Giới Pháp Tạng

 Giới Pháp Tạng là giới tạng của một vị chân chánh tu hành. Tỳ Kheo thọ 250 giới. Tỳ Kheo Ni thọ 348 giới, còn phải thọ giới tu hành (10 giới trọng, 48 giới khinh). Những giới đó tuy nhiều nhưng cũng không ra ngoài 10 giới pháp tạng:

  1. Giới lợi ích khắp.
  2. Giới chẳng thọ.
  3. Giới chẳng trụ.
  4. Giới không hối hận.
  5. Giới không tranh cãi.
  6. Giới chẳng tổn hại.
  7. Giới không tạp uế.
  8. Giới không tham cầu.
  9. Giới không lỗi lầm.
  10. Giới không huỷ phạm.

 Giới lợi ích khắp: là giới lợi ích cho tất cả chúng sinh. Vị tu hành muốn tu giới tạng, thì phải trước nhất thọ trì giới thanh tịnh, vì lợi ích tất cả chúng sinh. Gì là giới thanh tịnh? Tức là giữ gìn năm giới: Không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu. Ðây là giới lớn căn bản. Vì giết hại, trộm cắp, tà dâm, nói dối, uống rượu, năm việc nầy trực tiếp, hoặc gián tiếp tổn hại sự an toàn và lợi ích chúng sinh. Vì vậy, cho nên Phật tử phải thọ trì giới khắp lợi ích chúng sinh.

Giới chẳng thọ: Vị tu hành nầy tu giới tạng, Ngài chẳng tiếp thọ tất cả tà giới của ngoại đạo tu hành. Vì giới của ngoại đạo đều là giới chẳng rốt ráo, cho nên chẳng thọ trì giới nầy. Nhưng tánh tự dũng mãnh tinh tấn, phụng trì giới báu kim cang quang minh thanh tịnh bình đẳng của chư Phật ba đời. Ấn độ có rất nhiều ngoại đạo, tu trì giới chẳng thanh tịnh, có kẻ giữ giới bò, có kẻ giữ giới chó, có kẻ giữ giới nai, có kẻ giữ giới chim .v.v…học cách sống của loài súc sinh, nhận rằng có thể được sinh về trời, nhưng chẳng biết nhân quả. Ðây đều là tà giới, nên không thể thọ trì.

Giới chẳng trụ: Vị tu hành tu giới tạng, khi thọ trì giới, thì trong tâm chẳng có sự chấp trước dục niệm, chẳng có sắc tướng, chẳng có vô sắc tướng. Tam giới tức là : Dục giới, sắc giới, vô sắc giới. Chúng sinh trong dục giới, có tình dục, thân hình, tâm thức. Chúng sinh ở sắc giới, tuy chẳng có tình dục, nhưng có thân hình, có tâm thức. Chúng sinh ở cõi vô sắc, chỉ có tâm thức mà thôi. Tóm lại, dục giới có tư tưởng dâm dục, sắc giới có ý niệm sắc đẹp, vô sắc giới có phân biệt chấp trước. Cho nên vẫn ở trong sinh tử luân hồi, mà không thoát khỏi được tam giới. Vị tu hành chẳng muốn sinh về cõi trời, chẳng muốn hưởng thụ phước báo. Vì phước báo hưởng thụ hết, vẫn phải đoạ xuống nhân gian, để hưởng thụ phước báo dư thừa còn lại. Phàm là người vinh hoa phú quý, đa số là người trời sinh xuống nhân gian. Phàm là người nghèo hèn khổ sở, đa số là từ địa ngục tái sinh lên. Tuy nhiên không thể nói một cách đại khái, nhưng chẳng cách xa ngoài phạm vi nhân quả là bao. tu hành vì chẳng cầu sinh về cõi trời, cho nên thọ trì giới chẳng trụ.

Giới không hối hận:Vị tu hành nầy tu giới tạng, thường thường đắc được an trụ, tâm chẳng có hối hận. Tại sao? Vì Ngài chẳng phạm hai lỗi, chẳng làm hai tội. Chẳng làm xiểm nịnh, chẳng dối trá. Chỉ thọ trì giới luật thanh tịnh, tuyệt đối chẳng phá tịnh giới.

Giới không tranh cãi: Vị tu hành nầy tu giới tạng, Ngài chẳng trái, chẳng tranh cãi giới luật của chư Phật ba đời đã thành lập. Ngài chẳng tự thành lập giới luật khác. Trong tâm thường thường tuỳ thuận giới hướng về con đường Niết Bàn để tu hành. Thọ trì đầy đủ chẳng huỷ phạm. Ngài chẳng vì mình mà trì giới, để não hại chúng sinh khác. Chẳng nhiễu loạn chúng sinh, chẳng khiến cho chúng sinh có sự khổ não, chỉ muốn tất cả chúng sinh sinh tâm hoan hỉ. Do nhân duyên đó, mà thọ trì tịnh giới không trái cãi.

