Tứ Thiền Bát Định
Thiền Định thế gian gọi chung là Tứ Thiền Bát Định. Bốn loại Định của Tứ Thiền Thiên cộng thêm bốn loại Định của Tứ Không Thiên, hợp lại thành Bát Định. Trên thực tế, Tứ Thiền Bát Định là Bát Định, chẳng phải là ngoài Tứ Thiền còn có Bát Định. Tứ Thiền Bát Định đó là:
- Sơ thiền thứ đệ định.
- Nhị thiền thứ đệ định.
- Tam thiền thứ đệ định.
- Tứ thiền thứ đệ định.
- Không xứ thứ đệ định.
- Thức xứ thứ đệ định.
- Vô sở hữu xứ thứ đệ định.
- Phi tưởng phi phi tưởng xứ thứ đệ định.
Đó là Thiền Định thế gian. Tuy Tứ Thiền Bát Định chẳng thể thoát khỏi tam giới, nhưng vẫn được thoát khỏi vài trói buộc trên thế gian. Tứ thiền (sơ thiền => tứ thiền) thoát khỏi được trói buột của sắc pháp:
- Trong có sắc tưởng quán ngoại sắc giải thoát.
- Trong không sắc tưởng ngoại sắc giải thoát.
- Tịnh giải thoát thân tác chứng cụ túc trụ.
Các vị Tứ Thiền được vãng sanh về cõi “Trời Phước Sanh” hay cõi trời “Trời Phước Ái” . Từ tứ thiền lại chia ra hai đường lối. Nếu tu hành đúng theo Phật Pháp thì họ được về cõi “Trời Quảng Quả” tiếp tục tu hành. Nếu chấp không, tu hành theo ngoại đạo thì họ về cõi “Trời Vô Tưởng”.
Trời Quảng Quả: Những vị tu hành tại cõi “Trời Quảng Quả” được đức Phật thọ ký quả vị A-hán thì họ có thể về 5 cõi “Trời Ngũ Bất Hoàn“. Năm cõi trời nầy được gọi là Bất Hoàn bởi vì chẳng trở lại dục giới thọ sinh tử nữa, là chỗ ở của tam quả A la hán. Ðến cõi trời sắc giới tối cao, đã tận cùng sắc tánh, biết rõ sắc tánh, dùng không làm thể. Người lợi căn trực tiếp thoát khỏi ba cõi, chứng quả A la hán.
Trời Vô Tưởng: Nhưng vì người ấy đã lấy cái sanh diệt làm nhân, thì chẳng thể phát minh tánh chẳng sanh diệt, nên nửa kiếp đầu thì diệt, nửa kiếp sau lại sanh, hạng này gọi là Vô Tưởng Thiên. Chúng sinh tu định hữu lậu tức là ngoại đạo, sẽ sinh về trời Vô Tưởng.
Những cõi trời trên là cõi trời sắc giới. Từ trên đảnh của Sắc Giới, lại tẽ ra hai đường.” Tại thời điểm này có một nẽo đường khác. “Nếu nơi tâm xả.” Một khi họ thực hành từ bỏ các tướng sắc, họ có thể khai mở trí tuệ. “Phát minh trí huệ, sáng suốt viên thông.” và họ không còn bị cản trở. Và họ thoát ra cõi trần gian. Họ có thể rời khỏi 3 cõi (cõi người, a-tu-la, trời) bằng cách đi con đường này và hoàn thành A La Hán. Họ đạt được quả vị A-La-Hán và đi vào dòng đại thừa Bồ Tát Đạo. Những vị tu hành này gọi là Hồi Tâm Đại A La Hán. Đó có nghiã là họ đã quay từ tiểu sang đại. Họ đã quay từ tiểu thừa, và xu hướng đến đại thừa.
— o0o —
Cõi trời vô sắc giới
Nhưng không phải ai tu hành cũng đủ thiện căn và gặp các vị Bồ Tát hay chư Phật chỉ điểm. Người độn căn, còn phải đến vô sắc giới, tu tứ không định, tuần tự trải qua Trời Tứ Không. Cõi trời tứ không là 4 cõi trời vô sắc giới.
