Cõi Phật Thường Tịch Quang

Sau đức Phật nhập Niết bàn, đức Phật cư ngụ tại cõi nào? “Niết” chính là bất sinh, “Bàn” chính là bất diệt. Nhập Niết-bàn cũng chính là đến được Tịnh Độ Thường Tịch Quang. Cõi giới của Phật ở là thế giới Thường Tịch Quang, còn gọi là Thường Tịch Quang Tịnh Ðộ. Tịnh Độ Thường Tịch Quang là bất sinh bất diệt, bất tăng bất giảm, bất cấu bất tịnh, là trụ xứ của chư Phật. Trong thế giới Cực Lạc, gồm có 4 cõi:

– Phàm Thánh Đồng Cư Độ hay cõi Ta Bà là thế giới mà chúng ta hiện đang ở. Trong thế giới ấy có phàm phu, thánh nhân, cũng có Phật, Bồ-tát, Thanh văn, Duyên giác cùng ở chung lẫn nên còn gọi là Tụ lạc.

– Phương Tiện Hữu Dư Độ là nơi ở của hàng chư Thiên, Nhị thừa, A La Hán. Vì sao gọi là “phương tiện”? Vì nơi ấy cũng tốt, trụ lại ở đó cũng được, có điều nơi ấy chẳng phải là Niết-bàn rốt ráo mà chỉ là Niết-bàn hữu dư, cho nên còn gọi là “Ấp” dụ

Nhân của cõi Phương Tiện Hữu Dư là đoạn Tứ Trụ Phiền Não. Như cõi Thật Báo trong phần trước có nhân là “hành chân thật pháp”. Chúng ta đặc biệt chú trọng câu này, chú trọng phương diện tu nhân. Tứ Trụ Hoặc là gì? Chúng ta thường gọi Tứ Trụ Hoặc là Kiến Tư phiền não. “Tư” tưởng sai lầm là Tư Hoặc. “Kiến” giải sai lầm là Kiến Hoặc. Ở đây, coi Kiến Hoặc là một Trụ, tức là Kiến Nhất Thiết Trụ Địa. Nếu đã đoạn Kiến Hoặc, tức là đã đoạn một Trụ trong Tứ Trụ Hoặc, quý vị chứng Tiểu Thừa Tu Đà Hoàn quả. Tư Hoặc được tách thành ba Trụ:

  1. Dục Ái Trụ Địa, tức là chín phẩm Tư Hoặc trong Dục Giới. Nếu đoạn hết, chẳng còn trở lại Dục Giới, tức là chứng Nhị Quả, chứng Tiểu Thừa Nhị Quả.
  2. Sắc Ái Trụ Địa. Nói thật ra, ba điều này rất dễ nhớ, tức là Dục Giới, Sắc Giới, Vô Sắc Giới. Nếu quý vị đoạn sạch Sắc Ái Trụ Địa sẽ là Tứ Địa trong Sắc Giới, Tứ Địa là Tứ Thiền. Trong mỗi Thiền, có chín phẩm Tư Hoặc, quý vị đều đoạn sạch các thứ này, bèn chứng Tam Quả.
  3. Vô Sắc Ái Trụ Địa, tức là Tứ Không Thiên. Tứ Không Thiên cũng gọi là Tứ Địa, trong mỗi tầng cũng là chín phẩm Hoặc. Bốn lần chín là ba mươi sáu, có thể đoạn sạch ba mươi sáu phẩm Tư Hoặc này, sẽ chứng quả A La Hán. Vì thế, Tiểu Thừa phá Tư Hoặc. Trong pháp môn theo đường lối thông thường, phải đoạn Tư Hoặc

 

– Thật Báo Trang Nghiêm Độ là nơi ở của các vị Bồ-tát , Bồ-tát trong cõi ấy có đầy đủ thần thông dạo chơi khắp cõi nước Phật, giáo hóa chúng sinh, còn gọi là “Quốc gia” dụ. Khi nào quý vị thật sự trụ trong pháp môn Bất Nhị sẽ vào được cõi này, quý vị sẽ là Sơ Trụ Bồ Tát trong Viên Giáo. Bậc Sơ Trụ Bồ Tát trong Viên Giáo thuộc địa vị Kiến Đạo trong pháp Đại Thừa. Từ ngày hôm ấy, quý vị bắt đầu thấy được Đạo. Thấy đạo gì vậy? Thấy vạn pháp đều là Như, thấy Tánh và Tướng không hai. Nếu áp dụng điều này vào niệm Phật, quý vị bắt đầu chứng Lý nhất tâm bất loạn, quý vị vãng sanh Thật Báo Trang Nghiêm Độ trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, Thượng Phẩm Thượng Sanh, hoa nở thấy Phật.