Giới chẳng tổn hại: Vị tu hành tu tịnh giới, chẳng vì trì giới mà học tà pháp của ngoại đạo, chú thuật của Thiên ma, hoặc chế tạo các thuốc mê hồn .v.v… để não hại chúng sinh, để thương hại chúng sinh. Vị tu hành vì cứu hộ tất cả chúng sinh lìa khổ được vui, cho nên thọ trì tịnh giới chẳng não hại chúng sinh.

Giới không tạp uế: Vị tu hành nầy tu tịnh giới, Ngài chẳng chấp trước biên kiến, tức là chẳng chấp thường, chẳng chấp đoạn hai bên tà kiến. Chẳng giữ tạp giới, tức là chẳng giữ tà giới của bàng môn tả đạo. Chỉ quán sát đạo lý mười hai nhân duyên sinh diệt, mà thọ trì tịnh giới thoát khỏi ba cõi.

Giới không tham cầu: Vị tu hành nầy tu giới tạng, Ngài chẳng hiện tướng đặc biệc, để hình ảnh mình có đức, hoặc tham đồ cúng dường. Người tu đạo đừng dùng năm phương pháp tà mạng (nuôi mạng sống bất chánh), để duy trì đời sống:

  1. Trá hiện tướng lạ.
  2. Thỉnh người cúng dường.
  3. Chiêm tướng cát hung.
  4. Lớn tiếng hiện oai.
  5. Nói công đức mình.

Năm thứ hành vi nầy, đều là biểu hiện sự pháp giới. tu hành chẳng có những tham cầu bất chánh như thế. Chỉ vì đầy đủ pháp xuất ly thế gian, mà thọ trì tịnh giới không tham cầu.

Giới không lỗi lầm: Vị tu hành nầy tu giới tạng, Ngài chẳng có tâm kiêu ngạo, chẳng cống cao, chẳng ngã mạn. Chẳng đề cao đức hạnh của mình, nói tôi là người trì tịnh giới. Nếu thấy người phá giới, cũng chẳng phỉ báng, chẳng khinh thường, chẳng nói lỗi của họ, chẳng nói tội của họ. Chỉ dùng thân làm khuôn phép, khiến cho đối phương sinh tâm hổ thẹn. Chỉ một lòng thọ trì giới luật.

Giới không huỷ phạm: Vị tu hành nầy tu giới tạng, Ngài đã vĩnh viễn dứt sạch hành vi mười điều ác. Phụng hành pháp thập thiện, tức cũng là ba nghiệp thanh tịnh. Thân nghiệp có ba pháp lành:

  1. Không giết hại, ngược lại phóng sinh.
  2. Không trộm cắp, ngược lại bố thí.
  3. Không tà dâm, vì tu hành vẫn là người xuất gia. Nếu là người xuất gia thì tuyệt đối cấm dâm.

Nghiệp miệng có bốn pháp lành:

  1. Không nói dối, nói lời chân thật.
  2. Không nói hai lưỡi, đối với ông A không nói chuyện thị phi của ông B, đối với ông B không nói lời thị phi của ông A.
  3. Không chưởi mắng, tuyệt đối không mắng người, không phê bình người.
  4. Không nói lời vô nghĩa, tức là thêu dệt, chẳng nói về chuyện tư tình nam nữ, chẳng tả tình ái nam nữ.

Ý nghiệp có ba pháp lành:

  1. Không tham, biết đủ thì an vui.
  2. Không sân, hoà mục tương xứ.
  3. Tà kiến, tức là ngu si, nếu chẳng ngu si, thì trí huệ sẽ hiện tiền. tu hành thọ trì đầy đủ mười nghiệp lành nầy.

Khi tu hành thọ trì giới không huỷ phạm, Ngài quán tưởng như vầy: “Tất cả chúng sinh tại sao phải huỷ phạm giới thanh tịnh? Vì chúng sinh có tà tri tà kiến, cho nên cứ làm việc điên đảo. Chỉ có Phật mới biết nhân duyên gì mà chúng sinh điên đảo, huỷ phạm giới luật thanh tịnh. Tôi phải thành tựu vô thượng bồ đề, rộng vì chúng sinh diễn nói pháp chân thật, khiến cho tất cả chúng sinh lìa khỏi điên đảo”.

Ðạo lý vừa nói ở trên là 10 pháp môn giới tạng của vị tu hành.

— oOo —

Vì lợi ích tất cả chúng sinh

Nghĩa là phải lợi ích hết thảy chúng sinh. Do đó: “Phàm là việc ích lợi, thảy đều đi làm”. Phàm là việc có lợi ích cho chúng sinh, làm không được cũng phải cố gắng làm, không sợ khó khăn. Ðó mới là pháp tu khó làm mà làm được.