1. Trời Không Vô Biên Xứ. “Nếu nơi tâm xả được thành tựu, thấy thân chướng ngại.” Những vị chư thiên đã buông xả phúc lạc và từ chối sự đau khổ. Họ biết rằng thân là một trở ngại trong tu hành. Họ “tiêu ngại vào không, hạng này gọi là Không Xứ.” Họ không muốn bị cản trở bởi bất cứ điều gì, và như vậy họ hồi quang phản chiếu và thấy thân thể là huyễn như hư không. Theo cách này, họ quét sạch mọi trở ngại. Những vị này đi theo con đường khác và đi vào cõi Không Xứ, đắc được “Không xứ thứ đệ định” và “Không vô biên xứ giải thoát“
2. Trời Thức Vô Biên Xứ. “Chướng ngại đã tiêu, vô ngại vô diệt. ” Tại đỉnh của Tứ Thiền, những chư thiên muốn tiến lên phía trên, cảm thấy rằng thân thể là vật cản trở. Vì vậy, họ xóa bỏ các chướng ngại và bước vào tánh không. Bây giờ họ đã tiến tới cõi vô sắc giới, không có trở ngại nào khác về dạng vật chất. Không có vật chướng ngại, cho nên không có gì để dập tắt. “Trong đó chỉ còn A Lại Da Thức và nửa phần vi tế của Mạt Na Thức.” Vào thời điểm này không có thân thể, chỉ còn thức. Thức đó là A Lại Da Thức , hay là thức thứ tám, được gọi là tạng thức. “Tạng” thực ra là Kho Tạng của Phật tánh. Nhưng vào thời điểm này, thức chưa hoàn toàn trở về bản tánh của Như Lai, và vì vậy nó vẫn được gọi là thức. Bây giờ, tuy nhiên, ngay cả Mạt Na Thức cũng chỉ hoạt động ở một nửa phần và do đó sự ô nhiễm vẫn còn cực kỳ tinh tế. “Những chúng sinh này là trong số những người ở Thức Xứ. Họ được tái sanh trong cõi Thức Xứ, đắc được “Thức xứ thứ đệ định” và “Thức vô biên xứ giải thoát“
3. Trời Vô Sở Hữu Xứ: Mọi thứ đã biến mất. “Sắc và Không đã tiêu, tâm thức đều diệt.” Ngôi nhà bị phá hủy, mọi người đã biến mất. Nơi quả vị trước, vẫn còn nữa Mạc Na Thức, nhưng tại quả vị này, thức thứ bảy đã mất. Khó mà dùng chữ để diển tả. Nếu quý vị không còn dùng thức, vậy làm sao quý vị có thể nói chuyện? Vậy thì không còn gì để nói nữa. “Mười phương tịch lặng, chẳng có chỗ đến.” Tất cả thế gian trong khắp mười phương pháp giới đều biến mất. Một bầu trời tĩnh lặng tràn ngập. Không có nơi nào để đi. Cũng không có bất cứ nơi nào để đến. Không đến cũng không đi. “Hạng này gọi là Vô Sở Hữu Xứ.” Mặc dù không có gì. Dù sao bản chất của những chúng sinh này vẫn còn. Bản chất của họ cũng giống như tánh Không, đắc được “Vô sở hữu xứ thứ đệ định” và “Vô sở hữu xứ giải thoát“.
4. Trời Phi Tưởng Phi Phi Tưởng. Cõi từng cao nhất. Trong cõi Thức Xứ, ý thức thỉnh thoảng vẫn hoạt động, nhưng bây giờ nó không hề lay chuyển. “Dùng tánh thức chẳng động để diệt sự nghiền ngẫm.” Cuối cùng thậm chí nghiềm nghẫm và các phương tiện tu hành trí tuệ đều kết thúc. “Thành ra ở nơi vô tận lại tỏ bày tánh tận.” Nơi “vô tận” đền cập đến sự vắng mặt của mọi thứ, như đã mô tả. Trong nơi vô tận, họ lại bày tỏ tánh tận. Và khi họ bày tỏ tánh tận, “như còn mà chẳng còn, tận mà chẳng tận”. Mọi thứ tuy có mà chẳng có. Hạng này gọi là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Tại cõi này, họ đắc được “Phi tưởng phi phi tưởng xứ thứ đệ định” và “Phi tưởng phi phi tưởng xứ giải thoát“.
— o0o —
Cửu Định Bát Giải Thoát
Những vị tu hành tại cõi trời vô sắc giới chẳng có cách nào liễu sanh tử, nhất định phải tiếp tục không ngừng nâng cao công phu, tiến cao hơn một tầng nữa, biến thành Đệ Cửu Định. Trong tam giới chẳng có Đệ Cửu Định, cao nhất trong tam giới là Đệ Bát Định. Vì vậy, đức Phật mới dạy chúng ta Đệ Cửu Định, giúp chúng ta thoát khỏi tam giới, chứng quả A La Hán.