– Thường Tịch Quang Tịnh Ðộ là nơi ở của chư Phật trụ. Cõi Thường Tịch Quang tịnh độ là gốc, còn ba cõi kia là tích. Khi tu hành viên mãn, cuối cùng đều quy về gốc, về với chư Phật tại cõi Thường Tịch Quang tịnh độ. “Thường” là Pháp Thân, “Tịch” là Giải Thoát, “Quang” là Bát Nhã. 

“Thường” (常) là chẳng gián đoạn, vĩnh hằng, vĩnh viễn là tình trạng như vậy, chưa hề biến đổi, thường hằng.

“Tịch” (寂) là tịch tĩnh. Chúng ta nói đến Định, Định đến mức tột cùng bèn gọi là “tịch diệt”. Tịch Diệt Nhẫn trong Ngũ Nhẫn chính là tự tánh vốn định, chẳng phải do tu được.

“Quang” (光) là quang minh, cũng là trí huệ viên mãn. Kinh Đại Thừa nói ba chữ ấy chính là “Tam Đức bí tạng”, tức là Pháp Thân, Bát Nhã, Giải Thoát,

Thường Tịch Quang là tướng Tam Đức viên mãn. “Cực Lạc tịnh bang vô thời bất vãng” (Không lúc nào chẳng đến cõi tịnh Cực Lạc). Thường Tịch Quang là thế giới Cực Lạc, thế giới Cực Lạc là Thường Tịch Quang. Cố nhiên ba chữ ấy là Quả Đức, nay chúng ta phải tu. Nếu nhân và quả chẳng tương ứng, dẫu tu tập vất vả thế nào đi nữa, vẫn chẳng thể nhập cảnh giới ấy! Chúng ta khởi đầu tu từ đâu? Tu khởi đầu từ Định. Định là then chốt, chỉ cần đạt được một chữ trong ba chữ “Thường Tịch Quang”, hai chữ kia sẽ đều đạt được. Trong ba chữ ấy, hãy nên thực hiện từ đâu? Thực hiện từ Tịch. Tịch chính là “nhất tâm bất loạn” được nói trong kinh này, mà cũng là Niệm Phật tam-muội được nói trong Tịnh Tông, đấy là mục tiêu tu học của người tu Tịnh Độ chúng ta. Nếu tâm chúng ta thật sự ngày càng thanh tịnh hơn, mỗi năm một thanh tịnh hơn, công phu sẽ đắc lực, tu học đúng vào nề nếp. Vì thế, nhân và quả nhất định phải tương ứng.

 

Kinh văn: “Tỳ Lô Giá Na biến nhất thiết xứ. Kỳ Phật trụ xứ, danh Thường Tịch Quang”, thị cực quả nhân sở cư.

Dịch: “Tỳ Lô Giá Na trọn khắp hết thảy mọi nơi, trụ xứ của đức Phật ấy được gọi là Thường Tịch Quang”, là chỗ ở của bậc cực quả.

Giảng: Phật tùy theo chúng sinh nào độ được, thì thuyết pháp giáo hóa họ, cho nên nơi nơi chốn chốn, tự nói danh hiệu của mình. Danh hiệu: Thích Ca Mâu Ni, hoặc Lô Xá Na, hoặc Tỳ Lô Giá Na. Tuy danh hiệu khác nhau, song đều là một người. Lại đối với hàng đệ tử, ngài nói: ‘’Hiện tại ta sẽ vào Niết Bàn.’’ Kỳ thật, Phật cũng chẳng sinh, cũng chẳng diệt, thường ở tại cõi Thường Tịch Quang thuyết pháp. Lại dùng đủ thứ phương tiện pháp môn, diễn nói pháp vi diệu không thể nghĩ bàn, khiến cho chúng sinh hoan hỷ. Phật ở cõi tịnh độ Thường Tịch Quang, phóng vô lượng quang minh, chiếu khắp pháp giới, không có chỗ nào mà không chiếu đến, tận hư không khắp pháp giới, đều ở trong quang minh của Phật chiếu đến.

