Quán Thân Bất Tịnh

 Quán thân bất tịnh là một trong pháp môn tu hành Tứ Niệm Xứ.

1. Quán thân bất tịnh.
2. Quán thọ thị khổ.
3. Quán tâm vô thường.
4. Quán pháp vô ngã.

Bên trong quán tâm, không thấy tâm; ngoài quán hình sắc, chẳng thấy hình sắc; xa xa quán vật, chẳng thấy có vật. Sự tham của người thế gian, quý vị cũng không tham; sự luyến ái của người thế gian, quý vị cũng không luyến ái. Quý vị trừ khử sạch tâm ái dục của người của người thế gian, vì trừ khử sạch tâm tham ái của người thế gian, nên sinh ra một thứ định lực. Có định lực rồi, thì không còn bị tất cả ngoại cảnh làm lay động. Làm thế nào mới có thể có được công phu nầy? Trước hết, phải tu pháp môn bốn niệm xứ. Do quán thân có chín lỗ thường chảy ra đồ bất tịnh – mắt có ghèn, mũi có nước mũi, tai có cức váy, miệng có đàm, đại tiện, tiểu tiện. Thân thể nhơ nhớp như vậy, có gì mà tham luyến ? Lại quán hằng ngày thường nhiếp thọ, tất cả cảm thọ và hưởng thụ về vật chất, kỳ thật đều là nhân tố trong sự khổ. Quán tâm vô thường: Niệm niệm sinh diệt, chẳng có gì là vĩnh hằng. Quán pháp vô ngã: Các pháp từ xưa nay, thường tự tướng tịch diệt, không thể dùng lời lẽ để biểu đạt, sao lại có cái ta? Bồ Tát quán sát tu tập pháp môn bốn niệm xứ, trừ khử sạch năm dục và tham ái. Đó là nói sơ qua Tứ Niệm Xứ.

Tại sao chúng ta phải tu hành pháp môn này. Bởi vì hai cái chữ “Tình Yêu”. Quý vị có biết chữ yêu 妖 trong tiếng Hán được viết gồm bộ “Nữ 女” bên cạnh chữ “Yểu 夭 (sống ngắn ngủi)”. Tóm lại, người nào si mê, chết yểu, sẽ trở thành yêu tinh. (Chết yểu vì dục lạc). Trong Hán văn, quý vị có thể suy luận về nghĩa của hai chữ “kết hôn 結 婚”. Hôn 婚 có nghĩa là mờ tối. Bây giờ chúng ta đi vào xâu cái pháp này.

– oOo –

Quán Thân Bất Tịnh

Quán thân mình. Quán thân người. Quán nội ngoại thân nhưng không có thân tưởng cũng không có chấp thủ.

Khi hành động hoặc khi thiền định thường nghĩ đến sự thống khổ do sự vô minh của mình. Thế nào là quán sự hoạt động bên trong của thân? Quý vị đang đi biết đang đi, đang đứng biết đang đứng, đang ngồi biết đang ngồi , đang nằm biết đang nằm. Quý vị biết rõ các hành động của thân. Đó là quý vị quán sát tự thân khi hành động, khi thiền định đều nhớ nghĩ đến sự khổ não của thân. Quý vị ra vào lui tới đều an nhàn, ghi nhớ không quên, ngồi nằm hai bên cũng bình tĩnh, mặc ba y đúng pháp không mất oai nghi, thực hành Bát-nhã ba-la-mật. Quý vị tự quán nội ngoại thân, tu tập như vậy mà không có sự chấp trước.

Quý vị luôn theo dõi hơi thở vô, hơi thở ra. Hơi thở dài biết hơi thở dài, hơi thở ngắn biết hơi thở ngắn. Giống như cái bàn xoay của người thợ gốm, do điều khiển mà có nhanh có chậm. Quý vị tự theo dõi hơi thở và ý niệm, đó là quán nội thân, khi hoạt động cũng như khi thiền định, thường nghĩ đến sự thống khổ ngu si ở thân. Quý vị thực hành Bát-nhã ba-la-mật này thường quán sát mà phân biệt bốn đại: Địa, thủy, hỏa, phong của thân, như mổ trâu rồi phân làm bốn phần. Quý vị quán bốn phần phân biệt của thân, từ xưa đến nay đều như vậy. Đó là quý vị quán cả trong ngoài thân mà không có sự chấp trước

Quý vị quán thân từ đầu đến chân toàn là những thứ bất tịnh: tóc, lông, răng, móng, xương, tủy, năm tạng và ba mươi sáu vật chẳng có gì để tham đắm. Giống như những bồ chứa của nhà nông đựng đầy ngũ cốc, người có mắt mở những bồ chứa ra và phân tích, biết rõ. Quý vị quán những thứ ở trong thân cũng như vậy. Đó là quý vị tự quán nội thân, khi sinh hoạt cũng như khi thiền định thường nghĩ nhớ đến sự si, ái và thống khổ ở thế gian thì chẳng có gì để chấp trước.