Cửu định trong kinh được gọi là “Diệt thọ tưởng thứ đệ định“. Trong hội Lăng Nghiêm, đức Phật đã nói rất rõ ràng: A La Hán và Bích Chi Phật mới đắc Cửu Thứ Đệ Định. Trong cửu định, họ đắc được bốn vô ngại biện, tức là :
- Pháp vô ngại biện.
- Nghĩa vô ngại biện.
- Từ vô ngại biện.
- Nhạo thuyết vô ngại biện.
Do được sáu thần thông, tức là:
- Thiên nhãn thông.
- Thiên nhĩ thông.
- Tha tâm thông.
- Túc mạng thông.
- Thần túc thông.
- Lậu tận thông.
Và được cái giải thoát cuối cùng trong cửu định bát giải thoát. Đó là “Diệt thọ tưởng định thân tác chứng cụ túc trụ giải thoát“.
— o0o —
Định Thủ Lăng Nghiêm
Định Thủ Lăng Nghiêm khác với 9 các định trên ở chổ nào? Định Thủ Lăng Nghiêm là cái định có sẳn trong tự tánh của chúng ta, cho nên có được tạm gọi là định tự tánh. Định tự tánh gồm có ba tướng:
- Diệu định: Dù ở trong nghiệp báo si mê loạn động, tự tánh bản lai thường định. Công phu tu hành chỉ để trở về bổn định. Nếu phải tu mới có định thì chưa gọi là diệu định.
- Viên định: Chẳng những riêng tâm bất động mà còn thống nhiếp cả vạn sự vạn vật không động. Nếu chỉ kèm chế riêng tâm không động thì chưa phải là viên định.
- Đại định: Động tĩnh nhất như. Nếu còn nhập định xuất định thì chưa phải đại định.
Nguyên nhân lớn lao chính là mật nhân. Nhân này hoàn toàn khác với những nguyên nhân bình thường mà hàng phàm phu không thể nào hiểu được, hàng ngoại đạo không thể nào hiểu được, và hàng Nhị thừa, Thanh văn, Duyên giác chưa giác ngộ được. Cho nên nguyên nhân ra đời của bộ kinh Lăng Nghiêm này rất lớn. Nghĩa lý siêu việt của kinh to lớn chính là liễu nghĩa. Đây là chỗ rốt ráo của người tu đạo, dẫn đến sự chứng ngộ. Hạnh tu tập to lớn vì bao gồm vô số công hạnh của hàng bồ-tát.
Đại định Thủ Lăng Nghiêm là vua của các định vì cái định vốn sẳn có trong tự tánh, cho nên các định nầy bao gồm hết các định hay tam muội. Khi chúng ta quay về cái tự tánh, thì một tam muội tức là tất cả tam muội. Tất cả tam muội tức là một tam muội
Diệu định là tự tánh bản lai thường định.
Tâm thanh thủy hiện nguyệt
Ý tịnh thiên vô vân.
(Khi tâm thanh tịnh thì trăng phản chiếu trên mặt nước. Khi ý tĩnh lặng thì như bầu trời không gợn tí mây.)
Nếu tâm quý vị hết sức thanh tịnh, hào quang của Đức Phật sẽ chiếu đến và sẽ tỏa sáng trong tâm quý vị như ánh trăng soi chiếu trên mặt hồ tĩnh lặng.. Nếu tâm quý vị còn nhiễm ô, cũng như một vũng nước bùn đục ngầu, chẳng có thứ ánh sáng nào chiếu dọi qua được. Tâm định giống như bầu trời không mây, là trạng thái vi diệu không thể diễn tả được. Nếu quý vị tự thanh tịnh tâm mình rồi, thì quý vị sẽ có được sức mạnh của Thủ-lăng-nghiêm đại định.
Mật nhân là bản thể của định lực mà mọi người đều tự có sẵn. Gọi là mật chứ không gọi là hiển vì mặc dù vốn có đầy đủ bên trong mỗi người, không ai thiếu sót cả, nhưng chẳng ai biết được điều ấy. Thế cho nên gọi là mật. Mật nhân này là định lực của Như Lai và cũng là bản thể định lực của toàn thể chúng sinh. Khác nhau ở điểm là bản thể định lực của chúng sinh chưa được hiển bày nên vẫn còn một điều ẩn mật.