Cực quả” là Phật. “Thường Tịch Quang” chính là bản thể của vạn hữu trong vũ trụ như trong Triết Học đã nói. Đây là thật sự đạt đến rốt ráo, đạt đến viên mãn, rốt ráo viên mãn, nên gọi là “cực quả”, tức là quả vị tột đỉnh rốt ráo viên mãn trong tu hành. Kinh dạy, đức Phật có danh hiệu là Tỳ Lô Giá Na. Kinh Hoa Nghiêm nói đến tam thân Phật: Tỳ Lô Giá Na là Pháp Thân Phật, Lô Xá Na là Báo Thân Phật, Thích Ca Mâu Ni Phật là Ứng Thân Phật. Tỳ Lô Giá Na có hai ý nghĩa, một ý nghĩa đã được nói ở đây, tức là Biến Nhất Thiết Xứ (trọn khắp hết thảy các chốn), ý nghĩa kia là Quang Minh Biến Chiếu (quang minh chiếu trọn khắp). Nói thật ra, Quang Minh Biến Chiếu và Biến Nhất Thiết Xứ ý nghĩa vẫn giống nhau. Tận hư không khắp pháp giới là một Lý Thể. Hết thảy vạn vật, vạn pháp đều chẳng rời khỏi nó, đều do nó biến hiện. Kinh thường nói: “Thập phương nhất thiết Phật, cộng đồng nhất Pháp Thân” (Mười phương hết thảy Phật, cùng chung một Pháp Thân). Phật có chung một Pháp Thân, chúng ta và Phật có chung một Pháp Thân hay không? Đương nhiên! Hết thảy chúng sanh, cho đến núi, sông, đại địa, hư không, đều là do nó hiện. Nó là căn bản thật sự, là bản thể thật sự, của vạn pháp. Trong pháp môn Tịnh Độ, nó được gọi là cõi Thường Tịch Quang, cũng có nghĩa là Quang Minh Biến Chiếu, khắp hết thảy chúng sanh, khắp hết thảy quốc độ, khắp hết thảy thời gian và không gian, mang ý nghĩa này.

Vì sao gọi là Thường Tịch Quang? Trụ xứ của Phật, trên thực tế, Pháp Thân Phật chẳng có hình tướng, Pháp Thân há có tướng? Nếu quý vị nói Pháp Thân có hình dạng ra sao ư? Tận hư không khắp pháp giới là dáng vẻ của Pháp Thân, hư không thế giới là dáng vẻ của Pháp Thân. Nếu quý vị hiểu tận hư không khắp pháp giới vốn là chính mình, quý vị liền chứng đắc Pháp Thân. Người chứng đắc Pháp Thân tâm thanh tịnh, bình đẳng, biết Tự và Tha là một, chẳng hai! Chúng tôi nêu tỷ dụ, giống như nằm mộng. Trong mộng vừa giác ngộ “ta nay đang nằm mộng”, bản thân ta trong mộng do tâm của chính mình biến hiện, tất cả mọi người trong mộng cũng do tâm của chính mình biến hiện. Ngoài mộng chẳng có tâm, ngoài tâm chẳng có mộng. Toàn thể mộng cảnh là chính mình, kể cả núi, sông, đại địa, hư không trong mộng thảy đều là chính mình, mới hoát nhiên đại ngộ, nguyên lai tận hư không khắp pháp giới là ta, trừ ta ra, chẳng có ai khác, đó gọi là “triệt ngộ thanh tịnh Pháp Thân”. Khi ấy, quý vị sẽ dấy lên Đồng Thể Đại Bi, Vô Duyên Đại Từ đối với hết thảy chúng sanh. Tâm quý vị thật sự bình đẳng đối với hết thảy chúng sanh, vì sao? Nguyên lai đều là chính mình, trừ chính mình ra, chẳng có ai khác!

