Phản Văn Nhập Lưu Chiếu Tánh

Phát tâm tu phản văn theo đức Quán Thế Âm trước hết phải phát đại đạo tâm. Tâm Bồ-đề gồm có ba: Thiện tâm, bi tâm và trực tâm. Thiện tâm là rộng làm các việc lành, đình chỉ các việc ác. Bi tâm là rộng độ chúng sanh. Trực tâm là chánh niệm chân như. Nguyện của Bồ Tát, tức là:

  1. Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ. (thiện tâm)
  2. Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn. (thiện tâm)
  3. Pháp môn vô lượng thệ nguyện học. (bi tâm)
  4. Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành. (trực tâm)
Khi ban đầu phát Tâm Bồ thì được chư Phật hộ niệm, vạn Thánh gia trì. 100 thí dụ trong kinh Hoa Nghiêm chưa nói hết thịnh đức của tâm Bồ-đề. Ai quên tâm Bồ-đề mà tu các công hạnh liền bị ma nhiếp trì. Không phát tâm Bồ-đề mà tu các công hạnh cũng như cày bừa không gieo giống, không bao giờ thành Phật.

Phản văn nhập lưu chiếu tánh tức là gốc giải thoát. Quán Âm Như Lai dạy từ văn, tư và tu tuệ vào Tam-ma-địa. Quán Thế Âm Bồ-tát vâng lời hạ thủ công phu tức là văn tuệ. Từ đây trở đi gồm cả tư tuệ và tu tuệ cho đến khi nhập chánh định.

Văn tuệ: Theo nghĩa thông thường là học rộng nghe nhiều. Thể của đa văn là nhĩ thức câu ý thức phân biệt hiểu rõ. Ở đây thể của văn tuệ là văn tánh, trí lý như như vô phân biệt.

Tư tuệ: Theo nghĩa thông thường là suy đi xét lại một vấn đề. Ở đây tư tuệ là một mực phản văn, ngoài thoát thanh trần, trong thầm hợp với lý trí, không bị nghĩa có nghĩa không lôi cuốn.

Tu tuệ: Theo nghĩa thông thường là thực hành giáo lý. Tu tuệ ở đây là phải đạt được vạn hạnh cùng thiền quán không trái nhau. Khạc nhổ vung tay không lúc nào không định, huống chi trong lúc thực hành các thiện hạnh.

Nhĩ căn thuận dòng chạy theo âm thanh là gốc trói buộc. Phản văn nhập lưu chiếu tánh tức là gốc giải thoát. Trong kinh Lăng Nghiêm, chư Phật bảo Anan: “Luân hồi sanh tử, giải thoát Niết-bàn gốc đều ở sáu căn”. Bồ-tát tu pháp môn Nhĩ Căn Viên Thông này chính hợp với ý chỉ của Phật Thích Ca và mười phương Phật.

 

— oOo —

Nhập lưu vong sở

Nhập lưu: Năng nhập là quán-trí. Sở nhập là nhĩ môn. Nhập tức là xoay cái nghe lại chiếu tánh, không chạy theo âm thanh. Tức là ngược lại với dòng nghiệp vọng đan dệt từ vô thủy. Tùy thuận dòng Thánh là văn tánh ở nhĩ căn. Nhập lưu tức là tư tuệ kiêm tu tuệ, dùng quán trí mà tư duy (không phải thức tâm phân biệt tư duy). Người nghe âm thanh là ai? Hễ hơi có tiếng động liền tham câu này. Miên miên mật mật không gián đoạn. Khi hết âm thanh lại hỏi nghe tĩnh là ai? Tông môn tham khán thoại đầu dùng ý căn, đây dùng nhĩ căn. Nhưng đồng ở chỗ trí-quang nội chiếu.

Phật dạy chỉ có việc đừng theo động tĩnh các trần, thoát niêm để nội phục, quay trở về chân nguyên. Như thế trí-quang không rọi ra ngoài. Không cần vong trần mà trần vẫn vong.
Nhập lưu: Hợp giác.
Vong sở: Bội trần.

Hợp giác & Bội trần là diệu chỉ tu hành của Lăng Nghiêm, rất giản yếu, rất xảo diệu. Vong tức là giải thoát. Sở tức là thanh trần. Vong Sở tức là giải thoát cái động của thanh trần, cũng là công phu bước đầu. Chẳng phải tiêu diệt âm thanh mà là định lực có công. Nhập lưu là tu chứng viên thông. Ðộng trần diệt rồi tĩnh trần mới hiện. Từ nay suốt ngày nghe cảnh tĩnh. Tĩnh trần là một kết phải giải trừ. Vẫn dùng hai tuệ: tư tuệ và tu tuệ. Không duyên tĩnh trần sở văn, tham cứu người nghe tĩnh trần là ai? Tĩnh trần là cảnh, tánh nghe là tâm. Chỗ nhập đã tịch, hai tướng động tĩnh rõ ràng không sanh: Vong sở là giải động trần. Tới đây là giải tĩnh kết. Tĩnh trần là còn ở trong khu vũ của sắc ấm như người sáng mắt ở trong nhà tối. Ðến khi chỗ nhập đã tịch tức là cả hai kết động và tĩnh đều giải. Liễu nhiên không sanh: Ðộng tĩnh hai trần tướng rõ ràng bất khả đắc. Tướng sở nhập cũng vắng lặng, hai trạng thái động tịnh rõ ràng chẳng còn sanh. Cội nguồn của sáu căn và sáu trần cũng đều dừng bặt, tức là đã mở ra được nút buộc thứ nhất của trần cảnh diêu động. Thanh trần hoàn toàn vắng bặt, hai tướng động tĩnh rõ ràng chẳng còn sanh trở lại nữa. Tức là đã phá trừ được sắc ấm, tức là giải xong hai kết động và tĩnh.

