về sở hữu của mình, trong hoàn cảnh chẳng phân biệt trắng đen, thì có hành vi oán trời trách người.

Lại có ba thứ khổ khác đó là : Khổ khổ, hoại khổ và hành khổ, và tám thứ khổ: Khổ về sinh, khổ về già, khổ về bệnh, khổ về chết, khổ về ái biệt ly, khổ về oán tắng hội, khổ về cầu bất đắc, khổ về ngũ ấm xí thạnh. Ngoài ra còn có vô lượng thứ khổ. Bài viết hôm nay chúng ta sẽ nói về Tập Thánh Đế

— o0o —

Tập Thánh Đế

Tập Thánh Ðế: Tập nghĩa là tập tụ, tức là tập tụ phiền não lại với nhau, khiến cho bạn khởi hoặc, tạo nghiệp, thọ quả báo. Tuy phiền não là do tập tụ mà thành, song, chủ yếu là do tự tánh chiêu lại. Nếu rác rến trong tâm mà quét trừ sạch sẽ, thì chẳng khởi vọng tưởng, chẳng sinh phiền não. Khi tâm sáng như gương thì trí huệ sẽ hiện tiền, chẳng làm việc điên đảo mộng tưởng. Có vô lượng tập tụ phiền não làm cho khổ. Hôm nay chúng ta chỉ nói sơ qua 100 tên của tập tụ phiền não trong bộ kinh Hoa Nghiêm

