Danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát
Có người gọi là Quan Thế Âm. Nhưng chữ Quan nghĩa là xem, dùng con mắt để thâu nạp sắc tướng, dùng cái tai để thâu nạp âm thanh. Ở đây phải dùng chữ Quán nghĩa là quán chiếu để hiểu rõ, không phải để đạt ý nghĩa âm thanh mà phải đạt lý tánh của tánh nghe. Danh hiệu Quán Thế Âm nêu tỏ hai đức tự lợi và lợi tha nhưng cảnh sở quán thì không đồng.
Trong kinh Pháp Hoa, Phật dạy: “Bởi vì quan sát âm thanh của thế gian để cứu khổ cho nên gọi là Quán Thế Âm”. Cảnh sở quán ở đây là âm thanh thế gian (quả môn nêu tỏ thịnh đức lợi tha).
Trong kinh Lăng Nghiêm, Bồ-tát tự nói: “Do con quan sát mười phương viên minh nên Quán Thế Âm danh vang khắp mười phương thế giới”. Cảnh sở quán ở đây là tánh nghe (nhân môn để nêu rõ chỗ thâm sâu của tự lợi).
Hai kinh ẩn hiển lẫn nhau để nêu rõ chỗ viên diệu của danh hiệu. Sao không gọi là Quán nhĩ căn? Quán nhĩ căn chỉ nêu rõ phần tự lợi. Còn chữ Quán Thế Âm nêu cả hai phần tự lợi, lợi tha. Vì cảnh sở quán tuy khác mà pháp năng lợi lại đồng. Pháp môn phản văn thật đặc biệt thù thắng. Danh hiệu Quán Thế Âm là giáo pháp đậu cơ có một không hai.
Quảng trần: Rộng bày. Rộng bày chỗ tận diệu để khuyến tu. Vừa mở lời Bồ-tát đã nói ngay pháp môn phản văn là do Quán Thế Âm Như Lai truyền trao, để nhắc hàng hậu học nhớ rằng pháp giải thoát không thể tự sáng tạo mà phải nương bậc Có tu có chứng. Tu hành không vâng theo Thánh giáo. Đừng cứ rông rỡ theo ý mình, hoặc nương theo tà sư thì lỗi lầm đến vô lượng. Cho nên giới luật phải nghiêm tịnh như băng sương. Tự xét còn tội chướng phải sám hối cho đến khi thấy thoại ứng.
Phát tâm tu phản văn theo đức Quán Thế Âm trước hết phải phát đại đạo tâm. Tâm Bồ-đề gồm có ba: Thiện tâm, bi tâm và trực tâm. Khởi Tín Luận:
“Thiện tâm là rộng làm các việc lành, đình chỉ các việc ác. Bi tâm là rộng độ chúng sanh. Trực tâm là chánh niệm chân như”.
- Ước về chỗ hồi hướng thì Lăng Nghiêm hướng về tánh tu;
- Luận Khởi Tín hướng về chân như;
- Bốn hoằng thệ nguyện hướng về Phật đạo.
Ba danh từ tuy có khác nhưng ý chỉ không hai. Tâm Bồ-đề rất quý trọng như vương tử khi còn ở trong thai đã cao sang hơn tất cả quần thần. Tâm Bồ-đ mới khai phát thì chư Phật đã hộ niệm, vạn Thánh đã gia trì. 100 thí dụ trong kinh Hoa Nghiêm chưa nói hết thịnh đức của tâm Bồ-đề. Ai quên tâm Bồ-đề mà tu các công hạnh liền bị ma nhiếp trì. Không phát tâm Bồ-đề mà tu các công hạnh cũng như cày bừa không gieo giống, không bao giờ thành Phật. Bắt buộc kẻ sơ cơ khi hạ thủ công phu tu phản văn phải đầy đủ ba tuệ. Ước theo nghĩa thông thường thì:Văn tuệ: Theo nghĩa thông thường là học rộng nghe nhiều. Thể của đa văn là nhĩ thức câu ý thức phân biệt hiểu rõ. Ở đây thể của văn tuệ là văn tánh, trí lý như như vô phân biệt.
Tư tuệ: Theo nghĩa thông thường là suy đi xét lại một vấn đề. Ở đây tư tuệ là một mực phản văn, ngoài thoát thanh trần, trong thầm hợp với lý trí, không bị nghĩa có nghĩa không lôi cuốn.
Tu tuệ: Theo nghĩa thông thường là thực hành giáo lý. Tu tuệ ở đây là phải đạt được vạn hạnh cùng thiền quán không trái nhau. Khạc nhổ vung tay không lúc nào không định, huống chi trong lúc thực hành các thiện hạnh.
Phát tâm Bồ-đề: Nguyện.
Giải kết: Y nguyện khởi hạnh.
Ban sơ ở trong tánh nghe: Văn tánh là lý cảnh sở chiếu, là diệu lý bản giác ở trong căn. Khởi diệu trí thủy giác như huyễn, đem trí chiếu lý là văn huân văn tu. Ba chữ “trong tánh nghe” cần phải phân minh, tâm nhân địa không thể lầm lẫn:
- Không phải tai thịt.
- Chẳng phải nhĩ thức.
- Chẳng phải ý thức.
Khi Anan thỉnh pháp, Phật luôn ba phen phá thức, mười phen hiển thấy, muốn Anan nắm lấy cái Thấy mà dùng. “Trong tánh nghe” tức là cái Thấy mà Phật đã mười lần nói. Về sau hội bốn khoa, dung bảy đại để hiển ba Như Lai Tạng cũng chỉ là bàn về tánh này. Nếu có thể nơi đây nghiệm xét phân minh nhân tu căn bản thì mới có thể viên thành quả địa.