Quý vị quán sát thân người, từ ngày mới chết đến ngày thứ năm; cơ thể trương sình lên, thâm tím, thối nát, máu mủ tràn lan, không còn chỗ nào là sạch sẽ; hoặc bị chim thú ăn, hoặc ăn hết ho ặc ăn một nửa, gớm ghie ác bất tịnh; hoặc có người chết chỉ còn gân dính xương, máu chảy tràn lan; hoặc có người chết máu thịt đã hết, gân xương lẫn lo än; hoặc có người chết máu thịt đã hết chỉ còn gân xương vu ng vãi khắp nơi; hoặc có người chết đã lâu, đốt xương ngã màu xanh, màu trắng đã vụn nát hoặc cùng màu với đất. Quý vị đều khởi lên ý tưởng này, quán tưởng như vậy rồi trở lại quán thân ta, nếu chưa giải thoát chưa xa lìa pháp này thì cũng sẽ như vậy. Đó là quý vị quán pháp ở trong thân mình và thân người khác để không còn tham trước, đam mê.

Thân thọ tâm Pháp nội ngoại quán
Thế gian tham ái giai trừ khiển

 

– oOo –

Thân có phải là phạm hạnh chăng?

Khi Phật thành đạo thì ma vương phái ba yêu nữ, đến dưới cội bồ đề, để phá đạo nghiệp của Phật, bèn nói với Phật rằng: “Chúng tôi là mỹ nữ ở trên trời, nay hiến thân cho Ngài, hầu hạ Ngài, nguyện vì Ngài phục vụ những gì Ngài cần.” Phật ngồi yên tĩnh tọa chẳng nói gì, thân tâm chẳng động, mà phóng ra luồng hào quang trắng chiếu soi ma nữ. Lúc đó ba con ma nữ, tự quán thân mình, hôi hám vô cùng, chín lỗ chảy ra những thứ dơ bẩn thối tha. Thấy trong bụng mình ruột già ruột non, sinh tạng nhiệt tạng (thực vật chẳng tiêu hóa là sinh tạng, thực vật tiêu hóa là nhiệt tạng). Có rất nhiều trùng nhỏ du hí ở trong ruột già ruột non, du tới du lui rất tự tại. Ba con yêu nữ thấy như vậy rồi, bèn nhàm chán và bỏ đi.

Nếu thân là phạm hạnh, thì nên biết phạm hạnh tức chẳng phải thiện, tức chẳng phải pháp, tức là hỗn đục, tức là hôi hám, tức là bất tịnh, tức đáng nhàm, tức là trái ngược, tức là tạp nhiễm, tức là tử thi, tức là trùng tích tụ.

1). Tức là chẳng thiện: Thân thì chẳng thanh tịnh, cho nên chẳng thiện. Phạm hạnh là thanh tịnh, cho nên là thiện. Nếu nói phạm hạnh là thân, vậy phạm hạnh tức là chẳng thiện.

2). Tức là phi pháp: Thân thể có lúc làm những chuyện chẳng hợp pháp. Nếu phạm hạnh là thân, thì phạm hạnh cũng là phi pháp.

3). Tức là hỗn đục: Thân thể là vật hỗn đục bất tịnh, phạm hạnh thì thanh tịnh chẳng dơ. Cho nên nói thân chẳng phải là phạm hạnh, phạm hạnh cũng chẳng phải thân.

4). Tức là hôi hám: Thân thể là vật hôi hám. Nếu phạm hạnh là thân thể, thì phạm hạnh biến thành hôi hám.

5). Tức là bất tịnh: Thân thể là bất tịnh, chín lỗ thường chảy ra đồ bất tịnh, nếu phạm hạnh là thân thể, vậy phạm hạnh biến thành chẳng thanh tịnh. Chúng ta nên quán năm thứ bất tịnh. Trong Đại Trí Độ Luận có năm bài kệ hình dung năm thứ bất tịnh.

