Đông Tây Nam Bắc
“Cử phương thường pháp giả, Kinh trung phàm cử thập phương, mỗi tiên Đông vi thủ.”
Cách thức thông thường khi nói về phương hướng, nói đến mười phương, thường nhắc đến phương Đông trước hết
“Thường pháp” là thói quen. Người Việt Nam quen thói nói “Đông, Nam, Tây, Bắc” chẳng nói “Nam, Bắc, Tây, Đông”. Người Ấn Độ cũng nói như thế. Đấy là một thói quen. Theo thói quen, xếp phương Đông lên đầu. Phối hợp với bốn mùa, phương Đông tương ứng với mùa Xuân. Mùa Xuân vạn vật sanh trưởng, có ý nghĩa trí huệ, biểu thị ý nghĩa này. Phật pháp coi trọng trí huệ, Phật pháp mong cầu trí huệ rốt ráo viên mãn. Vì thế, Trí dẫn dắt vạn pháp. Bất luận tông phái hay pháp môn nào, tám vạn bốn ngàn pháp môn, hay vô lượng pháp môn, mục tiêu chỉ có một, hoàn toàn là cầu trí huệ, chỉ là phương pháp và đường lối chẳng giống nhau mà thôi. Khai trí huệ, mục tiêu tu học của quý vị đã đạt được. Nói cách khác, phương pháp của quý vị nhất định là rất chánh xác, đã đạt tới mục tiêu. Nếu chẳng khai trí huệ, chẳng phải là bản thân pháp môn sai lầm, mà là do quý vị dụng công chẳng đúng pháp, hoặc là không khế cơ, cho nên quý vị chẳng thể khai ngộ. Vì thế, trong việc tu học, chọn lựa pháp môn là một khóa đề trọng yếu nhất.
Thí dụ khi chúng ta lâm bệnh, rồi đi khám bác sĩ. Bác sĩ khám bệnh, biết được căn bệnh và cho thuốc uống. Tu hành cũng vậy. Thuở đức Phật tại thế, các vị đệ tử Phật chỉ cần gặp đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn biết quan sát căn cơ, Ngài có thể thấy quá khứ của quý vị, quá khứ còn có đời quá khứ, từ vô lượng kiếp trong quá khứ cho đến nay, quý vị đời đời kiếp kiếp đã tu gì? Thấy quý vị căn tánh đã chín muồi, đức Phật bèn giới thiệu một pháp môn cho quý vị, hết sức khế cơ. Rất dễ dàng, mau thì vài ngày, chậm thì mấy tháng bèn thành công. Đó gọi là “ứng cơ thí giáo” hay thuận theo căn cơ mà ban bố giáo pháp. Hiện thời là thời Mạt Pháp, những đệ tử Phật trong hiện thời kém xa thời Tượng Pháp và Chánh Pháp. Chúng ta phước báo quá mỏng, chẳng có duyên gặp thiện tri thức thật sự. Nhiều khi có gặp mà cũng không biết, không quý trọng để học pháp, để khai mở trí tuệ. Giống như vừa mở đầu kinh Phật, nêu tên bậc thượng thủ trong đại chúng. Trong chúng Thanh Văn xếp ngài Xá Lợi Phất trí huệ bậc nhất. Trong hàng Bồ Tát kể tên Văn Thù Sư Lợi trí huệ bậc nhất. Nêu rõ điều chúng ta mong cầu chính là trí huệ, điều chúng ta tu tập cũng là trí huệ.
Trong các kinh sách, Phật Thích Ca ngự trong thế giới Sa Bà, chính Ngài đã ở giữa. “Đông, Nam, Tây, Bắc” thành tứ phương. Đức Phật thuyết pháp trong thế giới Sa Bà, thế giới Sa Bà là trung là chính giữa. Đó là ngụ ý “Trung” chẳng có vị trí cố định, lấy chính mình làm chính giữa. Cũng như bài luận này hiện nay đang trên mạng, mọi người khắp thế giới đều có thể đọc được, cho nên bài luận này trên mạng chẳng có vị trí cố định, nhưng nó có thể hiện hữu khắp tứ phương.
Thanh Tịnh Pháp Thân Tỳ Lô Giá Na Phật được nói trong kinh Hoa Nghiêm chính là Pháp Thân Phật. Danh hiệu ấy (Vairōcana) là phiên âm tiếng Phạn, có nghĩa là Biến Nhất Thiết Xứ (trọn khắp hết thảy mọi nơi). Triết học hiện đại gọi điều này là “bản thể”, tức bản thể của vạn hữu trong vũ trụ. Phật pháp gọi nó là Pháp Thân (Dharmakāya). Tất cả hết thảy các pháp trong vũ trụ đều sanh từ Pháp Thân. Pháp Thân có thể sanh ra vạn pháp, bản thân nó chẳng có sanh diệt, bản thân nó là bất sanh, bất diệt. Trọn khắp hết thảy mọi nơi, há có đến, đi? Giống như hư không, hư không trọn khắp hết thảy mọi nơi, có bao giờ quý vị thấy hư không có đến hay đi? Hư không chẳng có đến hay đi.