  • Trói buộc: Phàm là bị tình trói, bị ái buộc đều là tập.
  • Diệt hoại: Sự an vui mà tiêu diệt hết, sự khoái lạc mà phá hoại hết thì đương nhiên là khổ.
  • Ái trước nghĩa: Ái mà chẳng xả bỏ, lại chấp trước nó, cho rằng là tốt.
  • Vọng giác niệm: Tức là giác niệm lầm lẫn, giác ngộ sai lầm.
  • Thú nhập: Nơi thú hướng phiền não, giống như hãm ở trong bùn, chẳng rút hai chân ra được.
  • Quyết định: Quyết định có phiền não, mà mình vẫn chẳng biết, chẳng giác ngộ.
  • Võng: Bị lưới bao vây chẳng được tự do. Ðó giống như cá ở trong ao hồ sông biển, tiêu dao tự tại, bất hạnh bị mắc lưới, rất nguy hiểm cho tánh mạng.
  • Hí luận: Chẳng phải lời chân thật mà là lời tiếu.
  • Tùy hành: Tức là tùy theo phiền não mà hành.
  • Điên đảo căn: Tập là căn bản của điên đảo.
  • Thuận sinh tử: Tùy thuận lưu chuyển sinh tử chẳng ngừng.
  • Nhiễm trước: Tức là nhiễm ô chấp trước.
  • Thiêu đốt : Giống như dùng lửa để thiêu đốt.
  • Lưu chuyển : Tức là lưu chuyển luân hồi sinh tử không ngừng.
  • Bại hoại căn : Tức là bại hoại tất cả hạnh lành căn bản.
  • Tục các cõi : Kế tục tam giới hai mươi lăm cõi
  • Ác hạnh : Làm toàn những việc ác.
  • Ái trước : Tham ái năm dục, chấp trước năm dục.
  • Nguồn bệnh : Bệnh từ phiền não sinh ra, nếu chẳng còn phiền não thì gốc bệnh chẳng còn nữa.
  • Phần số : Ai ai cũng có một phần phiền não, phiền não đó số chẳng rõ ràng.
  • Bại hoại : Vì có phiền não, cho nên bại hoại.
  • Si căn : Tức là căn bản ngu si. Chúng ta mỗi người vốn có trí huệ và đức hạnh của Phật, nhưng vì dùng quá độ, cho nên biến thành ngu si. Giống như dầu thắp đèn, nếu ngày nào cũng đốt thì dầu dần dần sẽ giảm bớt, quang minh (ánh sáng) cũng từ từ lu mờ, cuối cùng thì biến thành đen tối. Ðen tối tức là vô minh. Có vô minh thì ngày ngày khởi vọng tưởng, vọng tưởng tức là gốc rễ của ngu si.
  • Đại oán : Oán hận đông, oán hận tây, dần dần trở thành đại oán.
  • Bén nhọn : Khổ tập Thánh Ðế nầy là thanh đao bén nhọn nhất, có hại rất lớn đối với người, cho nên trong kinh có nói: « Dục niệm có hại lớn đối với người, giống như mật ở trên đao nhọn, rất nguy hiểm có hại cho sự cắt lưỡi.’’
  • Diệt vị : Vì lúc có phiền não thì ăn đồ ăn cũng chẳng có mùi vị.
  • Cừu đối : Có tâm cừu hận muốn trả thù.
  • Phi kỷ vật : Thứ phiền não nầy vốn chẳng phải là của mình, mà từ bên ngoài đến.
  • Ác đạo dẫn : Ðây là ác tri thức, dẫn bạn đi vào nơi hiểm ác.
  • Tăng hắc ám : Tăng thêm hắc ám nên chẳng có quang minh, tức cũng chẳng có trí huệ.
  • Hoại thiện lợi : Phàm có lợi lành đối với bạn, thì nó đều phá hoại, cho nên tập nầy chẳng phải là vật tốt.
  • Vật không thật : Phiền não vô minh đều là hư vọng mà sinh, hư vọng mà diệt, là chẳng có thật tại.
  • Đãn hữu ngữ : Nhưng có danh từ mà thôi.
  • Chẳng trắng sạch : Tập là thứ có ô nhiễm, chẳng trong sạch.
  • Sinh địa : Sinh ra ở nơi có phiền não.
  • Chấp lấy : Chấp giữ thủ trước làm của mình.
  • Bỉ tặc : Là vật đê tiện chẳng có giá trị.
  • Tăng trưởng : Tăng trưởng gì ? Tăng trưởng ác căn.
  • Gánh nặng : Khiến cho chúng sinh tăng thêm khổ.
  • Năng sinh : Hay sinh phiền não.
  • Thô bạo : Rất thô dã, rất hung ác. Ðó là tánh chất và biệt danh của tập.
  • Khả ác : Chẳng thọ hoan nghênh khiến cho người nhàm chán.
  • Danh tự : Chẳng có đạo lý hiện chân thật, chỉ có danh từ ác hư vọng.
  • Vô tận : Tích tập nghiệp và phiền não vô tận vô biên.
  • Phần số : Hai mươi lăm cõi mỗi cõi đều có một phần.
  • Khả ái : Tập đế nầy không thể tham ái.
  • Hay bắt cắn : Tập đế nầy hay đánh nhau, hay cắn nhau, như cầm thú bắt lấy cắn ăn, có thể ăn nuốt trí huệ và sinh mạng.
  • Thô bỉ : Tập đế nầy là vật rất bỉ ổi, rất hạ tiện.
  • Ái trước : Tập đế nầy hay khiến cho tất cả chúng sinh luyến ái nó, chấp trước nó.
  • Khí : Nó là khí huyết chở đựng phiền não, nó là khí huyết chở đựng vô minh.
  • Động : Tánh của nó luôn luôn giao động, tụ tập phiền não lại với nhau
  • Tham trước : Tham trước năm dục, tham trước tình nam nữ.
  • Ác thành biện : Ác đã thành biện thì thọ thân sau.
  • Quá ác : Có lỗi lầm, có tội ác.