 

— oOo —

Nhĩ Căn Viên Thông

Như thị tiệm tăng, văn sở-văn tận: Hai kết trần đã giải thì kết căn mới hiện. Căn là chỗ tụ cái nghe. Thêm công phu hành đạo, định lực vào sâu, căn năng văn tùy theo mà giải. Không có người thọ tức là thọ ấm cũng phá. Căn và trần đã tiêu, thức từ đâu sanh? Cho nên tưởng ấm cũng phá.

Ở trên Phật đã nói: “căn này giải, trước chứng nhân không”, tức ngang nơi đây. Trần vong, căn tận, thức tiêu vào chỗ vô sở y. Ba mối kết này, Phật đã chỉ khi nói “lao kiến phát trần”. Nay ba mối kết phần thô đã giải tức là trần không còn phát mà kiến cũng không còn lao.

Tận văn bất trụ: Ðây là giải mối kết giác. Năng-văn sở-văn đều tận, căn trần đều tiêu, sáu dụng không hiện hành. Chỉ mông mênh một giác. Nếu trụ ở cảnh này thì chỉ được ngã không, không được pháp không, ắt vĩnh viễn đọa vào cái hố sâu vô vi. Nếu không trụ, gia công tiến nữa, vẫn quán văn tánh. Sau khi hoàn toàn thoát cả trần lẫn căn, hiện tiền cảnh sở-giác trừng lặng vô biên. Năng-giác tức là trí chiếu soi cảnh ấy. Cảnh và trí đối nhau, năng sở tồn tại là chướng phải giải.

Giác, sở-giác không: Hỏi: Giác là trí phần thuộc Bát Nhã. Trí khế lý làm sao cũng không?
Ðáp: Nên biết đây là phá pháp chấp. Nếu còn tiếc cái trí này không chịu xả, tức là pháp ái (ái trí) trở thành một kết cần phải giải trừ. Cái giác trí đó là cái thức thứ sáu, ý thức. Nay giác kết đã giải, ắt tri kiến không phát thì vọng mới không nối tiếp.

Không giác cực viên: Giác kết tuy giải. Năng-không sở-không hiện tại rõ ràng thì tánh không chưa tròn. Nếu ái tiếc lý không tức là pháp ái (ái lý).  Vì hễ còn cái không, thì mình vẫn còn chấp trước vào tánh không. Nay tham cứu “Không nương về đâu?” mới viên mãn tánh không.

Không, sở-không diệt: Cũng như cọ gỗ thành lửa, lửa cháy, cả hai cây gỗ cùng tiêu. Kết “Không” gỡ được là phá xong hành ấm. Như trên Phật nói “không-tánh viên minh thành pháp giải thoát”. Ðây là tới cảnh câu không.

Sanh diệt: Giải kết diệt. Hai chữ sanh diệt tổng nêu các mối kết:
– Ðộng diệt thì tĩnh sanh.
– Tĩnh diệt thì căn sanh.
– Căn diệt thì giác sanh.
– Giác diệt thì không sanh.
– Không diệt thì diệt sanh.

Kết diệt không cởi thì hằng trụ ở cảnh câu-không là một tế chướng của viên thông. Bên Thiền nói đầu sào trăm thước, bước thêm bước nữa, gọi là cửa lao nhọc cuối cùng. Vì mối kết này rất khó giải trừ. Một khi giải được thì thân thấy bản lai diện mục. Cho nên người nhập lưu chiếu tánh thoát được kết diệt đến chỗ không sanh không diệt mới là về đến nhà.

Ðã diệt: Tức là quán-trí trở về nguồn. Tất cả sanh diệt đã diệt rồi. Kết diệt này tức là ở trên Phật đã nói: “Do ông từ vô thủy tâm tánh cuồng loạn”. Giải xong là năm ấm toàn phá. Cuồng tâm tắt, tắt tức Bồ-đề.

Tịch diệt hiện tiền: Chữ tịch chẳng phải là đối với động mà là từ vô thủy đến nay vẫn không động tĩnh. Diệt chẳng phải đối với sanh mà từ vô thủy đến nay vẫn không sanh diệt. Hư tâm tuyệt đãi, diệu thể cô viên, tức là Như Lai Tạng diệu chân như tánh, cũng tức là nhất thừa tịch diệt tràng địa, chính là chân tâm chúng ta. Phật nói Bồ-tát tới đây là từ Tam-ma-địa được vô sanh pháp nhẫn. Pháp của cổ Phật Quán Thế Âm cùng với tu chứng giải kết của Thích Ca Mâu Ni Phật không hai không khác. Vào Thủ Lăng Nghiêm tam muội là chứng được Sơ Trụ ở Viên-giáo.