Thường Tịch Quang: Thường là nói tới Pháp Thân, Tịch là nói tới giải thoát, Quang là nói tới trí huệ. Ba đức của Niết Bàn là Pháp Thân, Bát Nhã, Giải Thoát. Pháp Thân là chân thân của chính mình, quyết định chẳng hư vọng, đó là chứng đắc chân thân của chính mình. Khẳng định đích xác y báo và chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới là chính mình, chẳng phải là ai khác, đó là chứng đắc Pháp Thân. Pháp là hết thảy các pháp. Hiểu rõ triệt để “hết thảy các pháp là một mình ta”. Đúng như đang nằm mộng, đột nhiên giác ngộ “ta đang nằm mộng”, đến rốt cuộc, mộng là chuyện gì, hoàn toàn hiểu rõ! Chẳng còn so đo hết thảy các cảnh giới trong mộng nữa, chẳng có chấp trước, phân biệt, kiến giải ấy gọi là “Phật tri, Phật kiến”. Kinh Pháp Hoa gọi điều đó là “nhập Phật tri kiến”. Đó là Phật tri Phật kiến, tận hư không khắp pháp giới là một, chẳng hai.

Thứ nhất là Thường, tức Pháp Thân, quý vị thật sự thấy chân tướng của vũ trụ và nhân sinh, tức là Thật Tướng. Triệt ngộ Thật Tướng, đó là Lý, là vĩnh hằng, cho nên Thường, vĩnh viễn không thay đổi. Tịch là Giải Thoát, đại tự tại, như Quán Tự Tại Bồ Tát được nói trong Tâm Kinh, tự tại! Sự tự tại ấy do từ Tịch mà đạt được! Tịch là gì? Trong tâm chẳng sanh một niệm, thanh tịnh, tịch diệt. Diệt gì? Diệt hết thảy phân biệt, chấp trước, vọng tưởng, tâm đã tịch. Đối với năm thứ Nhẫn trong kinh Nhân Vương, đức Phật chứng đắc Tịch Diệt Nhẫn, còn cao hơn Vô Sanh Pháp Nhẫn, vì Vô Sanh Pháp Nhẫn còn có Tự và Tha, vẫn chưa phải là một. Tịch Diệt là một, là cảnh giới cao nhất.

Kiến giải của phàm phu phân chia Tự và Tha. Kinh Kim Cang nói: “Tướng ta, tướng người, tướng chúng sanh, tướng thọ giả”, phân biệt, chấp trước mới có các tướng ấy! Rời khỏi hết thảy phân biệt, chấp trước, há còn có? Thế giới này vốn là một. Vì thế, sau khi chứng đắc Pháp Thân, thế giới này là Nhất Chân pháp giới, vốn là một, không hai. Một mới là thật, hai là giả, hai sẽ chẳng chân. Cảnh giới cao nhất của nhà Thiền là “thức đắc nhất, vạn sự tất” (biết được một, muôn sự hoàn thành). “Thức đắc” là quý vị thật sự nhận biết Một, giác ngộ “vạn pháp trong toàn thể vũ trụ vốn là một”, được lắm! Chuyện gì đều chẳng có nữa, quý vị tu hành đã đạt đến viên mãn rốt ráo, chẳng còn gì nữa! Trong Đại Thừa, đã tốt nghiệp Nhất Thừa Phật pháp! Sở dĩ quý vị chẳng thể tốt nghiệp là do trong tâm quý vị còn có hai, còn chưa đạt đến một! Đã đạt đến Một, tức là đã tốt nghiệp Phật pháp liễu nghĩa rốt ráo trong Nhất Thừa! Đấy là cảnh giới cao nhất trong Phật pháp! Danh từ này hiển thị Tam Đức trong Nhất Chân pháp giới chẳng thể nghĩ bàn.