Nhập lưu vong sở: Quán Âm Như Lai dạy từ văn, tư, tu vào Tam-ma-địa. Quán Thế Âm Bồ-tát vâng lời hạ thủ công phu tức là văn tuệ. Từ đây trở đi gồm cả tư tuệ và tu tuệ cho đến khi nhập chánh định. Nhĩ căn thuận dòng chạy theo âm thanh là gốc trói buộc. Phản văn nhập lưu chiếu tánh tức là gốc giải thoát. Cho nên chư Phật khác miệng đồng lời bảo Anan:
“Luân hồi sanh tử, giải thoát Niết-bàn gốc đều ở sáu căn”.
Bồ-tát tu pháp môn này chính hợp với ý chỉ của Phật Thích Ca và mười phương Phật.
Nhập lưu: Năng nhập là quán-trí. Sở nhập là nhĩ môn. Nhập tức là xoay máy nghe lại chiếu tánh, không xuất lưu duyên âm thanh. Tức là ngược lại với dòng nghiệp vọng đan dệt từ vô thủy. Tùy thuận dòng Thánh là văn tánh ở nhĩ căn. Nhập lưu tức là tư tuệ kiêm tu tuệ, dùng quán trí mà tư duy (không phải thức tâm phân biệt tư duy). Người nghe âm thanh là ai? Hễ hơi có tiếng động liền tham câu này. Miên miên mật mật không gián đoạn. Khi hết âm thanh lại hỏi nghe tĩnh là ai? Tông môn tham khán thoại đầu dùng ý căn, đây dùng nhĩ căn. Nhưng đồng ở chỗ trí-quang nội chiếu. Phật dạy chỉ có việc đừng theo động tĩnh các trần, thoát niêm để nội phục, quay trở về chân nguyên. Như thế trí-quang không rọi ra ngoài. Không cần vong trần mà trần vẫn vong.
- Nhập lưu: Hợp giác.
- Vong sở: Bội trần.
Bội trần hợp giác là diệu chỉ tu hành của Lăng Nghiêm, rất giản yếu, rất xảo diệu. Vong sở giải kết động của thanh trần là công phu bước đầu. Chẳng phải tiêu diệt âm thanh mà là định lực có công. Nhập lưu là tu chứng viên thông. Động trần diệt rồi tĩnh trần mới hiện. Từ nay suốt ngày nghe cảnh tĩnh. Tĩnh trần là một kết phải giải trừ. Vẫn dùng hai tuệ tư và tu. Không duyên tĩnh trần sở văn, tham cứu người nghe tĩnh trần là ai? Tĩnh trần là cảnh, tánh nghe là tâm.
Bồ Tát Quán Thế Âm Ngài cứu bảy nạn, giải ba độc, ứng hai sự mong cầu, đó là đại bi, và còn lợi lạc cho chúng sinh, khiến cho chúng sinh lìa khổ được vui, đó là từ bi. Vì đại từ đại bi, cho nên mới nói Phẩm Phổ Môn Bồ Tát Quán Thế Âm. Còn một ý nghĩa nữa đó là ‘’phước huệ’’. Phước, sở dĩ Bồ Tát Quán Thế Âm hay tầm thanh cứu khổ, bất cứ là âm thanh thiện, âm thanh ác, âm thanh khổ, âm thanh vui .v.v… Ngài đều phân biệt được, là vì Ngài có trí huệ chân chánh. Trí huệ của Ngài có là từ đâu đến ? Là vì Ngài bố thí khắp, dùng pháp này thí cho chúng sinh, nên Ngài có phước báu đó, nên phước đức trang nghiêm.
Lại còn có sự ‘’chân ứng’’. Chân là Bồ Tát Quán Thế Âm nhờ diệu lực chân thân của Ngài, để cứu độ bảy nạn, giải trừ ba độc, mãn nguyện chúng sinh hai mong cầu, đó là nhờ diệu lực chân thân. Ngài còn hiện ba mươi hai ứng hóa thân, đây gọi là ứng thân, dùng để giáo hóa chúng sinh, do đó mà có ‘’chân ứng’’ này.
Lại còn có ‘’quyền thuật’’. Bồ Tát Quán Thế Âm nhờ sức pháp thân, mà ở trong sự yên lặng, tức là trong sự bí mật để lợi ích chúng sinh, đây gọi là ‘’thật’’. Ngài còn dùng ba mươi hai ứng hóa thân, để giáo hóa chúng sinh, đây là ‘’quyền’’. Quyền tức là quyền xảo phương tiện, tức cũng là phương pháp dùng tạm thời, chẳng phải vĩnh viễn. Bởi Bồ Tát Quán Thế Âm dùng quyền thật, cho nên mới nói Phẩm Phổ Môn này.
Còn có một nhân duyên nữa gọi là ‘’Bổn tích’’. Bổn là gì ? Bổn tức là căn bổn; tích tức là tông tích. Bồ Tát Quán Thế Âm dùng một pháp thân, mà độ khắp tất cả chúng sinh là ‘’bổn’’, Ngài dùng ứng hóa thân để giáo hóa cúng sinh, tức là ‘’tích’’. Pháp thân của Ngài như mặt trăng, tích cũng giống như ‘’mặt trăng chiếu ngàn con sông’’. Do đó, có câu : ’’Ngàn con sông có nước, đều có bóng của mặt trăng chiếu xuống.’’ Một mặt trăng chiếu xuống mọi con sông, mà mặt trăng ở trong mọi con sông, đều từ bổn thân của một mặt trăng hiện ra. Mặt trăng ở trong nước tức là ‘’tích’’. Mặt trăng ở trên trời tức là ‘’Bổn’’. Ðó là nhân duyên ‘’bổn tích’’.