Dùng bổn nguyện khéo hồi hướng: Người hành tu hành đạo, cần phải phát đại nguyện tu hành, do đó:

“Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ,
Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn,
Pháp môn vô lượng thệ nguyện học,
Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành”.

Ðây là nguyện lực căn bản, sau đó lại phát mười đại nguyện của tu hành Phổ Hiền:

Một là lễ kính các Ðức Phật.
Hai là khen ngợi Như Lai.
Ba là rộng tu cúng dường.
Bốn là sám hối nghiệp chướng.
Năm là tuỳ hỉ công đức.

Sáu là thỉnh chuyển pháp luân.
Bảy là thỉnh Phật ở lại đời.
Tám là thường học theo Phật.
Chín là luôn thuận chúng sinh.
Mười là thảy đều hồi hướng.

Nguyện căn bản phát ra, hồi hướng cho pháp giới tất cả chúng sinh. Chẳng vì tự cầu, mà vì chúng sinh hành tu hành đạo. Ðây là hồi tự hướng tha.

Vị tu hành nầy tu phân giảm thí, bẩm tánh của Ngài nhân ái từ mẫn, Ngài ưa thích bố thí. Nếu được thức ăn ngon, Ngài chẳng thọ dụng một mình, mà là phân chia cho tất cả chúng sinh, để mọi người cùng ăn, sau đó mới chịu ăn thức ăn ngon. Do đó: “Xả mình vì người”, phàm là thọ đồ cúng dường, như quần áo, đồ nằm, thuốc men, châu báu .v.v…cũng đều như vậy, trước hết phân chia cho chúng sinh, sau đó mình mới thọ dụng.

Vị tu hành nầy, lại quán tưởng như vầy: “Tôi ở trong bao đêm dài, đam ái chấp trước thân thể của tôi, bảo vệ thân thể của tôi. Lúc nào, ở đâu, vì khiến cho thân thể sung túc mà thọ tất cả thức ăn uống. Hiện tại dùng những thức ăn uống của tôi bố thí cho tất cả chúng sinh. Nguyện cho thân thể của tôi vĩnh viễn lìa khỏi tham ái, mà chẳng chấp trước”. Ðây là tu hành tu thí tạng, là pháp môn tu hành phân giảm thí thứ nhất.

Vị tu hành nầy, Ngài đắc được các thứ thức ăn uống thượng hạng nhất, và quần áo cùng với hương hoa .v.v… Đủ thứ đồ dưỡng mạng sống. Nếu tự mình thọ dụng, thì sẽ được an ổn sung sướng, lại được sống lâu trường thọ. Nếu tự mình không dùng, mà đem bố thí cho người khác, thì mình sẽ nghèo cùng khốn khổ, mạng sống chẳng được bao lâu.

Khi có người nghèo khổ, đến trước mặt tu hành, nói như vầy: “Xin Ngài bây giờ hãy đem tất cả thức ăn uống thượng hạng, các thứ hương hoa và quần áo, đủ thứ đồ tư sanh, thảy đều nhường cho tôi”. Lúc bấy giờ, vị tu hành nghĩ: “Tôi từ vô thuỷ kiếp cho đến nay, vì đói khát, mà đã từng chết đi không biết bao nhiêu lần. Tôi chưa từng bố thí chút nào cho chúng sinh, dù nhỏ như sợi lông, để lợi ích tất cả chúng sinh, cho nên chẳng đắc được lợi ích. Hiện tại tôi cũng sẽ giống như thuở xưa, mất đi thân mạng. Vì nhân duyên đó, cho nên tôi cam tâm tình nguyện đem tất cả đồ tư sanh, bố thí lợi ích cho chúng sinh. Tuỳ theo hết thảy tất cả của cải châu báu, thảy đều bố thí cho chúng sinh cần. Cho đến mạng sống chẳng còn nữa, tôi cũng chẳng sẻn tiếc, không thể xả bỏ không được”.

Lợi ích tất cả chúng sinh: Nghĩa là phải lợi ích hết thảy chúng sinh. Do đó: “Phàm là việc ích lợi, thảy đều đi làm”. Phàm là việc có lợi ích cho chúng sinh, làm không được cũng phải cố gắng làm, không sợ khó khăn. Ðó mới là pháp tu khó làm mà làm được. Ðây là mười pháp giới vô tận. Khiến cho tất cả thế gian người hành tu hành đạo, thảy đều đắc được đại pháp tạng rốt ráo viên mãn vô tận.

Chúng ta người tu đạo, đừng chấp trước “cái ta”. Nếu có tư tưởng về “cái ta”, thì không thể nào thoát khỏi được ba cõi. Cho nên Phật mới đề tỉnh chúng ta, phải không ta, không người, không chúng sinh, không thọ mạng, bốn tướng. Như vậy mới quét được tất cả pháp, lìa tất cả tướng.

348 giới => 10 giới pháp tạng => Vì cái ngã
Vô Ngã => Vô giới