Tướng Phần của mười phương thế giới là như thế nào? Trong Duy Thức đã giảng rất rõ ràng: “Vô minh bất giác sanh tam tế”. Trong ba tế tướng, thứ nhất là Vô Minh Nghiệp Tướng, tức là mê hoặc, vọng động; thứ hai là Chuyển Tướng, do có vô minh vọng động nên nó sanh khởi chuyển biến; Chuyển Tướng còn gọi là Kiến Phần, có thể thấy tướng. Đã có thể thấy tướng, nó có thể biến thành một tướng được thấy, tướng được thấy gọi là Cảnh Giới Tướng tức là Tướng Phần của các cõi nước Phật do đó mà có. Tướng ấy được gọi là “chân vọng hòa hợp”, nó chính là ý nghĩa “nhất hợp tướng” như kinh Kim Cang đã nói. Nói cách khác, sau khi Chân Như bổn tánh khởi vô minh, sẽ biến hiện Cảnh Giới Tướng. Cõi nước Tây Phương Cực Lạc thế giới chẳng khởi vô minh. Chẳng có vô minh sẽ là Tướng Phần của Chân Như bổn tánh.

Phật luôn luôn trụ ở trong cõi Thường Tịch Quang, giống như trụ ở trong hư không. Vì hư không chẳng có bờ bến, mà pháp thân của Phật cũng chẳng có bờ bến. Cho nên đầy khắp mọi nơi. Tùy thuận theo tâm niệm của chúng sinh mà hóa hiện để độ thoát chúng sinh. Chẳng có nơi nào mà chẳng đến, đây là nương vô tướng mà làm tướng, là lý thể chân thật. Nghĩa là Phật thường ở trong cõi Thường Tịch Quang Tịnh Ðộ, trong định ngài dùng sức oai thần của Ngài để gia bị cho người thọ trì giải nói, khiến cho trí huệ của người đó tăng trưởng. 

Do vậy, bất luận tông nào hay pháp môn nào trong Phật pháp, vì sao coi trọng Thiền Định như vậy là do đạo lý này! Thiền Định tương ứng với Tịch. Quý vị chẳng dùng đến công phu Định, làm sao đạt được tâm thanh tịnh? Vì thế, Phật pháp nhất định phải tu Thiền Định, nhưng tu Thiền Định cũng chẳng nhất định là Phật pháp, phải biết điều này, vì sao? Thiền Định có sâu hay cạn khác nhau! Thế gian có Tứ Thiền, Bát Định, đó chẳng phải là Phật pháp. Tiểu Thừa có Cửu Thứ Đệ Định, chẳng phải là Phật pháp rốt ráo. Trong Đại Thừa, cũng có nhiều thứ Định. Như đại định viên mãn rốt ráo được kinh Lăng Nghiêm gọi là Thủ Lăng Nghiêm Đại Định. Trong kinh Hoa Nghiêm lại đổi thành một danh xưng khác, tức là Sư Tử Phấn Tấn tam-muội (sức sư tử mạnh nhanh của thần thông tự tại)

— oOo —

Cõi Cực Lạc Thế Giới

Trong bốn cõi, người tu hành theo pháp môn tịnh độ được vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc. Trong lúc ban đầu họ vãng sanh trong hoa sen. Tuy trong hoa sen, mà trong đó to lớn vô cùng. Cõi trong hoa sen, mà thế giới Cực Lạc được nói trong kinh Di Đà là cõi Phàm Thánh Đồng Cư trong bốn cõi của thế giới Cực Lạc, chẳng phải là cõi Thật Báo Trang Nghiêm của các vị Bồ Tát, chẳng phải là cõi Thường Tịch Quang của Phật. Vì sao nói là cõi Đồng Cư? Vì chúng ta đới nghiệp vãng sanh đều sanh vào cõi Đồng Cư, nói như vậy càng thêm thân thiết.