Lấy “Trung” hay chính giữa là không phải cái thân thể của chúng ta, mà nói đến cái chân tâm bản tánh của chúng ta. Chân tâm bất sanh, bất diệt, chân tâm chẳng có đến đi. Hư không pháp giới, hết thảy vạn vật đều do chân tâm biến hiện. Chân tâm là có thể biến (năng biến), vạn pháp là cái được biến (sở biến). Đại thiên thế giới do đâu mà có? Tự tánh mê bèn hiện cảnh giới ấy. Nếu giác ngộ tự tánh, cảnh giới ấy chẳng có. Vì thế, chẳng thể nói cảnh giới này là có, cũng chẳng thể nói là nó không có. Chẳng phải có, chẳng phải không, đấy là nói chân tướng với quý vị, giống như nằm mộng: Chẳng thể nói cảnh giới trong mộng là có, mà cũng chẳng thể nói là nó không có. Quý vị nói “chẳng có”, xác thực là có cảnh giới hiện tiền. Tỉnh giấc vẫn nhớ rất rõ ràng. Quý vị nói “có” thì sau khi tỉnh giấc, rốt cuộc là vẫn tìm chẳng thấy! Hoàn cảnh trên thực tế xác thực là mộng cảnh. Vì thế, đức Phật dạy chúng ta trong kinh Lăng Nghiêm phải quán như thế này: “Hết thảy pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt, bóng, như sương, cũng như chớp, hãy nên quán như thế”. Trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật đã nêu một tỷ dụ rất thú vị: Ví như mắt chúng ta bị bệnh, bèn nhìn thấy quanh đèn có một quầng sáng. Quầng sáng ấy là vọng cảnh. Hễ mê bèn có huyễn tướng; đã ngộ bèn chẳng có, nơi đèn quyết định chẳng có quầng sáng. Người mê trông thấy lục đạo luân hồi, tam thiên đại thiên thế giới, chứ người ngộ bèn chẳng có.
Trong kinh A Di Đà, vị Phật được nêu ra đầu tiên là A Súc Phật ̣(Bất Động Phật) tại Phương Đông. Phương Đông, trong bốn mùa ứng với mùa Xuân, trong Hậu Thiên Bát Quái, tương ứng với quẻ Chấn. Chấn là tướng động. Ý nghĩa hết sức sâu xa, hết sức viên mãn, nói rõ chuyện “động tĩnh như một”. Động là nói đức Phật Thích Ca đi khắp nơi giảng kinh, thuyết pháp. Ngài dạo khắp toàn cõi Ấn Độ. Từ phía Bắc là Ni Bạc Nhĩ (Nepal), cho đến Tư Lý Lan Kha (Sri Lanka), là cực Nam của Ấn Độ, đi khắp lưu vực sông Hằng. Ngài động! Thân động, miệng động, tâm bất động. Trong tâm chưa hề khởi tâm động niệm, trước nay chưa hề có phân biệt, chấp trước, trong động mà có bất động, trong bất động có động; vì vậy, Ngài vẫn bất động.
Đoạn này nhằm nói lên ý nghĩa ấy. “Tức động, tức tĩnh”, động và tĩnh đồng thời. Chúng ta học Phật phải nắm được nguyên tắc này. Trái đất quy tròn tứ phương, mặt trời mọc lên hạ xuống, nhưng trong cuộc sống hằng ngày, tâm phải thanh tịnh, tâm phải rỗng rang, trong tâm chớ nên có chút gì! Phật muốn dạy chúng ta đừng khởi tâm phân biệt. Nếu đoạn trừ được tâm phân biệt, tức trí huệ bát-nhã sẽ hiện tiền. Bát-nhã trong chúng ta hiện ra ít, chỉ vì tâm phân biệt của chúng ta nhiều, nhiều đến nỗi chiếm hết chỗ, không để cho trí huệ ló hiện. Tám thức vốn thanh khiết nhưng vì chứa đựng tâm phân biệt nên đã biến thành uế tạp. Nếu chúng ta có thể đoạn trừ tâm phân biệt, giống như quét dọn rác rưởi thì tất cả sẽ trở lại tình trạng thanh khiết và trí huệ sẽ hiện tiền.
Khứ lai hóa thân Phật,
Như-lai thường bất động,
Ư thị pháp giới xứ,
Phi nhất diệc phi dị