Tướng Phần của Tự tánh

“Tướng” là hiện tượng. Hiện tượng trong tận hư không trọn pháp giới được gọi là “sâm la vạn tượng”, do đâu mà có? Từ bổn tánh của chúng ta biến hiện. Giống như nằm mộng, khi quý vị nằm mộng, trong mộng có cảnh giới, có tướng, do đâu mà có tướng? Từ cái tâm có thể nằm mộng của quý vị biến hiện. Lại bảo quý vị, sự biến hiện ấy chẳng có thứ tự trước sau, đồng thời biến ra! Chúng ta biết mộng do tự tâm biến hiện; vì thế, cũng hiểu rõ toàn thể mộng cảnh là tâm! Nếu hỏi quý vị, tâm có hình trạng như thế nào ư? Khi quý vị nằm mộng, quý vị nghĩ tới điều gì, tức là tâm có tình trạng như thế nào, nó sẽ biến ra cảnh giới có tướng trạng như thế ấy, biến thành Tướng Phần. Do đó, vừa trông thấy tướng cảnh giới ấy, sẽ biết tướng trạng của tâm.

“Tánh là Chân Như bổn tánh. Chân tánh của chúng ta có hình dạng như thế nào? Nay lục căn của quý vị tiếp xúc cảnh giới lục trần, đó là hình dạng của Chân Như bổn tánh, vì cảnh giới chúng ta trông thấy trước mắt do tự tâm của chúng ta biến hiện, nó là Tướng Phần của tự tánh. Tướng ấy tốt hay xấu do chính quý vị biến hóa. Tâm quý vị tốt đẹp liền biến ra tướng tốt đẹp, tâm quý vị ác sẽ biến ra tướng ác. Tướng chuyển theo tâm mà! Tướng tốt – xấu trong mười pháp giới đều do chính mình biến hiện, chẳng thể trách ai khác, chẳng thể oán trời, hờn người! Vì thế, “toàn tướng quy tánh”.

Tánh ở chỗ nào? Hết thảy hiện tượng là tánh. Nếu quý vị hiểu đạo lý này, đọc những câu cơ phong trong ngữ lục của Thiền Tông cũng rất thú vị. Những người ấy sau khi đã nhập cảnh giới, nếu quý vị hỏi họ: “Đạo ở chỗ nào?” Hòa thượng Triệu Châu nói: “Uống trà nhé!”, uống trà chính là đạo! Vì thế nói “Triệu Châu trà” là nói về minh tâm kiến tánh. Chẳng có pháp nào chẳng phải, pháp nào cũng đều là [đạo, là cảnh giới minh tâm kiến tánh. Tùy tiện lấy một pháp, chẳng có pháp nào không phải! Giống như chúng ta nằm mộng, cảnh giới trong mộng chẳng phải là tâm ư? Cảnh giới ấy là tâm biến; vì thế, bất luận cảnh giới nào cũng toàn là tâm! Toàn thể tâm biến thành mộng, toàn bộ mộng là tâm, cái thân của chính mình trong mộng do tự tâm biến hiện. Trong mộng thấy những kẻ đó, vẫn do tự tâm biến hiện. Núi, sông, đại địa, cây cối, hoa, cỏ trong mộng đều do tự tâm biến hiện. Ngoài cái tâm của chính mình ra, chẳng có một pháp nào. Đó là “ngoài tâm chẳng có pháp, ngoài pháp chẳng có tâm”. Như thế thì mới có thể thật sự thấu hiểu “vô duyên đại từ, đồng thể đại bi” như đức Phật đã dạy. Xác thực là vạn pháp trong vũ trụ và chính mình có cùng một Thể, cùng một tâm tánh. Điều này nêu rõ “tánh và tướng vốn chẳng phải là hai vật”, tánh và tướng là một, vốn chẳng phải hai. Tánh Tông và Tướng Tông đều giảng rất thấu triệt đạo lý này

“Tánh – tướng” là một, không hai, thật vậy, nhưng người thật sự có thể ngộ nhập chẳng nhiều lắm. Quý vị thật sự có thể ngộ nhập thì trong cuộc sống sẽ có thụ dụng, được tự tại. Quý vị chưa ngộ nhập thì tánh và tướng có cách biệt. Phải có điều kiện gì thì mới có thể ngộ nhập? Phải có công phu định lực kha khá, và cũng phải có tâm thanh tịnh kha khá thì mới có thể ngộ nhập. Phải làm thế nào để đắc tâm thanh tịnh? Vẫn là một câu cũ mèm: “Phải lìa vọng tưởng, chấp trước”. Vì quý vị có vọng tưởng, chấp trước, nên tâm chẳng thanh tịnh. Tâm chẳng thanh tịnh, chắc chắn chẳng thể tiến nhập cảnh giới này. Tâm nhất định phải thanh tịnh thì mới có thể nhập cảnh giới này, mới có thể thụ dụng chân thật. Nay có thể nói là hễ nói theo Lý thì chúng ta có thể hiểu, nhưng về Sự bèn chẳng thể dung nạp, cũng là chẳng thể thụ dụng nơi mặt Sự. Hiểu rõ Lý thì như cổ nhân thường nói: “Lý có thể đốn ngộ, nhưng Sự cần phải trừ dần dần”, trừ gì vậy? Trừ vọng tưởng, chấp trước. Sau khi đã trừ vọng tưởng, chấp trước, đó là “chứng ngộ”, nay chúng ta gọi là “giải ngộ”. Giải ngộ chẳng thể đoạn phiền não, không thể liễu sanh tử, ắt phải chứng ngộ thì mới được.