Thế giới của mười phương chư Phật đều có bốn cõi, giống như thế giới nay chúng ta đang sống là cõi Phàm Thánh Đồng Cư của Thích Ca Mâu Ni Phật. Cõi Phương Tiện Hữu Dư và cõi Thật Báo Trang Nghiêm của thế giới Sa Bà chẳng ở nơi đây, chúng ta chẳng thấy được! Điều mầu nhiệm của Tây Phương Cực Lạc thế giới là: Tuy vãng sanh trong cõi Phàm Thánh Đồng Cư, nó thông với “ba cõi trước”. Do vậy, vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới là “hoành siêu” (vượt thoát theo chiều ngang), chẳng phải là “thụ xuất” (thoát ra theo chiều dọc), hoành siêu tam giới, tới Tây Phương Cực Lạc thế giới, sanh ngang vào bốn cõi, tuyệt diệu chẳng thể diễn tả được! Sanh về một là sanh trong hết thảy, sanh vào cõi Phàm Thánh Đồng Cư đồng thời cũng giống như sanh vào cõi Phương Tiện Hữu Dư, cõi Thật Báo Trang Nghiêm, cõi Thường Tịch Quang. Vì sao? Vì trong cõi Phàm Thánh Đồng Cư, quý vị có thể thấy trọn Bồ Tát, thiên nhân đại chúng trong ba cõi trên.

Ở cõi Cực Lạc phương Tây thì đất là vàng, ở cõi Lưu Ly phương Đông thì đất là lưu ly, không nơi nào có bụi bặm, dơ bẩn. Tại cõi cực lạc không có ba đường ác, không có địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh; và những tiếng khổ. Những tiếng kêu đau khổ cũng không có, những loại âm thanh bi ai, làm cho người nghe phải mủi lòng, khóc lóc, chẳng hạn, tất cả đều không có. Cõi Lưu Ly phương Đông, mặt đất chỉ thuần là ngọc lưu ly, mặt đất làm bằng lưu ly, bởi vậy mới nói đây là thế giới Lưu Ly tại phương Đông; đường đi chăng dây, dây làm bằng vàng, dây vàng làm thành lan can để phân ranh giới các đường đi. Thành khuyết cung các, thành là thành trì, khuyết là cửa khuyết xây trên mặt thành, các cung điện và lầu các. Câu nói “Đông A-súc, Tây Di-đà” chính là chỉ đức Phật A-súc, hay còn gọi là đức Phật Dược Sư, ở phương Đông và đức Phật A-di-đà ở phương Tây. Phật A-súc trông coi Kim Cang bộ, như đã từng nói đến trong chú Lăng Nghiêm, còn Phật A-di-đà thì thuộc Liên Hoa bộ. Đức Phật A-di-đà là giáo chủ cõi Cực Lạc phương Tây, và Phật Dược Sư Lưu Ly Quang là giáo chủ cõi Lưu Ly phương Đông.

Do sức đại nguyện của Phật, khiến cho cả nước, liền được an ổn, mưa gió đúng thời, mà trong nước được bình an vô sự, mưa thuận gió hòa, như chúng ta thường nghe những câu: “cứ năm ngày thì gió, mười ngày thì mưa, gió không làm cây rên xiết, mưa không làm đất lở”. Lại có câu:

Thiên nhai tiểu vũ nhuận như tô
Thảo sắc dao khán cận khước vô
Tối thị nhất niên xuân hảo xứ
Tuyệt thăng yên liễu mãn hoàng đô

Mưa nhỏ tưới xuống, trông giống như phủ lên mặt đất một lớp mỡ. Đó là loại mưa làm đất cát phì nhiêu, làm cho cỏ cây tươi tốt, chớ không phải như những trận mưa trút nước khiến cho cả khối đất bị vỡ nát cuốn trôi. Còn gió thì hiền hòa, chẳng phải là những cơn bão lốc làm đổ nhà cửa, đổ cây cối. Gió mưa thuận hòa thì “cốc giá thành thục”, lúa cấy thì được mùa; “hết thảy hữu tình, vô bệnh mừng vui”, như vậy thì hết thảy các loại hữu tình, con người cũng như mọi chúng sanh đều không bị bệnh tật, sống trong cảnh an vui. “Thì tâm muốn gì, liền được đủ thứ”, những điều lâu nay ưa thích, những gì làm cho thỏa ý vừa lòng, thì đều có được cả; tỷ như  “áo mặc thật đẹp (thượng diệu y phục)”, quần áo thuộc loại thượng hạng; “được cả đồ dùng, quý báu trang nghiêm”, lại còn có hết thảy các thứ trang sức quý giá làm bằng bảy thứ báu là vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xà cừ, ngọc đỏ, mã não; “đeo hoa ướp hương, trống nhạc các loại”, vòng đeo kết bằng hoa cùng hương quý, các loại âm nhạc; “tùy tâm thích gì, đều được đầy đủ”, tùy tâm ý, sở thích, muốn thứ gì đều được như ý.