  • Mau lẹ : Tập nầy rất mau phải thọ quả báo.
  • Chấp lấy : Hay chấp giữ lấy, tức là tham.
  • Tưởng : Tập nầy là do vọng tưởng phiền não mà tạo thành.
  • Quả : Tạo tập rồi thì tương lai phải thọ quả khổ.
  • Không thể nói : Vì phiền não nhiều quá, cho nên không thể nói.
  • Không thể lấy : Chẳng có gì để lấy, vì nó là do phiền não mà thành.
  • Lưu chuyển : Có tập rồi thì lưu chuyển trong sáu nẻo luân hồi không ngừng.
  • Bại hoại : Tập làm bại hoại tất cả căn lành.
  • Hỗn trược : Tập là phiền não, hỗn trược như nước đục.
  • Thối thất : Tập hay khiến cho con người thối thất tâm bồ đề.
  • Không có sức : Không có sức lực để tăng trưởng căn lành.
  • Tán mất : Tán mất bồ đề tâm, tán mất chứng quả vị.
  • Trái ngược : Chẳng thuận tình lý, trái ngược thường lý.
  • Không hòa hợp : Tức là chẳng hòa hợp với nhau.
  • Sở tác : Làm những gì đều là nghiệp báo.
  • Lấy : Nguyện lấy vô minh phiền não.
  • Ý dục : Sở ý hy vọng là phiền não, là vô minh, là vọng tưởng, là chấp trước.
  • Đất rộng : Ðất có phiền não rộng lớn tụ tập.
  • Năng thú : Hay thú hướng đến ba đường ác.
  • Viễn huệ : Xa lìa trí huệ Bát nhã.
  • Lưu nạn : Lưu lại rất nhiều tai nạn.
  • Sợ hãi : Có sự sợ hãi uy hiếp.
  • Phóng dật : Tức là chẳng giữ quy cụ, tự ý phóng túng.
  • Nhiếp lấy : Nhiếp lấy tất cả phiền não lại với nhau.
  • Trước xứ : Tức là nơi chấp trước.
  • Chủ nhà : Chủ nhân trong nhà khổ.
  • Trói lại : Bị trói lại với nhau, chẳng được tự do, chúng ta phàm phu bị năm dục trói buộc nên chẳng được giải thoát.
  • Đất : Ðất hay sinh trưởng phiền não.
  • Phương tiện : Tụ tập phiền não rất phương tiện.
  • Phi thời : Chẳng có thời gian nhất định.
  • Pháp chẳng thật : Chẳng phải pháp chân thật.
  • Không đáy : Ðộng không đáy nầy, dù bao nhiêu phiền não cũng lấp chẳng đầy.
  • Nhiếp lấy : Nhiếp lấy tất cả phiền não lại.
  • Lìa giới : Lìa khỏi giới luật nên không thể ngừa ác phòng trái.
  • Pháp phiền não : Là phương pháp sinh phiền não.
  • Thấy hạn hẹp : Thấy hiểu rất hạn hẹp, do đó, thấy gần chẳng thấy xa, thấy mình chẳng thấy người.
  • Cấu tụ : Bụi bặm tụ lại với nhau.
  • Hạnh : Có một hạnh khổ.
  • Phẫn độc : Tức là độc phẫn nộ.
  • Hòa hợp : Phiền não hòa hợp mà thành tập đế.
  • Thọ chi : Tức là thọ chi trong pháp mười hai nhân duyên.
  • Ngã tâm : Do ngã tâm mà sinh phiền não.
  • Tạp độc : Ðủ thứ độc tạp nhiễm tập tu vói nhau.
  • Hư xưng : Danh xưng hư vọng.
  • Trái ngược : Ðạo lý trái ngược tự tánh.
  • Nhiệt não : Phiền não nóng bức.
  • Kình hãi : Phiền não khiến cho người kình kì sợ hãi.
  • Chế phục : Nên chế phục phiền não khổ, phải biết lìa khổ, sau đó mới đắc được khoái lạc. Trước khi mỗi lần chúng ta giảng kinh đều có người thỉnh pháp, muốn cầu lìa khổ được vui. Song, ai ai cũng muốn lìa khổ, cũng chẳng muốn được vui, Tại sao ? Ðó tức là chỗ kỳ quái của tánh người. Càng dạy họ lìa khổ, thì họ càng muốn gần khổ.
  • Tâm hướng : Tâm của phàm phu tục tử thì hướng về phiền não. Dạy họ mau đến chỗ an vui thì họ chẳng tu hành, đều muốn đi đến chỗ ác.
  • Hay trói : Hay che lấp trí huệ của chúng sinh, hay trói chặt thần thông của chúng sinh.
  • Tùy niệm khởi : Phiền não tùy theo tâm niệm mà khởi. Một khi vọng niệm sinh ra thì có phiền não. Nếu chẳng có vọng niệm thì chẳng có phiền não.
  • Đến phía sau : Tập là đi đến phía sau ba đường ác, đạo là đi đến phía trước nơi bốn cõi Thánh.
  • Cùng hòa hợp : Thiện ác hỗn tạp với nhau, cùng hòa hợp với nhau. Có thiện ác thì có phiền não, có phiền não thì có nghiệp chướng.
  • Phân biệt : Có tâm phân biệt thì có phiền não.
  • Cửa : Cửa của các sự khổ, cửa của phiền não.
  • Thổi động : Tánh giao động chẳng định.
  • Ẩn che : Ẩn che giấu tội lỗi của mình, không nói cho người biết.

100 tên của tập tụ phiền não là con đường cho chúng sanh đi đến tự giác. Tự giác là bất cứ làm việc gì, đều hồi quang phản chiếu, cầu nơi chính mình, có tinh thần phản tỉnh. Nói cách khác nghĩa là mình chẳng hồ đồ, chẳng hồ đồ tức là minh bạch thật sự. Minh bạch thật sự thì lợi ích chúng sinh.