6). Tức là đáng nhàm: Thân thể là vật đáng nhàm chán, khiến cho người chẳng hoan hỷ. Nếu nói thân là phạm hạnh, thì đó chẳng phải phạm hạnh khiến cho người nhàm chán chăng ? Chẳng phải. Phạm hạnh là khiến cho người hoan hỷ, cho nên nói thân thể chẳng phải là phạm hạnh.

7). Tức là trái ngược: Thân thể luôn luôn làm ra việc trái ngược với tâm ý. Giống như tâm chẳng muốn sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, uống rượu. Nhưng thân thể cứ muốn đi làm, chẳng nghe sự chỉ huy và chi phối của tâm, đây tức là hành vi trái ngược. Phạm hạnh chẳng phải như vậy, mà là thuận tình hợp lý đi làm việc, cho nên phạm hạnh tuyệt đối chẳng phải thân thể.

8). Tức là tạp nhiễm: Vì thân là do bốn đại làm thành, cho nên tạp nhiễm. Song, phạm hạnh chẳng phải tạp nhiễm, mà là thanh tịnh, cho nên thân thể chẳng phải là phạm hạnh.

9). Tức là tử thi: Vì thân thể tương lai sẽ chết, tử thi là vật mà người chẳng hoan hỷ, còn phạm hạnh thì khiến cho người hoan hỷ, cho nên phạm hạnh chẳng phải là thân thể. Nếu như nói thân là phạm hạnh, vậy phạm hạnh chẳng phải là tử thi chăng ? Chẳng phải, phạm hạnh là thanh tịnh.

10). Tức là trùng tích tụ: Thân thể này là do nhiều vi trùng tích tụ lại với nhau mà thành. Thân người chúng ta là trùng lớn, ở trong thân thể có ngàn vạn ức trùng nhỏ, tổ chức thành một đoàn thể, cùng nhau sinh sống. Trong luận Ðại Sa Ba có nói: ‘’Trong thân người, toàn là trùng tích tụ, đầu trùng ở trong, ăn đồ con người ăn; đuôi trùng ở ngoài biện tác nhân phản.’’ Chúng ta uống nước ăn cơm, tức là trùng lớn thế trùng nhỏ làm việc. Ngàn vạn ức trùng nhỏ ngồi hưởng, chẳng phí sức lực, ăn xong rồi, rất là tiêu dao, rất là tự tại!

 

– oOo –

Mười pháp quán Thân

Quán như vậy rồi, thì đối với thân chẳng thủ lấy, sự tu chẳng chấp trước, nơi pháp chẳng chỗ trụ. Quá khứ đã diệt, vị lai chưa đến, hiện tại vắng lặng, chẳng ai tạo nghiệp, chẳng ai thọ quả báo, đời này chẳng di động, đời khác chẳng biến đổi.

1). Đối với thân chẳng thủ lấy: Quán sát nơi thân mình, cũng tìm chẳng ra chỗ của phạm hạnh.

2). Sự tu chẳng chấp trước: Nếu tu hành thì không nên trụ ở phạm hạnh. Nếu trong tâm có chấp trước rằng: Tôi tu phạm hạnh, như thế thì chẳng đến được cảnh giới người không và pháp không.

3). Nơi pháp chẳng chỗ trụ: Ðối với tất cả pháp cũng chẳng có chấp trước.

4). Quá khứ đã diệt: Ðời quá khứ đã diệt rồi, chẳng tồn tại.

5). Vị lai chưa đến: Ðời vị lai thì chưa đến.

6). Hiện tại vắng lặng: Ðời hiện tại gì cũng chẳng có.

7). Chẳng ai tạo nghiệp: Tức nhiên ba đời đều không, thân cũng không, tâm cũng không, thế giới cũng không, hết thảy tất cả đều không, thì đương nhiên chẳng có ai tạo nghiệp.

8). Chẳng ai thọ báo: Ðã chẳng có ai tạo nghiệp, thì lại có ai thọ báo? Cho nên chẳng có ai thọ báo.

9). Ðời này chẳng di động: Thế giới này cũng chẳng di động.

10). Ðời khác không biến đổi: Thế giới khác cũng chẳng biến đổi, vẫn như thế.

 

Quán sát như vầy: Vì thân không phải phạm hạnh. Vì pháp phạm hạnh không thể được. Vì pháp ba đời đều vắng lặng. Vì ý chẳng chấp lấy. Vì tâm chẳng chướng ngại. Vì chỗ tu hành không hai. Vì phương tiện tự tại. Vì thọ pháp không tướng. Vì quán pháp không tướng. Vì biết Phật bình đẳng. Vì đủ tất cả Phật pháp. Như vậy gọi là Phạm Hạnh thanh tịnh.