Cõi ấy đất bằng như lòng bàn tay, màu hoàng kim, không có hầm hố gai góc ngói sạn. Đất ấy mềm dịu như bông đâu la miên. Lúc đi đất ấy lún xuống, cất chân lên đất trở lại như cũ. Trong nước ấy tất cả cây mọc lên thường có bông trái. Lại có cây lạ tên là kiếp ba sản xuất y phục tốt đủ năm màu bóng láng sáng chói, tỏa hương thơm, tất cả thời gian không hề biến đổi. Như hoa trời rất thơm tho, y phục ấy có mùi thơm cũng vậy. Người mặc hay dùng y phục ấy, thân họ cũng có mùi thơm như vậy. Như ở cõi nầy, nhà giàu sang y phục dư nhiều, mặc dùng như ý. Người cõi ấy không có buôn bán đổi chác, cũng không làm ruộng trồng tỉa ruộng, thường hưởng nhàn nhã vui sướng.

Tất cả hữu tình không có vọng ngữ. Thân không hôi dơ xấu xí. Với tham sân si thảy đều yếu mỏng. Cũng không có lao tù giam nhốt chúng sanh, cũng không có hàng ngoại đạo dị học. Cõi ấy tất cả cây mọc lên thường có bông trái. Lại có cây lạ tên là kiếp ba sản xuất y phục tốt đủ năm màu bóng láng sáng chói, tỏa hương thơm, tất cả thời gian không hề biến đổi. Như hoa trời rất thơm tho, y phục ấy có mùi thơm cũng vậy. Người mặc hay dùng y phục ấy, thân họ cũng có mùi thơm như vậy. Như ở cõi nầy, nhà giàu sang y phục dư nhiều, mặc dùng như ý. Chúng sanh cõi ấy cần dùng đồ ăn uống, thì đồ uống ăn theo tâm niệm hiện ra, không có đại tiểu tiện dơ uế, như ở cõi trời. Lâu đài cung điện ở nước ấy đều nghiêm sức bằng bảy báu, bốn phía có nhiều ao tắm đầy nước tám công đức thọ dụng theo tâm niệm của người. Lại có nhiều vườn tược đều xinh đẹp thanh tịnh. Những thức ăn món uống của người nước ấy màu sắc hương vị đều như cõi trời.

Đối với những người tu hành, cõi cực lạc khác với cõi Ta Bà. Cõi Ta Bà, người tu hành Tu Đà Hoàn quá giải đãi bảy lần thọ sanh, vì họ thuyết pháp họ mới được A La Hán quả, Phật gọi họ là người bảy lần thọ sanh. Ở cõi cực lạc, có người nghe Đức Như Lai thuyết pháp lần đầu được quả Tu Đà Hoàn, nghe pháp lần thứ hai được quả Tư Đà Hàm, nghe pháp lần thứ ba được quả A Na Hàm, nghe pháp lần thứ tư chứng quả A La Hán. Những người chẳng nhứt định một đời chứng quả A La Hán thì gọi là người giải đãi.

Tuy ban đầu vãng sanh về cõi Phàm Thánh Đồng Cư, nhưng cõi cực lạc nầy lại được thọ hưởng như cõi thiên, cõi Phương Tiện Hữu Dư Độ. Chúng sanh cõi cực lạc ấy lên cõi trời thì họ không hề ưa thích. Tại sao vậy? Vì họ nghĩ Đức Như Lai thường ở nhơn gian thuyết pháp làm cho họ được lợi ích. Vả lại phước báu của họ chẳng khác cõi trời. Vì thế cõi trời Đao Lợi chẳng bằng cõi cực lạc.