Hãy để cho những tư tưởng ấy an định, phóng xả và làm cho nó thanh tị̣nh. Hãy để cho lòng mình trở nên trống rỗng. Thành tựu đạo nghiệp có nghĩa là chân thực nhận ra năng lực chánh định và trí tuệ sáng suốt vốn tự có sẵn, đầy đủ, tròn đầy, trong mỗi người. Năng lực chánh định và trí tuệ ấy hỗ tương dung nhiếp, hoàn chỉnh cho nhau, không ngăn ngại nhau. Đó là nhận ra thể tánh chân thực vốn có của chính mình. Đó có nghĩa là nhận ra được chân tâm của mình.
Viên định: là tâm bất động mà còn thống nhiếp cả vạn sự vạn vật không động. Nhập xuất đều ở trong cảnh giới như như bất động, liễu liễu thường minh. Tin hành nguyện lực, kiên cố bất động.
Thí như chúng thủy đồng nhất tánh
Bát công đức vị vô sái biệt
Nhân địa tại khí các bất đồng
Thị cố lệnh kỳ chủng chủng dị.
Như nước trong kia đồng một tánh
Vị tám công đức không sai khác
Nhơn đất, tại đồ, đều chẳng đồng
Vì thế khiến nước có sai khác
Ví như hết thảy tất cả nước, đều đồng một tánh, nước có vị tám thứ công đức (Lắng trong, tươi mát, ngon ngọt, nhẹ nhàng, thấm nhuần, an hoà, trừ khát, tăng ích), chẳng có gì khác nhau. Vì tất cả chúng sinh trồng nhân, tại nhân địa đều khác nhau, cho nên đến lúc kết quả, liền có đủ thứ quả báo khác nhau. Giống như chân như, tiền tế chẳng sinh, hậu tế cũng chẳng động, hiện tại cũng chẳng khởi.
Đại định: Động tĩnh nhất như. Nếu còn nhập định xuất định thì chưa phải đại định.
ĐẠI 大 nghĩa là to lớn. Đề cập đến bốn khía cạnh lớn lao của kinh Lăng Nghiêm:
- Nguyên nhân (nhân 因 )
- Nghĩa lý ( lý 理).
- Tu tập hành trì (hạnh 行).
- Kết quả (quả 果 ).
Vị tu hành nơi tam muội này, có những cảnh giới như vầy : Từ trong thân nhập định, từ ngoài thân xuất định. Từ ngoài thân nhập định, từ trong thân xuất định. Từ đồng thân nhập định, từ khác thân xuất định. Từ khác thân nhập định, từ đồng thân xuất định. Từ thân người nhập định, từ thân Dạ Xoa xuất định. Từ thân Dạ Xoa nhập định, từ thân rồng xuất định. Từ thân rồng nhập định, từ thân A tu la xuất định. Từ thân A tu la nhập định, từ thân trời xuất định. Từ thân trời nhập định, từ thân Phạm Vương xuất định. Từ thân Phạm Vương nhập định, từ thân dục giới xuất định.
Bồ Tát có thể hoá thân ngàn vạn ức, phân thân vô số lượng. Đó đây không ngại, ta người vô ngại, trong ngoài vô ngại, đồng khác vô ngại, đó tức là cảnh giới thần thông diệu dụng của Bồ Tát. Bồ Tát nhập định hoặc xuất định, không nhất định tại thân mình, tuỳ thời tuỳ lúc đều có thể nhập định, tuỳ thời tuỳ lúc đều có thể xuất định, chẳng thọ sự hạn chế của thời gian và không gian, nhậm vận tự tại, diệu không thể tả. Bồ Tát ở trên trời nhập định, từ địa ngục xuất định. Từ địa ngục nhập định, từ nhân gian xuất định. Từ nhân gian nhập định, từ cõi kia xuất định. Từ ngàn thân nhập định, từ một thân xuất định. Từ một thân nhập định, từ ngàn thân xuất định. Từ Na do tha thân nhập định, từ một thân xuất định. Từ một thân nhập định, từ Na do tha thân xuất định. Bồ Tát vì tuỳ duyên giáo hoá tất cả chúng sinh, tự do nhập định, tự do xuất định. Cảnh giới này, toại tâm như ý. Hoan hỉ thế nào thì như thế đó, một chút cũng không miễn cưỡng, nhậm vận tự tại. Phàm là người thành tâm tu đạo, đều chứng được cảnh giới này
Cảnh giới là không nhập mà chẳng tự được vậy. Tức cũng là toại tâm như ý, muốn lúc nào nhập định thì lúc đó nhập định. Muốn nơi nào xuất định, thì nơi đó xuất định. Chẳng bị thời gian và không gian hạn chế.
Trong không tâm, ngoài không cảnh
Không tâm không cảnh, tức là định