Tổng quát mà nói thì có ba thứ tánh:

  1. Biến kế chấp tánh.
  2. Y tha khởi tánh.
  3. Viên thành thật tánh.

Biến kế chấp tánh là gì? Tức là chu biến kế tánh, chấp trước tất cả là tánh có. Gì là y tha khởi tánh? Tức là y nhân duyên mà khởi tâm động niệm. Hướng thượng ngộ chân không tức là viên thành thật tánh; hướng xuống khởi phân biệt là biến kế chấp tánh. Viên thành thật tánh là gì? Tức là viên mãn thành công linh tánh chân thật.

Ví như trong đêm tối đi đường, trên đường đi thấy sợi dây thừng dài đen, bèn sinh ra nghi hoặc : “Có thể là rắn! Rắn có độc, cắn sẽ chết người”. Do đó, sinh ra sợ hãi. Sau lại nhìn rõ ràng tỉ mỉ thì là sợi dây thừng. Lại chặt dây thừng ra từng đoạn, từng đoạn là nhân duyên mà khởi, nhân duyên mà diệt, chẳng có tự tánh, cho nên là không. Tóm lại, phổ biến kế toán nơi tất cả pháp, kế thật ngã pháp, giống như nhận dây thừng là rắn, đây là tác dụng của biến kế chấp tánh. Nương tựa các duyên khác hòa hợp mà khởi, giống như trên từng đoạn dây thấy được dây thừng, đây là nương nó khởi tánh tác dụng. Nhân tâm viên minh, chẳng bị mê thức sở chấp, xa lìa nương nó khởi tánh và biến kế chấp tánh, đắc được vô sinh pháp nhẫn, duy một chân không, viên mãn thành thật, giống như từng đoạn thành không. Ðây tức là tác dụng của viên thành thật tánh.

Chúng ta đều có chấp trước hư vọng, nhận giả làm thật, lấy khổ làm vui, tất cả tất cả nhìn chẳng rõ ràng. Vì nhìn chẳng rõ ràng, cho nên càng mê càng sâu. Ðây tức là cảnh giới bỏ giác hợp trần. Nếu bỏ trần thì sẽ hợp giác. Buông bỏ tâm ô nhiễm của pháp thế gian, đây tức là tự tánh thanh tịnh. Tâm nhiễm ô chẳng buông xả thì trí huệ chân chánh vốn có chẳng thể hiện ra đặng.

Có người rất thông minh, có sức trí nhớ mạnh. Tại sao? Vì kiếp trước của họ vọng tưởng ít, cho nên đời nầy thông minh. Ðời nầy vọng tưởng càng ít thì đời sau nhất định sẽ thông minh hơn so với đời nầy. Nếu đời nầy vọng tưởng nhiều thì dùng sạch hết trí huệ thông minh đời trước, đời sau càng ngu si hơn. Không thể dùng trí huệ của mình thì sinh ra điên đảo vọng tưởng, nếu hay dùng trí huệ của mình thì càng chẳng có vọng tưởng. Tóm lại, người thông minh tâm vọng tưởng ít một chút, còn người ngu si thì tâm vọng tưởng nhiều một chút. Tại sao? Vì trí lực khác nhau, cho nên lối nhìn cũng khác nhau.

Vọng tưởng tức là có tâm phân biệt, có tâm chấp trước. Người có trí huệ thì rất ít vọng tưởng, thấy việc tỉnh việc ra khỏi thế gian, không cần vọng tưởng thì biết, như thế thì sẽ ra khỏi ba cõi. Người ngu si thì có rất nhiều vọng tưởng, thấy việc mê việc đọa trầm luân, thấy việc nào thì mê hoặc việc đó, chẳng phân được thật giả phải trái, như thế thì sẽ đọa vào ba đường ác. Người có trí huệ thì người hay làm được việc; người chẳng có trí huệ thì việc hay làm được. Người có trí huệ thì chuyển được cảnh giới; người chẳng có trí huệ thì bị cảnh giới chuyển. Chìa khóa là tại chỗ nầy. Do đó, nghe Kinh nghe pháp thì không thể đầu lại thêm đầu. Bổn lai rất dễ minh bạch, song, cứ chạy sang một bên suy nghĩ, bổn lai phải minh bạch mà cũng chẳng minh bạch. Càng tìm càng xa, lìa tự tánh thì xa. Ðây là đạo lý gì? Vì chẳng có con mắt chọn pháp. Nếu có con mắt chọn pháp, thì bất cứ pháp gì đến đều nghinh nhận mà giải, chẳng phí tơ hào sức lực.

Bản tánh của pháp là vắng lặng bất động. Dụng của pháp là “cảm mà toại thông”, nó không hình không tướng, cho nên phải “quét tất cả pháp, lìa tất cả tướng”. Có phân biệt thì không thể gọi là hư không. Người học Phật phải giống như hư không, tức không chấp vào “pháp”, càng không chấp vào thấy “ta, người”. Bản thể của pháp là “Ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt”, lìa văn tự lời nói, là chân thật, bình đẳng, cũng là thanh tịnh, vắng lặng.

Trí giả năng quan sát
Nhất thiết hữu vô thường
Chư Pháp không vô ngã
Vĩnh ly nhất thiết tướng