Sau một thời gian quý vị vui chơi trong hoa sen trong cõi Phàm Thánh Đồng Cư, đẹp không khác gì cõi thiên, quý vị chán sự vui thích và quay lại tu hành, nhìn lại tự tánh của mình. Khi “Hoa Khai kiến Phật ngộ vô sanh”, đây là lúc hoa sen của quý vị nở, và lúc đó quý vị từ hoa sen bước đến cõi cực lạc của các vị Bồ Tát, cũng là cõi Thật Báo Trang Nghiêm tịnh độ. “Vô Sanh” có nghiã là quý vị đắc vô sanh pháp nhẫn, cũng là đắc quả vị Bồ Tát.

Có vài Phật Tử sợ khi chết, vãng sanh về cõi cực lạc rồi không thể lo lắng cho con cháu, gia đình quyến thuộc, cho nên không muốn vãng sanh. Tới Cực Lạc thế giới, được sự gia trì thù thắng khôn sánh của Phật, quý vị có thể lập tức trở lại thế giới Sa Bà; khi đó, quý vị có thể chiếu cố người nhà, quyến thuộc. “Hồi nhập Sa Bà”, câu này nhằm đặc biệt nói với những chúng sanh nặng tình với thế giới Sa Bà. Thật ra, đến Cực Lạc thế giới, quý vị tâm khai ý giải, tức là “đại triệt đại ngộ” như Thiền Tông thường nói, tâm lượng sẽ khác hẳn hiện tại. Tầm nhìn mở rộng đến hư không pháp giới, nguyên lai, trong mười phương thế giới có khá nhiều người nhà, quyến thuộc của ta, chẳng phải [chỉ vỏn vẹn] mấy người ở chỗ này, quý vị có thể đồng thời giúp đỡ họ.

“Hồi nhập Sa Bà”: Trở về thì có lìa khỏi Phật hay không? Chẳng lìa khỏi! Phật ở ngay cạnh quý vị. Thế giới Sa Bà cũng có quý vị, quý vị hóa thân tới đó. Đến Cực Lạc thế giới bèn có năng lực hóa thân trăm ngàn ức giống như Thích Ca Mâu Ni Phật, tự tại lắm! Trong mười phương thế giới, đối với những người quý vị quen biết, có quan hệ, hoặc là người nhà, quyến thuộc của quý vị, quý vị đều có thể hóa ra vô lượng vô biên thân, đáng nên dùng thân gì để đắc độ, bèn hiện thân ấy, giống hệt như Quán Thế Âm Bồ Tát “phổ độ chúng sanh”. Trong kinh Pháp Hoa, phẩm Thọ Lượng Của Như Lai, có câu kinh:

Như thị, ngã thành Phật dĩ lai, thậm đại cửu viễn, thọ mạng vô lượng a tăng kì kiếp, thường trụ bất diệt. Chư Thiện nam tử! ngã bổn hàng Bồ Tát đạo sở thành thọ mạng, kim do vị tận, phục bội thượng số. Nhiên kim phi thật diệt độ, nhi tiện xướng ngôn: Đương thủ diệt độ. Như Lai dĩ thị phương tiện, giáo hóa chúng sanh.” 

Giảng: “Như ở trên vừa nói, từ khi ta thành Phật đến nay, thời gian rất là lâu xa, tuổi thọ vô lượng vô biên A tăng kỳ kiếp, thường trụ ở cõi Thường Tịch Quang Tịnh Ðộ, cũng chẳng sinh, cũng chẳng diệt. Và chẳng phải chỉ chứng đạo ở dưới cội bồ đề, nhập diệt tại Sa La song thọ. Ðó bất quá là phương tiện thị hiện mà thôi. Các vị thiện nam tử ! Thuở xưa, khi ta hành Bồ Tát đạo, được tuổi thọ đến nay vẫn chưa hết. Còn lâu dài hơn hạt bụi số kiếp đã nói ở trên. Hiện tại ta muốn vào Niết Bàn, chẳng phải thật diệt độ, chỉ là phương tiện nói pháp, bèn nói là sẽ diệt độ. Như Lai vì phương tiện giáo hóa chúng sinh, mà nói như thế.”

 

Tự ngã đắc Phật lai,
Sở Kinh chư kiếp số,
Vô lượng bách Thiên vạn,
Ức tái a tăng kì
Thường thuyết Pháp giáo hóa,
Vô số ức chúng sanh,
Lệnh nhập ư Phật đạo.